Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lựa chọn nhân sự tốt nhất, xứng đáng nhất cho Đảng.

 .Nhấn mạnh vai trò dẫn dắt, định hướng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội, Tổng Bí thư Tô Lâm cho hay Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ này có ba nhiệm vụ trọng tâm.Tổng Bí thư Tô Lâm vừa có bài viết với tiêu đề “Tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư khẳng định Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị to lớn, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân mà còn là tiền đề để tổ chức thành công Đại hội XIV của Đảng. Cao hơn, chuỗi sự kiện này là một trong những yếu tố then chốt tạo nền tảng chính trị vững chắc đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu.

P3-TBT-TOLAM.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Tiểu ban Kinh tế - Xã hội Đại hội XIV của Đảng, ngày 13-11-2024. Ảnh: TTXVN

Định vị chính xác “nguy và cơ”, đặt rõ mục tiêu vươn tới

Theo Tổng Bí thư, Đại hội Đảng bộ các cấp có vai trò dẫn dắt, định hướng, trụ cột, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội. Do vậy, Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ này có ba nhiệm vụ trọng tâm, đó là thảo luận, thông qua văn kiện đại hội cấp mình và góp ý với dự thảo văn kiện đại hội cấp trên, văn kiện Đại hội XIV của Đảng; lựa chọn nhân sự tham gia cấp ủy các cấp; hoàn thiện nhân sự trong hệ thống cơ quan lãnh đạo của Đảng từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương.

QC

X

“Đây đều là những vấn đề “cốt tử”, hệ trọng, liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; đến việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, biện pháp lãnh đạo; quyết định sức mạnh nội bộ Đảng và hệ thống chính trị; đến toàn bộ hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp trong nhiệm kỳ tới cũng như sức mạnh của toàn dân tộc trong tương lai” - Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Để tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cấp ủy các cấp cần tập trung vào ba vấn đề chính. Đầu tiên là cần thống nhất nhận thức, những thành tựu của đất nước đạt được sau 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt sau 40 năm đổi mới là rất vĩ đại, rất đáng trân trọng, tự hào.

Tổng Bí thư đã chỉ ra hàng loạt vấn đề khó khăn, thách thức mà đất nước đang phải đối mặt như nhiều điểm nghẽn, rào cản, nút thắt về thể chế tồn tại lâu năm vẫn chưa được tháo gỡ, loại bỏ. Nguy cơ “giậm chân tại chỗ”, nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về kinh tế, khoa học công nghệ và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” còn tiềm tàng…

Tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được khắc phục triệt để; tình trạng “nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi”, “lạc quan tếu”, báo cáo không trung thực, cán bộ thiếu năng lực, gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá, để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta. “Những nguy cơ, thách thức này đe dọa trực tiếp đến quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước” - Tổng Bí thư nói.

Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu cần định vị chính xác “nguy và cơ”, đặt rõ mục tiêu vươn tới để thống nhất cao về quyết tâm chính trị với những bước đi, hành động đúng, trúng, quyết liệt để giải quyết hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, khắc phục triệt để điểm nghẽn, rào cản, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế từng ngành, lĩnh vực, địa phương.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Lựa chọn nhân sự tốt nhất, xứng đáng nhất cho Đảng
Tổng Bí thư Tô Lâm. Ảnh: NHÂN DÂN

Trách nhiệm người đứng đầu trong giới thiệu nhân sự kế nhiệm

Đặc biệt, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu phải chú trọng chuẩn bị nhân sự đại hội. Cấp ủy các cấp cần ý thức sâu sắc, chuẩn bị nhân sự không chỉ cho một kỳ đại hội; xa hơn, đó là sự chuẩn bị nhân sự cho tương lai phát triển của tổ chức Đảng, sự phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị. “Rộng hơn đó là vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước, dân tộc” - Tổng Bí thư nói.

Về cơ cấu cấp ủy, phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đối với những địa bàn, lĩnh vực quan trọng; coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn; không nhất thiết địa phương, ban ngành nào cũng phải có người tham gia cấp ủy. Cấp ủy viên được lựa chọn phải thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là đại diện cho đội ngũ đảng viên và được quần chúng tin yêu, tín nhiệm.

“Cần đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đề xuất, giới thiệu nhân sự, nhất là người kế nhiệm theo các quy định mới của Trung ương. Chuẩn bị nhân sự phải kết hợp hài hòa giữa nguồn nhân sự tại chỗ với việc điều động, luân chuyển cán bộ từ nơi khác đến” - Tổng Bí thư nêu và yêu cầu phải chuẩn bị kỹ càng cả nhân sự cấp ủy và đại biểu dự Đại hội Đảng bộ cấp trên.

Về cơ cấu nhân sự, cần phấn đấu đạt tỉ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong Ban thường vụ; phấn đấu tỉ lệ cán bộ trẻ từ 10% trở lên, tỉ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tổng Bí thư TÔ LÂM

Tổng Bí thư yêu cầu công tác nhân sự đại hội phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán; tránh cách làm giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc, cài cắm “quân xanh, quân đỏ” hoặc máy móc, cứng nhắc, xa rời thực tiễn. Đồng thời, phải bảo đảm lựa chọn được những người tốt nhất, người xứng đáng nhất, không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đồng thời kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen.

“Cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề cho nên trong quá trình lựa chọn nhân sự bên cạnh việc phát hiện đúng, trúng thì cố gắng không bỏ sót nhân tài, bởi không tìm chọn, sử dụng nhân tài là sự lãng phí về tài nguyên và tiềm năng con người” - theo Tổng Bí thư Tô Lâm.

Tổng Bí thư nhấn mạnh quá trình chuẩn bị, tổ chức đại hội, đặc biệt ở các Đảng bộ mới thành lập, kiện toàn, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc “tập trung dân chủ”, “đoàn kết thống nhất”, “tự phê bình và phê bình”. Trong đó, quán triệt các nguyên tắc kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển để chuẩn bị thật nghiêm túc, chu đáo, toàn diện các nội dung của đại hội, vừa tập trung chuẩn bị cho đại hội vừa lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.

Không lợi dụng kiểm điểm để đấu đá nội bộ, triệt hạ cán bộ

Một nội dung trọng tâm được Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập là xây dựng văn kiện và tham gia ý kiến vào văn kiện đại hội cấp trên, văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư yêu cầu báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ các cấp cần bám sát tinh thần dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV; tập trung phân tích, đánh giá khách quan việc thực hiện nghị quyết đại hội vừa qua. Cùng với đó là phải phản ánh đầy đủ, sát tình hình và thực tiễn phát triển của các địa phương, ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị.

Bên cạnh đó là chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo sát tình hình; phân tích thấu đáo những vấn đề nổi lên đang tác động trực tiếp đến các ngành, các cấp, địa phương, cơ quan, đơn vị; xác định rõ tiềm năng, lợi thế phát triển với phương châm “Tầm nhìn quốc gia, hành động địa phương, đồng hành của doanh nghiệp, trách nhiệm của người dân”…

Tổng Bí thư cũng yêu cầu báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cần được xây dựng thống nhất với báo cáo chính trị. “Không để xảy ra tình trạng sao chép, rập khuôn báo cáo một cách máy móc hoặc kiểm điểm qua loa, đại khái, hình thức cho có” - Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Việc kiểm điểm cấp ủy, cần thẳng thắn, khách quan chỉ ra những hạn chế, thiếu sót, mức độ khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, yếu kém đã được phát hiện, trên tinh thần tự phê bình và phê bình, không nể nang, né tránh. Cùng với đó nhận diện, làm rõ những nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, từ đó rút kinh nghiệm, đề ra kế hoạch, lộ trình, biện pháp hiệu quả nhằm sửa chữa, khắc phục trong nhiệm kỳ 2025-2030.

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, báo cáo kiểm điểm cần gắn trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm của cá nhân, nhất là người đứng đầu, người được phân công phụ trách các lĩnh vực, địa bàn; coi đây là cơ sở quan trọng để đánh giá cấp ủy viên trong nhiệm kỳ và giới thiệu nhân sự cho khóa mới. “Tuyệt đối không được lợi dụng việc kiểm điểm để đấu đá nội bộ, tìm cách triệt hạ, làm mất uy tín của cán bộ, đảng viên” - Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Giữ nguyên HĐND các cấp, nghiên cứu giảm bớt số lượng thành viên UBND.

 Dự thảo luật chỉnh lý theo hướng giữ nguyên mô hình tổ chức chính quyền địa phương như luật hiện hành. Tại tất cả các đơn vị hành chính các cấp tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương.Chiều 12/2, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội nghe Tờ trình về dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).

Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, sửa đổi cơ bản và hợp lý các quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương để cụ thể hoá đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 và thể chế hoá các chủ trương, định hướng trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng nhằm tiếp tục đổi mới chính quyền địa phương theo hướng đẩy mạnh phân quyền giữa cơ quan Nhà nước ở Trung ương với địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Giữ nguyên HĐND các cấp, nghiên cứu giảm bớt số lượng thành viên UBND -0
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà.

 Dự thảo luật gồm 7 chương, 50 điều (giảm 93 điều so với luật hiện hành). Thực hiện nguyên tắc "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm" và tránh quy định chồng chéo, trùng lặp nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan của chính quyền địa phương, dự thảo luật quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND ở mỗi đơn vị hành chính theo hướng: Phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa HĐND và UBND; phân định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể UBND và cá nhân Chủ tịch UBND nơi tổ chức cấp chính quyền địa phương theo hướng tăng nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm cho cá nhân Chủ tịch UBND.

Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thông báo kết luận của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo luật chỉnh lý theo hướng giữ nguyên mô hình tổ chức chính quyền địa phương như luật hiện hành. Theo đó, tại tất cả các đơn vị hành chính các cấp tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương. Quy định này để bảo đảm việc tiếp tục thực hiện tổ chức chính quyền đô thị tại một số thành phố trực thuộc Trung ương theo Luật Thủ đô và các Nghị quyết của Quốc hội.

Giữ nguyên HĐND các cấp, nghiên cứu giảm bớt số lượng thành viên UBND -0
Các đại biểu tham dự kỳ họp.

Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành với đề xuất của Chính phủ về việc tiếp tục duy trì mô hình tổ chức chính quyền địa phương như quy định của luật hiện hành và các luật, nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị. Việc trước mắt vẫn giữ ổn định mô hình tổ chức chính quyền địa phương sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan có thời gian "tiếp tục tập trung nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới" trước khi thực hiện đổi mới một cách đồng bộ, tổng thể bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương thực sự tinh gọn, phù hợp vào thời điểm thích hợp theo yêu cầu tại Kết luận số 121-KL/TW.

"Thời gian qua, Quốc hội đã cho phép TP Hà Nội thực hiện mô hình chính quyền đô thị theo quy định tại Luật Thủ đô; một số thành phố khác trực thuộc Trung ương cũng đang thực hiện mô hình chính quyền đô thị theo các nghị quyết của Quốc hội và bước đầu phát huy hiệu quả tích cực", ông nói và đề nghị Chính phủ tiếp tục tổng kết, đánh giá một cách toàn diện về việc tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại các địa phương, trên cơ sở đó đề xuất mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp để thực hiện một cách tổng thể, đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước.

Giữ nguyên HĐND các cấp, nghiên cứu giảm bớt số lượng thành viên UBND -0
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành nội dung thảo luận.

Về cơ cấu tổ chức của UBND, Uỷ ban Pháp luật đề nghị nghiên cứu quy định theo hướng giảm bớt số lượng thành viên UBND các cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, đề cao vai trò và trách nhiệm của cá nhân, người đứng đầu UBND và cần bảo đảm nhất quán trong cách quy định về cơ cấu tổ chức của UBND ở cả 3 cấp.

Một số ý kiến đề nghị, về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới cơ chế hoạt động của UBND theo hướng là cơ quan hành chính, làm việc theo chế độ thủ trưởng để đề cao tính chủ động và trách nhiệm của Chủ tịch UBND, phù hợp với yêu cầu cải cách, đổi mới một cách mạnh mẽ tổ chức bộ máy và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đơn giản hóa nền hành chính...

 VIỆT NAM MONG MUỐN THÚC ĐẨY CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA

Phóng viên TTXVN tại Pháp dẫn nguồn tin từ Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) cho biết, ngày 11/2, tại Trụ sở của tổ chức này ở thủ đô Paris, đã diễn ra Lễ khai mạc Kỳ họp lần thứ 18 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước năm 2005 của UNESCO về bảo tồn và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hoá (gọi tắt là Công ước 2005).

Tham dự Kỳ họp có các Bộ trưởng Văn hoá, Đại sứ bên cạnh UNESCO, đại diện các Uỷ ban quốc gia UNESCO, các đầu mối quốc gia tham gia Công ước 2005 và đại diện nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hoá. Đoàn Việt Nam tham dự kỳ họp với tư cách là một thành viên của Ủy ban liên chính phủ Công ước, nơi tập hợp 24 quốc gia thành viên.

Phát biểu tại kỳ họp, Đại sứ Nguyễn Thị Vân Anh, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO, tái khẳng định sự ủng hộ và cam kết của Việt Nam đối với Công ước 2005. Đại sứ nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam tràn đầy khát vọng và quyết tâm bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam luôn coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển của đất nước, đồng thời giữ vai trò ngang bằng với chính trị, kinh tế và xã hội.

Đề cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong năm 2024 về lĩnh vực văn hoá, Đại sứ nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về văn hóa, tăng cường đầu tư cho lĩnh vực này và tập trung phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là việc Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025-2035 với tổng số vốn đầu tư lên tới 122.250 tỷ đồng (tương đương gần 5 tỷ USD). Bên cạnh đó, năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Việt Nam cũng sẽ sớm ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là những động lực mới thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển.

Đại sứ Nguyễn Thị Vân Anh đã thông tin về các lĩnh vực Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ và hợp tác của cộng đồng quốc tế trong thời gian tới, trong đó có việc tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo, lồng ghép các vấn đề về phát triển và sáng tạo văn hóa trong các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình hợp tác phát triển quốc tế, xây dựng hệ thống thu thập và tích hợp dữ liệu quốc gia về các ngành công nghiệp văn hóa. Đại sứ khẳng định, trong kỷ nguyên số với sự bùng nổ của công nghệ và tr.í t.u.ệ nh.â.n t.ạ.o, Việt Nam mong muốn tăng cường hợp tác mạnh mẽ nhằm phát triển và quản lý các sản phẩm, dịch vụ văn hóa sáng tạo trong môi trường số một cách phù hợp, hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững.

Kỳ họp lần thứ 18 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước năm 2005 diễn ra từ ngày 11-14/2. Đây là phiên họp thường niên nhằm trao đổi, thống nhất các biện pháp thúc đẩy thực thi Công ước. Việt Nam đang đảm nhiệm vai trò thành viên Uỷ ban liên chính phủ Công ước nhiệm kỳ 2021-2025. Trong khuôn khổ thực thi Công ước này, Hà Nội, Đà Lạt và Hội An là 3 thành phố của Việt Nam được UNESCO công nhận là thành viên Mạng lưới các thành phố sáng tạo./. 

St

 KỲ HỌP BẤT THƯỜNG LẦN THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA XV: THẢO LUẬN, THÔNG QUA NHIỀU NỘI DUNG QUAN TRỌNG 

Tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 4 luật, 5 nghị quyết phục vụ công tác sắp xếp, hoàn thiện thể chế, cơ chế vận hành các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị.

Sáng nay (12/2), Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV sẽ chính thức khai mạc theo hình thực họp tập trung tại Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội.

Theo Chương trình sáng nay, sau phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội; đại diện Chính phủ sẽ trình bày Tờ trình về Đề án bổ sung về phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; sau đó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra Đề án bổ sung về phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên.

Tiếp đến, đại diện Ban Soạn thảo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội.

Ngay sau đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi). Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Cũng trong sáng 12/2, Quốc hội sẽ thảo luận ở tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi)...

Theo Thông cáo báo chí của Văn phòng Quốc hội, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Quốc hội cũng xem xem, thông qua các nghị quyết, gồm: Nghị quyết của Quốc hội quy định về việc xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức các cơ quan của Quốc hội (trường hợp Luật Tổ chức Quốc hội được Quốc hội quyết định sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể tên gọi các cơ quan chuyên môn của Quốc hội như Luật hiện hành); Nghị quyết của Quốc hội về số thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV (sửa đổi); Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (sửa đổi); Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (sửa đổi); Xem xét, quyết định công tác nhân sự thuộc thẩm quyền.

Cũng tại Kỳ họp này, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định bổ sung kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên; Nghị quyết của Quốc hội thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; (Chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Các cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận…


Kỳ họp bất thường lần thứ 9 dự kiến bế mạc vào ngày thứ Tư (19/2/2025)./.


Vietnam+

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2025

Làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội.

 

Làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, xây dựng ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng cho bộ đội. 

Giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động rất quan trọng của công tác tư tưởng, có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nói chung, đối với CB,CS trong phòng, chống chiến lược “DBHB” nói riêng. Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền làm cho CB,CS, đảng viên, quần chúng hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn “DBHB” trên lĩnh vực TT,VH của các thế lực thù địch. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, phải tập trung làm rõ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhạy cảm; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Đồng thời, trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như các vấn đề khác do cuộc sống đặt ra; tăng cường giáo dục về lịch sử, truyền thống của dân tộc, Quân đội và đơn vị, các giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng, thang giá trị đạo đức về “chân, thiện, mỹ”, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… Trong quá trình tiến hành, cấp ủy các đơn vị cần vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục cơ bản với giáo dục thường xuyên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thực hiện có nền nếp, chất lượng Ngày chính trị - văn hoá - tinh thần; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Các đơn vị cần duy trì chặt chẽ các chế độ: thông báo chính trị, thời sự, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình; tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao; thực hiện có chất lượng Ngày Đảng, Ngày Pháp luật; đổi mới hoạt động quản lý, nắm và giải quyết tư tưởng với mọi quân nhân tại đơn vị.

          T3.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


 

Cuốn sách "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dày gần 500 trang, gồm tập hợp hệ thống 29 bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư từ khi chuẩn bị xây dựng Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay. Ngay sau khi ra mắt, cuốn sách đã thu hút sự quan tâm của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân, bởi đây là những tác phẩm đã đúc kết thành tựu phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn mới nhất của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

NHẬN DIỆN “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC” VÀ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, “Chủ nghĩa dân tộc là tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc”. Theo đó, chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như chủ nghĩa sô-vanh nước lớn có tâm lý coi thường các dân tộc khác, tự cho mình quyền “khai hóa văn minh” cho các dân tộc nhỏ hơn hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, có khuynh hướng khép kín, không muốn mở rộng quan hệ với các dân tộc khác. Cả hai khung hướng này của chủ nghĩa dân tộc đều xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản - giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế vô sản. Do đó, về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, với thế giới quan mácxít và mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển. Đó là sự xích lại gần nhau của các dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được khẳng định rõ trong Hiến pháp - văn bản pháp luật cao nhất của đất nước: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(4). Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được Nhà nước, xã hội, nhân dân công nhận và được hiến định, là sự ghi nhận những cống hiến của Đảng và khẳng định vai trò lãnh đạo tất yếu của Đảng trong mọi bước phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cảnh giác với luận điệu kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn

 

Các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị ra sức tạo cớ, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, hòng tuyên truyền, kích động, mua chuộc, tha hóa nhằm băng hoại lực lượng dự bị hùng hậu này của cách mạng. Họ ra sức tuyên truyền trên các trang mạng xã hội (như facebook, youtube, zalo, blog,…) rằng: “Đoàn chỉ là cái vỏ bọc hình thức, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế”; thậm chí, một số phần tử bất mãn, phản động kêu gọi đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên,…

Phản bác các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ

 


Mặc dù các thế lực thù địch ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước nhưng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ. Đó là: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn…

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Người nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, để có cán bộ tốt, thì công tác cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Công tác cán bộ là một nhiệm vụ then chốt của các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu: lựa chọn, đào tạo, huấn luyện, đánh giá, sử dụng và chính sách cán bộ. Đó là các khâu liên hoàn, nếu làm không tốt bất cứ một khâu nào, đều ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ và thành quả cách mạng.

CÔNG TÁC CÁN BỘ NHÌN TỪ BÀI HỌC CỦA BÁC HỒ

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Những quan điểm của Bác về công tác cán bộ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, hết sức quý báu đối với công tác cán bộ hiện nay. Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng về công tác cán bộ của Người. Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm, các thế lực phản động đã lợi dụng để đưa ra những luận điệu xuyên tạc. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ.

Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của đảng*

 Tổ chức bộ máy và công tác cán bộ là hai vấn đề rất quan trọng trong xây dựng Đảng, quyết định thành bại của cách mạng, gắn liền với sự vững mạnh của Đảng, của đất nước và chế độ. Xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ là hai nội dung có mối quan hệ mật thiết. Trong đó, xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả quan trọng hàng đầu, xây dựng đội ngũ cán bộ là then chốt.

1. Thực trạng và một số kinh nghiệm

Qua hơn một nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị được đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Quy trình công tác cán bộ có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn. Nhìn tổng thể, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy vẫn chưa đồng bộ, thiếu tổng thể, chưa gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa rõ ràng, trùng lặp, chồng chéo, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót. Còn có sự chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, phân cấp, phân quyền cho địa phương chưa mạnh, chưa đồng bộ, hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công tác cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; quy trình công tác cán bộ và phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp; quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nguyên nhân chủ yếu do mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị chưa thật hoàn thiện. Nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt. Việc nghiên cứu, tổng kết, rút ra những kinh nghiệm, đồng thời xác định nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục đổı mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, cấp thiết.

Từ thực tiễn xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và đổi mới công tác cán bộ những năm qua, nhất là những kinh nghiệm rút ra trong quá trình quán triệt và thực hiện các chỉ đạo của Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, bám sát thực tiễn, thường xuyên đổi mới tư duy, đổi mới đồng bộ công tác tổ chức với công tác cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp. Phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong công tác tổ chức, cán bộ.

2. Bảo đảm thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết là lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, Nhân dân lên trên hết, trước hết. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt, mật thiết với Nhân dân; phải sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn vị và người dân về đổi mới công tác tổ chức, cán bộ trong tình hình mới. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên. Tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, trong Nhân dân.

3. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, lộ trình phù hợp và chú trọng lựa chọn những nhiệm vụ, nội dung đột phá, vấn đề có tính khả thi cao, tác động lớn trong các nghị quyết, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Cần nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với đổi mới công tác cán bộ. Coi trọng cả hai phương diện, bảo đảm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đồng bộ với xây dựng đội ngũ cán bộ và gắn kết chặt chẽ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

4. Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp, kiên trì, cầu thị, lắng nghe, không cầu toàn, không chủ quan, nóng vội. Đối với những việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân rộng. Phương pháp phải đúng, chú trọng hiệu quả. Phân công nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, chỉ đạo phải sát sao, cấp trên phải gương mẫu, cấp dưới phải thực hiện nghiêm; phải xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa “xây” và “chống”; giữa “đức” và “tài”; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

5. Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương. Không nhất thiết các địa phương có mô hình, quy mô tổ chức giống nhau. Những việc đã rõ, đã chín, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với lộ trình sắp xếp tổ chức bộ máy, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, bảo đảm tinh giản biên chế và cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

6. Đẩy mạnh phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện, kịp thời động viên, biểu dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân làm tốt; đồng thời, xử lý nghiêm tập thể, cá nhân không làm hoặc làm hình thức, chiếu lệ. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng những mô hình, sáng kiến trong đổi mới công tác tổ chức, cán bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Phải luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhận thức và hành động theo quy luật khách quan, kịp thời tổng kết, nghiên cứu, không ngừng hoàn thiện luận cứ khoa học để có chủ trương đúng, giải pháp cụ thể, phù hợp trước yêu cầu, đòi hỏi của bối cảnh thực tiễn luôn thay đổi.

2. Một số nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới quyết liệt công tác tổ chức, cán bộ

Chúng ta đang ở thời điểm có ý nghĩa bản lề, quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Công tác tổ chức, cán bộ đang được thực hiện với sự vào cuộc khẩn trương và quyết tâm chính trị cao của các cấp, các ngành. Chúng ta đồng thời phải thực hiện tốt 3 nhiệm vụ lớn: 1) Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. 2) Tăng tốc, bứt phá để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII. 3) Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức thành công Đại hội XIV, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cần quán triệt thực hiện thật tốt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, chú trọng làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện nghiêm, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; phát huy đầy đủ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Nhân dân. Tiếp tục xác định nhất quán quan điểm xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả. Xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong triển khai chủ trương của Trung ương về tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Thông qua cải cách tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ hoàn thiện mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng - Quốc hội - Chính phủ - Cơ quan Tư pháp - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính trị

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tham mưu của cấp ủy các cấp. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy từ Trung ương đến địa phương. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót hoặc không rõ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Thực hiện nghiêm các quy định và kết luận của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong thực hiện chức năng lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; giảm số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Đặc biệt coi trọng xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trọng tâm. Phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu hoạt động chuyên trách, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ và tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, hiệu quả. Tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất. Các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm tinh gọn, cơ bản không duy trì mô hình tổng cục thuộc bộ. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, đi đôi với nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, bảo đảm Chính phủ thực sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Xây dựng bộ máy tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp tinh gọn, giảm tối thiểu 15-20% đầu mối tổ chức bên trong gắn với nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp hiện đại, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở. Rà soát lại tất cả hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng tinh gọn, sáp nhập, kết thúc hoạt động, chỉ giữ lại những cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ cần thiết. Rà soát, sắp xếp lại các cơ quan báo, tạp chí trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghiên cứu, đề xuất sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối bên trong, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ chuyên trách các cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý. Quy định chặt chẽ việc thành lập tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, hoạt động giám sát, phản biện xã hội; xây dựng và chỉnh đốn tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên; làm cầu nối vững chắc giữa Đảng với Nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới toàn diện công tác cán bộ gắn với tinh giản biên chế, sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Bảo đảm công tác cán bộ đúng quy trình, quy định, công tâm, khách quan, thận trọng, chặt chẽ. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở định lượng sản phẩm cụ thể. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Có chính sách thu hút, sử dụng đối với người có năng lực nổi trội. Thực hiện đồng bộ việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Hoàn thành rà soát, sắp xếp chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý; xây dựng, ban hành bảng lương chức vụ bảo đảm đồng bộ, thống nhất với danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Hoàn thiện danh mục vị trí việc làm cùng với khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm của hệ thống chính trị làm cơ sở xác định biên chế của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn, gắn với đánh giá thực chất, xếp loại chính xác công chức, viên chức. Để bảo đảm hiệu quả sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải thực sự phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ là những nội dung rất lớn, rất quan trọng, rất khó, phức tạp, nhạy cảm, nhưng cũng là nhiệm vụ rất cấp bách và khẩn trương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị cần bám sát tình hình thực tế, lựa chọn phương án phù hợp, tiến hành xây dựng đề án đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trình cấp có thẩm quyền, bảo đảm đúng tiến độ hướng tới mục tiêu chung là hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ngay trong nhiệm kỳ để tiến tới Đại hội XIV của Đảng hệ thống chính trị đã được sắp xếp theo mô hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao sự thống nhất về nhận thức, hành động trong Đảng và toàn hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Bố trí đủ nguồn lực cần thiết và làm tốt công tác chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Bảo đảm công bằng, công khai, khách quan, không để phát sinh phức tạp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn với làm tốt công tác tham mưu chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.

 

Để chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài sớm đi vào cuộc sống

 Phát huy truyền thống “chiêu hiền đãi sỹ”, với nhận thức “nhân tài là nguyên khí của quốc gia”, trong những năm qua Đảng ta luôn chú trọng thu hút và trọng dụng nhân tài, coi nhân tài là tài sản vô giá của quốc gia. Đảng đã xác định một cách sâu sắc, toàn diện, đầy đủ, kịp thời về vấn đề phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng những cán bộ có năng lực, phẩm chất và uy tín vào vai trò lãnh đạo, quản lý, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Nhiệm vụ này càng có ý nghĩa quan trọng khi cả hệ thống chính trị đang thực hiện chủ trương “giữ chân người tài” khi thực hiện “cuộc cách mạng” về tinh gọn bộ máy.

Từ chủ trương…

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006) đề ra nhiệm vụ phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong xây dựng chiến lược quốc gia. Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa X xác định rõ: Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài; tạo bước chuyển căn bản trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài; xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài; coi đó là giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược cán bộ. Lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Ngày 6-8-2008, BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, xác định rõ vai trò của trí thức; xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), Đảng ta chủ trương tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là phải có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút và trọng dụng nhân tài, phát triển nền kinh tế tri thức. Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI khẳng định: Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích, sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ…

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định: Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ… tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ nguồn cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực, triển vọng phát triển. Điển hình là chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ theo quy định tại Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 5-12-2017 của Chính phủ; quy định về xét tuyển công chức đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng; chính sách áp dụng đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ theo quy định tại Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27-11-2020 của Chính phủ; chính sách về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định tại Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12-5-2014 của Chính phủ…

… Đến triển khai thực hiện

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc để tạo nguồn cán bộ trẻ, tài năng cho nền công vụ. Khi có văn bản của Trung ương, hầu hết các tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản quy định về chính sách thu hút, bố trí và đãi ngộ người có tài năng, cán bộ trẻ có năng lực, trình độ chuyên môn cao về làm việc cho các cơ quan hành chính tại địa phương mình. Trong đó, đề ra các chính sách ưu đãi cụ thể như ưu tiên trong tuyển dụng (bằng hình thức xét tuyển hoặc tiếp nhận không qua thi tuyển); ưu đãi qua việc hỗ trợ một khoản tiền nhất định (trợ cấp ban đầu); trong quá trình công tác được hưởng các chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng; nâng bậc lương đối với những cán bộ có thành tích xuất sắc theo quy định; thường xuyên sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời đến những gương điển hình tiên tiến trong quá trình làm việc. Trong các quy định về trọng dụng, đãi ngộ người có tài năng, có thành tích trong hoạt động công vụ, có địa phương đã thành lập Quỹ ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có trình độ cao nhằm thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ. Một số địa phương còn hỗ trợ nhà ở, chi phí đi lại cho các chuyên gia, nhà khoa học…

Bên cạnh đó, các địa phương, cơ quan, bộ, ban, ngành thường xuyên tổ chức nhiều phong trào, chương trình, cuộc vận động, cuộc thi, ý tưởng sáng tạo trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo sân chơi cho các tài năng trẻ phát huy năng lực của mình. Nhờ đó, việc phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài đạt nhiều kết quả; đã tập hợp được nhiều tài năng trên các lĩnh vực, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cả nước có 14 cơ quan Trung ương và 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực triển khai thực hiện thí điểm Đề án “Đổi mới cách tuyển chọn, lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng”. Tiếp đó, có 12 địa phương không thuộc diện triển khai thí điểm cũng đã thực hiện theo chủ trương khuyến khích của Ban Bí thư. Một số bộ, ngành, địa phương đã cụ thể hóa các cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, cơ quan và thực hiện hiệu quả nhiều chính sách thu hút nhân tài.

Đến nay, sau 5 năm triển khai thực hiện Đề án thí điểm tại 32 cơ quan, địa phương được chọn, có 12 cơ quan Trung ương đã tổ chức thi tuyển 70 vị trí (gồm 58 vị trí cấp vụ; 12 vị trí cấp phòng); 20 địa phương đã tổ chức thi tuyển 1.124 vị trí (gồm 66 vị trí cấp sở; 1.058 vị trí cấp phòng).

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đat được, công tác khuyến khích, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ còn một số hạn chế nhất định. Nhìn chung, cơ chế, chính sách đối với đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực nổi trội còn hạn chế, chưa thể tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ. Cụ thể, hiện chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá, nhận diện cán bộ có năng lực nổi trội; tư tưởng hẹp hòi, đố kỵ vẫn còn tồn tại ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý; nhận thức về các chính sách, phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài ở nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thực sự sâu sắc, toàn diện; việc triển khai các chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài một số nơi chưa đồng bộ và có hệ thống…

Một số giải pháp

Để thực hiện có hiệu quả chủ trương về thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng và Nhà nước, thời gian tới các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp ủy, chính quyền các cấp nên chăng quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách khuyến khích, thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là cán bộ trẻ có năng lực, triển vọng; về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ trẻ tài năng. Trong đó, cần nắm vững và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ uy tín, năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là, nâng cao nhận thức, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ, trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền. Người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải là những người có năng lực, trình độ thực sự, khi đó mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan đối với cán bộ có tài năng, triển vọng. Người đứng đầu, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải đổi mới tư duy, nhận thức trong thực hiện chính sách đối với cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ; chỉ đạo làm tốt các khâu trong công tác cán bộ; khắc phục những yếu kém, hạn chế trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài cho nền công vụ; thể chế hóa chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung theo Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị; xây dựng và hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn, tiêu chí đối với cán bộ có năng lực nổi trội, có bản lĩnh và cán bộ trẻ tài năng, sinh viên ưu tú; hoàn thiện quy trình, phương pháp nhằm phát hiện, lựa chọn, trọng dụng, bố trí, sắp xếp cán bộ có năng lực vào vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp; ban hành chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân tài…

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo có năng lực, phẩm chất và uy tín vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Đánh giá và rà soát nhu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ trẻ để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp đối với người có tài năng, có thành tích nổi trội; tạo điều kiện thuận lợi để họ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với năng lực, sở trường công tác. Xây dựng chương trình, tuyển chọn và thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ trẻ được bổ nhiệm ở những vị trí lãnh đạo, quản lý. Tiếp tục xây dựng môi trường, điều kiện làm việc phù hợp, hiệu quả nhằm thu hút, tạo động lực đối với nhân tài, cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội, cán bộ trẻ có tài năng. Khuyến khích, tạo điều kiện cho nhân tài làm việc trong các cơ quan, đơn vị được tham gia học tập, giao lưu với các chuyên gia, nhà khoa học để cập nhật tri thức mới, hướng phát triển mới, đóng góp cho sự phát triển chung của cơ quan, đơn vị và sự phát triển của đất nước.

Năm là, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài; việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ tài năng, cán bộ trẻ làm cán bộ lãnh đạo, quản lý. Từ đó, nhân rộng các điển hình tiên tiến, đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện chính sách phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng, Nhà nước. Mỗi cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phù hợp nhằm đánh giá đúng việc thực hiện chính sách, chế độ đãi ngộ với cán bộ. Công tác này cần phải được làm thường xuyên, liên tục, đánh giá một cách khách quan, công khai để các cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận thức được kết quả trong công tác, từ đó có những biện pháp khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm.

Sáu là, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, công chức tham mưu xây dựng, thực hiện chính sách. Đội ngũ này phải là những người có chuyên môn giỏi, có kiến thức thực tiễn sâu rộng, kinh nghiệm giải quyết tình huống, phải có kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng thuyết phục, tổng hợp, lấy ý kiến, kỹ năng phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm… Chú trọng và thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động của chính sách trước khi ban hành để bảo đảm tính khả thi, toàn diện, đồng bộ và hiệu quả.

 

Ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng

 Nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” ôn lại truyền thống vẻ vang của Đảng, đồng thời đặt ra các nhóm nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng mà các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm, đổi mới và thực hiện quyết liệt hơn nữa. Trong đó, tăng cường ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng được xác định không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. 

Nội dung này được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân nhanh chóng đón nhận và nhất trí cao bởi thực tế tại nhiều cấp ủy việc ứng dụng khoa học-công nghệ đã mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cũng như xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh. Nổi bật trong đó là những kết quả từ việc xây dựng, triển khai ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử tại nhiều cấp ủy địa phương, đơn vị.

Tại Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, ngay từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025, Thường trực Tỉnh ủy đã chỉ đạo công tác xây dựng, triển khai ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử. Sổ tay được xác định là kênh thông tin chính thống, quan trọng của Đảng bộ tỉnh để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, các nhiệm vụ chính trị của tỉnh; tra cứu thông tin, văn kiện, tài liệu; hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng Đảng; trao đổi, hướng dẫn, giải đáp những ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng Đảng bảo đảm nhanh chóng, chính xác, khoa học.

Đồng thời, đây là công cụ nắm bắt, quản lý sinh hoạt của đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trên cơ sở đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ tỉnh.

Sau thời gian xây dựng các nội dung về giao diện, bố cục, thể thức, thiết kế hệ thống, Sổ tay đảng viên điện tử tỉnh Thái Nguyên được đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp nhận tích cực.

Trên Sổ tay, các tiện ích, tính năng từng bước được hoàn thiện, có tính toàn diện, đa dạng, kết hợp chặt chẽ các nền tảng công nghệ trí tuệ nhân tạo. Giao diện được thiết kế đơn giản, có tính thẩm mỹ cao; kết hợp tất cả nhiệm vụ cho từng đối tượng sử dụng, thuận tiện khi khai thác, sử dụng...

Tính đến tháng 5/2024, toàn tỉnh Thái Nguyên có 89.910 đảng viên đăng ký tài khoản, đạt 91,1%. Thông qua các tính năng của Sổ tay, các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy đã cập nhật kịp thời, đầy đủ các văn bản, tài liệu của Trung ương, Tỉnh ủy và các đảng bộ trực thuộc.

Hằng tháng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp Ban Tổ chức Tỉnh ủy cập nhật đầy đủ tài liệu sinh hoạt chi bộ theo quy chế; đã có 748 tin, bài, chủ yếu dẫn nguồn tin từ trang tin Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và bài viết của thành viên Tổ Thư ký Sổ tay đảng viên điện tử.

Sổ tay đảng viên điện tử đã phân quyền và hướng dẫn phân quyền cho 4.981 tài khoản (bao gồm tài khoản quản trị cấp tỉnh, cấp huyện, quản trị cấp cơ sở và bí thư chi bộ). Tổng số công việc được giao đến đảng viên qua ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử là 1.456 lượt. Trong đó, giao việc cấp chi bộ là 678 lượt, giao việc toàn đảng bộ là 778 lượt. Tính từ tháng 8/2022 đến tháng 3/2024, toàn đảng bộ đã có 11.899 lượt chi bộ đăng ký và báo cáo kết quả sinh hoạt qua Sổ tay đảng viên điện tử.

Từ triển khai, sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cho thấy, mọi thông tin chính thống về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chỉ đạo, hoạt động của cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh được truyền tải chính xác, nhanh chóng đến cán bộ, đảng viên.

Kỹ năng cơ bản trong sử dụng các ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử ở cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên; các thông tin dữ liệu đảng viên được cung cấp kịp thời, đến đúng đối tượng sử dụng, có tính bảo mật cao; hoạt động sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp được đổi mới, hiệu quả, bài bản, khoa học, phát huy được tính dân chủ, tiết kiệm thời gian, chi phí... Thông qua đó, tạo ra sự đột phá trong công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ tỉnh, nhất là trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý tổ chức đảng, đảng viên.

Đúng như nhận định của Tổng Bí thư Tô Lâm: Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên. Điều này giúp các cấp ủy nắm bắt chính xác tình hình đội ngũ, từ đó có cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển hợp lý, khắc phục tình trạng quan liêu, thiếu thực tiễn.

Để tiếp tục đẩy nhanh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng, thiết nghĩ các cấp ủy cần quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư trong bài viết, tăng cường công tác tuyên truyền lan tỏa sâu rộng tới toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thực hiện tốt các giải pháp, nhiệm vụ tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về chuyển đổi số đối với công tác xây dựng Đảng cũng như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

 

Môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống

 Việt Nam có hơn 8.000 lễ hội, phần lớn đều diễn ra vào những ngày đầu xuân mới. Dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn tình trạng tại nhiều lễ hội không ít những hiện tượng tiêu cực, những biến tướng, tình trạng thương mại hóa đang diễn ra. Năm nay, xuân Ất Tỵ là mùa lễ hội thứ hai cả nước thực hiện Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống và đây được kỳ vọng sẽ tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ nhằm giúp xây dựng nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội. 

Những ngày đầu xuân năm mới cũng là thời điểm tiếng trống hội vang lên trên khắp mọi nẻo đường từ bắc chí nam. Đây là dịp người người trở về với nguồn cội, tưởng nhớ những bậc tiền nhân đã có công xây dựng đất nước, về với những nét văn hóa truyền thống đã tích tụ qua bao thế hệ. Vui hội còn tạo động lực để mỗi người bước vào một vòng quay mới của cuộc sống. Tuy nhiên, những năm gần đây, dù các cấp chính quyền, ngành văn hóa đã có nhiều nỗ lực nhưng những mặt trái của lễ hội vẫn có dấu hiệu gia tăng. Nan giải nhất là việc di sản bị biến tướng, lễ hội bị sân khấu hóa, thương mại hóa hay tình trạng “buôn thần, bán thánh”,...

Cụ thể là không ít người dân “gán” việc xin được ấn đền Trần (thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) với việc thăng quan tiến chức, tiến tài, tiến lộc. Từ đây dẫn đến tình trạng người dân tranh nhau giành ấn. Thậm chí, từng có năm người dân lao vào cướp lộc, giật lộc ở cả kiệu rước ấn lẫn các ban thờ tại đền Trần khiến ban thờ Thánh trở nên tan hoang, hết sức phản cảm. Hay lễ hội đánh phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) từng xảy ra “va chạm” khiến một số thanh niên phải nhập viện khi tham gia vào đánh phết, cướp phết. Tương tự, lễ hội “đúc bụt” ở cụm di tích đình cả Phù Liễn (huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc) từng có những cảnh tượng lộn xộn liên quan tục “cướp chiếu”. Tình trạng cướp lộc cũng xảy ra tại lễ hội Gióng đền Sóc (huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Có năm, hàng nghìn người giẫm đạp lên nhau tranh giành giò hoa tre, xảy ra một số vụ ẩu đả đến mức có người phải nhập viện.

Thực tế cho thấy, cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, người dân đi dự lễ hội ngày một nhiều hơn và lễ hội cũng là cơ hội để phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ dành cho khách hành hương. Tuy nhiên, mặt trái của phát triển “kinh tế lễ hội” là vấn đề thương mại hóa, buôn thần bán thánh. Nhiều lễ hội có nghi thức mang tính cầu may, chủ yếu là cầu làm ăn hanh thông hay thuận đường con cái... Nhiều câu chuyện huyền tích từ xa xưa nay được “thêu dệt” một cách ly kỳ hơn để thu hút du khách. Điều này đem lại lợi ích trước mắt cho một nhóm người, hay một cộng đồng nhất định nhưng tác hại thì khó lường và ảnh hưởng lâu dài vì làm méo mó di sản, lệch lạc niềm tin, thúc đẩy tham, sân, si.

Ở một số lễ hội, di tích như: Bia Bà (quận Hà Đông, Hà Nội), đền Bà Chúa Kho (thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh), đền thờ Đức Thánh Cả (huyện Ứng Hòa, Hà Nội)… vào dịp đầu xuân luôn thường trực một đội ngũ “khấn thuê” đông đảo. Gần đây, một dịch vụ mới xuất hiện được những đối tượng khấn thuê chào mời là “gửi lễ tuần rằm”, tức đại diện cho các vị khách để khấn thuê suốt cả năm. Muốn đến được không gian chính tổ chức lễ hội, khách hành hương phải vượt qua một “ma trận” của cò mồi về chỗ ăn, chỗ nghỉ, địa chỉ mua đồ lễ. Điển hình cho tình trạng này là ở chùa Hương (huyện Mỹ Đức, Hà Nội). Các đối tượng này thường xuyên đi xe máy đeo bám đoàn người đi lễ từ khoảng cách đến vài chục ki-lô-mét. Song vấn nạn “hối lộ” thần thánh thể hiện rõ nét nhất trong việc đốt vàng mã, rải tiền lẻ ở các ban thờ Phật. Nhiều di tích, tiền lẻ được giắt đầy tay tượng Phật, tượng Thánh…

Để khắc phục những tiêu cực trong mùa lễ hội, cần xác định rõ căn nguyên của bất cập. Dù đa dạng về hình thức, nhưng nhìn chung, những bất cập xảy ra nằm ở ba nhóm đối tượng: Đơn vị tổ chức, quản lý lễ hội; đối tượng tham gia kinh doanh dịch vụ trong lễ hội và người đi dự lễ hội. Trong đó, vai trò quan trọng nhất nằm ở chính quyền các địa phương, nhất là nơi có những lễ hội lớn. So với cách đây khoảng hơn 10 năm, thời điểm mà nhiều lễ hội bị “vỡ trận”, hay việc xây dựng các cơ sở thờ tự giả (chùa giả, sư giả) khá tràn lan, phần lớn các lễ hội được quản lý tốt hơn. Tại Hà Nội, lực lượng an ninh nhiều lần đã chặn bắt các đối tượng cò mồi, “chặt chém” giá sử dụng các dịch vụ đi lễ chùa Hương. Hay như việc tăng cường lực lượng an ninh ở lễ khai ấn đền Trần, lễ hội Gióng đền Sóc. Tệ nạn bói toán, cờ bạc cũng giảm đáng kể.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận việc một số tiêu cực của lễ hội vẫn tồn tại bởi sự thiếu quyết liệt của chính quyền địa phương, hoặc cá nhân những người tham gia tổ chức lễ hội. Không ít địa phương quan niệm mùa lễ hội cũng là “mùa làm ăn”, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương nên đây đó có tình trạng buông lỏng quản lý để các đối tượng tham gia kinh doanh tìm mọi cách trục lợi. Đối với nhóm đối tượng là người đi lễ, ý thức tham gia lễ hội nhìn chung đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hành vi phản cảm như chen lấn xô đẩy, tranh giành chỗ đặt lễ, to tiếng, ăn mặc không phù hợp,...

Thời gian qua, nền nếp tại các lễ hội đã được chấn chỉnh văn minh hơn, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do an ninh được siết chặt. Như tại lễ hội đền Trần xuân Giáp Thìn 2024, chính quyền địa phương huy động tới 2.800 cán bộ, chiến sĩ, chia làm nhiều vòng bảo vệ. Huyện Sóc Sơn bên cạnh việc thay đổi phương thức tán lộc giò hoa tre đã huy động hàng trăm công an, dân quân tự vệ đứng dày đặc để bảo vệ đoàn rước lễ vật. Lễ hội đánh phết Hiền Quan từng xảy ra ẩu đả hiện nay vẫn phải dừng nghi thức đánh phết vì sợ tái diễn cảnh đánh lộn. Nếu công tác quản lý lễ hội lơ là là tiêu cực có cơ hội bùng phát. Thực tế này cho thấy việc siết chặt an ninh chỉ là giải pháp tạm thời. Về lâu dài, để giải quyết tận gốc những bất cập, cần sự vào cuộc rốt ráo của chính quyền địa phương, những người tham gia công tác tổ chức để chủ động ngăn chặn, xử lý những biến tướng, những hành vi trục lợi trái phép từ lễ hội; song song với đó là triển khai những giải pháp đồng bộ nâng cao ý thức của người tham gia lễ hội.

Tháng 8/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành “Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống”. Bộ tiêu chí gồm hai nhóm: Nhóm tiêu chí chung có tính bao quát và nhóm tiêu chí cụ thể. Có 9 tiêu chí cụ thể, gồm 44 tiêu chí chi tiết về các vấn đề từ quản lý, tổ chức, cơ sở vật chất, an ninh trật tự, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, các hoạt động kinh doanh dịch vụ cho đến ứng xử khi tham gia lễ hội và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa... Đối với cơ quan quản lý nhà nước, ban tổ chức lễ hội, tiêu chí đầu tiên, tiên quyết là công tác quản lý nhà nước về lễ hội phải chặt chẽ, đúng quy định pháp luật.

Tiếp đó, là việc thực hiện công tác quản lý về các hoạt động lễ hội, quản lý dịch vụ, tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh, tuyên truyền về giá trị lễ hội, hướng dẫn người dân thực hiện đúng các nghi lễ… Đối với nhóm kinh doanh dịch vụ, tiêu chí đặt ra là phải có cam kết bán đúng mặt hàng, đúng giá; không chèo kéo, ép khách sử dụng dịch vụ; niêm yết giá công khai; không bày bán sản phẩm có tính bạo lực, phản cảm; ứng xử văn minh, lịch sự... Còn người tham gia lễ hội cần có hành vi, thái độ đúng mực, giữ gìn vệ sinh, trật tự. Không tổ chức hoặc tham gia các hoạt động mê tín, dị đoan, cờ bạc và các hành vi vi phạm pháp luật.

Nếu như các văn bản pháp luật là hành lang pháp lý, thì Bộ tiêu chí hướng đến việc xây dựng ý thức, nền nếp ứng xử của tất cả các đối tượng tham gia vào hoạt động lễ hội, từ nhà tổ chức, đơn vị kinh doanh dịch vụ cũng như khách hành hương. Trước hết là ý thức tuân thủ pháp luật, tiếp đó, là ý thức về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giữ gìn văn hóa truyền thống của tất cả các đối tượng tham gia. Thay vì những khái niệm định tính chung chung, Bộ tiêu chí chuẩn hóa việc xây dựng môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống. Việc “lượng hóa” thông qua các tiêu chí còn là công cụ đánh giá năng lực công tác quản lý nhà nước, hiệu quả tổ chức lễ hội.

Mùa lễ hội Giáp Thìn 2024 là lần đầu tiên Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống được triển khai trên thực tế. Song cũng do mới ban hành nên hiệu quả nhìn chung còn chưa cao, trừ một số địa phương đã có quá trình chuẩn bị, triển khai tích cực.

Giữ gìn vẻ đẹp của lễ hội truyền thống đòi hỏi một hành trình kiên trì, bền bỉ. Hiện nay, chúng ta đã có những công cụ “cứng” là hệ thống văn bản pháp luật ngày càng hoàn thiện và công cụ “mềm” là Bộ tiêu chí chuẩn hóa việc xây dựng môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống. Nỗ lực của chính quyền, cơ quan quản lý văn hóa trong quản lý mới là điều kiện cần, điều kiện đủ là ý thức của người dân. Điều đó chỉ có được với sự chung tay của cả xã hội; cùng với đó là việc tuyên truyền thông qua nhiều kênh thông tin để mỗi người dần thẩm thấu, thay đổi nhận thức và tự điều chỉnh hành vi ■

 

 Ba nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030


Trong bài viết “Tổ chức tốt Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030” ngày 11/2/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, Đại hội đảng bộ các cấp có vai trò dẫn dắt, định hướng, trụ cột, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội.


Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ này có 3 nhiệm vụ trọng tâm, đó là: thảo luận, thông qua Văn kiện đại hội cấp mình và góp ý với dự thảo Văn kiện Đại hội cấp trên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; lựa chọn nhân sự tham gia cấp ủy các cấp; hoàn thiện nhân sự trong hệ thống cơ quan lãnh đạo của Đảng từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương.


Những nội dung trên đều là vấn đề “cốt tử,” hệ trọng, liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; đến việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, biện pháp lãnh đạo; quyết định sức mạnh nội bộ Đảng và hệ thống chính trị; đến toàn bộ hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp trong nhiệm kỳ tới cũng như sức mạnh của toàn dân tộc trong tương lai./.


PN.Theo: TTXVN

 MÙA XUÂN NÔ NỨC TÒNG QUÂN


Sinh thời, trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từng căn dặn: Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội. 

Mùa Xuân năm nay, hàng vạn thanh niên trên mọi miền Tổ quốc lên đường tòng quân thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng đối với đất nước. Họ mang theo những ước mơ hoài bão của tuổi trẻ, nguyện cống hiến sức mình để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Họ là những chủ nhân tương lai, tiếp bước cha anh gìn giữ trọn vẹn những mùa xuân yên bình!


Điệp khúc hào hùng, rền vang trong khúc hát “Lá Xanh” ngân lên trên khắp các địa phương trong những ngày này càng như thúc giục chí trai hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng cao cả với Tổ quốc. Ở nhiều thôn, xóm, khu dân cư, nơi đâu cũng bừng lên khí thế tưng bừng, rộn rã, tràn ngập băng rôn, cờ, khẩu hiệu và tiếng loa phát thanh hướng về ngày hội tòng quân.


Hai năm quân ngũ, với tuổi trẻ thật vô cùng ý nghĩa. Đó là khoảng thời gian vàng để các chàng trai cùng thi đua học tập, rèn luyện, trưởng thành và trang bị cho bản thân những hành trang quý giá cho chặng đường kế tiếp. Trong trường học lớn đó, có không ít gian khó, thử thách nhưng lại chính là môi trường để bản thân mỗi thanh niên tự học, tự rèn, tự nỗ lực vượt qua chính bản thân mình để phát triển toàn diện cả về thể lực, trí tuệ, phẩm chất, nhân cách và lý tưởng sống.


Vinh dự được khoác lên mình bộ quân phục màu xanh áo lính, các tân binh càng thấm thía hơn nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc. Những năm đất nước chiến tranh, cả dân tộc đã cùng ra trận. Những thanh niên lứa tuổi mười tám, đôi mươi đã dùng máu của mình để viết đơn tình nguyện xung phong tòng quân.


 Họ mang trong mình lý tưởng và hoài bão cao đẹp, muốn dâng hiến tuổi trẻ, sức lực và lòng nhiệt huyết để chiến đấu, hi sinh cho hòa bình, tự do của đất nước, cho hạnh phúc của Nhân dân. Bởi vậy, “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành đồng chí, chung câu quân hành”. 

Được đứng trong hàng ngũ của Quân đội, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của mỗi chàng trai khi được kế tục, nối tiếp sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc – điều mà các thế hệ cha anh trước đây đã đánh đổi máu xương của mình để xây đắp nên.

Đ21/HạtLửa