Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

 Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, công tác dân vận có nhiều cách làm hay, sáng tạo, mang lại hiệu quả thiết thực; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và góp phần vào phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Thời gian tới, Đảng ta xác định tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Về sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi sức mạnh của nhân dân là vô địch; muốn lãnh đạo cách mạng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, cách mạng muốn thắng lợi phải được đông đảo nhân dân ủng hộ. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng cộng sản hiện còn yếu về số lượng, với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân đang lãnh đạo một nước rộng mênh mông, đang thực hiện (lúc này chưa có sự ủng hộ trực tiếp của các nước tiên tiến hơn) bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”.

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt, được hình thành do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta. Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./ Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra./ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; Người nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”. Như vậy, dân phải làm chủ và có quyền làm chủ; bởi lẽ, nếu dân không được làm chủ thì dân chủ chỉ là hình thức. Phát huy truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, nhất là bài học: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Trong 5 quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” và trong 6 nhiệm vụ trọng tâm ở nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có 3 nhiệm vụ đề cập đến phát huy vai trò của nhân dân: “Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”, “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân”.

Gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng đã phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đánh giá rất rõ các thành tựu đó: “Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Kết quả, hạn chế về công tác dân vận thời gian qua

Về kết quả của công tác dân vận

Đánh giá khái quát ưu điểm công tác dân vận thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”. Trên thực tế, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác dân vận được đổi mới. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết về công tác dân vận, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3-1990), “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (tháng 6-2013), về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” để lãnh đạo, tập hợp các tầng lớp nhân dân; đồng thời, Đảng có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện các văn kiện của Đảng, cùng Quy chế Dân chủ ở cơ sở, đồng thời với việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đạt được nhiều kết quả tích cực; việc tiếp công dân, đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy được thực hiện nền nếp, tinh thần gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở, tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các hình thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng phong phú, đa dạng và hiệu quả hơn. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Dân vận khéo”, được đẩy mạnh, gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết hiệu quả nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Về hạn chế và nguyên nhân

Thời gian qua, công tác dân vận có chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần nhận diện và tiếp tục khắc phục. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận, như phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn chưa phù hợp với từng đối tượng quần chúng, các loại hình ở cơ sở. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa coi trọng công tác vận động quần chúng và chưa chú trọng đưa nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân làm nội dung chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo của mình. Việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong các loại hình doanh nghiệp có nơi còn mang tính hình thức. Công tác đánh giá và dự báo tình hình, nắm bắt tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân có nơi còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; còn để xảy ra “điểm nóng” hoặc khiếu kiện phức tạp kéo dài. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức; chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tốt vai trò của các cơ quan truyền thông, mạng xã hội, mở rộng các kênh đối thoại trực tiếp với nhân dân. Việc lựa chọn nội dung và cách thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ở một số nơi thiếu sáng tạo, chưa sát thực tế, nên hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền gương điển hình là tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng có lúc chưa được quan tâm đúng mức. Việc tiến hành sơ kết, tổng kết theo quy định của Trung ương có nơi làm chậm hoặc làm hình thức, chiếu lệ.

Những hạn chế về công tác dân vận có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cụ thể: 1- Một số cấp ủy, chính quyền, chưa nhận thức đầy đủ, rõ ràng vị trí, vai trò của công tác dân vận trong tình hình mới; 2- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở còn hạn chế; 3- Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, vai trò tiên phong, nòng cốt còn mờ nhạt, cá biệt còn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền; 4- Việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn chậm, hiệu quả thấp. Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận và các tổ chức chính trị - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận để tiếp tục phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới

Một là, các cấp ủy tiếp tục lãnh đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động về công tác dân vận của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Trung ương về công tác dân vận đến tổ chức đảng, đảng viên; đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, Đảng tiếp tục lãnh đạo tập trung thực hiện tốt công tác dân vận.

Cơ quan nhà nước cần có phương pháp, cách thức, hình thức thực hiện hiệu quả, nhằm phát huy vai trò của nhân dân tham gia trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, gắn với lợi ích quốc gia - dân tộc. Từng bước tăng cường hình thức dân chủ trực tiếp để phát huy trí tuệ tập thể, sự đóng góp ý kiến quan trọng, quý báu của các tầng lớp nhân dân; sớm hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục thực hiện hiệu quả việc tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp dân, đối thoại với công dân, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng pháp luật. Hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ kết hợp với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; quan tâm công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan nhà nước các cấp. Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ thường xuyên tiếp xúc, làm việc với nhân dân, cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các ngành, các cấp, các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, Kiên quyết phê phán, đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân; đồng thời, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân. Tiếp tục tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để có biện pháp giải quyết kịp thời. Tập trung xử lý dứt điểm các vấn đề “nóng”, bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, không để các vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, các “điểm nóng” về an ninh, trật tự xảy ra ở cơ quan, đơn vị, cơ sở.

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các thành viên, đoàn viên, hội viên, theo đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ các cấp thật sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác dân vận. Quan tâm việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể yên tâm công tác; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; đa dạng hóa hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên; làm tham mưu cho cấp ủy, là nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, tình hình nhân dân; phát huy dân chủ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động theo pháp luật khi phát triển các tổ chức quần chúng. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng, thường xuyên bồi dưỡng đoàn viên, hội viên ưu tú, tiêu biểu cả đức và tài để giới thiệu nguồn cán bộ cho Đảng, Nhà nước; đồng thời, quan tâm xây dựng, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài hướng về xây dựng đất nước.

Bốn là, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các quan điểm, luận điệu sai trái.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ phương hướng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Đại hội đặt ra yêu cầu: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đồng thời, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng; can thiệp, cản trở việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian vừa qua được nhân dân đồng tình, ủng hộ; qua đó, tăng cường niềm tin, khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước tình hình và điều kiện mới, các thế lực thù địch có nhiều hoạt động chống phá hết sức tinh vi, thâm độc, nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy “thế trận lòng dân”, quyết tâm, quyết liệt đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát huy sức mạnh của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Trong thời gian tới, công tác dân vận của Đảng phải tiếp tục góp phần tích cực vận động, tập hợp được các tầng lớp nhân dân trong cả hệ thống chính trị thành lực lượng to lớn tham gia các phong trào thi đua yêu nước, theo tinh thần “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt đầy đủ lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động phong trào thi đua sát với thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương và phù hợp với từng đối tượng. Trên cơ sở tổng kết phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động thời gian qua để rút kinh nghiệm, qua đó thực hiện nhiệm vụ chính trị tốt hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới. Các phong trào thi đua cần thiết thực, tránh hình thức, lãng phí, tốn kém; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua; thường xuyên tổ chức theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng kịp thời. Trong giai đoạn phát triển mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần hướng phong trào thi đua vào khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, đoàn viên, hội viên thi đua sản xuất, kinh doanh để làm giàu chính đáng. Trên cơ sở đó, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngân sách cho Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách an sinh xã hội, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đất nước trong tình hình mới.

Sáu là, cả hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong thực hiện quy chế công tác dân vận.

Ngày 30-7-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 23-QĐ/TW, “Về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị” nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về công tác dân vận trong tình hình mới. Quy chế đã nêu rõ trách nhiệm lãnh đạo và thực hiện công tác dân vận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng ở Trung ương, đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan tư pháp, trách nhiệm của lực lượng vũ trang, trách nhiệm của chính quyền các cấp, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở trách nhiệm về công tác dân vận được Bộ Chính trị giao, các tổ chức trong hệ thống chính trị nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt để công tác dân vận có chuyển biến tích cực, rõ rệt. Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở từng cấp. Cấp ủy các cấp cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế; đồng thời, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời theo quy định của Trung ương.

Ngoại giao kinh tế - Con đường bước vào kỷ nguyên mới

 Những năm gần đây, nhất là năm 2024, hợp tác kinh tế trở thành nội dung được quan tâm hàng đầu trong tất cả hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là đối ngoại cấp cao. Những thành tựu đạt được trong lĩnh vực ngoại giao kinh tế là lời đáp trả mạnh mẽ trước luận điệu của một số phần tử chống đối, thù địch cho rằng các lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam “đi nhiều nơi, đón nhiều người” nhưng chẳng đem lại lợi ích gì, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Năm khởi sắc của ngoại giao kinh tế

Có thể khẳng định rằng, năm 2024 là một năm khởi sắc của ngoại giao Việt Nam.

Theo số liệu tổng hợp của Bộ Ngoại giao, chỉ riêng năm qua đã có gần 60 hoạt động đối ngoại của lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước Việt Nam, trong đó có 21 chuyến thăm tới các nước và tham dự các hội nghị đa phương, đón 25 đoàn lãnh đạo các nước thăm Việt Nam; cùng với đó là các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, các hội nghị đa phương trực tuyến hoặc diễn ra tại Hà Nội.

Thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, hơn 170 thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác đã được ký kết.

Dễ nhận thấy nội dung hợp tác kinh tế là trọng tâm của đối ngoại cấp cao Việt Nam trong những năm gần đây, cụ thể là đẩy mạnh hợp tác về thương mại, đầu tư, du lịch, lao động với các thị trường lớn, các đối tác đầu tư chủ chốt, quan trọng, nhất là khu vực Đông Bắc Á, châu Mỹ, Ấn Độ, Trung Đông...; thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, ngoại giao công nghệ, ngoại giao bán dẫn... với các đối tác chủ chốt và các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới; đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa đối tác, tạo đột phá ở các thị trường mới và tiềm năng, trong đó có các thị trường còn nhiều dư địa như khu vực Mỹ Latin, Trung Đông - châu Phi, Trung-Đông Âu.

Năm 2024, Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới, nâng tổng số FTA ký kết và tham gia lên con số 17.

Hoạt động ngoại giao kinh tế còn được thể hiện qua việc chỉ trong vòng một năm, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai hơn 700 hoạt động ngoại giao kinh tế xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch; hỗ trợ địa phương quảng bá giới thiệu, kết nối, thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài, với hơn 400 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư của các địa phương trong và ngoài nước, trong đó hỗ trợ các tỉnh, thành phố ký kết 130 thỏa thuận với các đối tác quốc tế.

Nhìn vào hàng loạt hoạt động ngoại giao kinh tế thông qua đối ngoại cấp cao của Việt Nam trong năm qua cũng có thể thấy rằng, ngoại giao kinh tế ngày càng được triển khai bài bản và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương.

Cơ hội để đất nước phát triển bứt phá

Những thành tựu của ngoại giao kinh tế được gói gọn trong đánh giá mà Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra tại một hội nghị diễn ra ở Hà Nội hồi tháng 12-2024: Ngoại giao kinh tế ngày càng thực chất hơn và bài bản hơn, với “3 rõ”: Kết quả rõ, sản phẩm rõ, đóng góp rõ cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Hiệu quả của ngoại giao kinh tế năm 2024 trước hết được thể hiện qua những kết quả mà Việt Nam đạt được trong thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh.

Điển hình là thông qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký kết 9 văn kiện cấp chính phủ về lĩnh vực năng lượng tái tạo, chất bán dẫn, điện tử công nghệ cao; Việt Nam và Ấn Độ thống nhất đề ra phương hướng hợp tác “5 hơn”, trong đó nhấn mạnh hợp tác khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo rộng mở hơn, và Thủ tướng Ấn Độ cam kết tăng đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 10 tỷ USD.

Bên cạnh đó, Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực Trung Đông cũng nhất trí coi đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số là trọng tâm hợp tác song phương trong thời gian tới, trong đó UAE sẵn sàng hợp tác với Việt Nam xây dựng trung tâm siêu dữ liệu.

Giới đầu tư trong nước, khu vực và quốc tế hẳn cũng chưa quên hình ảnh Thủ tướng Phạm Minh Chính cùng ông Jensen Huang, Nhà sáng lập kiêm Chủ tịch Tập đoàn NVIDIA - tập đoàn sản xuất chip đắt giá nhất thế giới với giá trị thị trường gần 1.200 tỷ USD - dạo quanh phố cổ, gặp gỡ người dân và thưởng thực các món ẩm thực đường phố Hà Nội hồi đầu tháng 12-2024.

Song điều khiến người ta chú ý hơn cả là trong chuyến thăm làm việc ấy của ông Jensen Huang, Chính phủ Việt Nam và Tập đoàn NVIDIA đã ký Thỏa thuận về hợp tác thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về trí tuệ nhân tạo (AI) của NVIDIA và Trung tâm Dữ liệu AI tại Việt Nam.

Ngoài ra, Tập đoàn NVIDIA đã ký thỏa thuận trị giá 4-4,5 tỷ USD với một số đối tác về việc dịch chuyển chuỗi sản xuất từ các nước khác sang Việt Nam trong vòng 4 năm tới. Nên nhớ rằng, kết quả này có được chỉ sau hơn một năm kể từ khi Thủ tướng Phạm Minh Chính đến thăm trụ sở Tập đoàn NVIDIA nhân chuyến công tác tại Hoa Kỳ và đề nghị NVIDIA hợp tác với Việt Nam trong phát triển công nghệ.

Những thành quả nói trên chứng tỏ Việt Nam vẫn là điểm đến an toàn, hấp dẫn của đầu tư, kinh doanh quốc tế, và hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng, trong khi một số quốc gia liên tục thu về những hợp đồng giá trị thì lãnh đạo cấp cao Việt Nam chỉ công du, “tay bắt mặt mừng” khắp nơi để theo đuổi những mục tiêu, lợi ích viển vông.

Dĩ nhiên, các văn bản, thỏa thuận hợp tác “tỷ đô” không thể tạo ra thay đổi “mắt thấy tai nghe” chỉ trong vòng một đêm. Vẫn cần thời gian và nỗ lực nhằm cụ thể hóa, khai thác hiệu quả các thỏa thuận, khuôn khổ hợp tác đã ký kết, từ đó phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho mỗi người dân.

Những thành quả đạt được thông qua ngoại giao kinh tế rõ ràng đang mở ra cơ hội bứt phá cho Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học-công nghệ. Đó cũng là điều mà ngay cả những đối tượng thường xuyên chống phá, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam cũng phải thừa nhận./.

Vị trí, vai trò của dân chủ trong hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới

Công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được bắt đầu từ đổi mới tư duy; trong đó, hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ngày càng được nhận thức sáng tỏ hơn. Các thành tố trong hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Việt Nam có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo nền tảng và sự bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong đó, dân chủ luôn được Đảng ta xác định có vị trí, vai trò hết sức quan trọng: vừa là mục tiêu, vừa là động lực; tiền đề, điều kiện để hiện thực hóa các mục tiêu còn lại trong hệ mục tiêu tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Vị trí, vai trò của dân chủ trong quan hệ với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”

Thứ nhất, dân chủ là mục tiêu và động lực để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”

Ở Việt Nam, trong tất cả các chặng đường của gần 40 năm đổi mới, “dân giàu” luôn được Đảng ta xác định là thành tố đứng ở vị trí hàng đầu trong hệ mục tiêu phát triển đất nước. Nó cũng là khởi đầu cho tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội (CNXH) Việt Nam - một chế độ xã hội dựa trên sự giàu có, phồn vinh. “Dân giàu”, theo quan niệm của Đảng trong thời kỳ đổi mới, không chỉ giàu có về của cải vật chất mà còn giàu cả về trí tuệ, văn hóa, tinh thần, đạo đức; cũng không chỉ đơn thuần là gia tăng thu nhập và tài sản của cá nhân, mà còn bao hàm việc cải thiện chất lượng cuộc sống và công bằng xã hội. Gắn liền với “dân giàu” là “nước mạnh”. Dân có giàu thì nước mới mạnh và nước mạnh sẽ tạo điều kiện cho dân giàu có một cách chính đáng. Sức mạnh của đất nước bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Đối với CNXH Việt Nam, “nước mạnh” dựa trên nền tảng kinh tế phát triển cao, chế độ chính trị tiến bộ, dân chủ, ổn định, quốc phòng, an ninh vững mạnh, xã hội đoàn kết, đồng thuận, tăng cường đoàn kết quốc tế để tạo ra môi trường “trong ấm ngoài êm”, tạo thuận lợi cho đất nước phát triển nhanh, bền vững. Nước mạnh còn thể hiện ở ý chí độc lập, tự lực, tự cường, ở bản lĩnh vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức. Mối quan hệ giữa “dân giàu” và “nước mạnh” gắn bó hữu cơ, là tiền đề, điều kiện cho nhau và hai thành tố này luôn đứng ở vị trí hàng đầu trong hệ mục tiêu CNXH Việt Nam.

Chủ nghĩa xã hội chỉ trở thành hiện thực khi chủ thể xã hội là người dân giàu có, sung túc về vật chất, là cơ sở để thỏa mãn nhu cầu tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Thành tố thứ nhất trong đặc trưng này cũng là sự bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi họ cho rằng, CNXH “chia đều sự nghèo khổ cho người dân”. Việc xác định trên cũng là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của CNXH trong bối cảnh mới của thời đại. Vấn đề này, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đề cập, khi Người cho rằng, “… nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Bác chỉ rõ: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”; “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”.

Đảng ta xác định, muốn đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” thì chủ thể, lực lượng đóng góp chính là nhân dân; do vậy, phải phát huy sức mạnh của nhân dân và dân chủ phải được coi là một trong những thành tố quan trọng hàng đầu. Dân chủ là động lực thúc đẩy sự giàu có của người dân, sự phồn thịnh của quốc gia. Nó tạo ra một môi trường chính trị và kinh tế ổn định, khuyến khích sự đổi mới và đầu tư, đồng thời giảm thiểu bất bình đẳng và tăng cường sự tham gia của người dân vào đời sống kinh tế - xã hội. Về điều này, trước đây đã có nhà tư tưởng cho rằng, trong ba điều cần của phép trị nước: “Túc thực”, “túc binh” và “dân tín” (lương thực phải đầy đủ, binh lực phải sung túc và được trăm họ tin cậy), thì “dân tín” có vai trò quan trọng hàng đầu. Dân tín sẽ tạo ra thực túc, binh cường. Còn nếu dân không tin, không theo, bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn thì triều đình tất sẽ đổ nát. Thiên thời địa lợi chẳng bằng nhân hòa. Lương thực đủ, binh lực đủ, chẳng bằng được dân tin cậy.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ/ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Theo Người, “dân là chủ, dân làm chủ” nghĩa là “dân là sức mạnh của Nhà nước”, “là sức mạnh của Đảng”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “… làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

Thực hiện dân chủ tức là sử dụng tất cả quyền hành và lực lư­ợng to lớn của nhân dân để hoàn thành các nhiệm vụ vì lợi ích của nhân dân. Nhờ có dân chủ hóa mà Đảng ta đã tìm tòi, sáng tạo, thử nghiệm, đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Cũng do xác định được vai trò của dân chủ trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” mà nhân dân ta đã đồng lòng hưởng ứng và tham gia ngày càng tích cực vào công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, mà trước hết là tham gia tích cực vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Nhiệm vụ đầu tiên trong đổi mới tư duy của Đảng là đột phá trong đổi mới tư duy về phát triển kinh tế, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển sang nền sản xuất hàng hóa; kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; thực hiện cả nước là một thị trường thống nhất, thừa nhận nhiều thành phần kinh tế... Chính quá trình dân chủ hóa đã tạo nên động lực to lớn, giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy các tiềm năng, nội lực của đất nước, vực dậy nền kinh tế đang suy yếu trong khủng hoảng. Nhân dân được tham gia vào phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trên cả ba phương diện: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”.

Trong quá trình dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã hội, Đảng ta đã hình thành quan niệm về kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Việc đổi mới cơ chế, cải cách thể chế KTTT định hướng XHCN được tiến hành liên tục, mạnh mẽ với những bước đột phá quan trọng nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”; đồng thời, làm cơ sở kinh tế cho đổi mới chính trị và hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cử tri và nhân dân phấn khởi và càng thêm tin tưởng trước những thành tựu đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong mấy thập kỷ qua; đã góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập sâu rộng và toàn diện với thế giới. Dân chủ đồng thời cũng là giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các thành phần kinh tế, các giai tầng và các cộng đồng dân tộc trong xã hội n­ước ta. Nhờ đó, mức độ đồng thuận, đoàn kết trong nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước ngày càng được sâu sắc, tạo cơ sở cho ổn định chính trị, sức mạnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, động lực để xử lý các vấn đề xã hội tốt hơn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cũng chính từ thực tiễn phát triển mô hình KTTT định hướng XHCN đã đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong tiến trình đổi mới. Nền kinh tế bắt đầu phát triển và tăng trưởng liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 40 năm qua với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm. “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD)”. Mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm; thu nhập bình quân đầu người tăng 17 lần. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. “Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng”. Đời sống nhân dân được nâng cao; hộ nghèo giảm đáng kể; trình độ dân trí tăng cao; tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên 73,7 tuổi. Dân chủ trở thành động lực phát triển kinh tế để hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”.

Vai trò của dân chủ với tư cách là “động lực” của “dân giàu, nước mạnh” còn được thể hiện ở chỗ, dân chủ chính là một trong những tiền đề chính trị - tư tưởng quan trọng để Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ra đời. Đó là nhà nước mà tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đồng thời, “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Những năm qua, Nhà nước pháp quyền XHCN đã thực sự là thiết chế có vai trò “bà đỡ”, “nhạc trưởng” cho thị trường hình thành và phát triển; từng bước xác định giới hạn, phạm vi, nội dung và phương thức quản lý nhà nước cho phù hợp với nền KTTT; đổi mới phương thức quản lý từ chỗ Nhà nước can thiệp trực tiếp vào thị trường sang Nhà nước quản lý vĩ mô, kiến tạo phát triển… nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, tạo điều kiện quan trọng bậc nhất để định hướng XHCN cho nền KTTT nước ta đi đúng hướng và việc bảo đảm cho tất cả quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ngày càng đi vào thực chất(10). Trong điều kiện xã hội hiện đại, nếu không có dân chủ và pháp chế thì không thể thực hiện được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Chỉ có thực hiện dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng có sáng kiến, mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo và mới dám làm. Quyền chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nhân dân phải được bảo đảm thực hiện trên cơ sở các quy định pháp luật; quyền lực của Nhà nước phải phục vụ, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, nếu không vì lợi ích nhân dân, thì dân chủ chỉ mang tính hình thức.

Thành công của công cuộc đổi mới 40 năm qua, xét tới cội nguồn, cũng được khởi đầu bằng quá trình dân chủ hóa trong các lĩnh vực, trước hết là kinh tế, đã tạo nên động lực mạnh mẽ đ­ưa đất n­ước ta v­ượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Đây lại là một hiện thực sinh động, minh chứng về tầm quan trọng và sự vững bền của động lực dân chủ đối với quá trình hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” nói riêng, và hệ mục tiêu phát triển đất nước nói chung.

Thứ hai, “dân giàu, nước mạnh” là điều kiện để phát triển dân chủ

“Dân giàu, nước mạnh” được nhiều nước xem chính là sự thịnh vượng của quốc gia; trong đó, mỗi người dân là một các chủ thể trong mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước và toàn xã hội. Chỉ số Thịnh vượng (Prosperity index) được Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc đo bằng: Tăng trưởng kinh tế, mức độ tự do cá nhân, học vấn, sức khỏe, an ninh, tuổi thọ và tỷ lệ thỏa mãn với cuộc sống của người dân. Như vậy, các chỉ báo này không chỉ nói đến sự giàu có mà còn phản ánh giá trị của con người về những quyền cơ bản, nó gần trùng khớp với quan niệm của Việt Nam về “dân giàu, nước mạnh” và “dân chủ”.

Thực tế cho thấy rằng, phát triển kinh tế bền vững, sự thịnh vượng dẫn tới sự xuất hiện các thiết chế dân chủ, và chính các thiết chế dân chủ này đã củng cố bản thân nền dân chủ. Một mặt, khi nền kinh tế phát triển sẽ làm xuất hiện một cơ cấu xã hội mới, trong đó hình thành một bộ phận người giàu và tầng lớp trung lưu - là lực lượng có sự trưởng thành về ý thức dân chủ, là cơ sở để bảo đảm cho dân chủ được thực hành thực chất. Mặt khác, sự phát triển kinh tế ngày càng tạo điều kiện để con người tham gia tích cực hơn vào các hoạt động chính trị, sự lựa chọn và quyền tự do cá nhân, trình độ học vấn cũng có điều kiện nâng lên; công dân có sự trưởng thành hơn về ý thức chính trị, nhận thức tốt hơn các quyền lợi của mình. Họ sẽ bảo vệ quyền của mình và tất nhiên sẽ có phương tiện để bảo vệ và thực hiện quyền đó. Xét theo góc độ này, sự thịnh vượng có tác động đáng kể đối với nền dân chủ. Mức độ thịnh vượng gia tăng có thể không làm tăng dân chủ, nhưng khi sự thịnh vượng đạt trên một mức nào đó thì tác động của nó đối với mức bền vững dân chủ lại rất rõ ràng. Tuy nhiên, điều này không phải đối với mọi quốc gia, vì bản chất của thể chế chính trị - xã hội, văn hóa khác nhau cũng sẽ tác động tới mức độ cao, thấp của dân chủ.

Tiềm lực kinh tế của quốc gia tự nó không minh chứng cho tính chất và trình độ dân chủ của quốc gia đó; tuy nhiên, nó có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của người dân. Với tiềm lực kinh tế đủ mạnh, nhà nước có thể sử dụng các nguồn lực kinh tế đầu tư cho giáo dục, đào tạo, an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, góp phần bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội trong từng bước phát triển. Hơn nữa, khi tiềm lực kinh tế của quốc gia dồi dào thì mới có đủ khả năng ngân sách chi trả cho hoạt động của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị mới toàn tâm phục vụ lợi ích của nhân dân; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng thông tin ở các địa phương miền núi, hải đảo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, phục vụ cho cho nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân, tạo cơ hội phát triển bình đẳng giữa các dân tộc. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lưu ý, người dân chỉ biết đến giá trị của độc lập, tự do khi được no ấm; người dân chỉ thực sự trở thành người làm chủ khi họ nhận thức được rõ ràng đâu là quyền lợi họ được hưởng, đâu là nghĩa vụ họ phải thực hiện, nếu không thì dân chủ chỉ là hình thức, dân chủ trên giấy mà thôi. Do vậy, điều kiện để thực hành dân chủ, theo Người, trước hết phải bảo đảm đời sống kinh tế; trên cơ sở đó, nâng cao dân trí, văn hóa, ý thức dân chủ… cho người dân. Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(11); vì vậy, nếu nhân dân không được giáo dục để nâng cao dân trí thì mãi mãi không thể thực hiện được vai trò làm chủ. Phải có học thức người dân mới hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức thì người dân mới có ý chí vươn lên thực hiện quyền, trách nhiệm của mình để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà trong điều kiện mới.

Thực tiễn gần 40 đổi mới đã chứng minh, từ khi đất nước bước vào thực hiện nền KTTT định hướng XHCN, nhân dân ta ngày càng khá giả và đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, thể hiện rõ mức độ dân chủ ngày càng phát triển khi kinh tế phát triển. Bản chất của KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền sở hữu của tất cả mọi người và quyền tự do sản xuất, kinh doanh; chống độc quyền, dỡ bỏ rào cản và những phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, bảo đảm cho các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Tính dân chủ, bình đẳng này đã tạo ra động lực vật chất, kinh tế thúc đẩy các chủ thể kinh tế khai thác và phát huy mọi tiềm năng phát triển kinh tế của cá nhân. Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thừa nhận, tôn trọng nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, nhiều hình thức phân phối chính là thừa nhận và tôn trọng tính đa dạng về lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, các tập đoàn, nhóm và cá nhân người lao động trong xã hội.

Nền KTTT ở nước ta đã dần làm cho quyền tự do, tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của cá nhân, tập thể lao động, các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp được thực hiện ngày càng tốt hơn. Các chủ thể kinh tế được giải phóng khỏi sự ràng buộc của các cơ chế không hợp lý, phát huy được quyền làm chủ và tính năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, trong hội nhập kinh tế quốc tế. Người dân có điều kiện tạo việc làm, tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, lựa chọn cơ hội học tập, lập nghiệp, tạo ra động lực to lớn để mọi người sáng tạo và phát triển kinh tế vì lợi ích của chính mình và đóng góp cho xã hội. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành những doanh nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh, những người lao động linh hoạt, năng động, tự chủ, có trách nhiệm cao với bản thân, với công việc, với đơn vị, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Đó cũng là phẩm chất cần có của con người trong một nền sản xuất công nghiệp hiện đại và một xã hội dân chủ, văn minh.

Nhờ có đổi mới mà nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, đã góp phần cải thiện đời sống của nhân dân; phát triển y tế, giáo dục; có điều kiện để thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội theo nguyên tắc “không ai bị bỏ lại phía sau”; đời sống văn hóa của nhân dân được cải thiện; trên 70% dân số sử dụng internet… Với những thành tựu trên, Việt Nam được Liên hiệp quốc công nhận là một trong những quốc gia đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Những quyền cơ bản của con người theo Hiến pháp 2013 ngày càng được thực hiện có hiệu quả.

Vị trí, vai trò của dân chủ trong mối quan hệ với mục tiêu “công bằng, văn minh”

Thứ nhất, dân chủ là điều kiện, tiền đề để thực hiện công bằng, văn minh

Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, hết thảy mọi cá nhân đều kỳ vọng được sống trong một xã hội công bằng. Trong đó, các cá nhân đều được bảo vệ, con người cảm giác thỏa mãn và hạnh phúc; vì vậy, công bằng là một trong những giá trị của xã hội văn minh, nơi mà những quyền dân chủ cơ bản của con người được bảo đảm và ngày càng phát triển.

Ở Việt Nam, dân chủ là điều kiện, tiền đề để thực hiện công bằng, văn minh đã được khẳng định cả về lý luận và về thực tiễn. Một mặt, dân chủ được thực hiện rộng rãi là điều kiện để thực hiện công bằng, văn minh; mặt khác, dân chủ XHCN là nền dân chủ nhằm mục tiêu giải phóng triệt để con người khỏi mọi áp bức, bất công để tạo dựng một xã hội tốt đẹp. Chính vì vậy, trong hệ mục tiêu phát triển đất nước, từ Đại hội IX, Đảng ta đã điều chỉnh thứ tự giữa “công bằng” và “dân chủ”. Sự điều chỉnh này về thực chất phản ánh chính xác hơn bản chất của chế độ ta, bởi chế độ đó là chế độ dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Sự điều chỉnh trên cũng là phù hợp thực tế trong bối cảnh mới của đất nước và thời đại, dân chủ là một trong những giá trị lớn mà nhân loại theo đuổi, dân chủ trở thành tiền đề, điều kiện, động lực phát triển của xã hội công bằng, văn minh.

Thực tế lịch sử đã minh chứng, dân giàu, nước mạnh mà thiếu công bằng thì sẽ gây ra bất công xã hội và bất bình xã hội; từ đó, xã hội sẽ rất dễ rơi vào hỗn loạn, xung đột và hậu quả là khó có thể trở thành một nước giàu mạnh thực sự. Hơn nữa, nếu một xã hội không có công bằng, thì chắc chắn sẽ khó có dân chủ thực sự. Dân chủ chỉ có thể hình thành trong một môi trường xã hội công bằng và bình đẳng. Chính vì lẽ đó, công cuộc xây dựng CNXH chính là xây dựng một môi trường xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ.

Thứ hai, công bằng, văn minh là mục tiêu, động lực của dân chủ

Công bằng, về phương diện xã hội, là bảo đảm sự “ngang nhau” giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến với hưởng thụ, quyền lợi và nghĩa vụ, vinh dự với trách nhiệm. Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Tuy nhiên, cũng như dân chủ, công bằng luôn mang tính giai cấp và tính lịch sử, được quy định bởi chế độ xã hội cụ thể.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, nội hàm của khái niệm “công bằng” được hiểu khác nhiều so với thời kỳ trước đổi mới. Công bằng không phải là cào bằng, chia đều, bình quân, dẫn tới sự triệt tiêu động lực phát triển đối với những người có năng lực, có trách nhiệm với đất nước, làm nảy sinh sự bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội, ảnh hưởng xấu đến bản chất tốt đẹp của CNXH. “Công bằng” hiện nay được hiểu là sự công bằng trong phân phối sản phẩm lao động, công bằng về cơ hội và điều kiện phát triển. Mọi thành viên trong cộng đồng đều nhận được những cơ hội như nhau do chính đổi mới tạo ra để phát triển, không phân biệt, không có định kiến. Đây chính là cơ sở để thực hiện mục tiêu bình đẳng (ở giai đoạn phát triển cao) khi công bằng đã đạt được kết quả cao.

Với nội hàm diễn đạt trên, “công bằng” là một động lực, một giá trị cơ bản của CNXH Việt Nam, trong đó có giá trị về dân chủ. Khi đất nước phát triển kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh gay gắt sẽ không tránh khỏi sự phân hóa trên nhiều góc độ, trong đó có phân hóa giàu - nghèo. Do vậy, thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”, Đảng ta đã nhận thức rõ muốn thực hiện công bằng phải bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo phương châm gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển. Khuyến khích làm giàu chính đáng, Nhà nước phải có các chính sách điều tiết, ưu đãi để chăm nom cho các đối tượng chính sách, yếu thế, bị thua thiệt trong phát triển…

Nội hàm cốt lõi của công bằng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là công bằng về cơ hội phát triển, thực chất là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, là một mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới. Mục tiêu của chế độ xã hội mới là không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, là phấn đấu: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu/ Người khá giàu thì giàu thêm”. Điều này một lần nữa cho thấy, việc thực hiện bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, mang ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước; thông qua việc phát huy cao nhất khả năng, sức mạnh của mỗi người, cùng tham gia xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản - mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, công bằng và dân chủ là điều kiện tiền đề của nhau, có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau. Nếu như công bằng xã hội là hệ giá trị văn hóa bao gồm nhiều giá trị khác nhau thì dân chủ, quyền con người chiếm một vị trí đặc biệt. Cũng như công bằng, dân chủ cũng là động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội. Đồng thời, tính giai cấp và tính lịch sử cụ thể của khái niệm “công bằng xã hội” cũng tương đồng với khái niệm “dân chủ”. Thực hiện công bằng xã hội đầu tiên và quan trọng nhất là thực hiện ở trong lĩnh vực kinh tế. Muốn đạt được một nền dân chủ ngày càng hoàn thiện thì đầu tiên phải không ngừng phát triển trong lĩnh vực kinh tế để đạt tới một xã hội mới tiến bộ.

Muốn thực hiện được công bằng xã hội, biện pháp quan trọng nhất là chống được tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy nhà nước và những tổ chức có quyền lực trong xã hội. Để chống được tham nhũng, tiêu cực, thì người dân cần tham gia giám sát, phản biện hiệu quả. Mặt khác, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật - không chỉ được khẳng định mà còn được thực hiện trên thực tế, được bảo đảm sự tự chủ về đời sống kinh tế của mình, từ sở hữu đến nghề nghiệp. Để đạt được những tiêu chí đó, công bằng xã hội đòi hỏi một chế độ dân chủ thực sự. Do vậy, không thể có một nhóm người hay một tổ chức nào, dưới bất cứ danh nghĩa gì, tự coi mình đứng lên trên xã hội và luật pháp để áp đặt ý chí của mình cho những người khác.

Ở nước ta, nói tới công bằng là nói tới quyền lợi công bằng, cơ hội công bằng, quy tắc công bằng. Xây dựng quyền lợi công bằng, cơ hội công bằng, quy tắc công bằng làm nội dung chủ yếu của hệ thống bảo đảm công bằng xã hội chính là tạo ra môi trường xã hội công bằng, bảo đảm cho quyền lợi tham dự dân chủ và phát triển bình đẳng của nhân dân. Các nguyên tắc thực hiện công bằng ở nước ta hiện nay đã thể hiện rất rõ những giá trị của dân chủ - những quyền cơ bản của con người.

Công bằng là một yêu cầu tất yếu của CNXH Việt Nam mà Đảng ta đang lãnh đạo toàn thể nhân dân hướng đến xây dựng. Thực hiện công bằng là một trong những giá trị cốt lõi của CNXH. Trong bối cảnh đổi mới, hội nhập quốc tế và thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, công bằng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện, lành mạnh và hài hòa. Nó giúp sắp xếp các chế độ và dựa trên sự sáng tạo xã hội mới, trở thành nguyên tắc cơ bản điều chỉnh mối quan hệ giữa các tầng lớp xã hội; đồng thời, củng cố sức mạnh đoàn kết xã hội và là biểu tượng quan trọng để tập hợp và kêu gọi xã hội. Chỉ khi thực hiện được công bằng, người dân mới có điều kiện phát triển, các mối quan hệ xã hội mới được điều chỉnh hợp lý, tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của người dân mới được phát huy; từ đó, xã hội mới đạt được sự ổn định và hài hòa, toàn thể nhân dân mới cùng đồng lòng xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Thứ ba, dân chủ là một trong những tiêu chí, thước đo trình độ văn minh

Văn minh là tiêu chí quan trọng của một xã hội tiến bộ. Theo nghĩa rộng, văn minh bao gồm văn minh vật chất, văn minh thần, văn minh chính trị, văn minh xã hội, văn minh sinh thái… Theo nghĩa hẹp, văn minh có nội dung về phương diện tinh thần, về tư tưởng, lý luận, đạo đức, văn học, nghệ thuật, giáo dục và khoa học, những sinh hoạt xã hội của nhân loại. Xét cho cùng, tiêu chí của văn minh là sự tiến bộ ở đỉnh cao(17).

Ở Việt Nam, “văn minh” được Đảng ta xác định là một trong những mục tiêu cao nhất trong hệ mục tiêu của CNXH Việt Nam, là tiêu chí phản ánh trình độ phát triển cao nhất của các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng”. Nội hàm “văn minh” của CNXH Việt Nam thể hiện ở việc không ngừng phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại đi liền với thực hiện tiến bộ và công bằng, xoá bỏ áp bức, bất công về mặt xã hội, không ngừng phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nếp sống và lối sống văn minh. Đó là nền văn minh toàn diện và nhân bản, không chỉ là văn minh vật chất - kỹ thuật, mà còn là văn minh tinh thần, không chỉ văn minh trong quan hệ giữa người với thiên nhiên, mà còn là văn minh trong quan hệ giữa người với người, văn minh trong tổ chức xã hội, văn minh trong chất lượng cuộc sống và lối sống. Đó là nền văn minh của một xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ”, nền văn minh của một xã hội do nhân dân làm chủ. 

Dân chủ là một trong những tiêu chí cơ bản phản ánh mức độ văn minh tiến bộ của xã hội, vì văn minh là mục tiêu nhằm tạo một môi trường tốt nhất cho phát triển con người, phản ánh trình độ phát triển của một xã hội. Một xã hội văn minh là một xã hội có sự tôn trọng các giá trị nhân văn, tự do, bình đẳng, và pháp quyền, nơi mà mọi người đều có cơ hội phát triển và sống trong một môi trường lành mạnh và công bằng. Dân chủ, với các nguyên tắc như quyền tham gia chính trị, tự do ngôn luận và minh bạch, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu văn minh. Do đó, một xã hội thiếu dân chủ là một xã hội phản tiến bộ, thiếu văn minh. Chính vì vậy, thành tố “văn minh” được xác định ngay từ nhiệm kỳ đầu của đổi mới, là một trong những thành tố quan trọng trong hệ mục tiêu phát triển đất nước.

Dân chủ là thước đo trình độ văn minh của một chế độ xã hội. Bởi lẽ, để đạt được mục tiêu văn minh, vai trò của nhà nước vô cùng quan trọng. Trước hết, nhà nước phải trong sạch, hiện đại, thường xuyên đổi mới, trong đó đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khi thực thi nhiệm vụ không có thói hách dịch, cửa quyền với người dân, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chỉ lo làm lợi cho cá nhân mình; tính nghiêm minh của pháp luật phải được bảo đảm; nhà nước phải thừa nhận sự tồn tại, đầy đủ, khách quan của cả 3 yếu tố trụ cột là nhà nước pháp quyền, KTTT và xã hội dân chủ.

Dân chủ khuyến khích sự tham gia của người dân vào các vấn đề chính trị và xã hội; từ đó, nâng cao nhận thức và giáo dục lý luận chính trị. Người dân trong một xã hội dân chủ thường có kiến thức tốt hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình, cũng như các vấn đề xã hội quan trọng. Điều này giúp xây dựng một xã hội có nền tảng văn minh hơn, nơi mà công dân không chỉ được giáo dục về các giá trị cơ bản, mà còn về các quyền và nghĩa vụ của mình trong xã hội.

Với quan điểm trên, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới, thực tiễn của đất nước để tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, trong đó quán triệt sâu sắc việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; coi đây “là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” ở nước ta; được tiến hành đồng bộ với thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

So với các nghị quyết về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các hội nghị trung ương trước đây và các văn kiện Đại hội Đảng từ khóa VI đến khóa XIII, Nghị quyết số 27-NQ/TW khóa XIII đã thể hiện rõ tư duy mới, đột phá, toàn diện của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, nhận thức của Đảng ta về các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam sáng tỏ, đầy đủ và toàn diện hơn: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế”. 

Quan điểm chỉ đạo trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Đảng là phải hướng đến mục tiêu, động lực hoạt động của Nhà nước; tất cả để phục vụ nhân dân, vì lợi ích và hạnh phúc, ấm no của nhân dân, xây dựng xã hội văn minh. Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi thể chế, thiết chế vận hành của Nhà nước và “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Thiết kế tổ chức, hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải thể hiện được mục tiêu, động lực vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, thể hiện được khát vọng phát triển đất nước và quan trọng hơn, điều này không chỉ thể hiện trên văn bản mà pháp luật phải được thực thi trên thực tế bởi nhà nước pháp quyền.

Theo chiều ngược lại, văn minh là kết quả của trình độ phát triển dân chủ cao. Một xã hội văn minh sẽ tạo điều kiện, hỗ trợ cho sự phát triển của dân chủ. Một nền tảng văn hóa và xã hội vững chắc, với các giá trị như tôn trọng quyền con người, sự khoan dung và hợp tác, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện dân chủ. Các quy chuẩn văn hóa và đạo đức có thể giúp nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của họ; qua đó, tăng cường sự tham gia và trách nhiệm trong các hoạt động chính trị. Mặt khác, một nền kinh tế văn minh thường đi kèm với các kết cấu hạ tầng phát triển, hệ thống giáo dục và đào tạo chất lượng cao và các dịch vụ xã hội tốt. Những yếu tố này không chỉ hỗ trợ sự phát triển kinh tế, mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của dân chủ.

Sự phát triển của dân chủ đi đôi với sự phát triển của văn minh xã hội, khi mà các giá trị nhân quyền, tự do ngôn luận và tôn trọng sự khác biệt được đề cao. Một xã hội dân chủ là môi trường lý tưởng cho sự phát triển văn hóa và đạo đức xã hội. Văn minh là mục tiêu nhằm tạo dựng một môi trường tốt nhất cho phát triển con người; dân chủ là một trong những tiêu chí cơ bản phản ánh văn minh, tiến bộ của xã hội. Dân chủ đã tạo ra địa bàn để phát huy mọi tiềm lực, tập hợp các xu h­ướng lành mạnh trong dân tộc làm gia tăng và phát huy thế và lực của đất n­ước và cũng vì thế, vai trò động lực của dân chủ có giá trị to lớn và bền vững. Nền văn minh XHCN ở Việt Nam là kết quả của sự kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại, kết hợp với sự kết tinh, phát triển những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc. Theo đó, xã hội XHCN Việt Nam mà toàn Đảng, toàn dân ta phấn đấu xây dựng sẽ phải là một xã hội hiện đại, văn minh, tiến bộ, mang đậm giá trị bản sắc dân tộc; trong đó, con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

'Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả'

 1. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một trong những yếu tố then chốt đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tinh anh đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điểm hội tụ chiến lược sau 40 năm đổi mới đất nước đang đem đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn Cách mạng mới.

Mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta từ năm 1945 đến nay cơ bản ổn định gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội). Với cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, tổ chức bộ máy của từng khối đã có sự điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI đến nay, khái niệm “Hệ thống chính trị” chính thức được sử dụng đánh dấu sự phát triển tư duy, nhận thức của Đảng về yêu cầu, nhiệm vụ đối với hệ thống chính trị trong thời kỳ đổi mới.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt và đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn phát triển nóng bỏng của đất nước, qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều Nghị quyết, Kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 09/2/2007 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02/2/2008 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 50-KL/TW, ngày 28/2/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18; Kết luận số 37-KL/TW, ngày 02/2/2009 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ đến năm 2020; Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020; Kết luận số 64-KL/TW, ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương; Kết luận số 62-KL/TW, ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, hệ thống tổ chức đảng các cấp, bộ máy Nhà nước từ Trung ương tới cơ sở, tổ chức cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước được đổi mới, phát huy hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức trong hệ thống chính trị được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị cơ bản ổn định, phù hợp với Cương lĩnh và Hiến pháp; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thông qua vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng; giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; kinh tế xã hội phát triển, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Qua 07 năm thực hiện Nghị quyết số 18 ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin-cho, dễ này sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Chất lượng tham mưu, đề xuất của một cơ quan, tổ chức đảng với Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với một số lĩnh vực còn hạn chế; năng lực điều phối, hướng dẫn, tổ chức thực hiện trong toàn Đảng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; phân định phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của các bộ chưa triệt để; một số nhiệm vụ liên thông, gắn kết nhau hoặc cùng một lĩnh vực nhưng giao cho nhiều bộ quản lý. Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang Bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng “Bộ trong Bộ”. Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ.

Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng. Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Sự chồng chéo, phân định không rõ chức năng, nhiệm vụ dẫn đến không rõ trách nhiệm, “lấn sân”, cản trở, thậm chí “vô hiệu hóa” lẫn nhau, làm giảm tính chủ động, sáng tạo, dẫn đến năng suất lao động, hiệu suất công tác thấp, đùn đẩy trách nhiệm, tiêu cực, cản trở phát triển, phát sinh phiền nhiễu, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tầng nấc trung gian dẫn đến mất thời gian qua “nhiều cửa” thủ tục hành chính, gây cản trở, thậm chí tạo điểm nghẽn, làm lỡ cơ hội phát triển. Chi phí vận hành hệ thống tổ chức bộ máy lớn, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. So với những thay đổi to lớn của đất nước sau 40 năm đổi mới, sự phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và những thành tựu khoa học công nghệ; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta tuy đã được đổi mới ở một số bộ phận, nhưng cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước, nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện mới là trái với quy luật phát triển; tạo ra tâm lý “Nói không đi đôi với làm”.

2. Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, với một số công tác trọng tâm, sau đây:

Thứ nhất: xây dựng và tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Tập trung tổng kết 07 năm thực hiện Nghị quyết số 18 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đánh giá nghiên túc, toàn diện về tình hình và kết quả đạt được, những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Nghị quyết; đề xuất, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tổng kết phải tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cụ thể, sâu sắc, cầu thị, sát đúng với tình hình thực tiễn từ đó đề xuất mô hình tổ chức mới, đánh giá ưu điểm và tác động khi thực hiện mô hình mới, phải bám sát Hiến pháp, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nguyên tắc của Đảng, các Nghị quyết của Trung ương... bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính; khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực; hạn chế tổ chức trung gian; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể trên cơ sở tính đảng, tính hợp lý, tính hợp pháp.

Thứ hai: tập trung hoàn thiện thể chế theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng” để nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống. Rà soát các quy định pháp luật có liên quan để chủ động chuẩn bị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo đúng quy định, bảo đảm chủ trương của Đảng được triển khai nhanh nhất sau khi được Trung ương thống nhất thông qua. Tập trung hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, gắn với tinh thần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, Trung ương, Chính phủ, Quốc hội tăng cường hoàn thiện thể chế, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát và cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp. Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, bảo đảm sự phân biệt rõ cấp ban hành chủ trương, chính sách, pháp luật với cấp tổ chức thực hiện.

Thứ ba: gắn tinh gọn tổ chức bộ máy với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế hợp lý, chuẩn hóa chức danh. Ban hành quy định về khung tiêu chuẩn, tiêu chí bố trí cán bộ ở từng cấp, từ Trung ương tới cơ sở, từng loại hình để chủ động rà soát, xác định có thể bố trí ngay. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản phẩm cụ thể đo đếm được, không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong đánh giá cán bộ. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và sử dụng đối với người có năng lực nổi trội.

V.I Lênin khi nói về cải tiến bộ máy Nhà nước đã nhấn mạnh: “Phải tuân theo qui tắc này: thà ít mà tốt... Tôi biết rằng giữ vững qui tắc ấy và vận dụng được nó vào tình hình thực tế của chúng ta là khó khăn... Tôi biết rằng sẽ phải kháng cự một cách mãnh liệt, sẽ phải tỏ ra kiên trì phi thường... Song tôi vẫn tin chắc rằng chỉ có tiến hành công tác đó, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước cộng hòa thật sự xứng danh là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô- Viết”[1]; xây dựng tổ chức bộ máy hiệu lực hiệu quả là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, dũng cảm, sự hy sinh của từng cán bộ, đảng viên cùng với quyết tâm rất cao của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, tất cả vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu./.