Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

BẢO VỆ TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 1. Đấu tranh chống những tư tưởng lệch lạc trong nội bộ, khắc phục triệt để những biểu hiện dao động về lập trường tư tưởng và loại bỏ mọi hoài nghi về tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự tan rã, sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Đông Âu, Liên Xô, cùng với những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù lợi dụng để tuyên truyền về sự phát triển tuyệt đích của kinh tế tư bản chủ nghĩa; về sự tồn tại vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản và sự lỗi thời lạc hậu của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong điều kiện hiện nay sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang tác động và ảnh hưởng đến nhiều bình diện, nhất là nhận thức, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội đối với mục tiêu, lý tưởng, lập trường quan điểm giai cấp công nhân của Đảng; dễ làm nảy sinh tư tưởng cho rằng: trên thực tế chúng ta đang hòa nhập vào chủ nghĩa tư bản, thừa nhận sự tồn tại hiện diện của chủ nghĩa tư bản và bắt tay, thỏa hiệp, thậm chí chấp nhận làm ăn theo lối tư bản chủ nghĩa. Trên thực tế, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ do ngộ nhận trong nhận thức, tư tưởng, dẫn đến mắc mưu kẻ thù, hoài nghi về tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng, chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang ra sức xây dựng cũng chỉ là một mô hình lý tưởng, tồn tại trên lý thuyết… Đây là những nhận thức lệch lạc hết sức nguy hiểm, nếu không được đấu tranh khắc phục kịp thời rất dễ dẫn đến thái độ đồng tình, thậm chí ủng hộ những quan điểm, tư tưởng đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận vai trò lãnh đạo và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản, phủ nhận chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.

2. Đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện mơ hồ, hoài nghi, dao động đối với mục tiêu con đường xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới; củng cố, giữ vững niềm tin, ý chí, quyết tâm chiến đấu bảo vệ Đảng, chế độ, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện kinh tế nước ta còn chậm phát triển, khi chúng ta chấp nhận sự hợp tác, liên kết sản xuất, kinh doanh, làm ăn kinh tế với các nước tư bản phát triển, nhất là với Mỹ, điều đó làm cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội dễ hoài nghi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta với kinh tế các nước phát triển. Đặc biệt, đi kèm với những chính sách ưu đãi về kinh tế, các nước phát triển thường áp đặt những yêu sách về chính trị, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do, dân tộc, tôn giáo để ép buộc chúng ta phải thay đổi, điều chỉnh đường lối chiến lược, sách lược. Tình hình đó cũng sẽ làm cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội hoài nghi về khả năng giữ vững ranh giới giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; hoài nghi giữa sự phát triển kinh tế, mở rộng thị trường với sự vô tình tạo sơ hở để cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam theo kiểu “cuộc cách mạng nhung”. Ngược lại, cũng rất dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan, mơ hồ, ngộ nhận cho rằng, chúng ta trở thành đồng minh của các nước tư bản phát triển trên thế giới, quyền lợi Việt Nam gắn bó mật thiết với quyền lợi của các nước tư bản lớn, từ đó dẫn tới buông lỏng ý thức cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

3. Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động chống phá bằng “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Khi chúng ta mở rộng quan hệ với các nước lớn, thông qua các hiệp định song phương, đa phương và hình thành các khu kinh tế mở… thì vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chống “diễn biến hoà bình” lại càng thêm khó khăn. Hàng loạt vấn đề mới về an ninh quốc gia, hoặc liên quan đến an ninh quốc gia xuất hiện như: an ninh kinh tế, văn hóa, thông tin… đã, đang làm cho khả năng kiểm soát, ngăn chặn của Nhà nước ta hết sức khó khăn, kém hiệu quả. Trong khi đó, các cuộc xâm nhập, tiến công từ bên ngoài bằng các thủ đoạn thông tin kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và các cuộc chiến trên mạng Internet diễn ra ngày càng quyết liệt và phức tạp.

Hiện nay, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch đã ra sức kích động và lợi dụng khoét sâu những sai lầm, thiếu sót của chúng ta, nhất là sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng, Nhà nước, ra sức kích động, lôi kéo tập hợp lực lượng tạo dựng ngọn cờ, tạo ra các tổ chức, lực lượng phản động hoạt động công khai, ngang nhiên tiến công, chống phá cách mạng nước ta; đồng thời, tạo ra khoảng trống trong ý thức hệ, tác động làm xói mòn niềm tin của cán bộ, chiến sĩ ta đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, với mục tiêu con đường xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang ra sức phấn đấu thực hiện. Đây là thách thức rất lớn đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia nói chung, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội nói riêng, đòi hỏi chúng ta phải vượt qua trong suốt quá trình hội nhập.

4. Giữ vững nguyên tắc, nền nếp, chế độ sinh hoạt và hoạt động của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội.

Chúng ta phải kiên trì, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và sự nghiệp lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Mặt khác, đòi hỏi toàn Đảng, cũng như từng tổ chức đảng phải nỗ lực vươn lên, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cho ngang tầm nhiệm vụ. Vấn đề đó vừa là yêu cầu khách quan vừa là nhu cầu nội tại của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội hiện nay. Thực trạng công tác xây dựng Đảng trong Quân đội hiện đang tồn tại những vấn đề bất cập cần tiếp tục được khắc phục để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cho ngang tầm với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, bảo vệ Đảng, bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện nay phải tập trung mọi nỗ lực để xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, trước hết là nâng cao năng lực tham mưu cho Đảng, Nhà nước về những vấn đề thuộc đường lối nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong sinh hoạt và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng./.

 

Bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng


Thêu dệt để xuyên tạc những sự kiện lịch sử nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kích động xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những hình thức mà các thế lực thù địch thường sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam. Nhận diện, đấu tranh bác bỏ thủ đoạn này là yêu cầu cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Lịch sử là những điều đã qua, nhưng luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Đối với mỗi chủ thể khác nhau, lịch sử bao gồm cả những thành công và hạn chế, thậm chí là thất bại. Có nhiều góc nhìn về lịch sử, song về nguyên tắc, xem xét, đánh giá lịch sử phải công bằng, khách quan, không được tô hồng, bôi đen, định kiến, chủ quan. Cho đến nay, nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển là sự khái quát cao nhất, khoa học nhất để xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng nói chung và lịch sử nói riêng. Mọi sự xa rời hoặc không tuân thủ nguyên tắc này khi xem xét, đánh giá lịch sử sẽ không tránh khỏi sai lầm. Điển hình như việc các thế lực thù địch xuyên tạc về cơ sở hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin; lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin; xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Đây là những luận điểm hết sức sai lầm về mặt khoa học và phản động về chính trị và những luận giải dưới đây sẽ làm rõ tính chất phản động của nó.

Trước hếtvề cơ sở sự hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị viện cớ: thời gian hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin từ giữa, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là quá lâu và quá cũ rồi nên đã hết giá trị khoa học, ý nghĩa hiện thực. Rằng, chủ nghĩa Mác chỉ đúng, phù hợp với điều kiện lịch sử ở châu Âu, thế kỷ XIX, nay đã lạc hậu; chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp ở một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thời đại ngày nay; chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông,... (!). Đây chính là biểu hiện cố tình tách rời, thậm chí là đối lập giữa C.Mác và Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, trong khi tư tưởng của các ông là thống nhất ở bản chất cách mạng, khoa học, cho dù có sự khác nhau ở một số nội dung, quan điểm cụ thể.

Về mặt khoa học, nếu chỉ lấy yếu tố thời gian hình thành, phát triển sớm hay muộn của một học thuyết, một tư tưởng để phán xét giá trị của nó là không khách quan, thậm chí hoàn toàn sai lầm. Bởi, trong thực tế có những học thuyết, tư tưởng vừa mới ra đời đã lạc hậu, không còn giá trị đối với xã hội. Ngược lại, có những lý luận, định đề, định lý của khoa học tự nhiên hay tư tưởng mang tính nhân đạo, nhân văn của nhân loại ra đời trước chủ nghĩa Mác - Lênin rất lâu, như: tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái xuất hiện vào thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV - XVI) ở phương Tây đến nay vẫn được nghiên cứu, thừa nhận như một tín hiệu mới, có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển của xã hội. Do đó, không thể chỉ căn cứ vào yếu tố thời gian để chủ quan phán xét về giá trị của một học thuyết, mà phải xem xét trên cơ sở khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển của sự vật, hiện tượng. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác - Lênin với tính chất của một học thuyết dẫn đường đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; là nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản tập trung nhất ở phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư,… đã, đang chứng minh sức sống và giá trị bền vững thì sự xuyên tạc về lịch sử hình thành, phát triển cũng như sự phù hợp của học thuyết này là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Không những thế, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở; là sự định hướng về thế giới quan, phương pháp luận khoa học chung cho cả nhân loại, chứ không riêng cho quốc gia nào,... cho nên không thể nói rằng nó chỉ đúng với phương Tây, không đúng với phương Đông như các luận điệu xuyên tạc. Điều đó càng cho thấy, việc lấy yếu tố thời gian cũng như sự phù hợp với nơi này, không phù hợp với nơi khác,... để phủ nhận giá trị khoa học, bản chất cách mạng một học thuyết chỉ là cái cớ hòng thực hiện mưu đồ chống phá nền tảng tư tưởng, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Hai là, không thể lấy sự kiện sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu (thập niên cuối thế kỷ XX) để quy chụp cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác – Lênin. Chúng ta đều biết, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một sự thật lịch sử vô cùng đáng tiếc sau bao nhiêu năm dày công vun đắp. Tuy nhiên, đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa cụ thể, với những nguyên nhân xác đáng chứ không phải là sụp đổ của một học thuyết cách mạng và khoa học như chủ nghĩa Mác - Lênin và càng không phải là sự chấm dứt lịch sử phát triển của nhân loại đi lên chủ nghĩa xã hội theo tiến trình lịch sử - tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Thế nhưng các thế lực thù địch lại vin vào sự kiện này để quy chụp rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin đã không có giá trị, sức sống; chủ nghĩa xã hội chỉ là “quái thai” của lịch sử hoặc chỉ tồn tại trong tư tưởng, không có tính hiện thực; C.Mác và Ph.Ăngghen sáng tạo ra lý luận đấu tranh giai cấp để quăng lên vai những người lao động sứ mệnh tàn sát lẫn nhau; thậm chí, họ còn biện hộ cho chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao nhất của lịch sử nhân loại, v.v. Toàn bộ những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cả trong lịch sử và hiện nay, dù diễn đạt dưới bất cứ hình thức nào, chung quy lại vẫn là đổ lỗi cho các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, họ rêu rao rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; kiên định với mục tiêu chủ nghĩa xã hội là không thức thời, lầm đường, lạc lối, đi vào ngõ cụt và trước sau cũng sụp đổ (!).

Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng ta khẳng định rằng: sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là sự phản ánh bước phát triển quanh co, phức tạp của lịch sử chứ không phải là sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội với tính chất là xu hướng phát triển chung của nhân loại. Đó chỉ là sụp đổ của một mô hình bị rơi vào xơ cứng, giáo điều, không sinh động ở những thập niên cuối thế kỷ XX. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật thì mô hình ấy đáng phải sụp đổ để tư tưởng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là khoa học, cách mạng. Bởi, xơ cứng, giáo điều là kẻ thù số một của phép biện chứng duy vật. Sự sụp đổ đó không phải do lỗi của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, vì họ đã chỉ ra lý luận của mình chỉ là định hướng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và khi vận dụng vào thực tiễn phải sáng tạo, cụ thể. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu từ sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga đến thập niên 70 của thế kỷ XX đã thu được những thành tựu kỳ diệu, mà nhân loại không thể phủ nhận. Đáng tiếc là sau đó, Đảng Cộng sản ở các nước đó không tuân thủ những nguyên tắc căn bản trong xây dựng đảng, bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, đặc biệt là bọn cơ hội xét lại trỗi dậy, lũng đoạn bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Vì vậy, việc đổ lỗi do sai lầm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là không tôn trọng lịch sử, thể hiện rõ mưu đồ của các thế lực thù địch là chống phá cách mạng, mà trực tiếp nhất là chống phá Đảng Cộng sản. Và, thật nực cười khi họ lại suy diễn một cách cơ học, siêu hình như vậy, trong khi lẽ ra phải khẳng định rằng, mặc dù Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu, Liên Xô xa rời, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đến sụp đổ, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là một biểu tượng sáng ngời về tính kiên định, sự trung thành mới phải.

Ba làvề sự xuyên tạc lịch sử hình thành, nội dung, bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều vấn đề, nhưng tựu trung lại là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó đã vượt lên trên tất cả các tư tưởng đương thời trong nước lúc bấy giờ, thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học, cách mạng; đồng thời, mang sắc thái riêng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, khẳng định vị trí, định hướng tư tưởng cho lịch sử phát triển ở Việt Nam. Kết quả lịch sử hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Với tầm vóc to lớn về tính cách mạng và giá trị khoa học như thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991) đã bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ấy vậy mà, các thế lực thù địch lại xuyên tạc một cách trắng trợn rằng, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ có khác biệt, không có sự thống nhất. Họ thường sử dụng thủ đoạn: cường điệu hóa tính dân tộc trong tư tưởng của Người để tách biệt, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin; tỏ vẻ ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh rất khách quan, nhưng thực chất là hạ thấp uy tín, tầm ảnh hưởng của Người ở trong nước và quốc tế; không nghiên cứu kỹ hoặc cố tình không hiểu bản chất, cốt lõi tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. Thâm hiểm hơn, họ còn vu khống rằng: Hồ Chí Minh đã đưa tư tưởng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vào Việt Nam để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành các cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn; nồi da, nấu thịt”; họ cho rằng không nhất thiết phải tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng mà vẫn có thể có độc lập dân tộc. Đây là một sự phỉ báng lịch sử, nhằm phủ nhận những cống hiến, hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta. Họ cũng không hiểu hay cố tình không hiểu rằng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và độc lập theo kiểu tư sản trái ngược nhau về nội dung, bản chất, giá trị tiến bộ. Hiện thực minh chứng: mặc dù nhiều nước đã có độc lập tư sản mà không phải tiến hành chiến tranh, nhưng thực chất vẫn không có độc lập dân tộc theo đúng nghĩa của nó. Sự độc lập đó vẫn làm cho các đảng phái chính trị trong nước thường xuyên tranh giành quyền lực, gây bất ổn chính trị, thậm chí là đảo chính, xung đột vũ trang, tổn thất rất nhiều xương máu của quần chúng nhân dân và ở chừng mực nào đó, vẫn bị lệ thuộc vào các nước đế quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”1.

Từ những phân tích trên cho thấy, bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận lịch sử của các thế lực thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề mang tính thường xuyên, cấp bách hiện nay. Cùng với đó, cần không ngừng nắm vững và vận dụng sáng tạo, phù hợp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Xây dựng đời sống tinh thần xã hội với tính đồng thuận cao, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.

                                                                                                               st

Kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí công nghệ cao, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

 

Trước sự phát triển và hiệu quả tác chiến của một số loại vũ khí hiện đại tại các cuộc xung đột gần đây trên thế giới, một số người lại tiếp tục cổ súy thuyết “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao; đồng thời, hạ thấp vai trò của con người, phủ nhận đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng. Đây là những luận điệu không mới, song rất nguy hiểm, đòi hỏi chúng ta phải đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Chúng ta biết, vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo dựa trên những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, như: vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí năng lượng định hướng, vũ khí chùm tia, laze, chùm hạt, điện từ và vũ khí mềm, v.v. Các vũ khí này có đặc điểm nổi bật là độ chính xác cao, uy lực lớn, hoạt động ở tầm xa; nếu sử dụng một cách hợp lý sẽ đạt hiệu quả tác chiến cao gấp nhiều lần so với vũ khí thông thường. Một số loại vũ khí công nghệ cao còn được gọi là vũ khí thông minh, có khả năng nhận biết địa hình, ghi nhớ tọa độ và tự động tìm kiếm, lựa chọn và tiêu diệt mục tiêu, v.v. Tuy nhiên, do đều có nguồn gốc từ các loại vũ khí thông thường, hoạt động theo quy luật nhất định và phải chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố (địa hình, thời tiết, trình độ của người sử dụng,...).

Sự xuất hiện của các loại vũ khí công nghệ cao không chỉ dẫn đến nhiều vấn đề lý luận mới trong chiến tranh, như: chiến lược tác chiến chiều sâu, chiến tranh bằng tiến công hỏa lực, làm mờ đi ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương, không gian chiến tranh mở rộng, không còn nơi nào là hoàn toàn an toàn…; mà sự ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực quân sự hiện nay còn làm xuất hiện những công cụ chiến tranh mới (trí tuệ nhân tạo, rô bốt, công nghệ hóa sinh, công nghệ na nô...), môi trường tác chiến mới (không gian mạng), kéo theo đó là sự ra đời của các loại hình chiến tranh và phương thức tác chiến mới, làm gia tăng tính “phi đối xứng”, “phi tiếp xúc”, tạo tính đột biến, thay đổi cục diện chiến trường.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ quân sự, những cuộc thử nghiệm, công bố các loại vũ khí mới của một số quốc gia và viện dẫn về tình hình thế giới gần đây, nhất là những diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông ngày một lan rộng, cũng như xung đột giữa Nga - Ukraine đang diễn ra ác liệt,… một số người đã tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, đề cao thuyết “vũ khí luận”, coi nhẹ nhân tố con người trong chiến tranh. Họ cho rằng, một nước nhỏ có thể chống lại một nước lớn nếu có vũ khí công nghệ cao; hay, chỉ khi được trang bị vũ khí công nghệ cao mới có thể giành được chiến thắng trong chiến tranh hiện đại. Từ đó, họ hồ đồ kết luận: ngày nay, thắng hay thua trên chiến trường là do vũ khí công nghệ cao quyết định và đưa ra những quan điểm có tính chất phủ nhận đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng. Theo họ, để bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước không cần phải chi nhiều tiền của, công sức cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân và xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, cũng như các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố làm gì, vì như thế là “dàn trải”, “không phù hợp”, “không có sức mạnh để chế áp kẻ thù”, “làm cho đất nước suy yếu”. Họ còn đưa ra các yêu sách đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta nên dùng các khoản ngân sách chi cho quốc phòng, an ninh để mua sắm các loại vũ khí công nghệ cao,… và sớm phải có vũ khí hạt nhân nhằm răn đe kẻ thù, coi đó là biện pháp quyết định trong thực hiện mục tiêu chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, v.v.

Những luận điệu nêu trên cho thấy, hoặc là họ không nhận thức đầy đủ hoặc “cố tình” không hiểu về mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố con người (giữ vai trò quyết định) và vũ khí (giữ vai trò quan trọng); cũng như tác dụng, giá trị và ý nghĩa của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng “thế trận lòng dân” của Đảng, Nhà nước ta. Và dù là “vô tình” hay cố ý thì những luận điệu này là hoàn toàn sai trái, không có cơ sở khoa học và không thể chấp nhận được.

Trước hết, chúng ta không phủ nhận vai trò và hiệu quả tác chiến của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh, song cho dù vũ khí có tiên tiến đến đâu thì cũng do con người chế tạo ra và sử dụng nó. Do vậy, con người vẫn là nhân tố quyết định trong chiến tranh. Đây là sự thật hiển nhiên, được cả lý luận và thực tiễn minh chứng.

Về lý luận, theo V.I. Lênin - lãnh tụ vĩ đại của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, người đã cùng Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga giải quyết thành công hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, xây dựng và lãnh đạo Hồng quân, đã chỉ rõ: Con người mới là nguồn gốc thắng lợi của mọi cuộc chiến tranh chứ không phải vũ khí là quyết định. V.I. Lênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa con người và vũ khí là mối quan hệ biện chứng, có tác động qua lại lẫn nhau để làm nên chiến thắng; trong đó, con người luôn giữ vai trò quyết định, còn vũ khí là yếu tố quan trọng, cần thiết - “người trước, súng sau”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân khí mạnh thì vũ khí nào cũng không chống nổi”2. “Vũ khí tốt mà tinh thần hèn, thì cũng vô dụng”3 và “không thể cậy vũ khí mà có thể quyết định được thắng lợi. Phải xem những người cầm vũ khí có phải là những chiến sĩ hăng hái đánh trận không”4. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người trực tiếp chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ trên chiến trường Việt Nam, bằng trải nghiệm thực tiễn cũng khẳng định: “Vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng”5.

Về thực tiễn, lịch sử truyền thống hào hùng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã khẳng định rõ vai trò quyết định của con người trong chiến tranh. Thực tế hầu hết các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược trong các triều đại phong kiến Việt Nam đều có một đặc điểm chung là tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch hết sức chênh lệch. Ta là một nước nhỏ, mọi tiềm lực đều có hạn; trái lại, các đế chế phương Bắc có khả năng huy động nguồn lực ưu thế hơn hẳn ta cả về quân số, trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh và có nguồn bổ sung to lớn6. Nhưng với ý chí của một dân tộc không biết khuất phục trước mọi kẻ thù, bằng nghệ thuật quân sự độc đáo “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”, các thế hệ người Việt đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Vậy, tại sao một nước nhỏ, tại sao một đội quân không đông mà đánh tan những đạo quân viễn chinh khổng lồ, hiếu chiến? Đó là, do ta đã biết phát huy sức mạnh của con người, đoàn kết một lòng, toàn dân đánh giặc, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đây chính là bằng chứng cho thấy vai trò quyết định của con người chứ không phải vũ khí trong chiến tranh của dân tộc Việt Nam.

Trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí, đề ra đường lối chiến tranh nhân dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, lãnh đạo quân và dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mặc dù được Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ về quân sự, song trình độ vũ khí trang bị của Quân đội ta vẫn lạc hậu so với các phương tiện chiến tranh tối tân của đế quốc Mỹ. Xét về trình độ khoa học và công nghệ vào thời điểm đó, nước Mỹ có tiềm lực khoa học, công nghệ lớn và quân đội được trang bị hiện đại nhất thế giới tư bản. Hầu hết các loại vũ khí hiện đại của quân đội Mỹ đều được sử dụng tham chiến tại chiến trường miền Nam. Nhưng với truyền thống yêu nước, ý chí quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước, toàn dân đoàn kết thống nhất đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhìn lại hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho thấy, một trong những sai lầm của những người vạch kế hoạch chiến tranh ở Pháp là đã đánh giá thấp Việt Minh, họ cho rằng Việt Minh chỉ là những người du kích nông dân. Còn người Mỹ lại xem Việt Cộng chỉ là đội quân được trang bị vũ khí lạc hậu. Tóm lại, cả người Pháp và Mỹ đều có chung quan điểm coi ưu thế của khoa học, công nghệ quyết định tất cả - đó là sai lầm về chiến lược. Bởi vì, “Ở Việt Nam, không phải vũ khí mà là con người quyết định kết quả chiến đấu. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc đối đầu với các đội quân xâm lược được trang bị hiện đại nhất thế giới”7 và “Bí quyết thắng lợi thần kỳ của nhân dân Việt Nam không phải là nằm trong các điều kiện hoàn cảnh ngoài như viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa mà nằm trong nhân tố nội tại - con người”8. Nhà sử học người Anh Nigel Cawthorne, sau nhiều năm nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đã khẳng định: “Nước Mỹ buộc phải chấp nhận một điều rằng dù với tất cả sức mạnh và sự ưu việt về kỹ thuật của mình, họ vẫn không thể đánh bại một đối thủ tuy nhỏ bé nhưng đầy quyết tâm”.

Mong muốn có vũ khí công nghệ cao để bảo vệ vững chắc Tổ quốc là điều tốt, nhưng không phải cứ muốn là làm ngay được. Hơn thế, xét đến cùng, vũ khí công nghệ cao dù hiện đại đến đâu, thì hiệu quả về sức mạnh vẫn phải do con người sử dụng nó. Con người mới là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, còn vũ khí, trang bị tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tác chiến; nó không thể quyết định thắng lợi; không thể thay thế vai trò của con người. Do vậy, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao, phủ nhận sức mạnh của con người là hoàn toàn sai trái, cần phải phê phán, bác bỏ.

Hai là, kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là đúng đắn, sáng tạo và là vấn đề không thể đảo ngược; mọi luận điệu suy diễn chủ quan từ thuyết “vũ khí luận” để phủ nhận đường lối quan trọng này của Đảng là không thể chấp nhận được. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc cho thấy, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là “Giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Ngày nay, để bảo vệ Tổ quốc, Đảng kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân9, chiến tranh nhân dân. Đây không phải là vấn đề mới, nhưng trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, với sự xuất hiện của các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, thì nội dung này càng trở nên quan trọng, cấp thiết hơn bao giờ hết. Cho dù các thế lực thù địch luôn cho rằng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao mà xác định đường lối đó là lỗi thời, lạc hậu, thì với ta xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được.

Đảng xác định, phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, vững mạnh ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi có chiến tranh. Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại, mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tạo sức mạnh tổng hợp cao, khả năng đề kháng mạnh mẽ, sẵn sàng triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến và cũng là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ xung đột và chiến tranh (kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao). Thực tiễn một số cuộc chiến tranh đã và đang xảy ra cho thấy, cùng với những ưu điểm trong tác chiến của vũ khí công nghệ cao, thì việc chi phí cho chế tạo, sản xuất các loại vũ khí này là rất lớn. Trong khi đó, với chiến trường rộng lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam, vũ khí công nghệ cao dù có uy lực mạnh, nhưng địch cũng không thể có đủ số lượng để tiến công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước ta. Cùng với đó, chiến thắng trên chiến trường chỉ có thể quyết định thông qua hành động trên bộ, thì với thế trận chiến tranh nhân dân - mỗi người dân Việt Nam là một người lính, mỗi làng xã là một pháo đài, nếu địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc thế trận chiến tranh nhân dân (dựa trên nền tảng quốc phòng toàn dân xây dựng vững chắc từ thời bình) sẽ phát huy hiệu quả cao nhất, buộc mọi kẻ thù xâm lược bị sa lầy, dẫn tới thất bại.

Với quan điểm chiến lược nhất quán, xuyên suốt, Đảng, Nhà nước ta đã và đang lãnh đạo, chỉ đạo tích cực, chủ động xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn diện, vững chắc, ngày càng hiện đại để bảo vệ Tổ quốc sẽ luôn là chủ trương hoàn toàn đúng đắn; phản ánh khả năng tự lực, khôn khéo trong chiến lược quốc phòng, biểu hiện ý chí và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Những luận điệu cho rằng xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện tác chiến hiện đại là sai lầm, thì thực sự những người nêu ra quan điểm này mới là những người mắc sai lầm. Bởi lẽ, con người luôn là nhân tố quyết định trong chiến tranh và việc xây dựng một nền quốc phòng toàn dân để tiến hành chiến tranh nhân dân chính là phát huy sức mạnh nhân tố con người trong bảo vệ Tổ quốc.

                                                                                                                  st

Bác bỏ luận điệu phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại

 

“Phi chính trị hóa” Quân đội là mục tiêu chống phá trọng điểm của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Thủ đoạn này đang được đẩy mạnh dưới chiêu bài xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị khi Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đây là vấn đề cần làm rõ và đấu tranh, bác bỏ.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu, khách quan, chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng Quân đội có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, lợi dụng chủ trương này, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh chống phá dưới nhiều góc độ khác nhau. Một trong số đó là đưa ra các luận điệu tuyên truyền nhằm hạ thấp và phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị, như: xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại chỉ cần đầu tư mua nhiều vũ khí, khí tài hiện đại; loại bỏ các hoạt động không cần thiết, nhất là công tác đảng, công tác chính trị để tập trung thời gian cho huấn luyện theo hướng chuyên nghiệp, nhà nghề; thậm chí cho rằng, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị chỉ làm “mất thời gian” và “không có lợi ích gì trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Đồng thời, họ cổ súy, tung hô thuyết “vũ khí luận”, với nội dung cốt lõi là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ yếu tố con người và nhân tố chính trị tinh thần, v.v.

Mục đích của những luận điệu trên vẫn là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thực hiện “phi chính trị hóa”, làm thay đổi bản chất cách mạng, khiến cho Quân đội từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ sự xuyên tạc phi lý, phản khoa học của những luận điệu này.

Trước hết, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị sẽ góp phần bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội - nhân tố hàng đầu quyết định đến việc xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Chúng ta đều biết, Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện theo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cũng nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng mà Quân đội ta đã ngày càng trưởng thành, lớn mạnh cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên những chiến công hiển hách. Vì vậy, việc xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại trước hết phải bảo đảm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Để làm được điều đó nhất thiết phải tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và phải luôn xem đó là nhân tố quan trọng, nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đó cũng là sự bảo đảm vững chắc để Quân đội luôn giữ vững bản chất, phương hướng chính trị đúng đắn, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Không những thế, thông qua các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, chính sách,... công tác đảng, công tác chính trị còn làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quán triệt, nhận thức sâu sắc, tạo sự đồng thuận cao về đường lối, chủ trương xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng; nắm chắc cơ sở lý luận, thực tiễn; vị trí, ý nghĩa, sự cần thiết phải hiện đại hóa Quân đội. Nếu không thực hiện đúng nguyên tắc này, tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và chiến thắng kẻ thù. Bài học về sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cho thấy, nguyên nhân cốt yếu là quân đội các nước này từng bước từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị bị tê liệt, kém hiệu quả. Vì vậy, để xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, lập luận cho rằng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị “không có tác dụng gì” trong xây dựng Quân đội hiện đại chỉ là lối suy diễn chủ quan, với mưu đồ không trong sáng và không thể chấp nhận được.

Xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại là quá trình lâu dài, bao gồm nhiều nội dung; trong đó, cùng với vũ khí, trang bị, cần chú trọng xây dựng con người và tổ chức - nhân tố trung tâm, giữ vai trò quyết định. Đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí, quyết tâm cao, trung thành, tận tụy với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; có tư duy, trình độ, năng lực, làm chủ khoa học và công nghệ, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến; có phương pháp, tác phong hiện đại, v.v. Và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị sẽ góp phần xây dựng, giáo dục, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu quan trọng này; đồng thời, thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu hiện đại hóa Quân đội. Mặt khác, thực tiễn quá trình điều chỉnh, sắp xếp tổ chức, biên chế trong lộ trình xây dựng Quân đội hiện đại đã và đang tác động đến nhiều cấp, ngành, đơn vị, tổ chức và cá nhân, cùng không ít những vấn đề nhạy cảm, phức tạp nảy sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân. Vì vậy, công tác đảng, công tác chính trị càng có vai trò quan trọng, khâu then chốt, quyết định nhằm xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Qua đó, trực tiếp góp phần xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là ở cơ sở, bảo đảm luôn đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, lãnh đạo cơ quan, đơn vị vượt qua những khó khăn, thách thức, giải quyết hài hòa, thấu đáo những vấn đề nảy sinh trong điều chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng, xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng với đó, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị còn thể hiện ở việc chăm lo bồi dưỡng, phát triển phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ ý thức trân trọng, giữ gìn và không ngừng phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn phát triển mới của Quân đội và kỷ nguyên vươn mình của đất nước; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giáo dục, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không dao động trước khó khăn, thử thách; không bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung, lợi ích tập thể; nhận thức sâu sắc đối tượng, đối tác, tình hình nhiệm vụ, thấy hết thuận lợi, khó khăn, xác định rõ trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên hiện đại không chỉ bao hàm việc đầu tư hiện đại hóa vũ khí, trang bị, mà còn cần thiết phải xây dựng cả nhân tố con người, tổ chức và nghệ thuật quân sự, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, vượt trội, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì thế, luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật, xem nhẹ hoặc loại bỏ công tác đảng, công tác chính trị trong quá trình hiện đại hóa Quân đội là cách nhìn phiến diện, phi thực tiễn và không có cơ sở khoa học.

Lịch sử 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam cho thấy, công tác đảng, công tác chính trị luôn là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của bộ đội, nhân lên sức mạnh vũ khí, trang bị. Nhận rõ vị trí, vai trò đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương xây dựng Quân đội toàn diện về mọi mặt; trong đó, hoạt động công tác đảng, công chính trị nhằm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản chân chính, qua đó, thúc giục cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy cao độ bản lĩnh chính trị, ý chí, quyết tâm chiến đấu kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”,… đánh bại quân đội nhà nghề của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với những vũ khí tối tân, hiện đại gấp nhiều lần chúng ta. Điều đó đã minh chứng cho tư tưởng của V. Lê-nin, rằng: “Ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính ủy làm được chu đáo nhất…, ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”1 và “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”2. Đồng thời, là bài học kinh nghiệm quý báu để hoạt động công tác đảng, công tác chính trị tiếp tục phát huy hiệu lực, hiệu quả, củng cố niềm tin của bộ đội vào khả năng chiến đấu, chiến thắng của quân và dân ta; nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; sử dụng hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, tạo sức mạnh tổng hợp, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù.

Từ cơ sở trên có thể khẳng định, trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị không những không mất đi, mà ngày càng  trở nên quan trọng. Các luận điệu nhằm phủ nhận, hạ thấp vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội đều không có cơ sở khoa học và tính thuyết phục, mà mang tính chủ quan với ý đồ không trong sáng, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

                                                                                                             st

Không thể xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước

 

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta được đẩy mạnh, triển khai đồng bộ, quyết liệt, đem lại kết quả tích cực. Tuy nhiên, lợi dụng những sai phạm, lãng phí của một số dự án, công trình, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục khoét sâu để chống phá với nhiều luận điệu xuyên tạc, hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước. Đây là vấn đề cần được làm rõ và đấu tranh, bác bỏ.

Viện cớ vào một số vụ việc lãng phí mà các cơ quan chức năng đã và đang điều tra, xét xử, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, phủ nhận những kết quả công tác phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta. Trên các trang mạng, như: BBC Tiếng Việt, Chân Trời Mới Media, Việt Tân,… họ đưa ra luận điệu: công tác phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta chỉ là “khẩu hiệu suông”, thiếu thực tiễn và tính khả thi do tất cả các công trình, dự án mà Nhà nước làm chủ đầu tư đều bị tham nhũng, lãng phí! Và, quy chụp rằng, mọi nguyên nhân dẫn đến lãng phí đều bắt nguồn từ sự quản lý yếu kém của chính quyền các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì theo họ, chế độ một đảng độc quyền lãnh đạo đất nước nên bị mất dân chủ, không có sự giám sát của nhân dân và sự phản biện của các tổ chức chính trị xã hội trong nước và quốc tế dẫn đến tệ lãng phí ngày càng nghiêm trọng, bởi Đảng đã suy thoái trầm trọng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, không có bản lĩnh, trí tuệ để lãnh đạo đất nước. Từ đó, hô hào “chỉ có tự do chính trị mới giúp Việt Nam phòng, chống được lãng phí”. Rồi họ tuyên truyền, kích động nhân dân rằng: muốn phòng, chống lãng phí phải chống độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi phải đa nguyên, đa đảng để đảm bảo “tự do, dân chủ”. Họ ra sức tuyên truyền, bịa đặt, lèo lái dư luận theo hướng công tác phòng, chống lãng phí mà Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành chỉ là hình thức nhằm che đậy những hành vi quan liêu, tham nhũng và những hạn chế, yếu kém của bộ máy chính quyền các cấp.

Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đều phản bác lại sự xuyên tạc này. Bởi trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi lãng phí là tệ nạn, căn bệnh nguy hiểm đối với sự phát triển đất nước, dân tộc. Do đó, cùng với quyết tâm diệt trừ  “giặc nội xâm”, công tác phòng, chống lãng phí luôn được Đảng, Nhà nước ta đề cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Lãng phí tuy khác với tham ô... Nhưng kết quả thì làm tổn hại rất nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân”1, bởi nó xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, cả trong gia đình, cơ quan, đơn vị và xã hội, nó biểu hiện bằng nhiều hình thức: lãng phí về thời gian, lãng phí về sức lao động, lãng phí tiền của, v.v. Đồng thời, Người chỉ rõ nguyên nhân, biện pháp và cách thức đấu tranh phòng, chống lãng phí trong toàn Đảng, hệ thống chính trị cũng như ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định: “Phòng, chống lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2.

Về mặt pháp lý, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết,… tạo khuôn khổ pháp luật để tiến hành công tác phòng, chống lãng phí. Trong đó, Quốc hội đã ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (năm 2005 và năm 2013); gần đây nhất, ngày 29/10/2024, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Quy định số 191-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (thay thế Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021) và Quyết định số 192-QĐ/TW kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (bổ sung nhiệm vụ phòng, chống lãng phí với trọng tâm của phòng, chống lãng phí là trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công). Đặc biệt, với quyết tâm chính trị rất cao, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã chỉ rõ: cần nghiên cứu, chỉ đạo quyết liệt để triển khai ngay công tác trọng tâm, đột phá về phòng, chống lãng phí, tạo khí thế mới, chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xác định phòng, chống lãng phí có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời yêu cầu phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống lãng phí đảm bảo đồng bộ, thống nhất, v.v.

Cùng với đó, Chính phủ cũng vào cuộc quyết liệt đối với công tác phòng, chống lãng phí. Báo cáo của Chính phủ về đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2024; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2025, nêu rõ: “Chính phủ sẽ đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; về xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, kê biên, phong tỏa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc”. Công điện số 125/CĐ-TTg, ngày 01/12/2024, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; trong đó khẳng định: năm 2024, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương triển khai, thực hiện quyết liệt, hiệu quả quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, do đó đã tạo nhiều chuyển biến và đạt được kết quả quan trọng, góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt những thành tựu vĩ đại; đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ, kể cả trong bối cảnh có những thách thức chưa từng có tiền lệ như dịch bệnh, thiên tai; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước. Đặc biệt, cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong hệ thống chính trị theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã và đang được các ban, bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt chính là giải pháp quan trọng để giải quyết triệt để các nguyên nhân dẫn đến lãng phí tài sản công, tài nguyên thiên nhiên của đất nước, nhằm nâng cao năng lực quản lý và điều hành quốc gia và tạo mọi nguồn lực để phát triển đất nước, chăm lo đời sống nhân dân.

Về mặt thực tiễn, thực hiện sự chỉ đạo quyết liệt của người đứng đầu Đảng ta, nhất là từ sau Phiên họp thứ 26 của Ban Chỉ đạo (ngày 14/8/2024), công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, của Đảng lên trên hết; phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra, chỉ đạo kiểm tra đối với các tổ chức đảng, đảng viên liên quan đến vụ án xảy ra tại Tập đoàn Phúc Sơn, Tập đoàn Thuận An; hoàn thành các cuộc kiểm tra liên quan đến Công ty Cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC); qua kiểm tra đã xử lý, kiến nghị xử lý 247 tổ chức đảng, 441 đảng viên, chuyển cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền 26 vụ việc. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp trên cả nước đã khởi tố, điều tra 734 vụ/1.681 bị can, truy tố 591 vụ/1.479 bị can, xét xử sơ thẩm 1.002 vụ/2.703 bị cáo. Các địa phương đã khởi tố mới 656 vụ án/1.367 bị can, trong đó có 169 vụ án/347 bị can, nâng tổng số vụ án khởi tố mới ở các địa phương từ đầu năm 2024 đến nay là 613 vụ án/1.350 bị can. Ngày 31/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố vụ án hình sự “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Dự án hồ chứa nước Bản Mồng, tỉnh Nghệ An do Ban Quản lý đầu tư và xây dựng Thủy lợi 4 (Ban 4) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư chậm tiến độ, phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần gây lãng phí lớn cho ngân sách nhà nước. Tiếp theo, ngày 03/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tiến hành khởi tố vụ án gây thất thoát, lãng phí đặc biệt lớn “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” xảy ra tại Công ty Hưng Thịnh và các đơn vị liên quan trong việc khai thác quặng Titan vượt nhiều lần trữ lượng, công suất theo giấy phép khai thác khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp; khai thác, xuất bán quặng Titan nguyên khai không qua chế biến, gây thất thoát, lãng phí đặc biệt lớn nguồn tài nguyên khoáng sản và tiền thuế cho ngân sách nhà nước.

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn, công tác phòng, chống lãng phí được cả hệ thống chính trị vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, toàn diện ở tất cả các cấp, ngành, lĩnh vực, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và người dân. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức trong công tác phòng, chống lãng phí, nhưng quyết tâm chính trị của cả hệ thống chính trị và những thành quả đã đạt được là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận. Kết quả đó khẳng định: công tác phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành không phải là “khẩu hiệu suông”, hay chỉ “nói” mà không “làm”, “phát” mà không “động”. Đồng thời, là bằng chứng đanh thép nhất bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động, cho rằng việc phòng, chống lãng phí mà cả hệ thống chính trị đang vào cuộc chỉ để xoa dịu dư luận xã hội, che đậy sự quan liêu, nạn tham nhũng của chính quyền các cấp mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn rêu rao nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Hiện nay, đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, với sự nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang quyết liệt thực hiện các giải pháp đột phá về phòng, chống lãng phí, tạo chuyển biến rõ nét và hiệu ứng tích cực trong toàn xã hội. Chúng ta tin tưởng rằng, công tác đấu tranh phòng, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa, tiếp tục củng cố niềm tin và sự đồng lòng của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với công tác quan trọng này.

                                                                                                  st

Không thể xuyên tạc, phủ nhận vai trò của các cơ quan dân cử ở nước ta


Cơ quan dân cử ở Việt Nam bao gồm Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bầu ra, nắm giữ quyền lực nhà nước cao nhất ở Trung ương và các địa phương. Cùng với tiến trình phát triển đất nước, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan dân cử ngày càng hoàn thiện, phát huy tốt vai trò, sứ mệnh là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam. Đây là thực tế không thể xuyên tạc, phủ nhận.

Ngày 03/9/1945, tức là chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng là phải thực hiện ngay việc: “... tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”1 để bầu ra Quốc hội. Đây là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.

Ở các địa phương, hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân và do nhân dân địa phương bầu ra để quyết định những chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, v.v. Đồng thời, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương mình.

Cùng với tiến trình phát triển của cách mạng nước nhà, tổ chức bộ máy, hoạt động của các cơ quan dân cử ngày càng hoàn thiện, đổi mới; vị trí, chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng hơn; tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân được quy định đầy đủ, cụ thể, nhất là trong hoạt động giám sát, giữ mối liên hệ với cử tri, v.v. Thực tiễn đó đã khẳng định, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đã, đang phát huy tốt vai trò, chức năng, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò của các cơ quan dân cử với những luận điệu tuy không mới, song rất nguy hiểm.

Trước hết, họ xuyên tạc cho rằng, việc bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp ở Việt Nam không dân chủ, chỉ mang tính hình thức. Thậm chí một số luận điệu còn vu cáo: việc ứng cử, bầu cử ở Việt Nam thực chất là biến tấu cơ chế “đảng cử, dân bầu”; quá trình bầu cử là sự “trình diễn” theo áp đặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ thêu dệt, rêu rao rằng: ở Việt Nam bầu cử chỉ là hình thức, vì hầu hết đại biểu các cơ quan dân cử đều là đảng viên Cộng sản, thì làm gì có dân chủ,... từ đó họ kêu gọi, kích động nhân dân “tẩy chay”, không tham gia bầu cử. Đây là thủ đoạn không mới nhưng rất nguy hiểm, nhất là trước mỗi lần bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ. Chúng ta biết, ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội,... của nước đó để quy định cách thức tổ chức bầu cử, nên không thể lấy mô hình của nước này để áp đặt cho nước khác. Ở Việt Nam, từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Và cũng kể từ đó, quyền làm chủ của nhân dân trong bầu cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp luôn được bảo đảm và ngày càng được phát huy đầy đủ, thực chất hơn.

Đặc biệt, trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử để cử tri lựa chọn những người có đức, có tài bầu vào Quốc hội. Không chỉ vậy, trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp 1946) quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và mất công quyền...”. Từ đó đến nay, cùng với tiến trình cách mạng, đổi mới và phát triển đất nước, quyền bầu cử, ứng cử của công dân ngày càng được bổ sung đầy đủ, dân chủ hơn, được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959 (Điều 23), Hiến pháp 1980 (Điều 57), Hiến pháp 1992 (Điều 54) và Hiến pháp 2013 (Điều 27). Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, trong Luật Bầu cử đã quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Như vậy, những quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử của nước ta đã thể hiện nhất quán quan điểm và các nguyên tắc bầu cử, bảo đảm ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948.  

Bên cạnh đó, trong quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,... đóng vai trò là chủ thể đứng ra tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp. Đồng thời, phối hợp với cơ quan nhà nước thành lập, cử đại diện tham gia các bộ phận phụ trách công tác bầu cử cùng cấp, trực tiếp giám sát việc bầu cử. Để có tên chính thức trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, các ứng cử viên phải trải qua ba vòng hiệp thương được tổ chức chặt chẽ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Danh sách chính thức những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp phải đáp ứng về phẩm chất, năng lực công tác đại diện cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các tầng lớp nhân dân; bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần, dân tộc, tôn giáo, người ngoài Đảng, v.v. Việc thực hiện quy trình hiệp thương đã thể hiện sự dân chủ, công khai để nhân dân lựa chọn bầu ra cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở Trung ương và địa phương. Như vậy, luận điệu cho rằng ở Việt Nam, việc bầu cử là biến tấu cơ chế “đảng cử, dân bầu”, mang tính hình thức, thiếu dân chủ là hoàn toàn phi lý, không có cơ sở.

Cùng với xuyên tạc về “tính dân chủ” trong bầu cử, họ còn vô tư phán rằng, chất lượng bầu cử và chất lượng đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân ở Việt Nam thấp, chỉ là đủ cơ cấu để ngồi “bấm nút”Đây là nhận định hoàn toàn mang tính chủ quan, với dụng ý xấu, bởi tất cả mọi quốc gia muốn phát triển bền vững đều phải tuyển dụng và trọng dụng người có đức, có tài, nhất là đối với các cơ quan lập pháp và hành pháp của đất nước. Đó là vấn đề tất yếu khách quan và được thể hiện rất rõ trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (1946) của nước ta. Trong cuộc bầu cử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời đã kêu gọi nhân dân giới thiệu những người có đức, có tài, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, kể cả các nhân sĩ, trí thức có tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc tự ứng cử để gánh vác công việc của quốc dân giao phó. Và trên thực tế chúng ta đã lựa chọn được những đại biểu có phẩm chất, năng lực để cống hiến cho Tổ quốc, phụng sự nhân dân và đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đứng trước những khó khăn, thách thức của thời đại, các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đã đem hết sức lực, trí tuệ, đưa ra nhiều quyết sách quan trọng, thiết thực, hiệu quả, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Để có được thành quả đó, các cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành dân chủ, công khai; đa số người trúng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn ngày càng nâng lên, xứng đáng là người đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân2. Trên thực tế, hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động xây dựng pháp luật được chú trọng cả về số lượng, chất lượng, các văn bản pháp luật ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ, phục vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý, điều hành kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội được tăng cường, có nhiều đổi mới, sáng tạo về cách thức tiến hành, nhất là trong chất vấn, trả lời chất vấn, giám sát chuyên đề, nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước, v.v.  Thực tiễn đó cho thấy, luận điệu cho rằng, chất lượng bầu cử và chất lượng đại biểu Quốc hội của nước ta thấp, đa số đại biểu Quốc hội chỉ là cơ cấu để ngồi “bấm nút” là sự định kiến, phiến diện không đúng với những kết quả, thành tựu hoạt động của Quốc hội trong tiến trình đổi mới đất nước.  

Không chỉ vậy, các thế lực thù địch còn xuyên tạc cho rằng, các cơ quan dân cử ở Việt Nam không thể kiểm soát được tham nhũng bởi không thực hiện “tam quyền phân lập”Điều đó liệu có phải là sự thật? Có phải cứ “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng? Cần khẳng định ngay rằng, tham nhũng không chỉ tồn tại ở Việt Nam, mà nó là một hiện tượng tồn tại tất yếu khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước. Chúng ta dễ nhận thấy, ở bất kỳ quốc gia nào hay chế độ chính trị nào trên thế giới đều có vấn nạn này và việc chống tham nhũng cũng không chỉ là nhiệm vụ riêng của các cơ quan dân cử mà là công việc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi bàn về tham nhũng, V.I.Lênin từng khẳng định: tham nhũng gắn bó hữu cơ với sự tồn tại, phát triển của bộ máy nhà nước và quyền lực công. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những thứ giặc nội xâm, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ ra: tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Vì thế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã, đang đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí với tinh thần: “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “không kể đó là ai” ,“không còn hạ cánh an toàn”, v.v.

Thực tiễn, với chức năng của mình, những năm qua, Quốc hội có nhiều đổi mới trong công tác lập pháp theo hướng thiết thực, hiệu quả; chú trọng thể chế hóa quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đẩy mạnh rà soát văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những nội dung bất cập, có thể phát sinh tham nhũng, tiêu cực để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục và giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật. Trong 10 năm (2012-2022), “Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết... để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về quản lý kinh tế - xã hội, phòng, chống tham nhũng”3. Hằng năm, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao phải báo cáo Quốc hội về nội dung hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trường hợp cần thiết, Quốc hội sẽ xem xét báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cùng với báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại các kỳ họp. Điều này cho thấy, Quốc hội Việt Nam không đứng ngoài mà luôn đồng hành cùng với hệ thống chính trị và nhân dân trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Trong khi đó, thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới, với các thể chế chính trị khác nhau cũng chưa thể ngăn chặn được tham nhũng. Theo đánh giá của tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố năm 2023 về xếp hạng nạn tham nhũng của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới thì ở những nước “tam quyền phân lập” tham nhũng vẫn tràn lan, thậm chí dẫn tới mâu thuẫn, xung đột, sụp đổ chính quyền nhà nước. Vì thế, không thể nói rằng ở Việt Nam không “tam quyền phân lập” nên không kiểm soát được tham nhũng, v.v.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn cho thấy, ở mỗi quốc gia, việc kiểm soát và phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào quốc gia đó thực hiện thuyết “tam quyền phân lập” hay không “tam quyền phân lập” trong xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước. Quan điểm cho rằng, chỉ có thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” mới phòng, chống được tham nhũng là chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, bởi nó không loại bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân sâu xa của tham nhũng. Mà thực chất, luận điệu này là nhằm che đậy âm mưu thâm độc nhằm thúc đẩy thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam; từ đó hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác, kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò của cơ quan dân cử ở Việt Nam./. 

                                                                                                    st

Sự nghiêm minh của Pháp luật

 Tạm giữ tài xế Lexus hành hung nam shipper sau va chạm giao thông.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tây Hồ khởi tố vụ án, tạm giữ Tống Anh Tuấn (SN 1982) để điều tra hành vi tấn công nam shipper sau va chạm giao thông.

Tối 11/2, Công an quận Tây Hồ (Hà Nội) cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận ra quyết định khởi tố vụ án, tạm giữ Tống Anh Tuấn (SN 1982, trú tại phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân) để điều tra hành vi Cố ý gây thương tích.


Tuấn là tài xế xe Lexus hành hung dã man nam shipper trước cửa nhà số 41B ngách 50/310 Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, vào trưa 10/2.

Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

 Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, công tác dân vận có nhiều cách làm hay, sáng tạo, mang lại hiệu quả thiết thực; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và góp phần vào phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Thời gian tới, Đảng ta xác định tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Về sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi sức mạnh của nhân dân là vô địch; muốn lãnh đạo cách mạng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, cách mạng muốn thắng lợi phải được đông đảo nhân dân ủng hộ. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng cộng sản hiện còn yếu về số lượng, với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân đang lãnh đạo một nước rộng mênh mông, đang thực hiện (lúc này chưa có sự ủng hộ trực tiếp của các nước tiên tiến hơn) bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”.

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt, được hình thành do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta. Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./ Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra./ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”; Người nói: “Nước lấy dân làm gốc”, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”. Như vậy, dân phải làm chủ và có quyền làm chủ; bởi lẽ, nếu dân không được làm chủ thì dân chủ chỉ là hình thức. Phát huy truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, nhất là bài học: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Trong 5 quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” và trong 6 nhiệm vụ trọng tâm ở nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có 3 nhiệm vụ đề cập đến phát huy vai trò của nhân dân: “Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”, “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân”.

Gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng đã phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đánh giá rất rõ các thành tựu đó: “Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Kết quả, hạn chế về công tác dân vận thời gian qua

Về kết quả của công tác dân vận

Đánh giá khái quát ưu điểm công tác dân vận thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”. Trên thực tế, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác dân vận được đổi mới. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết về công tác dân vận, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3-1990), “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (tháng 6-2013), về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” để lãnh đạo, tập hợp các tầng lớp nhân dân; đồng thời, Đảng có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện các văn kiện của Đảng, cùng Quy chế Dân chủ ở cơ sở, đồng thời với việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đạt được nhiều kết quả tích cực; việc tiếp công dân, đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy được thực hiện nền nếp, tinh thần gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở, tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các hình thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng phong phú, đa dạng và hiệu quả hơn. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Dân vận khéo”, được đẩy mạnh, gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết hiệu quả nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Về hạn chế và nguyên nhân

Thời gian qua, công tác dân vận có chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần nhận diện và tiếp tục khắc phục. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận, như phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn chưa phù hợp với từng đối tượng quần chúng, các loại hình ở cơ sở. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa coi trọng công tác vận động quần chúng và chưa chú trọng đưa nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân làm nội dung chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo của mình. Việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong các loại hình doanh nghiệp có nơi còn mang tính hình thức. Công tác đánh giá và dự báo tình hình, nắm bắt tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân có nơi còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; còn để xảy ra “điểm nóng” hoặc khiếu kiện phức tạp kéo dài. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức; chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tốt vai trò của các cơ quan truyền thông, mạng xã hội, mở rộng các kênh đối thoại trực tiếp với nhân dân. Việc lựa chọn nội dung và cách thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ở một số nơi thiếu sáng tạo, chưa sát thực tế, nên hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền gương điển hình là tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng có lúc chưa được quan tâm đúng mức. Việc tiến hành sơ kết, tổng kết theo quy định của Trung ương có nơi làm chậm hoặc làm hình thức, chiếu lệ.

Những hạn chế về công tác dân vận có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cụ thể: 1- Một số cấp ủy, chính quyền, chưa nhận thức đầy đủ, rõ ràng vị trí, vai trò của công tác dân vận trong tình hình mới; 2- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở còn hạn chế; 3- Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, vai trò tiên phong, nòng cốt còn mờ nhạt, cá biệt còn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền; 4- Việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn chậm, hiệu quả thấp. Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận và các tổ chức chính trị - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận để tiếp tục phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới

Một là, các cấp ủy tiếp tục lãnh đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động về công tác dân vận của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Trung ương về công tác dân vận đến tổ chức đảng, đảng viên; đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, Đảng tiếp tục lãnh đạo tập trung thực hiện tốt công tác dân vận.

Cơ quan nhà nước cần có phương pháp, cách thức, hình thức thực hiện hiệu quả, nhằm phát huy vai trò của nhân dân tham gia trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, gắn với lợi ích quốc gia - dân tộc. Từng bước tăng cường hình thức dân chủ trực tiếp để phát huy trí tuệ tập thể, sự đóng góp ý kiến quan trọng, quý báu của các tầng lớp nhân dân; sớm hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục thực hiện hiệu quả việc tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp dân, đối thoại với công dân, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng pháp luật. Hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ kết hợp với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; quan tâm công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan nhà nước các cấp. Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ thường xuyên tiếp xúc, làm việc với nhân dân, cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các ngành, các cấp, các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, Kiên quyết phê phán, đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân; đồng thời, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân. Tiếp tục tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để có biện pháp giải quyết kịp thời. Tập trung xử lý dứt điểm các vấn đề “nóng”, bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, không để các vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, các “điểm nóng” về an ninh, trật tự xảy ra ở cơ quan, đơn vị, cơ sở.

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các thành viên, đoàn viên, hội viên, theo đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ các cấp thật sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác dân vận. Quan tâm việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể yên tâm công tác; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; đa dạng hóa hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên; làm tham mưu cho cấp ủy, là nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, tình hình nhân dân; phát huy dân chủ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động theo pháp luật khi phát triển các tổ chức quần chúng. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng, thường xuyên bồi dưỡng đoàn viên, hội viên ưu tú, tiêu biểu cả đức và tài để giới thiệu nguồn cán bộ cho Đảng, Nhà nước; đồng thời, quan tâm xây dựng, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài hướng về xây dựng đất nước.

Bốn là, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các quan điểm, luận điệu sai trái.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ phương hướng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Đại hội đặt ra yêu cầu: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đồng thời, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng; can thiệp, cản trở việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian vừa qua được nhân dân đồng tình, ủng hộ; qua đó, tăng cường niềm tin, khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước tình hình và điều kiện mới, các thế lực thù địch có nhiều hoạt động chống phá hết sức tinh vi, thâm độc, nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy “thế trận lòng dân”, quyết tâm, quyết liệt đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát huy sức mạnh của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Trong thời gian tới, công tác dân vận của Đảng phải tiếp tục góp phần tích cực vận động, tập hợp được các tầng lớp nhân dân trong cả hệ thống chính trị thành lực lượng to lớn tham gia các phong trào thi đua yêu nước, theo tinh thần “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt đầy đủ lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động phong trào thi đua sát với thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương và phù hợp với từng đối tượng. Trên cơ sở tổng kết phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động thời gian qua để rút kinh nghiệm, qua đó thực hiện nhiệm vụ chính trị tốt hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới. Các phong trào thi đua cần thiết thực, tránh hình thức, lãng phí, tốn kém; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua; thường xuyên tổ chức theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng kịp thời. Trong giai đoạn phát triển mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần hướng phong trào thi đua vào khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, đoàn viên, hội viên thi đua sản xuất, kinh doanh để làm giàu chính đáng. Trên cơ sở đó, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngân sách cho Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách an sinh xã hội, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đất nước trong tình hình mới.

Sáu là, cả hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong thực hiện quy chế công tác dân vận.

Ngày 30-7-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 23-QĐ/TW, “Về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị” nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về công tác dân vận trong tình hình mới. Quy chế đã nêu rõ trách nhiệm lãnh đạo và thực hiện công tác dân vận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng ở Trung ương, đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan tư pháp, trách nhiệm của lực lượng vũ trang, trách nhiệm của chính quyền các cấp, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở trách nhiệm về công tác dân vận được Bộ Chính trị giao, các tổ chức trong hệ thống chính trị nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt để công tác dân vận có chuyển biến tích cực, rõ rệt. Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở từng cấp. Cấp ủy các cấp cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế; đồng thời, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời theo quy định của Trung ương.