Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

Những luận điệu lạc lõng, xuyên tạc và thù địch

 Những năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế thế giới, tích cực tham gia ký kết gia nhập nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Điều đó đã góp phần không nhỏ giúp nước ta đạt được nhiều thành tựu trong xuất nhập khẩu hàng hóa, mở rộng môi trường hợp tác, đầu tư hiệu quả, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế... Tuy nhiên, với mục đích thiếu trong sáng, thái độ cực đoan, thời gian qua một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí, phản động lưu vong luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc Việt Nam vi phạm những cam kết trong thực hiện FTA, từ đó vận động các tổ chức quốc tế, Chính phủ các quốc gia gây sức ép, trừng phạt Việt Nam. 

Ngày 30/6/2019 tại Hà Nội, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA), đánh dấu một chương mới trong quan hệ Việt Nam-EU. Phát biểu tại lễ ký kết, bà Cecilia Malmstrom - Cao ủy Thương mại của EU tin tưởng, Hiệp định được thực thi sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, doanh nghiệp của cả Việt Nam và EU, đồng thời góp phần thúc đẩy đầu tư giữa hai bên. Đến nay, sau gần 5 năm triển khai Hiệp định EVFTA, các hoạt động hợp tác, giao thương, kết nối đầu tư cho cộng đồng doanh nghiệp và người dân giữa các quốc gia diễn ra sôi nổi, mang lại hiệu quả thiết thực. Đáng chú ý, Việt Nam luôn kiên định mục tiêu lấy con người làm trung tâm trong phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm quyền con người trong các vấn đề về môi trường, đất đai, lao động; không ngừng cải thiện đời sống của người dân, cũng như chú trọng nâng cao các tiêu chuẩn lao động và môi trường trong nước. Nhà nước Việt Nam đánh giá những cam kết về quyền con người trong hiệp định là cơ hội để đất nước tiến nhanh đến các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tuy nhiên, một số tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan, thiếu thiện chí luôn cố tình phủ nhận những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, chỉ trích những cam kết của Việt Nam trong thực hiện Hiệp định EVFTA liên quan đến vấn đề nhân quyền nói riêng.

Chẳng hạn, đầu tháng 2 vừa qua, bốn tổ chức có tên Liên đoàn Quốc tế nhân quyền (FIDH), Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (VCHR), Đoàn kết Công giáo toàn cầu (CSW) và Nhân chứng Toàn cầu (Global Witness) đã lớn tiếng cáo buộc chính quyền Việt Nam đàn áp các nhà bảo vệ nhân quyền, vi phạm Hiệp định EVFTA. Trong đó đề cập khoảng 40 trường hợp được cho là “các nhà vận động về quyền của người lao động, môi trường và quyền đất đai” hiện đang bị giam cầm ở Việt Nam, phải chịu án tù từ 3,5 năm đến 20 năm vì hành động ủng hộ sự phát triển bền vững. Một số cái tên được đề cập trong đó có Phạm Chí Dũng, Phạm Đoan Trang, Đặng Đình Bách, gia đình Cấn Thị Thêu và hai con trai. Bà Gaëlle Dusepulchre, Phó Giám đốc Ban Kinh doanh, Nhân quyền và Môi trường của FIDH nêu ý kiến: “Chính phủ Việt Nam đang giam cầm những cá nhân bày tỏ quan ngại chính đáng về việc bảo vệ môi trường, các vi phạm quyền lao động và quyền đất đai, cũng như tác động xã hội-kinh tế của các dự án cơ sở hạ tầng và đầu tư”. Còn bà Ỷ Lan Penelope Faulkner, Chủ tịch VCHR kêu gọi: “Đã đến lúc EU phải ràng buộc Việt Nam chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm trắng trợn hiệp định thương mại. Các nhà bảo vệ nhân quyền Việt Nam phải được an toàn và tự do khi họ yêu cầu chính quyền có trách nhiệm giải trình và đứng lên bảo vệ cộng đồng mình”.

Cần phải khẳng định rằng những nội dung chỉ trích, lên án Việt Nam mà bốn tổ chức có tên nêu trên vừa đưa ra không hề mới. Với thái độ thù địch, nhãn quan phiến diện, các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí thường xuyên đưa ra những nhận định sai lệch, đồng thời tìm mọi cách bóp méo, xuyên tạc vấn đề bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thông qua các hình thức ý kiến, thư ngỏ, hội luận, đơn kiện... Như ngày 25/11/2024, trên kênh YouTube của tổ chức khủng bố Việt Tân đưa thông tin về việc phối hợp cùng Hội Bảo vệ người lao động Việt Nam (Vietnam Worker Defenders), Ủy ban hỗ trợ Việt Nam (Support Committee for Vietnam) nộp đơn kiện Nhà nước Việt Nam lên cơ chế châu Âu Single Entry Point vì cho rằng, Chính phủ Việt Nam đã không thực hiện các cam kết trong Hiệp định EVFTA. Liên quan đến nội dung đơn kiện, ngày 19/11/2024, nhóm này đã tham gia buổi họp với cơ quan chức năng của Quốc hội châu Âu. Tại cuộc họp, nhóm đưa ra những thông tin không chính xác về quyền của người lao động tại Việt Nam.

Trước đó, ngày 28/2/2023, một số nghị sĩ thuộc Nghị viện châu Âu (EP) đã tổ chức hội thảo nhằm xem xét mức độ vi phạm nhân quyền và quyền lợi của người lao động Việt Nam sau hơn 2 năm thực thi Hiệp định EVFTA với nhiều cáo buộc chủ quan, dựa trên những thông tin phản ánh không đúng tình hình thực tế tại Việt Nam. Điều đáng nói là buổi hội thảo được tổ chức với sự góp mặt của một số tổ chức phản động, tiêu biểu như tổ chức khủng bố Việt Tân. Bởi vậy cũng dễ hiểu khi buổi hội thảo đã là cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, như việc quy kết “tình hình nhân quyền Việt Nam ngày càng thậm tệ hơn”, “Nhà nước Việt Nam tìm đủ mọi cách ngăn cản, gây khó khăn cho người lao động trong việc thành lập nghiệp đoàn độc lập”, “chính quyền Việt Nam đã vi phạm chương 13 của Hiệp định EVFTA”, “Việt Nam đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền và bảo vệ môi trường”... Từ đó kêu gọi các nghị viên EU “gây sức ép mạnh hơn đối với chính quyền Hà Nội”. Bổn cũ soạn lại, những nội dung này tiếp tục được đề cập trong bản khiếu nại mà bốn tổ chức nhân quyền vừa gửi lên Ủy ban châu Âu đầu tháng 2 vừa qua.

Quan sát trên thực tiễn có thể thấy nổi lên một số yêu sách mà các đối tượng chống phá cố tình xoáy vào, đó là đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn của người lao động; đòi trả tự do cho các nhà hoạt động nhân quyền và bảo vệ môi trường. Liên quan đến vấn đề thành lập tổ chức đại diện của người lao động, tại khoản 3, Điều 3, Bộ luật Lao động (năm 2019) chỉ rõ: “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động”.

Đồng thời, tại chương XIII, với 9 điều (từ Điều 170 đến Điều 178), Bộ luật Lao động cũng quy định cụ thể về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Vừa qua, ngày 27/11/2024, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thông qua Luật Công đoàn (sửa đổi), với một số điểm mới đáng chú ý, đó là hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy công đoàn, cơ chế quản lý cán bộ công đoàn; hoàn thiện cơ chế tài chính công đoàn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự ra đời của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp ngoài hệ thống Công đoàn Việt Nam. Như vậy, có thể thấy Việt Nam luôn coi trọng quyền lợi của người lao động cũng như nghiêm túc nội luật hóa các cam kết về lao động, công đoàn được đề cập trong các Hiệp định thương mại như EVFTA hay CPTPP. Trong khi đó, các tổ chức “nghiệp đoàn lao động độc lập” mà các đối tượng phản động hô hào thành lập thực chất là tổ chức chống phá núp dưới vỏ bọc “bảo vệ người lao động”, nhưng mục đích là lợi dụng những khó khăn, những bất cập trong lao động, việc làm để lôi kéo công nhân, người lao động tham gia các hoạt động trái pháp luật, gây bất ổn xã hội.

Còn đối với những cá nhân được gọi là “nhà hoạt động nhân quyền và bảo vệ môi trường bị Nhà nước Việt Nam bắt giam, bỏ tù” mà một số tổ chức, cá nhân ở hải ngoại ra sức cổ xúy, tung hô và bảo vệ, cần thẳng thắn vạch trần chân tướng của những người này. Cần thấy rõ rằng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Ở Việt Nam không ai bị bắt vì hoạt động nhân quyền và bảo vệ môi trường, mà chỉ có các cá nhân vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do cá nhân để chống phá Nhà nước, xâm phạm lợi ích quốc gia, xâm hại quyền và lợi ích của người khác bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Do đó, việc lên án Việt Nam bỏ tù “nhà hoạt động nhân quyền và bảo vệ môi trường” mà các thế lực thù địch ra sức rêu rao thực chất là chiêu trò “đánh lận con đen”, biến những đối tượng phạm tội thành “hình mẫu” đấu tranh vì dân chủ nhân quyền.

Đơn cử như với trường hợp Phạm Chí Dũng, ngày 5/1/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Phạm Chí Dũng và các đồng phạm là Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Theo nhận định của hội đồng xét xử, hành vi của các bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay cho các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, hòng làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận quần chúng, nhằm gây chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ Đảng và Nhà nước.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận các tình tiết phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phạm Chí Dũng 15 năm tù. Như vậy hoàn toàn không có việc Phạm Chí Dũng bị “đàn áp”, “bịt miệng” vì hoạt động nhân quyền như các đối tượng chống phá bịa đặt. Sự tráo trở này đã phần nào cho thấy rõ bản chất xấu xa của các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, phản động đang tìm mọi phương cách, thủ đoạn để chống phá Việt Nam.

Thực tiễn phát triển mạnh mẽ của Việt Nam thời gian qua càng cho thấy sự lạc lõng, lố bịch của những quy kết phiến diện, xuyên tạc, mang tính áp đặt nêu trên. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần hết sức tỉnh táo nhận diện và đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, thù địch, không lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, không tạo cơ hội cho các đối tượng xấu lôi kéo dụ dỗ, thực hiện các hành vi đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đồng thời, cần quyết tâm, chung sức, đồng lòng đóng góp vào sự phát triển của đất nước, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

 

Giải pháp toàn diện thực hiện đổi mới tư duy xây dựng pháp luật trong kỷ nguyên mới

 

Là 1 trong 4 dự án luật quan trọng sẽ được Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV thảo luận và thông qua, dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) được đánh giá là đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia.

Nhân dịp này. Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh về những nội dung chủ yếu của dự án luật và quá trình xây dựng, thực hiện dự án này.

Đổi mới quy trình lập pháp

Phóng viên: Dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) được đánh giá là dự án đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến việc xây dựng, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật. Xin Thứ trưởng cho biết chủ trương, quan điểm về việc xây dựng dự án luật và quá trình thực hiện của Bộ Tư pháp?

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) là một dự án luật đặc biệt quan trọng vì nó tác động đến việc xây dựng, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, là “luật làm luật”, giải pháp toàn diện thực hiện đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, nhằm thực hiện hiệu quả một trong ba đột phá chiến lược theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV và kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại buổi làm việc với Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp, chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc”, trong đó đề ra nhiệm vụ cần khẩn trương sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ngày 3/1/2025, Bộ Chính trị đã cho ý kiến đối với Đề án đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả do Đảng đoàn Quốc hội trình. Ngày 6/1/2025, Văn phòng Trung ương Đảng có Công văn số 12918-CV/VPTW về việc đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả và ngày 20/1/2025, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 119-KL/TW về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, trong đó nêu rõ 7 nội dung cần được thể chế hóa trong quá trình xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Về quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp đã tập trung tối đa mọi nguồn lực để nghiên cứu, xây dựng hồ sơ dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi). Mặc dù, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn, tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng của dự án luật, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ động thực hiện đầy đủ các bước theo quy định của luật hiện hành.

Hiện nay, dự thảo luật được bố cục gồm 8 chương, 72 điều (giảm 9 chương, 101 điều so với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015), trong đó có sự đổi mới rất căn bản, có những nội dung mang tính chất “đột phá” trong quy trình làm luật. Luật gọn hơn nhưng chất lượng phải tốt hơn, đây là yêu cầu xuyên suốt quá trình xây dựng dự thảo này.

Phóng viên: Thực tiễn hiện nay cho thấy, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có “độ trễ” nhất định so với sự phát triển của thực tiễn, điều này dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa có pháp luật điều chỉnh, vấn đề này được khắc phục như thế nào trong dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi)?

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh: Để khắc phục vấn đề “độ trễ” của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, dự thảo luật đã đưa ra 2 nhóm giải pháp, cụ thể.

Một là, đổi mới căn bản quy trình lập chương trình xây dựng pháp luật để bảo đảm sự linh hoạt, kịp thời phản ứng chính sách, cụ thể: (i) Tách quy trình xây dựng chính sách ra khỏi chương trình lập pháp hằng năm để giao cho Chính phủ hoặc cơ quan trình chịu trách nhiệm nghiên cứu, thông qua chính sách làm cơ sở cho việc quy phạm hóa văn bản luật trước khi trình Quốc hội và (ii) Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định chương trình lập pháp hằng năm theo nguyên tắc chỉ đưa vào chương trình những dự án được Chính phủ hoặc cơ quan trình xây dựng bảo đảm chất lượng.

Hai là, về quy trình thông qua văn bản luật, dự thảo luật quy định quy trình thông qua các đạo luật trong 1 kỳ họp. Đồng thời quy định rõ, đơn giản hóa quy trình, thủ tục rút gọn và bổ sung quy trình thông qua văn bản trong trường hợp đặc biệt đối với các dự án, dự thảo văn bản xử lý các tình huống khẩn cấp và quan trọng quốc gia sau khi có ý kiến của Bộ Chính trị để kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tăng cường tổ chức thi hành pháp luật

Phóng viên: Hiện nay công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn bị đánh giá là “khâu yếu”, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này được xử lý như thế nào khi xây dựng dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi)?

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh: Trong Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI đã nêu, công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là “khâu yếu”, chưa kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, điều này chưa phù hợp với mục tiêu ban hành luật.

Hiện nay, dự thảo luật quy định thành một chương hoàn toàn mới, đó là chương Tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo luật quy định gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật. Xây dựng cơ chế thường xuyên đánh giá hiệu quả thực thi của văn bản quy phạm pháp luật sau ban hành để kịp thời nhận diện, xử lý hiệu quả những mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật; đồng thời, quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thi hành và báo cáo hoặc cung cấp thông tin về tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật.

Dự thảo luật cũng kế thừa quy định tại Chương XV và Chương XVI của luật hiện hành và sửa đổi, bổ sung một số nội dung về giám sát, kiểm tra, xử lý, hợp nhất, pháp điển, rà soát, hệ thống hóa, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (trong đó, quy định rõ đối tượng kiểm tra, thẩm quyền, phương thức, căn cứ thực hiện kiểm tra văn bản, nội dung kiểm tra văn bản, việc xử lý trách nhiệm khi ban hành văn bản trái pháp luật và khắc phục hậu quả; bổ sung quy định về việc tự kiểm tra văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành...).

Bên cạnh đó, thực tế thời gian qua cho thấy, trong quá trình tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, nhiều quy định ở các văn bản dưới luật còn có cách hiểu khác nhau, cần thiết phải có sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để bảo đảm việc áp dụng được thống nhất.

Tuy nhiên, luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến khó khăn trong việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm hướng dẫn và nhiều trường hợp, có thể dẫn đến tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm của các cơ quan thực thi, cũng như cơ quan hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 119-KL/TW và ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư tại Thông báo số 108-TB/VPTW về việc mở rộng thẩm quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản dưới luật theo hướng ban hành nguyên tắc, tiêu chí, cơ sở giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật để bảo đảm sức sống của văn bản quy phạm pháp luật thay vì thường xuyên phải sửa đổi, điều chỉnh, bên cạnh các quy định về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết, dự thảo luật bổ sung quy định về hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của dự thảo luật chính là hướng dẫn quy định trong văn bản quy phạm pháp luật mà không phải là hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đối với từng vụ việc, trường hợp cụ thể.

Mục đích của việc hướng dẫn là bảo đảm các cơ quan, tổ chức hiểu đúng và thống nhất quy định trong văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan, tổ chức có thể căn cứ vào nội dung hướng dẫn để quyết định việc áp dụng pháp luật cho từng trường hợp cụ thể và chịu trách nhiệm đối với việc áp dụng pháp luật của mình. Tôi cho rằng với các quy định về hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật như dự thảo luật sẽ giúp xử lý nhanh các vấn đề thực tiễn và không tốn kém chi phí, nhân lực để sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật.

Phóng viên: Quy định về “tham vấn chính sách” trong dự thảo luật là nội dung đang được nhiều người quan tâm. Thứ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn quy định về việc tham vấn chính sách trong dự thảo luật?

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh: Vấn đề tham vấn chính sách là vấn đề mới được quy định trong dự thảo luật. Ban soạn thảo đã nghiên cứu những giải pháp để thúc đẩy chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trong đó “chính sách phải ra chính sách”, chính sách phải hợp với lòng dân, chính sách có đúng, có “trúng” thì quy phạm hóa chính sách thành đạo luật, thành văn bản luật mới có chất lượng.

Chính vì thế, trong dự thảo luật lần này có quy định về tham vấn chính sách. Ban soạn thảo đã tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong Phiên họp thứ 42 ngày 5/2/2025, theo đó, Ban soạn thảo đã làm rõ được khái niệm nội hàm tham vấn chính sách, đó là việc cơ quan xây dựng chính sách trực tiếp làm việc với các cơ quan, tổ chức, trong đó có những cơ quan, tổ chức mà được luật quy định cụ thể, để trao đổi về các giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc của quy định pháp luật hiện hành, ảnh hưởng đến sự phát triển, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, trao đổi về những ý tưởng kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực, những vấn đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về đổi mới tư duy làm luật.

Quy trình tham vấn chính sách trong dự thảo luật cho thấy: Thứ nhất, việc làm chính sách đó không được phép khép kín; thứ hai, xác định trách nhiệm của người làm chính sách phải kỹ lưỡng hơn, tôn trọng yếu tố khách quan hơn; thứ ba, tôn trọng các chủ thể, các đối tượng có sự tác động, các cơ quan liên quan có nhiều thông tin, có trách nhiệm về vấn đề định đề cập chính sách, để thu thập thông tin, chia sẻ thông tin, đồng nhất các quan điểm, từ đó sẽ có nhận thức để chỉ ra đâu là giải pháp tối ưu để giải quyết những mục tiêu chính sách.

Vấn đề tham vấn chính sách được các nước làm rất phổ biến, ở Việt Nam đến nay vấn đề này mới được quy định chính thức trong dự thảo luật. Tôi cho rằng đây là một quy định mới, rất thực tiễn và thể hiện tính ưu việt, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm của cơ quan nghiên cứu chính sách trong triển khai tới đây. Từ đó, chính sách sẽ thực sự trở thành những giải pháp hợp lòng dân, phù hợp với các mục tiêu phát triển, tạo ra sự đồng thuận, tạo thuận lợi trong việc thu hút mọi nguồn lực trong nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Quy định pháp luật được ban hành sẽ phù hợp với “ý Đảng, lòng dân” và phát huy sự điều chỉnh trong đời sống xã hội.

 

 

 

Lật tẩy thủ đoạn chống phá nhân sự Đại hội Đảng của các thế lực thù địch

 

Việc chuẩn bị nhân sự là nhân tố bảo đảm cho thành công của đại hội Đảng các cấp và triển khai thực hiện thắng lợi các nghị quyết của đại hội.

Song, các phần tử xấu, cơ hội, thù địch đã nhân dịp này tìm mọi cách xuyên tạc, tung tin tác động, chia rẽ nội bộ chúng ta hòng phá hoại công tác nhân sự nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung. Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo, lật tẩy những thủ đoạn, âm mưu của chúng.

1. Trong khi cả nước ta vui mừng, phấn khởi đón một mùa xuân mới, Xuân Ất Tỵ 2025 vui tươi, đầm ấm, các thế lực thù địch lại tung nhiều tin, bài, hình ảnh, video, clip cắt ghép xuyên tạc công tác chuẩn bị đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trong đó, công tác nhân sự đại hội Đảng là một trọng điểm các thế lực thù địch tập trung chống phá.

Chúng cố tình quy chụp công tác quy hoạch nhân sự của Đảng là “không bài bản”, “áp đặt”; quy trình các bước chỉ là hợp thức hóa việc “sắp xếp”, “thỏa thuận” giữa các phe, nhóm hoặc những màn “đấu đá nội bộ”. Hơn nữa, chúng trắng trợn xuyên tạc việc phát hiện, lựa chọn, tạo nguồn, quy hoạch cán bộ là “vô nguyên tắc, thiếu minh bạch, mất dân chủ”; “ham sử dụng “cánh hẩu”, “hậu duệ”, đối tượng “cơ hội” chạy chức, chạy quyền”; “đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc”; “không coi trọng sử dụng đúng hiền tài, “nguyên khí” của quốc gia”... Từ đó, chúng quy chụp cho rằng không ít cán bộ lãnh đạo “không xứng đáng là “công bộc”, “đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Nếu nhìn nhận một cách toàn diện, có hệ thống, chúng ta dễ dàng nhận thấy những luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao là những chiêu trò cũ rích đã được “tung ra” tại nhiều kỳ đại hội Đảng trước đây, đến thời điểm này chúng tiếp tục “diễn”.

Về mục đích, chúng gây nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm lung lay niềm tin của nhân dân đối với công tác cán bộ, hạ thấp uy tín của Đảng; phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; cổ xúy tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kích động người dân biểu tình chống đối chế độ, cuối cùng là tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ cũng như đối với Nhà nước và xã hội. Đó là thủ đoạn hết sức thâm độc, xảo quyệt.

Về phương thức, các thế lực thù địch chủ yếu sử dụng một số trang mạng xã hội phổ biến, có độ tương tác rộng, truyền tải thông tin, hình ảnh với tốc độ nhanh như: Google, Facebook, YouTube, Instagram, TikTok, X…; một số phương tiện truyền thông trên internet như: VOA, RFA, BBC, RFI...

Đối tượng các thế lực thù địch hướng đến là một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân thiếu bản lĩnh và ý thức chính trị; một số Việt kiều, người nước ngoài thiếu hiểu biết về Việt Nam để kích động tâm lý hoài nghi, lung lạc niềm tin, từ đó hướng lái, lôi kéo họ chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

2. Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Cùng với đó, Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong công tác cán bộ để có những biện pháp kịp thời chấn chỉnh nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên phục vụ sự nghiệp cách mạng.

Hiện nay, công tác chuẩn bị đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng đang được triển khai. Công tác nhân sự đại hội đảng các cấp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, được Đảng ta xác định là “then chốt của mọi then chốt”, “hệ trọng nhất trong những việc hệ trọng” và luôn được lãnh đạo thực hiện tốt.

Nhìn lại các kỳ đại hội, công tác nhân sự luôn được Đảng ta quan tâm đặc biệt và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, với nội dung, yêu cầu ngày càng cao, phương pháp tiến hành ngày càng chặt chẽ, khoa học. Qua đó, lựa chọn được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy các cấp, nhất là cấp chiến lược, thực sự là lực lượng rường cột, ưu tú nhất của Đảng, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao, nhận thức đầy đủ, sâu sắc nghĩa vụ, trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, để đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, “... chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

3. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra, ngày 14-6-2024, Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Chỉ thị số 35-CT/TƯ về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó yêu cầu đặt ra là: “Công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định. Bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, tăng cường ở các vị trí, địa bàn lĩnh vực quan trọng, trọng yếu…”.

Về tiêu chuẩn cấp ủy viên nhiệm kỳ 2025-2030, Chỉ thị số 35-CT/TƯ và Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hai là, có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm... Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Ba là, có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có thành tích, kết quả công tác và sản phẩm cụ thể trong địa bàn, lĩnh vực công tác được giao.

Ngày 29-8-2024, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Trưởng ban Chỉ đạo quy hoạch cán bộ cấp chiến lược Trung ương đã chủ trì cuộc họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng và Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031. Sau khi nghe ý kiến thảo luận, góp ý của các đồng chí dự họp, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Trưởng ban Chỉ đạo quy hoạch cán bộ cấp chiến lược Trung ương phát biểu kết luận tại cuộc họp nêu rõ: “Những nhân sự được lựa chọn đòi hỏi phải thật sự tiêu biểu, nổi trội, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ, có năng lực lãnh đạo, trình độ chuyên môn, có uy tín trong dân, trong Đảng để giải quyết những công việc ở tầm chiến lược; phải có tính chiến đấu, tính kỷ luật cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân; đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới”.

Thực tiễn cho thấy, công tác nhân sự đại hội Đảng các cấp là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị hiện nay, đã và đang được lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt. Những chủ trương, đường lối của Đảng về công tác nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng như những định hướng, chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư Tô Lâm đã được cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp, cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện hiệu quả. Đó là trách nhiệm, vinh dự to lớn; đồng thời cũng là hành động thiết thực đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ Đảng, bảo đảm cho đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 thành công tốt đẹp, tạo tiền đề vững chắc để tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIV của Đảng - một dấu mốc rất quan trọng trên con đường phát triển của Đảng và dân tộc, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh vượng của dân tộc. Qua đó, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để vạch trần, lật tẩy những âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch về nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chúng ta cần coi trọng đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước thông tin xấu, độc, vu khống, bịa đặt về công tác nhân sự Đại hội Đảng; đồng thời, mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch thông tin liên quan đến chuẩn bị nhân sự. Đặc biệt, kiên quyết xử lý nghiêm hành vi cung cấp thông tin sai sự thật và hành vi xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, vu khống công tác nhân sự đại hội Đảng…

Làm tốt những công việc đó không chỉ góp phần bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng mà còn trực tiếp góp phần vào thành công đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo tiền đề vững chắc để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Quyết định nhiều vấn đề cấp bách phục vụ cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy

 Sáng 12/2, tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, Quốc hội khoá XV khai mạc Kỳ họp bất thường lần thứ 9 để xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng, cấp bách phục vụ yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, các vấn đề về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và các vấn đề khác.

Tham dự kỳ họp có Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến; các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương...

Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ, căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; căn cứ Luật tổ chức Quốc hội; căn cứ Nội quy kỳ họp Quốc hội và ý kiến của cơ quan có thẩm quyền, Quốc hội khóa XV khai mạc trọng thể Kỳ họp bất thường lần thứ 9.

"Kỳ họp bất thường lần này có ý nghĩa rất quan trọng, khẩn trương xem xét, quyết định nhiều vấn đề cấp bách phục vụ cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, đáp ứng yêu cầu rất cao của đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là vấn đề đang nhận được sự đồng tình, ủng hộ rất cao của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng là tạo tiền đề về công tác tổ chức, cán bộ tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031", Chủ tịch Quốc hội nhận định. Bên cạnh đó, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách, tạo đột phá để hoàn thiện cơ sở hạ tầng, phát huy nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.

Theo Chủ tịch Quốc hội, tại phiên họp trù bị, các vị đại biểu Quốc hội đã thống nhất rất cao, biểu quyết thông qua nội dung, chương trình kỳ họp, Quốc hội sẽ làm việc trong 6,5 ngày, từ 12/2 đến 19/2, trong đó làm việc cả ngày thứ Bảy để xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng.

Quốc hội sẽ xem xét, quyết định các luật, nghị quyết có tính nền tảng để thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy để kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng về thực hiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm các cơ quan, tổ chức, đơn vị sau sắp xếp, kiện toàn thực sự được "nâng cấp, nâng tầm, chất lượng tốt hơn, hiệu quả cao hơn"; giảm đầu mối, xóa bỏ cấp trung gian, phân định rõ ràng, rành mạch phạm vi, nhiệm vụ, thẩm quyền các cơ quan theo hiến định, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, thực hiện phương pháp "quản lý theo kết quả", chuyển mạnh từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.

Tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 4 dự án luật gồm: Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) và 5 dự thảo nghị quyết để thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

Trong đó, việc xem xét, thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng, vai trò là nền tảng, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng và tổ chức thi hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Dự thảo luật được nghiên cứu, sửa đổi toàn diện, với những thay đổi lớn, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, theo đúng tinh thần Kết luận số 119 ngày 20/1/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật. Theo đó, hạn chế tối đa các quy trình, thủ tục không cần thiết; phân định rõ thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan trong hệ thống chính trị, phát huy sự năng động, sáng tạo gắn với vai trò, trách nhiệm, tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính;

Chính phủ và các cơ quan trình dự án luật chịu trách nhiệm đến cùng đối với dự án luật do cơ quan mình trình; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, đồng bộ, kịp thời trong xây dựng chính sách, pháp luật giữa Quốc hội và Chính phủ, giữa các bộ, ngành và giữa Trung ương với địa phương; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, phù hợp với những thay đổi trong cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy; tạo khung khổ pháp lý kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về thể chế đã được xác định là "điểm nghẽn của điểm nghẽn", để thể chế trở thành "đột phá của đột phá", khơi thông các nguồn lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Bên cạnh đó, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 7 nghị quyết nhằm kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các cơ chế, chính sách đặc thù đối với một số dự án, công trình như: Đề án bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; chủ trương đầu tư Dự án tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đến năm 2035; phương án đầu tư bổ sung vốn điều lệ giai đoạn 2024 - 2026 của Công ty mẹ - Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam; Nghị quyết thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; chủ trương và các cơ chế chính sách đặc thù để xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận...

Đồng thời, Quốc hội sẽ tiến hành một số nội dung về công tác nhân sự thuộc thẩm quyền, theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiện toàn các chức danh để bảo đảm tổ chức bộ máy mới hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn tới.

Chủ tịch Quốc hội khẳng định, Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV diễn ra trong những ngày đầu Xuân Ất Tỵ 2025 với niềm tin, khí thế mới, trong niềm vui mừng về những thành tựu phát triển của đất nước. Với tinh thần trách nhiệm rất cao, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan đã phối hợp chặt chẽ, hết sức nỗ lực, làm việc ngày, đêm, cả ngày nghỉ, ngày Tết để chuẩn bị các nội dung trình Quốc hội với chất lượng tốt nhất.

"Thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tôi trân trọng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội phát huy dân chủ, trên tinh thần "hiệu quả công việc là trên hết", cùng với kinh nghiệm thực tiễn công tác và thực tiễn địa phương, cơ sở sẽ phản ánh, góp ý chân thành, thẳng thắn, chất lượng để toàn bộ các nội dung trong chương trình kỳ họp được xem xét, thông qua với sự thống nhất, đồng thuận cao nhất, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị, đáp ứng tốt nhất sự mong đợi của cử tri và nhân dân cả nước", Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh.

 

 

 

 

 

NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

 NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ 


Tòng quân - Nhập ngũ - Thực hiện nghĩa vụ quân sự là truyền thống, nét đẹp văn hóa của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Đó không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc mà còn là sự thể hiện tình yêu quê hương đất nước; là mong muốn được rèn luyện, trưởng thành trong môi trường quân ngũ của thế hệ trẻ.


Tuy nhiên, trước ngày hội tòng quân hàng năm, trên không gian mạng thường xuất hiện các thông tin sai trái, xuyên tạc nhằm bôi nhọ hình ảnh, truyền thống của Quân đội, tạo dư luận xấu, gây tâm lý hoang mang đối với giới trẻ, gieo rắc tâm lý tiêu cực, thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc. Vì vậy, phòng, chống các luận điệu xuyên tạc về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là vấn đề thường xuyên và cấp bách hiện nay.


CÔNG DÂN PHẢI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUÂN SỰ VÀ THAM GIA XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN


Tham gia nghĩa vụ quân sự là quyền và trách nhiệm của mỗi công dân. Điều này không chỉ đúng ở Việt Nam mà còn là quy định trong luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như, tại Thụy Sĩ, tất cả nam thanh niên từ 19 - 26 tuổi đều phải đăng ký nhập ngũ và phục vụ trong quân đội ít nhất 260 ngày, trong đó có 18 tuần huấn luyện và 7 lần gọi tái nhập ngũ, mỗi lần kéo dài 3 tuần trong suốt 10 năm tiếp theo. Tại Hàn Quốc, nam công dân tuổi đời từ 18 - 35 đều thực hiện nghĩa vụ quân sự trong khoảng thời gian 21 tháng và không được phép có ngoại lệ. Theo đó, những ai đủ tiêu chuẩn mà từ chối thi hành nghĩa vụ quân sự sẽ bị phạt tù. Singapore cũng quy định mọi công dân nam đều bắt buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự quốc gia khi đủ 18 tuổi, những người vi phạm đều phải đối mặt án phạt tiền lên tới 10.000 đô la, án tù lên tới ba năm hoặc bị áp dụng cả hai hình phạt nói trên...


Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân”; “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân... Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh”.


Thể chế hóa Hiến pháp, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân; 2. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định...”.


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”.


Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.


NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC


Một sự thật hiển nhiên là, tùy vào tình hình chính trị, quân sự của mỗi quốc gia trên thế giới, chế độ nghĩa vụ quân sự được thực hiện theo những cách khác nhau chứ không phải như những luận điệu xuyên tạc cho rằng, chỉ có Việt Nam mới đưa ra quy định nghĩa vụ quân sự để “o ép người dân”.


Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn đã tìm mọi cách kích động người dân chống đối việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Cùng với đó, một số kẻ xấu còn “vẽ đường bày mưu” hướng dẫn thủ đoạn “lách luật” khi khám tuyển cho những thanh niên thiếu ý thức, như: tạo “vấn đề” về sức khỏe, lấy lí do đi làm ăn xa, đút lót hối lộ... để trốn thực hiện nghĩa vụ, gây khó khăn cho công tác tuyển quân, tạo nên những nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thậm chí chúng còn lôi kéo, xúi giục quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự đào ngũ, gây áp lực cho tổ chức, hoặc đưa ra những đòi hỏi, yêu cầu vô lý với chính quyền cơ sở.


Thông qua một số trang web, chúng cắt ghép, đăng tải các cảnh bạo lực trong quân đội nước ngoài, cảnh quân đội tham chiến ở một số khu vực trên thế giới rồi lồng ghép lời bình xuyên tạc là “chuyện ở trong quân ngũ Việt Nam”. Những hình ảnh, video, lời bình mà chúng tung lên mạng thường lập lờ, võ đoán, không rõ địa chỉ cơ quan, đơn vị cụ thể; lời lẽ miệt thị, kích động, vu khống... làm cho không ít thanh niên và gia đình “bán tín bán nghi” dẫn đến “tự diễn biến”, đắn đo, do dự khi nhận thông báo khám tuyển và lệnh gọi nhập ngũ.


Trong nhiều trường hợp, chúng cổ xúy cho suy nghĩ và lối sống cá nhân vị kỷ, kích động tâm lý so bì, toan tính thiệt hơn khi nhập ngũ … Nguy hiểm hơn, nhằm xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, cứ trước mỗi mùa tuyển quân, chúng lại sử dụng, cắt ghép hình ảnh rồi tung mạng một số vụ việc cũ, hy hữu để kích động, xuyên tạc. Cùng với đó, chúng thường xuyên đưa ra các luồng tin đồn thất thiệt với những hình ảnh, clip video có sự can thiệp của công nghệ, có nội dung thông tin chưa được kiểm chứng, trong đó chủ yếu là nội dung về cảnh bạo lực, quân phiệt hay “cái chết oan ức” trong quân đội... Sau đó, chúng đặt các câu nghi vấn, bình luận lập lờ để reo rắc hoài nghi và kích động “cư dân mạng” nhất là giới trẻ. Đây thực chất là chiêu bài tâm lý để lừa bịp, “đánh” vào những người nhẹ dạ, cả tin, gây hoang mang dư luận xã hội, nghi ngờ, mất niềm tin trong nhân dân, làm cản trở, gây khó khăn trong thực hiện công tác tuyển quân tại các địa phương.


Cần phải khẳng định lại, những nội dung thông tin mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu tung lên mạng xã hội hầu hết có nội dung hoàn toàn bịa bặt hoặc chỉ phản ánh một phần của vấn đề - một vài hiện tượng cá biệt, hy hữu chứ không phải là bản chất của Quân đội. Điều nguy hại là không ít “cư dân mạng” vô tâm, vô ý thức chỉ vì muốn “câu view” “câu like” nên đã “hồn nhiên” đăng tải lại, chia sẻ, phát tán những nội dung xuyên tạc, phản động, không đúng bản chất... Điều này đã vô tình tiếp tay cho những dụng ý đen tối và dã tâm của các thế lực, phần tử xấu. Vì vậy, đi cùng với nhận diện đúng để kiên quyết đấu tranh với những toan tính thâm độc, cũng cần phê phán, lên án mạnh mẽ với những hành vi “tiếp tay” - dù là không có chủ ý - của những cá nhân thiếu ý thức.


NHẬN THỨC ĐÚNG VẤN ĐỀ ĐỂ CÓ CÁI NHÌN CHÍNH XÁC


Thực tế ở Việt Nam cho thấy, tham gia vào môi trường quân ngũ, thanh niên được rèn luyện mọi mặt cả về thể chất, tri thức và tinh thần. Họ được học tập, tiếp thu những kiến thức về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; được rèn luyện tính kỷ luật và tác phong chính quy.


Môi trường Quân đội giúp thanh niên rèn luyện sức khỏe dẻo dai, thể lực bền bỉ; có tác phong chững chạc; có tinh thần, trách nhiệm cao hơn với công việc; có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh; giải quyết các mối quan hệ xã hội, giao tiếp, ứng xử đúng chuẩn mực, có văn hóa.


Dù mang tính đặc thù của hoạt động quân sự, song trong môi trường quân ngũ, thanh niên vẫn được khẳng định bản thân, ngày càng trưởng thành hơn, sẵn sàng đối mặt với thử thách và vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.


Môi trường quân ngũ còn tôi luyện cho thanh niên ý thức tự giác, ý chí vươn lên, tinh thần trách nhiệm với tập thể, biết lắng nghe quan tâm, chia sẻ với mọi người. Thời gian học tập, rèn luyện trong môi trường quân ngũ là cơ sở, tiền đề quan trọng, vững chắc để thanh niên trưởng thành hơn sau khi ra xã hội lập thân, lập nghiệp, cống hiến cho sự phát triển của địa phương, đất nước.


KHÔNG NGỪNG TUYÊN TRUYỀN, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ VÀ CÁC LUẬN XUYÊN TẠC


Tiếp tục xây dựng và giữ gìn, phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”


Trước sự vận động, phát triển không ngừng của yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn được giữ gìn, phát huy. Đại đa số cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã tích cực tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững và phát huy những chuẩn mực văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuy nhiên, do sự tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa nhận thức đầy đủ, chưa nêu cao trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện. Một số sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình, phát ngôn thiếu tính xây dựng...


Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, truyền bá tư tưởng “phi chính trị hóa” quân đội; xuyên tạc truyền thống Quân đội; xuyên tạc hình ảnh, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”… với mưu đồ thâm độc là làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, niềm tin vào Đảng, chế độ trong mỗi cán bộ, chiến sĩ; xóa nhòa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tách rời Quân đội với Đảng và nhân dân…


Vì vậy, trong tình hình mới, việc giữ gìn, phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ. Theo đó, phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục góp phần thấm nhuần tư tưởng “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(1). Cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ. Chú trọng đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phù hợp với từng nhóm đối tượng; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm, cổ vũ gương “người tốt, việc tốt” trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” gắn với đẩy mạnh việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...

Thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là chấp hành pháp luật của Nhà nước, mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của công dân đối với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất. Ngày nay, trong thời bình, ổn định và hợp tác quốc tế, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” lại càng sống động hơn khi sát cánh cùng nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh; luôn sẵn sàng bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; đồng hành cùng đồng bào biên giới, miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới...


Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến để nhân dân nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm Luật nghĩa vụ quân sự.


Chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tích cực tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, làm cho mọi tầng lớp nhân dân nhận thức đúng: Luật Nghĩa vụ quân sự là cơ sở để thanh niên thực hiện quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc - nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân đã được ghi nhận tại Hiến pháp 2013. Công dân đến tuổi quy định phải có bổn phận, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với Tổ quốc, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp; việc cố tình không chấp hành sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật.


Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, cách thức tuyên truyền giáo dục khác nhau làm cho mọi người dân đều hiểu và thực hiện tốt nhiệm vụ này. Trong đó cần kết hợp tuyên truyền thường xuyên với tổ chức các đợt tuyên truyền cao điểm trong “mùa tuyển quân”; kết hợp giáo dục, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng với lồng ghép phổ biến luật trong hoạt động của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội. Tuyên truyền tập trung làm rõ nội dung cơ bản về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, giúp công dân hiểu rõ nghĩa vụ thiêng liêng cũng như các chế độ, chính sách mà quân nhân, gia đình quân nhân được hưởng trong thời gian tại ngũ, khi xuất ngũ.


Cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là cấp huyện, cấp xã thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ công tác tuyển quân của địa phương mình; xét tuyển đảm bảo công bằng, công khai, đúng luật. Đối với các trường hợp thuộc diện tạm miễn, tạm hoãn phải được niêm yết ở trụ sở UBND cấp xã, nhà văn hóa thôn…, thông báo trên hệ thống truyền thanh của địa phương để nhân dân theo dõi, giám sát; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; phổ biến đầy đủ những chế độ, tiêu chuẩn được hưởng của chiến sĩ nghĩa vụ. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi trốn tránh, cản trở, chống đối trong công tác khám, tuyển quân; kịp thời biểu dương, động viên những gia đình, địa phương làm tốt công tác này; quan tâm, tổ chức thăm hỏi, tặng quà, động viên thanh niên và gia đình trước ngày lên đường nhập ngũ, tạo khí thế sôi nổi, trang nghiêm, ý nghĩa trong ngày giao nhận quân.


Gia đình cần động viên, giáo dục, khuyến khích con em nhận thức đúng trách nhiệm đối với đất nước, tích cực tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi quy định. Đoàn viên thanh niên nêu cao ý thức hành động theo khẩu hiệu: “Tuổi trẻ Việt Nam xây hoài bão lớn, rèn đức, luyện tài, đoàn kết, sáng tạo, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.


Đa dạng các hình thức tuyên truyền về đời sống quân ngũ để nhân dân, nhất là giới trẻ có cái nhìn khách quan, đúng đắn.


Tăng cường các chương trình truyền hình thực tế về môi trường quân ngũ, đăng tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông; tổ chức thường xuyên hơn mô hình học kì quân đội cho học sinh, sinh viên, tổ chức huấn luyện quốc phòng an ninh cho đối tượng học sinh THPT tại các đơn vị bộ đội phù hợp... Đối với tân binh, Quân đội và đơn vị cần có nhiều hơn những biện pháp, cách thức liên lạc giữa gia đình với đơn vị, để gia đình có thể nắm được tình hình huấn luyện và sự trưởng thành của con em; tổ chức những buổi gặp gỡ giữa các chiến sĩ với tân binh và những đối tượng trong độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự để họ được tìm hiểu kĩ hơn về môi trường quân ngũ; lan toả mạnh mẽ và rộng rãi những hình ảnh đẹp trong môi trường quân đội trên các phương tiện truyền thông để mọi người dân cảm nhận được sự ưu việt của môi trường này, từ đó yên tâm động viên con em tham gia nghĩa vụ quân sự.


Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh không khoan nhượng với các hoạt động chống phá trên không gian mạng về khám tuyển nghĩa vụ quân sự.


Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng trong kiểm soát các nguồn thông tin đăng tải, nhất là những luồng thông tin phi chính thống có liên quan đến các cá nhân và tổ chức phản động. Kịp thời ngăn chặn và xử lý các thông tin xấu độc, ngăn chặn, hạn chế việc chia sẻ các luồng tin sai trái, xuyên tạc. Khi đã xác minh được vấn đề cần có biện pháp xử lý nghiêm minh với những cá nhân, tổ chức có biểu hiện chống phá.


Để nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ nhận biết rõ về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và kẻ xấu về công tác tuyển quân, mỗi công dân khi tham gia mạng xã hội cần phải chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng; tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để hạn chế thấp nhất những vi phạm có thể mắc phải, không để mắc mưu các thế lực thù địch. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên đoàn thể chính trị - xã hội cần gương mẫu, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người thân, hàng xóm không tham gia chia sẻ, bình luận theo kiểu “a dua” “vào hùa” trước những luận điệu xấu trên không gian mạng về công tác tuyển quân. Mặt khác, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thanh niên sẵn sàng nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ, hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình với quê hương, đất nước. Mỗi người dân, mỗi gia đình tuyệt đối không nghe theo, làm theo thông tin sai sự thật, sự kích động lan truyền trên mạng xã hội do các thế lực thù địch phát tán.


Mặt khác, cần xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm luật nghĩa vụ quân sự, lên án những hành vi, việc làm thiếu ý thức, trách nhiệm của một người công dân với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.../.


ThS. LẠI THỊ HƯỚNG - ThS. PHAN THỊ MAI THANH

Trường Chính trị Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng

#QĐTMĐNB #d17

_______________________


(1) Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25/7/2008, Hội nghị Trung ương 7 khóa X, về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

Tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030

 Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị to lớn, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, mà còn là tiền đề để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cao hơn, chuỗi sự kiện này là một trong những yếu tố then chốt tạo nền tảng chính trị vững chắc đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu và ước vọng của toàn dân tộc.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, đại hội đảng bộ các cấp có vai trò dẫn dắt, định hướng, trụ cột, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ này có 3 nhiệm vụ trọng tâm, đó là: thảo luận, thông qua văn kiện đại hội cấp mình và góp ý với dự thảo văn kiện đại hội cấp trên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; lựa chọn nhân sự tham gia cấp ủy các cấp; hoàn thiện nhân sự trong hệ thống cơ quan lãnh đạo của Đảng từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương. Những nội dung trên đều là vấn đề “cốt tử”, hệ trọng, liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; đến việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, biện pháp lãnh đạo; quyết định sức mạnh nội bộ Đảng và hệ thống chính trị; đến toàn bộ hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp trong nhiệm kỳ tới cũng như sức mạnh của toàn dân tộc trong tương lai.

Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo bằng đường lối. Văn kiện đại hội các cấp là sự cụ thể hoá quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng thành hệ thống những giải pháp có sức sống từ thực tiễn ngành, địa phương, cơ quan đơn vị, địa bàn, lĩnh vực được phân công nhiệm vụ; có giá trị định hướng sự lãnh đạo, dẫn đường, khắc phục triệt để tồn tại, bất cập, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, tháo gỡ triệt để điểm nghẽn, rào cản, huy động tối đa sự tham gia của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sức mạnh to lớn để đạt và vượt mục tiêu đã định, góp phần hoàn thành thắng lợi những mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch mà Trung ương hoặc đảng bộ cấp trên đã đề ra. Bảo đảm chất lượng tham gia ý kiến với văn kiện đại hội của cấp mình, dự thảo văn kiện cấp trên trực tiếp, của cấp trên cũng như dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, nhất là đề xuất những giải pháp bắt nguồn từ nhịp sống cơ sở, từ hơi thở của đời sống xã hội của từng địa phương, thậm chí từng làng xã, cộng đồng và cá nhân tạo động lực, khí thế, sức lan toả mạnh mẽ trong cả nước là mục tiêu mà các cấp ủy cần đạt được.

Nhân sự cấp ủy cũng chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ trì, chủ chốt ở từng bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là lực lượng lãnh đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, quyết định việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đi vào cuộc sống; đồng thời, nắm bắt tình hình đề xuất với Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, chính sách phù hợp nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân. Bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên luôn là nhân tố quan trọng, quyết định kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự ổn định, phát triển, vững mạnh của địa phương, cơ quan, đơn vị cả trước mắt và lâu dài.

Để tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, cấp ủy các cấp cần bám sát nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14-6-2024, của Bộ Chính trị “Về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” và Kết luận số 118 KL/TW, ngày 18-1-2025, của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung Chỉ thị số 35-CT/TW nêu trên. Ngoài ra, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy Ban kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương đến nay đã có 21 văn bản hướng dẫn liên quan đến tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, các đồng chí coi đó là “sách giáo khoa” để tổ chức triển khai thực hiện.

Trong bối cảnh chúng ta tích cực triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW của Bộ Chính trị về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị, các cấp ủy cần nhanh chóng kiện toàn tổ chức, đưa guồng máy vào hoạt động và tiếp tục tinh gọn bộ máy bên trong của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Bốn đảng bộ mới được thành lập là Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Quốc hội, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc; một số ban Đảng trung ương mới được cơ cấu lại; các đảng bộ, chi bộ mới của một số bộ, các tỉnh, thành phố... căn cứ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy được quy định sớm ổn định tổ chức và duy trì hoạt động theo đúng Điều lệ Đảng và những quy định mới của Ban Chấp hành Trung ương trong điều hành hoạt động cũng như trong qua trình tổ chức đại hội đảng bộ, chi bộ.

Để tiến hành tốt đại hội đảng bộ các cấp, các cấp ủy cần tập trung vào 3 vấn đề chính sau đây:

Thứ nhất, cần thống nhất nhận thức, những thành tựu của đất nước đạt được sau 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt sau 40 năm đổi mới là rất vĩ đại, rất đáng trân trọng, tự hào. Nhưng đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nỗ lực đoàn kết, quyết tâm hơn nữa để vượt qua, trong đó đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 có trách nhiệm phải tham gia và là lực lượng nòng cốt giải quyết hiệu quả những khó khăn, thách thức này. Nhiều điểm nghẽn, rào cản, nút thắt về thể chế tồn tại lâu năm vẫn chưa được tháo gỡ, loại bỏ. Nguy cơ “dậm chân tại chỗ”, nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về kinh tế, về khoa học, công nghệ và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” còn tiềm tàng. Gần đây, thiên tai, bão lũ và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu, môi trường liên tiếp xảy ra đã để lại những hậu quả nặng nề đối với nhiều địa phương. Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Những nguy cơ, thách thức này đe doạ trực tiếp đến quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước, đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Định vị chính xác “nguy và cơ”, đặt rõ mục tiêu vươn tới để thống nhất cao về quyết tâm chính trị, với những bước đi, hành động đúng, trúng, quyết liệt để giải quyết hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, khắc phục triệt để điểm nghẽn, rào cản, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế từng ngành, lĩnh vực, địa phương.

Thứ hai, về xây dựng văn kiện và tham gia ý kiến vào văn kiện đại hội cấp trên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ các cấp cần bám sát tinh thần dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV; tập trung phân tích, đánh giá khách quan việc thực hiện nghị quyết đại hội vừa qua; phản ánh đầy đủ, sát thực tình hình và thực tiễn phát triển của các địa phương, ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị. Làm rõ những thành tựu đổi mới, nổi bật trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng; trên tinh thần nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, cần thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm còn tồn tại, nhất là những điểm nghẽn, nút thắt đối với sự phát triển chưa được tháo gỡ, khắc phục. Phân tích sâu sắc nguyên nhân của thành tựu và hạn chế, nhất là về đường lối, chủ trương, biện pháp, giải pháp tại đơn vị, địa phương; về khâu tổ chức thực hiện; về tính chất quyết định của nhân tố con người và công tác cán bộ; về sự tham gia, đồng thuận, ủng hộ của nhân dân. Chú trọng tổng kết những mô hình mới, cách làm hay, rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị phục vụ phát triển. Chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo sát tình hình; phân tích thấu đáo những vấn đề nổi lên đang tác động trực tiếp đến các ngành, các cấp, các địa phương, các cơ quan, đơn vị; xác định rõ tiềm năng, lợi thế phát triển, với phương châm “Tầm nhìn quốc gia, hành động địa phương, đồng hành của doanh nghiệp, trách nhiệm của người dân”, đề ra các định hướng, các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá, đối sách phù hợp; tất cả vì sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước với mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân.

Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cần được xây dựng thống nhất với báo cáo chính trị. Không để xảy ra tình trạng sao chép, rập khuôn báo cáo một cách máy móc hoặc kiểm điểm qua loa, đại khái, hình thức cho có. Việc kiểm điểm cấp ủy cần bám sát quy chế làm việc, chương trình hành động, kết quả lãnh đạo tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên và tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị; kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, XII, XIII gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Lấy kết quả đầu ra cụ thể của công tác lãnh đạo, chỉ đạo và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị cùng với sự hài lòng của quần chúng, nhân dân làm tiêu chí đánh giá. Cần thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, mức độ khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, yếu kém đã được phát hiện, trên tinh thần tự phê bình và phê bình, không nể nang, né tránh. Nhận diện, làm rõ những nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, để từ đó rút kinh nghiệm, đề ra kế hoạch, lộ trình, biện pháp hiệu quả nhằm sửa chữa, khắc phục trong nhiệm kỳ 2025 - 2030. Báo cáo kiểm điểm cần gắn trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, người được phân công phụ trách các lĩnh vực, địa bàn; coi đây là cơ sở quan trọng để đánh giá cấp ủy viên trong nhiệm kỳ và giới thiệu nhân sự cho khoá mới. Cần nhận thức rõ, việc thực hiện kiểm điểm là cơ hội để tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, thống nhất, giúp xây dựng môi trường làm việc tốt hơn. Tuyệt đối không được lợi dụng việc kiểm điểm để đấu đá nội bộ, tìm cách triệt hạ, làm mất uy tín của cán bộ, đảng viên.

Thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và văn kiện đại hội đảng bộ cấp trên trực tiếp theo hướng thực chất, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tránh góp ý theo kiểu hình thức. Căn cứ điều kiện cụ thể của tổ chức đảng và đại hội để định hướng, gợi mở những nội dung cốt lõi, những vấn đề mới, những vấn đề có nhiều phương án cho thảo luận; lựa chọn hình thức trao đổi, góp ý cho phù hợp, từ đó tiếp nhận, tiếp thu được nhiều ý kiến tâm huyết, có chất lượng. Trong quá trình thảo luận, bàn bạc, cần hết sức cầu thị, lắng nghe, tôn trọng ý kiến lẫn nhau, nhất là đối với những vấn đề mới, vấn đề khó, đồng thời kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, không được phép ngả nghiêng, dao động; luôn tỉnh táo, cảnh giác với mọi âm mưu lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc, chống phá.

Thứ ba, đặc biệt chú trọng chuẩn bị nhân sự đại hội. Cần ý thức sâu sắc, chuẩn bị nhân sự không chỉ cho một kỳ đại hội; xa hơn, đó là sự chuẩn bị nhân sự cho tương lai phát triển của tổ chức đảng, sự phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị; rộng hơn, đó là vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Đây là công việc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm theo dõi; đây cũng là việc mà các phần tử xấu, cơ hội chính trị tìm mọi cách tác động, tung tin thất thiệt, xuyên tạc hòng chia rẽ nội bộ. Về cơ cấu cấp ủy, phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đối với những địa bàn, lĩnh vực quan trọng; coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn; không nhất thiết địa phương, ban, ngành nào cũng phải có người tham gia cấp ủy; cấp ủy viên được lựa chọn phải thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là đại diện cho đội ngũ đảng viên và được quần chúng tin yêu, tín nhiệm; các cấp ủy viên phải xứng tầm là thành viên “bộ tham mưu” chiến đấu và phải đoàn kết, thống nhất cao về ý chí và hành động, thật sự trong sạch, vững vàng, trung kiên. Cần đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đề xuất, giới thiệu nhân sự, nhất là người kế nhiệm theo các quy định mới của Trung ương. Chuẩn bị nhân sự phải kết hợp hài hoà giữa nguồn nhân sự tại chỗ với việc điều động, luân chuyển cán bộ từ nơi khác đến. Đối với các địa phương, đơn vị có cơ cấu cấp ủy nhưng chưa chuẩn bị được nhân sự tại chỗ, thì cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, điều động nhân sự từ nơi khác có đủ tiêu chuẩn, điều kiện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị để giới thiệu, chỉ định tham gia cấp ủy hoặc bổ sung sau đại hội. Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ; phấn đấu tỷ lệ cán bộ trẻ từ 10% trở lên, tỷ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và điều kiện cụ thể từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Bên cạnh thực hiện đúng Điều lệ Đảng và các quy định hiện hành, công tác nhân sự của các cấp ủy đảng phải được tiến hành bài bản, khoa học, nhân văn. Phải chuẩn bị kỹ càng cả nhân sự cấp ủy và đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên. Việc giới thiệu, lựa chọn nhân sự phải bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện; dựa trên cơ sở quy hoạch, quy chế, quy định, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, uy tín, sản phẩm và hiệu quả công tác cụ thể; tuyệt đối không lựa chọn cán bộ không được quần chúng nhân dân tín nhiệm, cũng không giới thiệu những cán bộ lãnh đạo “dĩ hoà vi quý”, “tròn vo” để lấy phiếu bầu. Nhân sự tham gia cấp ủy, các nhân sự được lựa chọn đi dự đại hội cấp trên phải là tinh hoa của Đảng, thật sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, bản lĩnh, trí tuệ; có tầm nhìn và tư duy chiến lược; có trách nhiệm cao, có tư duy đổi mới, biết nắm bắt cơ hội, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không né tránh, trì trệ, thụ động trước những vấn đề mới phát sinh; có năng lực thực tiễn, khả năng lãnh đạo, quản lý; mạnh dạn, sáng tạo trong đóng góp ý kiến, để giúp đại hội đề ra được các quyết sách đúng đắn đáp ứng những yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Công tác nhân sự đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán theo hướng dẫn của Trung ương; tránh cách làm giản đơn, tuỳ tiện, vô nguyên tắc, cài cắm “quân xanh, quân đỏ” hoặc máy móc, cứng nhắc, xa rời thực tiễn; phải bảo đảm lựa chọn được những người tốt nhất, người xứng đáng nhất, không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đồng thời kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen. Cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề cho nên trong quá trình lựa chọn nhân sự bên cạnh việc phát hiện đúng - trúng thì cố gắng không bỏ sót nhân tài bởi không tìm chọn, sử dụng nhân tài là sự lãng phí về tài nguyên và tiềm năng con người.

Quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội, đặc biệt ở các đảng bộ mới thành lập, kiện toàn, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc “tập trung dân chủ”, “đoàn kết thống nhất”, “tự phê bình và phê bình”; quán triệt các nguyên tắc kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển để chuẩn bị thật nghiêm túc, chu đáo, toàn diện các nội dung đại hội, vừa tập trung chuẩn bị cho đại hội, vừa lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Tổ chức đại hội theo hướng thiết thực, tiết kiệm, tránh phô trương, lãng phí, bảo đảm trang trọng, ý nghĩa; gắn với đổi mới cách thức xây dựng, ban hành, quán triệt nghị quyết; tăng cường trao quyền và ủy quyền, giảm thiểu các ban bệ và đầu mối trung gian; phát huy sự chủ động, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và sự tham gia đóng góp, ủng hộ tích cực của quần chúng nhân dân. Chủ động, tích cực làm tốt công tác tư tưởng, thông tin, tuyên truyền để tạo sự thống nhất trong toàn đảng bộ và sự đồng thuận trong tập thể quần chúng, nhân dân; củng cố, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với tổ chức cơ sở đảng. Tạo điều kiện và môi trường thật tốt để phát huy trí tuệ và sự tham gia của các tầng lớp nhân dân trong xây dựng các văn kiện và công tác cán bộ, góp phần tích cực, có hiệu quả vào thành công của đại hội, sớm đưa nghị quyết đại hội đảng đi vào thực tiễn cuộc sống, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người dân./.

 

 

BẮC NAM SUM HỌP XUÂN NÀO CŨNG VUI, ĐỪNG ĐỂ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIA RẼ DÂN TỘC CỦA ĐÁM ĂN MÀY DĨ VÃNG "SÀI GÒN XƯA"!

 BẮC NAM SUM HỌP XUÂN NÀO CŨNG VUI, ĐỪNG ĐỂ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIA RẼ DÂN TỘC CỦA ĐÁM ĂN MÀY DĨ VÃNG "SÀI GÒN XƯA"!


Dạo này, các trang mạng phản động lại rộ lên câu hỏi ngớ ngẩn: *“Sao miền Nam không ra Bắc giải phóng?”* – nghe cứ như trò đố vui của mấy đứa trẻ chưa học xong lớp Lịch sử! Tôi nghĩ rằng, chỉ có những kẻ cố tình bịt mắt trước sự thật mới dám đặt vấn đề này. Chúng muốn biến cuộc chiến chống Mỹ cứu nước thành trò “nội chiến” Bắc – Nam, nhưng sự thật thì cả dân tộc khi ấy chỉ có một kẻ thù: đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai. Không ai muốn chia cắt non sông, nhưng chính ngoại bang đã dùng vĩ tuyến 17 để khoét sâu hận thù!  


Tôi đánh giá rằng, câu hỏi này chẳng khác gì việc hỏi *“Sao không để giặc tự rút về nước?”* – đúng là ngây ngô đến tội nghiệp! Lịch sử đã ghi rõ: Đảng và Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đứng lên giành độc lập, thống nhất Tổ quốc. Hàng triệu thanh niên miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam không phải để “xâm lược”, mà để cứu đồng bào mình khỏi gót giày ngoại xâm. Còn người dân miền Nam khi ấy, liệu có ai muốn làm “bàn đạp” cho Mỹ - Ngụy? Đất nước thống nhất là khát vọng ngàn đời, sao cứ gọi đó là “Bắc thôn tính Nam”? Não mấy anh “rân chủ” chắc chỉ bằng hạt đậu!  


Tôi cho rằng, đã đến lúc phải thẳng tay dập tan những luận điệu xảo trá này! Mấy kẻ xuyên tạc cố tình khơi lại vết thương lòng dân, chia rẽ khối đại đoàn kết Bắc – Nam chỉ để phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình”. Đồng bào ơi, đừng để bị dụ dỗ bởi mấy bài viết “giật title” câu view! Hãy nhớ: Sau 1975, chúng ta chỉ còn hai từ duy nhất – VIỆT NAM. Dòng máu Lạc Hồng chảy trong huyết quản mỗi người, sao lại tự chia thành “bên thắng – bên thua”? Thôi ngay trò so đo vặt vãnh, hãy cùng hướng về tương lai! Cứ để lũ phản động ngậm tăm – lịch sử đã lên tiếng, sự thật không thể bẻ cong!

BẰNG CHỨNG SINH ĐỘNG PHỦ NHẬN SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH “ĐẢNG KHÔNG VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN”

 BẰNG CHỨNG SINH ĐỘNG PHỦ NHẬN SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH “ĐẢNG KHÔNG VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN”

Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân.


Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.


1. Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội.


Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta chỉ rõ, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới “đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Rõ ràng, mục tiêu của Đảng luôn gắn liền với mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc, từ nội lực nhân dân đã làm nên một Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đại thắng mùa xuân năm 1975 đưa non sông thu về một mối. Khi Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đời sống nhân dân thì dù “khó vạn lần dân liệu cũng xong” và khi Đảng, Nhà nước chăm lo hạnh phúc của nhân dân thì sẽ luôn được nhân dân đồng tình, ủng hộ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.


Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng yêu cầu phải giải phóng mọi tiềm năng, sức mạnh, khả năng sáng tạo của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã có nhiều nghị quyết được ban hành, nhiều chiến lược phát triển kinh tế-xã hội được hoạch định ở nhiều thời điểm khác nhau, các chương trình quốc gia hỗ trợ giảm nghèo, phát triển kinh tế và an sinh xã hội được nỗ lực thực hiện, tạo ra những chuyển biến căn bản trong xã hội và trong đời sống của nhân dân.


Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986. 


2. Tuy nhiên, mỗi bước tiến trong quá trình xây dựng hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam vẫn còn những khó khăn, trở ngại. Một trong những lực cản, đó là các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tìm cách chống phá. Họ xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Với luận điệu hết sức trắng trợn, họ cho rằng, phải thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì Việt Nam mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.


Thời gian qua, các đối tượng chống phá cố tình “đổi trắng thay đen” những tiến bộ và kỳ tích trong xóa đói, giảm nghèo đã được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế ghi nhận. Họ còn rêu rao rằng khoảng cách giàu nghèo cách biệt là do cán bộ, đảng viên tham nhũng, vơ vét tài sản của dân. Họ cố tình thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước để quy kết Đảng chỉ biết lo cho mình mà không vì hạnh phúc của nhân dân.


Những luận điệu xuyên tạc đó nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta và phá hủy niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.


3. Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 


Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho nên mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, vì chỉ có CNXH mới bảo đảm hạnh phúc lâu dài cho nhân dân.


Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên luôn nêu cao tinh thần cách mạng, rèn đức luyện tài, không ngừng trau dồi đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phấn đấu trở thành người cán bộ vừa "hồng", vừa "chuyên". Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.


Giải pháp căn cơ là bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; coi trọng nhân tố con người, phát huy tiềm năng, sức mạnh, năng lực sáng tạo của con người trong phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân. Trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế phải luôn gắn với chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, xuất phát từ lợi ích thiết thực của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động của nhân dân. Xây dựng các chính sách xã hội phù hợp, kiểm soát sự phân hóa giàu nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc; bảo đảm phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân để không ai bị bỏ lại phía sau; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, gắn nâng cao chất lượng cuộc sống với hạnh phúc của nhân dân.


Đại hội XIII của Đảng xác định: Phấn đấu đến năm 2030, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, theo định hướng XHCN. Khát vọng phát triển đất nước “cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” không phải là viển vông mà hoàn toàn có cơ sở khoa học, được thực tiễn đúc kết, kiểm nghiệm trong các hoạt động, lao động sáng tạo của nhân dân, bằng chính sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.


Trong suốt 95 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, là cội nguồn làm nên sức sống, sự trường tồn của Đảng. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”. Không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một chế độ chính trị-xã hội tốt đẹp như vậy chính là môi trường, điều kiện thuận lợi để nhân dân yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước.


Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH. Đây là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

🇻🇳🇻🇳DÂNG HIẾN THANH XUÂN CHO TỔ QUỐC BÌNH YÊN 🇻🇳

 🇻🇳🇻🇳DÂNG HIẾN THANH XUÂN CHO TỔ QUỐC BÌNH YÊN 🇻🇳


Có lẽ, không có gì quý giá hơn những giây phút thanh xuân được dâng hiến hết mình cho Quân đội và cho Tổ quốc. Trong lòng mỗi người dân đất Việt, hình ảnh những người lính dũng cảm của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời chiến cũng như thời bình luôn là minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước, lòng trung thành và sự hy sinh thầm lặng mà đất nước đã có.


Trước bao gian truân, khi đất nước bước vào những thời khắc khó khăn, quân đội không chỉ bảo vệ biên giới, giữ gìn hòa bình, mà còn là niềm tự hào của dân tộc. Mỗi bước chân, mỗi giọt mồ hôi của những người lính là lời hứa thiêng liêng, dù cuộc sống có bao đổi thay, Tổ quốc vẫn luôn được che chở bởi những trái tim kiên cường.


Thanh xuân của họ không chỉ là những ngày tươi đẹp bên bạn bè, mà còn là những tháng ngày ở lại căn cứ, vác đeo trên vai cả niềm tin và hy vọng của dân tộc. Họ dám hy sinh, dám chấp nhận những điều không ai khác dám, chỉ để cho đất nước được yên bình và cho tương lai của con cháu chúng ta thêm rạng ngời.


Khi nhìn lại, ta nhận ra rằng, mỗi giây phút thanh xuân đã trôi qua trong công việc bảo vệ tổ quốc chính là những viên gạch vững chắc xây dựng nên một đất nước tự do, hạnh phúc và phồn vinh. Và dù cho thời gian có trôi nhanh, hình ảnh những người lính dũng cảm ấy sẽ mãi in đậm trong tâm trí mỗi người con Việt Nam – như một ngọn lửa không bao giờ tắt, soi sáng cả niềm tin và hy vọng cho tương lai.


Dành cả thanh xuân để cống hiến hết mình cho Tổ quốc – đó là lời thề của những người lính nguyện cống hiến hi sinh cho Tổ quốc thân yêu.

MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 12/02 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳

 MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 12/02

🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 


🌹 Ngày 12/02/1947, giữa lúc đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư trả lời “Chính phủ Cao Miên giải phóng” hoan nghênh việc thành lập một “Ủy ban giải phóng Việt - Miên - Lào” và đánh giá đó sẵn có tinh thần tranh đấu cao lại gắng đi tới một sự cộng tác chặt chẽ thì thắng lợi thế nào cũng về ta và chúng ta nhất định sẽ giành được độc lập. Đây là biểu hiện của khối đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương trên một chiến trường chung, trong một sự nghiệp giải phóng chung và trước một kẻ thù chung.


🌹 Ngày này 3 năm sau đó, ngày 12/02/1950, Chủ tịch Nước Việt Nam đang kháng chiến ký một sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh số 20/SL quyết định tổng động viên để tiến tới tổng phản công. Sắc lệnh nêu rõ: “Tất cả nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân đều đặt dưới chế độ pháp luật đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh”.


🌹 Ngày 12/02/1951, theo dõi sát tình hình chiến sự đang diễn ra khốc liệt ở Triều Tiên, nơi đụng đầu của “2 phe”, dưới bút danh “Đ.X” Bác viết bài “MIG” đăng trên Báo Cứu quốc. Tác giả đặc biệt quan tâm đến các loại phi cơ chiến đấu được hai bên sử dụng trong đó có máy bay MIG của Liên Xô và đặt sự tin tưởng vào loại MIG.19 “bay mau như tia chớp”. Thực tế lịch sử cho thấy rằng chỉ hơn một thập kỷ sau (1964 - 1972), chính những thế hệ máy bay MIG của Liên Xô viện trợ dưới sự điều khiển quả cảm, mưu trí của các phi công Việt Nam đã góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ trên chiến trường miền Bắc nước ta.


🌹 Ngày 12/02/1958, tiếp tục hành trình thăm Ấn Độ, Bác đến thành phố Bangalo thăm và trồng hoa tại tượng đài của M.Ganđi, vị Thánh của nền Độc lập Ấn Độ. Trong lời chào mừng, Thị trưởng thành phố đó bày tỏ sự tán thành với biểu tượng của Thủ tướng Nêru coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “con người của hòa bình thế giới”.


🌹 Trong những sự kiện diễn ra vào tháng 02 mà chưa xác minh được ngày thì năm 1941 ghi nhận việc tại Pác Bó, Bác dành thời gian để dịch “Lịch sử Đảng Cộng sản Nga” ra tiếng Việt làm tài liệu tuyên truyền giáo dục như được thể hiện trong bài thơ:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang,

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang.”


🌹 Còn trong tháng 02/1942, ghi dấu bằng việc Tổng bộ Việt Minh xuất bản tác phẩm “Lịch sử nước ta” do Nguyễn Ái Quốc biên soạn gồm 208 câu lục bát trình bày tóm tắt lịch sử Việt Nam từ Hùng Vương dựng nước đến đương đại và những ghi chép dự báo về 3 năm tiếp theo như một lời tiên tri: “1945: Việt Nam độc lập”. Bản Diễn ca mở đầu bằng câu:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa...”.


và kết thúc bằng một bài học lịch sử: “Dân ta xin nhớ chữ “đồng”: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”.


🌹 Ngày 12/02/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự và phát biểu tại Đại hội thi đua “Năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc “Để bảo đảm phong trào thi đua thắng lợi vẻ vang, cần có hai điều: một là cán bộ và công nhân phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ tập thể; hai là kế hoạch 10 phần thì biện pháp phải 20 phần và quyết tâm 30 phần”. Người chỉ rõ, muốn hoạt động thi đua có hiệu quả, trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng, làm cho mọi người có tinh thần làm chủ tập thể, triệt để thực hành, tiết kiệm chống tham ô, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm cao của cả người thi đua và người tổ chức phong trào thi đua.

🌹 Nhân ngày Tết cổ truyền, ngày 12/02/1969, Bác Hồ gặp gỡ các cháu thiếu nhi có cha mẹ đang công tác, chiến đấu tại miền Nam.


XÂY DỰNG BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN SAI TRÁI, BỊA ĐẶT CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 XÂY DỰNG BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN SAI TRÁI, BỊA ĐẶT CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị hiện nay hầu hết trưởng thành trong thời bình, được học tập, rèn luyện, thử thách trong môi trường hoạt động đặc thù của Quân đội; đồng thời, phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của mặt trái kinh tế thị trường, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đặc biệt là tác động tiêu cực từ thông tin xấu độc, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, đặc biệt ở đơn vị cơ sở là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, có hệ thống bằng những cách thức, biện pháp hợp lý, sát thực tế huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu… Để đạt được mục tiêu, yêu cầu đó, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các biện pháp. Trong đó, cần tập trung thực hiện các vấn đề cơ bản sau:

Một là, thường xuyên coi trọng giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.

Tinh thần yêu nước được hình thành, thử thách và khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước của ông cha ta đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước trong thời đại Hồ Chí Minh, một trong những giá trị truyền thống cao quý nhất, bền vững nhất của dân tộc ta. Yêu nước đã thực sự trở thành một thứ vũ khí tinh thần ngấm sâu vào tâm trí tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam qua các thời đại, làm nên một sức mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta chiến thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho dù chúng có hung bạo và tiềm lực quân sự mạnh đến đâu. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong đơn vị.

Tăng cường xây dựng quân đội về chính trị cũng chính là quá trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong mọi điều kiện. Hiện nay, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, đòi hỏi toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”… Trong đó, tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy với xây dựng cán bộ chủ trì, xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, rèn luyện tính Đảng và thường xuyên giám sát, kiểm tra việc duy trì kỷ luật Đảng, kỷ luật quân đội, chấp hành pháp luật Nhà nước, bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội và quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng.

Ba là, thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Thực tiễn cũng cho thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ của mỗi đơn vị. Quán triệt quan điểm của Đảng và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân thường xuyên quan tâm công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ. Chú trọng xây dựng hệ thống nhà trường “chính quy, mẫu mực”; lựa chọn, gửi cán bộ đi học ở các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ cho quân đội. Vì vậy, quân đội đã xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành, có số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Trong đó, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho chính ủy, chính trị viên, cán bộ chính trị các cấp – lực lượng nòng cốt chuyên trách về công tác Đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội về chính trị là nhân tố có ý nghĩa quyết định việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác Đảng, công tác chính trị; đồng thời, bảo đảm cho quân đội luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa, lành mạnh, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn “sử dụng những thông tin sai trái, bịa đặt, phi chính trị hóa quân đội”, giữ vững trận địa tư tưởng trong đơn vị.

Mục tiêu xuyên suốt, không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trước hết làm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân mất phương hướng, xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, quân đội phải nêu cao cảnh giác, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và toàn dân chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Vì vậy, phải chú trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội nhận rõ âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm, xảo quyệt của địch; từ đó, có biện pháp phòng chống hiệu quả, bảo đảm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội. Đồng thời, thông qua đấu tranh để rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng trong các tình huống, không dao động, lúng túng trước những vấn đề nhạy cảm, thông tin xấu độc, trái chiều, giúp cán bộ, chiến sĩ vững vàng trước những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc.

Thực tiễn xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định: Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội được rèn luyện, thử thách và phát triển bền vững, đạt đến trình độ giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; được thể hiện sinh động nhất, sâu sắc nhất ở 10 lời thề danh dự của quân nhân và 12 điều kỷ luật của quân đội; là sự kết tinh phẩm giá, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn hiện nay, cần tiếp tục phát huy khí phách quật khởi, truyền thống anh dũng của dân tộc và những kinh nghiệm quý về xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị thông qua hoạt động thực tiễn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 Thể chế chính trị ở Việt Nam được xác lập từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trải qua gần 80 năm xây dựng, thể chế chính trị ở nước ta ngày càng hoàn thiện và chứng tỏ là thể chế chính trị tiến bộ. Tuy nhiên, lợi dụng vào Internet và các ấn phẩm đi kèm, với quan điểm đối lập về ý thức hệ, website bbctiengviet đăng tải một số bài viết xuyên tạc về thể chế chính trị ở Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý là bài viết “Việt Nam, đã chín muồi cho một cuộc cải cách?” của Đinh Đức Hùng. Nội dung bài viết này có nhiều thông tin xoay quanh cuộc cách mạng cải cách thể chế, tinh gọn tổ chức, bộ máy ở Việt Nam và qua đó xuyên tạc thể chế chính trị ở nước ta.

Thứ nhất, Đinh Đức Hùng phản ánh về chế độ “độc tài” ở Việt Nam là hoàn toàn xuyên tạc. Blogger này viện dẫn ý kiến của ông Nguyễn Gia Kiểng, thành viên một tổ chức phản động tại Pháp là Tập hợp Dân chủ Đa nguyên để cho rằng, “thể chế chính trị tại Việt Nam đã đi hết con đường”, và “nền độc tài bắt buộc phải thay đổi”. Thật vô lý với luận điệu xuyên tạc này của Đinh Đức Hùng, vì thực tế cho thấy, thể chế chính trị ở Việt Nam là thể chế chính trị tiến bộ, mang lại quyền làm chủ thực sự cho mọi người dân, được ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Thể chế chính trị đó đặt dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa bao giờ áp đặt quyền lực lên nhân dân, mà luôn “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc” trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng. Mọi người dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận theo luật định và được bảo vệ quyền đó bằng quy định của pháp luật, đồng thời người dân là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, làm chủ sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước. Do vậy, thể chế chính trị ở Việt Nam thật sự tiến bộ, cách mạng, hoàn toàn phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, nên mọi luận điệu vu cáo về chế độ “độc tài” ở nước ta hiện nay chỉ là sự bịa đặt vô căn cứ.

Thứ hai, Đinh Đức Hùng nêu lên hiện thực xã hội mất lòng tin do bất công, bế tắc của thể chế và quy kết đây là hậu quả nền giáo dục sai lầm, là sự vu cáo trắng trợn sự thật. Đây là lập luận vô cùng phi lý của blogger này, vì nó chỉ dựa trên suy diễn cá nhân, mà không hề dựa trên thực tiễn dư luận xã hội và kết quả điều tra chỉ số lòng tin của các tầng lớp nhân dân ở Việt Nam. Trải qua gần 40 năm đổi mới đất nước, chưa bao giờ nước Việt Nam có được cồ đồ, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ từ Đại hội XIII năm 2021 đến nay, dù đối diện với muôn vàn khó khăn, thách thức từ tình hình bên ngoài, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn là điểm sáng của khu vực và quốc tế; người dân ngày càng được thụ hưởng đầy đủ mọi quyền đáng được hưởng và đoàn kết, đóng góp trách nhiệm trong xây dựng đất nước. Chủ trương đổi mới, tinh gọn tổ chức, bộ máy là sự nhất quán của Đảng ta, đồng thời được tất cả các tầng lớp nhân dân đồng thuận, ủng hộ cao. Thể chế được Đại hội XIII xác định là khâu đột phá, để tiếp tục hoàn thiện chế độ dân chủ và nâng cao quy trình quản trị xã hội văn minh. Nền giáo dục Việt Nam dù còn những bất cập do bệnh hình thức, nhưng có nhiều chuyển biến tích cực, được UNESCO và nhiều tổ chức giáo dục độc lập trên thế giới ghi nhận, đánh giá cao. Vì thế, suy diễn của Đinh Đức Hùng hoàn toàn lố bịch và không hề dựa trên luận cứ khoa học nào.

Thứ ba, yêu cầu mà Đinh Đức Hùng nêu ra đòi thay đổi cách quản trị xã hội và áp dụng công thức tự do, dân chủ của xã hội phương Tây là hoàn toàn phiến diện. Điều mà blogger này mong muốn thật nực cười, vì một thể chế chính trị tiến bộ đang ngày càng được hoàn thiện ở trình độ cao, phù hợp xu thế khách quan của thời đại, thì sao phải áp dụng công thức tự do, dân chủ của xã hội phương Tây?. Thực tế đã chứng minh, thể chế chính trị và nền dân chủ ở Pháp hay Mỹ được xác lập sau các cuộc cách mạng tư sản, nhưng không phải khi cách mạng tư sản thành công mà người dân Pháp hay Mỹ đã được hưởng ngay quyền, lợi ích cơ bản. Ngay trên nước Pháp, sau bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng năm 1789, và sau đó là sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên của nước Pháp là Hiến pháp năm 1791, song sự thực là đa số người lao động ở Pháp không được hưởng các quyền tự do, dân chủ như khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản Pháp giương lên. Ngay cả phụ nữ Pháp cũng không được ngang quyền với nam giới, mà phải đến năm 1945, tức gần 200 năm sau Cách mạng tư sản Pháp, thì phụ nữ Pháp mới được thừa nhận quyền bình đẳng với nam giới. Trong khi đó, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, phụ nữ Việt Nam đã bình đẳng với nam giới, và được chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước bảo đảm thực hiện. Hiện nay, thể chế chính trị tiến bộ ở Việt Nam thực sự đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân Việt Nam, đây là lẽ phải mà không ai có thể phủ nhận.

Như vậy, lập luận của Đinh Đức Hùng trên website của bbctiengviet hoàn toàn chỉ là sự xuyên tạc trắng trợn về thể chế chính trị ở Việt Nam. Đây chỉ là chiêu trò mang danh “tự do, dân chủ”, song về bản chất lại là sự xuyên tạc, phủ nhận thành quả và chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế chính trị, nên chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh loại bỏ./.