Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

HÀ NỘI ĐỀ XUẤT ĐẦU TƯ HƠN 21 NGHÌN TỶ ĐỒNG MỞ RỘNG ĐƯỜNG LÁNG!

     Sở Xây dựng Hà Nội vừa báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phương án cải tạo, mở rộng tuyến đường Vành đai 2 trên cao và dưới thấp, đoạn từ Ngã Tư Sở đến Cầu Giấy (đường Láng), với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 21.377 tỷ đồng.

Theo phương án, dự án cải tạo, mở rộng tuyến đường Vành đai 2 trên cao và dưới thấp, đoạn từ Ngã Tư Sở đến Cầu Giấy, thuộc nhóm A, công trình giao thông đường bộ cấp đặc biệt, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2025-2028.

Trong tổng mức đầu tư nêu trên, chi phí giải phóng mặt bằng chiếm phần lớn, khoảng 16.914 tỷ đồng, phần còn lại là chi phí xây lắp và các hạng mục liên quan.

Dự án được nghiên cứu với 2 phương án chính.

Phương án 1 là xây dựng cầu cạn có tim trùng với tim đường dưới thấp theo quy hoạch, với mặt cắt ngang khoảng 53,5m cho đường dưới thấp và 19m cho đường trên cao.

Phương án này được đánh giá có nhiều ưu điểm như bảo đảm đồng bộ quy hoạch, thuận lợi kết nối giao thông, phù hợp năng lực thi công trong nước và chi phí đầu tư thấp hơn.

Phương án 2 là xây dựng hầm chìm đường kính lớn kết hợp thoát nước chống ngập.

Tuy nhiên, theo Sở Xây dựng, phương án này gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, tuyến hầm bị ảnh hưởng bởi hệ thống trụ cầu đường sắt Cát Linh-Hà Đông, không bảo đảm không gian kỹ thuật để bố trí hầm 4 làn xe; đồng thời có nguy cơ tác động đến các di tích và các công trình dân cư lân cận.

Ngoài ra, việc giao cắt với tuyến đường sắt đô thị số 5 và điều kiện cao độ thực tế khiến chiều dài hầm hạn chế, hiệu quả đầu tư không cao.

Trên cơ sở phân tích, Sở Xây dựng đề xuất lựa chọn phương án 1 (cầu cạn) là tối ưu để triển khai đầu tư, đồng thời, kiến nghị trước mắt thực hiện dự án theo hình thức đầu tư công từ ngân sách thành phố nhằm đẩy nhanh tiến độ, sau đó có thể nghiên cứu chuyển đổi sang hình thức PPP (đối tác công-tư) để đa dạng nguồn vốn./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH, BẢO VỆ TỔ QUỐC!

     Những chủ trương, quan điểm, định hướng chiến lược về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng có sự phát triển mới, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu thế thời đại, được thể hiện trên những vấn đề sau:

Kế thừa Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội XIV có bước phát triển mới, nêu rõ hơn về lợi ích quốc gia-dân tộc và nội hàm an ninh quốc gia trên các lĩnh vực: Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh chế độ, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế-tài chính, an ninh mạng-dữ liệu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước...

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung vị trí, vai trò mới của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế; khẳng định: “Phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường QPAN và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Sự phát triển này nhằm định hướng rõ hơn trách nhiệm của LLVT và toàn xã hội đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh phi truyền thống, sự nghiệp BVTQ từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc...”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và "thế trận lòng dân"; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”. Điểm mới là đề cao vai trò con người với tư cách chủ thể của sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới. Đây là định hướng xuyên suốt, rất quan trọng và cần thiết, thể hiện rõ quan điểm khoa học, đúng đắn của Đảng trong cổ vũ, động viên, phát huy nhân tố con người và vai trò “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp BVTQ.

Từ nhận thức sâu sắc tình hình, môi trường chính trị, an ninh toàn cầu và yêu cầu BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung nội dung mới, đề cao tính chủ động “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động... xây dựng khu vực phòng thủ chủ động vững chắc”; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, BVTQ từ sớm, từ xa” để định hướng nhận thức sự cần thiết phải “thấy trước, biết trước”, tạo tâm thế chủ động, đi trước, đón trước, chuẩn bị trước, ngăn chặn từ trước, từ xa, xử lý sớm các nguy cơ; không để bị động, bất ngờ.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với QPAN và giữa QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”. Văn kiện Đại hội XIV đề cao tính hài hòa và bổ sung nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong sự kết hợp này: “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững cũng như những nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, nhất là thiên tai, ô nhiễm môi trường sinh thái, Đảng đã chủ trương đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường là cấp thiết, quan trọng, phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố QPAN và các mặt hoạt động khác. Nghị quyết còn chỉ rõ “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa QPAN với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy "sức mạnh mềm" Việt Nam, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước”. Đây là tư duy, nhận thức mới, lần đầu tiên chính thức đề cập “sức mạnh mềm” để tạo thế và lực cho quốc gia.

Đặc biệt, trước tình hình cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, quyết liệt, thậm chí đối đầu trực diện; xu thế tập hợp lực lượng gia tăng; những hạn chế, bị động, phụ thuộc trong quan hệ quốc tế; những khó khăn, thụ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng và BVTQ đặt ra việc phải đề cao tự chủ chiến lược. Đây là lần đầu tiên Đảng đưa quan điểm tự chủ về chiến lược để chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Tự chủ chiến lược là tự chủ con đường, vận mệnh của chính mình, tự tin quyết định những vấn đề cơ bản, hệ trọng của dân tộc; nó không chỉ là độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc mà còn là tự lực, tự cường, tự tin, chủ động, sáng tạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực QPAN, BVTQ. Quan điểm này góp phần khẳng định vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định sức mạnh nội lực, định hướng dài hạn cho việc nâng cao tính tự chủ ở tầm vĩ mô cho các ban, bộ, ngành, địa phương trong tiến trình xây dựng và BVTQ.

Đại hội XIII của Đảng xác định phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nhưng văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Việc xây dựng Quân đội và Công an hiện đại được đẩy sớm hơn một nhiệm kỳ đã được Đảng ta tính toán kỹ lưỡng, khoa học, có cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc gia, nắm chắc các nguồn lực tự nhiên, xã hội, bên trong, bên ngoài của đất nước và LLVT; thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng nhưng cũng là yêu cầu, đòi hỏi sự nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong xây dựng LLVT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đưa nội dung: "Giữ vững và phát huy truyền thống QĐND, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất". Đối với CAND là: Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức, bộ máy theo hướng “bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh bám cơ sở”; giữ vững và phát huy truyền thống “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Điều này phản ánh tư duy, nhận thức sâu sắc về vai trò, giá trị to lớn, bền vững của truyền thống, văn hóa, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống của CAND.

Xây dựng nền quốc phòng hiện đại cũng là bước phát triển mới, với sự vững mạnh, hiện đại cả về tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng. Yêu cầu mới này xuất phát từ sự phát triển của khoa học-công nghệ, kinh tế tri thức, công nghệ số... vừa tạo ra sự đột phá cho phát triển vừa tạo ra nhiều nguy cơ, thách thức cho tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Vì vậy cần phải có nền quốc phòng hiện đại mới đủ sức bảo vệ cho sự phát triển bền vững. 

Đối với công nghiệp QPAN, Đại hội XIII của Đảng định hướng: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”. Điều này thể hiện sự phát triển, nhận thức sâu sắc về vai trò của công nghiệp QPAN trong nền quốc phòng toàn dân và sự nghiệp BVTQ; quyết tâm tạo bước nhảy vọt, làm chủ công nghệ sản xuất, chế tạo, nhất là công nghệ nền, công nghệ lõi, tự chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự của LLVT. Mặt khác, đề cao tính lưỡng dụng, phát huy vai trò của kinh tế quốc phòng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp QPAN hiện đại, lưỡng dụng, là nền tảng vững chắc để nâng cao tính chủ động chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ thời kỳ mới.

Việc nghiên cứu, nắm chắc nội dung cốt lõi, nhất là những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng nói chung, về lĩnh vực QPAN, BVTQ nói riêng là hết sức cần thiết. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc, toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là toàn quân nâng cao nhận thức, thấy rõ trách nhiệm và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên phát triển mới./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẤT NƯỚC SỨC XUÂN PHÙ ĐỔNG!

     Trên nền tảng căn bản của 40 năm Đổi mới, với những quyết sách của Đại hội XIV của Đảng - Xuân Bính Ngọ 2026 - thời khắc của số thành - đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới trong tầm nhìn 2045!

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền 40 năm qua, Đảng ta đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu; khẳng định 5 quan điểm chỉ đạo lớn; xác định 12 định hướng lớn; hoạch định 6 nhiệm vụ trọng tâm và phát triển 3 đột phá chiến lược bằng chương trình hành động cốt lõi 8 nội dung quan trọng, nhằm mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD/năm, trong tầm nhìn năm 2030.

Việt Nam phát triển toàn diện, không chỉ là giàu có kinh tế mà còn giàu trí tuệ, giàu lòng nhân ái, phẩm giá con người và giàu bản sắc văn hóa: Một nền kinh tế tri thức số hóa và sáng tạo bền vững - một xã hội tự do, hạnh phúc - một Nhà nước kiến tạo - một nền văn hóa hội nhập mà không hòa tan - một bản sắc Việt Nam trí tuệ - nhân văn - một Việt Nam phú cường và giàu bản lĩnh trong toàn cầu hóa. Việt Nam phú cường đa chiều, bền vững, nhân văn và bản sắc.

Nói một cách hình ảnh, trên nền tảng bản sắc - sáng tạo - nhân văn làm căn bản nhằm kiến tạo và định hình lộ trình, bước đi phù hợp với thời kỳ hội nhập quốc tế và ch.uyển đ.ổi s.ố nhằm xây dựng Việt Nam phát triển, hiện đại, sáng tạo và nhân văn với bản lĩnh riêng, đứng trong hàng ngũ các quốc gia tiên tiến, có ảnh hưởng tích cực và cùng dẫn dắt thế giới thế kỷ XXI.

Việt Nam tự chủ toàn diện: từ kinh tế, quốc phòng, khoa học công nghệ đến văn hóa, bản sắc.

Việt Nam trí tuệ, khai mở, giải phóng và sáng tạo: tự thân đổi mới, sánh vai với những quốc gia tiên tiến.

Việt Nam nhân văn và bền vững: phát triển nhưng giữ vững đạo lý dân tộc, gìn giữ môi trường sống.

Việt Nam đoàn kết quốc dân: mỗi người dân đều là chủ thể của sự phát triển, không bị bỏ lại phía sau.

Việt Nam giữ ảnh hưởng và cùng tích cực dẫn dắt thế giới: không chỉ nhận, mà chủ động cống hiến cho nhân loại. Càng tự chủ cao độ càng hội nhập vững vàng.

Sự nghiệp vĩ đại đó đòi hỏi không chỉ không ngừng đổi mới tư duy, dũng cảm vượt qua những công thức cũ, phá bỏ những định kiến đã lỗi thời, phát triển những cách nhìn, phương pháp hành động truyền thống mà còn trân trọng cách suy nghĩ mới mẻ, thậm chí khác thường, đặc biệt nâng niu sự dấn thân và lôi cuốn toàn dân tộc dám đổi mới, dám mạo hiểm một cách tỉnh táo và mưu tính toàn vẹn, vì quốc gia dân tộc. Đồng thời, cảnh giới thứ tư duy nhiệm kỳ, tư duy ngắn hạn - những kẻ thù của tầm viễn kiến phát triển.

Do đó, để phát triển Việt Nam giàu bản sắc văn hóa - giàu trí tuệ đổi mới - giàu lòng nhân ái và phẩm giá con người, dân tộc nỗ lực xây dựng: Kinh tế Việt Nam: Tri thức hóa - số hóa - xanh hóa: Kinh tế thị trường định hướng XHCN là công cụ, phương tiện giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật quốc gia. Với kinh tế nhà nước là nền tảng, dẫn dắt nền kinh tế quốc gia, kinh tế ngoài nhà nước, trước hết là kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, là đòn bẩy phát triển chiến lược, cùng với kinh tế đối ngoại làm cửa mở trọng yếu bảo đảm phát triển nội lực và cân bằng chiến lược trong hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Xây dựng và phát triển thương hiệu kinh tế quốc gia, nhất là các doanh nghiệp tiên phong hội nhập quốc tế, sức cạnh tranh, khẳng định vị thế và sức mạnh hội nhập toàn cầu với tốc độ tăng trưởng cần thiết song hành với bảo đảm độ bền vững của sự phát triển kinh tế quốc gia.

Đẩy mạnh ch.uyển đ.ổi s.ố, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích khởi nghiệp công nghệ cao và mô hình doanh nghiệp xã hội. Hướng ra biển, phát triển kinh tế biển với tầm nhìn xứng đáng với thế kỷ của đại dương. Cảnh giới và hóa giải các nguy cơ lâm vào bẫy thu nhập trung bình, bẫy nợ nần, bẫy nghèo mới… đang làm khuynh đảo nhiều quốc gia, dân tộc.

Con người Việt Nam: Trí tuệ - khai phóng - sáng tạo - cầu thị: con người Việt Nam là trung tâm, là chủ thể và là động lực của phát triển. Con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, văn hóa, sự tiến bộ xã hội. Phát triển con người không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng - trí tuệ, đạo đức, năng lực sáng tạo. Văn hóa Việt Nam làm nền cho ứng xử toàn cầu; coi trọng phẩm giá, đạo đức con người.

Cải cách giáo dục toàn diện: tự do tư duy, học suốt đời, sáng tạo thực tế. Khuyến khích phát triển tài năng chính trị, khoa học, nghệ thuật.

Văn hóa Việt Nam: Hội nhập - nhân văn - bản sắc: toàn cầu hóa, nhất là các cuộc xâm lăng văn hóa đã và đang nguy cơ nhấn chìm không ít quốc gia dân tộc không gìn giữ bản sắc phát triển.

Bản sắc không chỉ là truyền thống mà còn là trí tuệ, tinh thần cải cách, sáng tạo và bản lĩnh chính trị; trong đó, văn hóa là nền tảng tư tưởng và động lực của phát triển và sự độc lập tư duy là điều kiện để tránh lệ thuộc, bám sát chân lý, đứng vững và phát triển trên mảnh đất quốc gia dân tộc trong trào lưu nhân loại.

Văn hóa phải là căn cước dân tộc và ngày càng phải là gương mặt, tư chất, linh hồn và bản sắc Việt Nam dân tộc, hiện đại. Văn hóa phải trở thành nền tảng và chất keo gắn bó cộng đồng dân tộc; là nội lực bền vững làm cho quốc dân thấm đẫm tinh thần tự lập, tự cường, nhân ái và bao dung, rường mối của tất cả các mối quan hệ ngoại giao, với phương châm bản sắc dân tộc, con người hiện đại hóa, xã hội công bằng, phát triển bền vững và nhân văn.

Chủ động giao lưu toàn cầu nhưng giữ vững bản sắc Việt, với sức mạnh mềm văn hóa trong hội nhập và lan tỏa sức mạnh và uy tín quốc tế.

Quốc phòng Việt Nam: Toàn dân - công nghệ cao - chủ động: Việt Nam cần bảo vệ độc lập chủ quyền, giữ cân bằng chiến lược một cách khôn khéo. Tăng cường tự chủ quốc phòng công nghệ cao; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc phòng, chống mọi hình thái chiến tranh nhằm vệ nền độc lập, thống nhất, tự quyết và toàn vẹn nền hòa bình đất nước.

Chính trị độc lập và văn minh; kinh tế trí tuệ và bền vững; giáo dục khai phóng và thực nghiệp, xã hội học tập liên tục… trên nền móng pháp luật song hành với đạo đức.

Việt Nam trí tuệ - Việt Nam kiến tạo - Việt Nam nhân văn.

Kinh nghiệm lịch sử xác tín, mọi thành công đều bởi sức công phá cơ bản và trước hết từ bên trong phù hợp với bên ngoài.

Đất nước nỗ lực phát triển Nhà nước Việt Nam: Pháp trị - kiến tạo - dân chủ - minh bạch: xây dựng hệ thống quản trị công hiện đại, minh bạch, công bằng, liêm chính. Thúc đẩy dân chủ hóa xã hội trên nền tảng pháp quyền và đạo lý dân tộc. Lãnh đạo bằng khoa học và giáo dục; bằng dân chủ và pháp trị; bằng tiên phong và đạo đức.

Tạo khuôn khổ pháp lý vận hành xã hội một cách toàn diện, dân chủ, với hệ điều kiện cần và đủ tối ưu và phù hợp, khơi thông mọi cách tắc và thức dậy mọi động lực kinh tế, văn hóa và xã hội. Dân tộc cần xã hội hài hòa và hợp tác: các chủ thể kinh tế, xã hội phối hợp đồng bộ, thống nhất trong sáng tạo giá trị quốc gia. Mỗi người cần vươn tới công dân chủ động, tự chủ và tự tôn: tự chủ phát triển là nguyên tắc để bảo vệ chủ quyền trong mọi lĩnh vực, để tự lực, sáng tạo và hội nhập. Càng tự chủ cao độ càng hội nhập vững vàng.

Đổi mới cơ cấu phát triển quốc gia: trên nền tảng chuyển mạnh từ xã hội tồn tại sang xã hội phát triển theo cơ cấu và hệ giá trị, xây dựng nền kinh tế dựa trên: trí tuệ sáng tạo, giá trị gia tăng cao, văn hóa đặc sắc.

Nắm lấy kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đoạn tuyệt mô hình tồn tại chuyển sang kiến tạo mô hình cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước tương dung với thời đại đang biến động rất khác. Trước mắt, đoạn tuyệt từng bước sự cạnh tranh bằng lao động rẻ hay tài nguyên thô; xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa cục bộ và tổng thể, giữa kinh tế và văn hóa, giữa đạo đức và thị trường; giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường sinh thái… theo chuẩn mực quốc tế, chuỗi giá trị toàn cầu và phù hợp với thực lực đất nước.

Đổi mới thể chế đồng bộ: pháp quyền, dân chủ hóa, quản trị hiện đại.

Sự thành bại, một phần căn bản được quyết định bởi thể chế - thể chế - và thể chế!

Không thể phát triển bằng con đường rút ngắn hay tăng tốc chiến lược, nếu không cải cách thể chế một cách căn cơ, hiện đại, phù hợp và sâu rộng. Trên nền pháp quyền và đạo lý, Nhà nước kiến tạo phát triển - xã hội học tập - cá nhân cầu thị bằng hệ thể chế phù hợp và đồng bộ với bộ máy tinh hoa, gọn nhẹ, liên thông, chuyên nghiệp và hiện đại.

Đảng cầm quyền đổi mới và tiên phong, lãnh đạo phát triển Nhà nước trong xây dựng và bảo đảm môi trường cho sáng tạo, dân chủ và khởi nghiệp xã hội bằng hệ thống pháp luật và hệ công cụ quản lý phù hợp và hiện đại.

Đầu tư chiến lược phát triển giáo dục, khoa học - công nghệ và văn hóa: giáo dục và khoa học, công nghệ và đổi mới là chìa khóa phát triển nhanh, mạnh, bền vững và nhân văn. Giáo dục - đào tạo hiện đại phải dạy làm người trước hết song hành với dạy để hành động một cách thực học, thực tài, thực nghiệp nhằm góp phần kiến tạo và phát triển nền tảng văn hóa.

Không có nền giáo dục hiện đại, phù hợp và mang tính toàn cầu không có nền khoa học, công nghệ mở đường phát triển quốc gia, càng không có chiến lược thực nghiệp và sáng tạo. Giáo dục và khoa học đi tiên phong thúc đẩy phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; phải thoát khỏi “văn hóa từ chương” hướng đến tự do tư duy, trên nền văn hóa từ hành, văn hóa nhân bản, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo phát triển khoa học và công nghệ.

Bằng giáo dục, phát triển rút ngắn, đi thẳng vào công nghệ cao, phát triển trí tuệ giữ vị thế động lực cốt lõi. Đến lượt nó, công nghệ và đổi mới là mục tiêu của động lực cốt lõi trên nền móng giáo dục và khoa học tiên tiến mang tầm chiến lược và là một trong những “cánh cửa” hội nhập chủ động, toàn diện và sâu sắc thế giới.

Đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đây là một yêu cầu sống còn trong thời đại mới. Mở rộng không gian đoàn kết: đoàn kết không chỉ trong khuôn khổ Đảng, Mặt trận Tổ quốc, mà với tất cả giai tầng dân tộc, toàn xã hội trong nước và kiều bào ở nước ngoài. Tôn trọng đa dạng tư tưởng và sáng tạo cá nhân: đoàn kết trong khác biệt, khuyến khích tư duy phản biện và đổi mới sáng tạo.

Giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Tự quyết về chính trị, độc lập về kinh tế, bản sắc về văn hóa, ổn định về xã hội, vững chắc về an ninh, quốc phòng phù hợp với hệ giá trị toàn cầu; cân bằng các mối quan hệ chiến lược quốc tế một cách đa dạng hóa, đa phương hóa; xử lý nhuần nhuyễn giữa độc lập và hội nhập, giữa tự quyết và hài hòa, không rơi vào bất kỳ liên minh đối đầu nào; phòng, tránh và hóa giải mọi hình thái nô dịch về chính trị hay cạm bẫy phản phát triển, bảo vệ vô điều kiện quyền tự quyết, tinh thần tự tôn, tự lập dân tộc.

Khơi dậy khát vọng cao cả dân tộc thành sức mạnh hành động thống nhất: lợi ích là trung tâm của tất cả các mối quan hệ chính trị, kinh tế, cá nhân, xã hội và quốc tế. Phân bổ minh bạch và hợp lý các nguồn lực, cơ hội phát triển để không ai bị bỏ lại phía sau, xã hội công minh, công bằng và tiến bộ; bảo đảm thống nhất lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia dân tộc; giữa nước ta với tất cả các nước trên thế giới.

Khơi dậy khát vọng và tâm lý quốc dân tự chủ, tự lập, tự cường, tự trọng và vươn tới thịnh vượng. Đó là danh dự dân tộc.

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới ngọn cờ của Đảng.

Trên nền móng vững chắc hơn bốn nghìn năm của dân tộc, tiếp tục phát triển “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” của đất nước, mở Xuân mới Bính Ngọ 2026, với hào khí Phù Đổng, với bản lĩnh và danh dự của dòng máu Lạc Hồng của 102 triệu đồng bào ta dù ở trong nước hay ở nước ngoài, dân tộc nhất định xây dựng Việt Nam thành nước phát triển và nhân văn, nhịp bước cùng thời đại trong thế kỷ XXI./.


QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM NHÌN MỚI VÀ YÊU CẦU CAO CỦA NGHỊ QUYẾT 80 VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM!

     Làm rõ tầm nhìn mới và yêu cầu cao của Nghị quyết 80, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết đã khái quát một số 'điểm cốt lõi và mới', từ đó hình dung ra vị thế, tầm vóc, diện mạo của nền văn hóa Việt Nam dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại trong tương lai.

Sáng 25/2, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị diễn ra tại Hội trường Diên Hồng.

Tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt chuyên đề "Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam".

Xác định chỉ tiêu cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, các văn kiện trước đây của Đảng về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Lần này, Nghị quyết 80 đồng thời vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới; có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học - thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả trong từng giai đoạn.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết lấy ví dụ: Mục tiêu chung của ngành công nghiệp văn hóa là "đẩy mạnh phát triển, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo", gắn với mục tiêu đó là chỉ tiêu "ngành này đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và phấn đấu 9% vào năm 2045, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa". Hoặc, trong quan điểm chỉ đạo khẳng định "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển đất nước, cho tương lai dân tộc" thì trong chỉ tiêu Nghị quyết xác định rõ "bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn".

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, các nghị quyết trước không trực tiếp xác định chỉ tiêu mà giao cho Nhà nước. Những năm qua, chúng ta đặt ra mục tiêu đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chiếm 1,8% tổng chi ngân sách Nhà nước, nhưng trên thực tế hầu như chưa đạt tới, năm cao nhất mới đạt trên 1,7%. Nghị quyết 80 khẳng định "tối thiểu 2%" và còn định hướng tăng dần theo yêu cầu thực tiễn" là một đột phá lớn, chưa từng có đối với đầu tư cho văn hóa.

"Như vậy, trên cơ sở khẳng định "quyết sách đột phá mang tính chiến lược", Nghị quyết đã gắn kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống giữa quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa", đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh.

Xây dựng con người là trung tâm, cốt lõi

Xây dựng con người luôn là vấn đề trung tâm, cốt lõi, mục tiêu cao nhất trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa. Nghị quyết 80 đã kế thừa triệt để tư tưởng đó, gợi mở và xác định cụ thể, toàn diện những nội dung mới; đồng thời nhấn mạnh phép biện chứng "phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa".

Đồng chí Trịnh Văn Quyết nhìn nhận, luận điểm rất quen thuộc, song lúc này trở nên cực kỳ quan trọng vì những năm qua, trong thực tiễn đã xuất hiện tình trạng tách rời hai yêu cầu đó, hoặc biến văn hóa thành trò giải trí đơn thuần, thậm chí số ít phủ định chức năng xây dựng con người, coi văn hóa, văn học, nghệ thuật là "sân chơi"...

Biểu hiện khá phổ biến là coi văn hóa chỉ là những hoạt động nghiệp vụ cụ thể, không tập trung hướng tới mục tiêu cốt lõi, trọng tâm là xây dựng con người. Vì thế, những năm qua, văn hóa chưa đủ để tác động có hiệu quả nuôi dưỡng nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh dẫn tới có tình trạng suy thoái, biến chất, cái ác, cái giả, cái xấu… có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng, bất an và bức xúc trong xã hội.

Để xây dựng và vươn lên hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam thời kỳ mới, Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, xác định nội hàm các hệ giá trị trên được triển khai từ Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đến nay, Nghị quyết 80 đã khẳng định rõ các thành tố cụ thể của các hệ giá trị đó.

Đây là bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, vì các thành tố đó sẽ định hướng làm chuẩn mực cho toàn xã hội, cho các tập thể và cộng đồng, cho từng cá nhân rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện nhân cách. Những biểu hiện lúng túng, lệch chuẩn, loạn chuẩn… sẽ được điều tiết bằng văn hóa và điều chỉnh bằng pháp luật.

Cùng với đó, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng con người, Nghị quyết nhiều lần nhấn mạnh xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại. Điểm mới ở đây là tiếp tục khẳng định tư tưởng trong các Nghị quyết trước về xây dựng môi trường sống cụ thể, Nghị quyết 80 yêu cầu "xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số" - một thách thức mới đối với chúng ta, vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài, chiến lược khi xã hội hiện đại phát triển lên trình độ cao với c.huyển đ.ổi s.ố cực kỳ nhanh và phức tạp. Sự đón trước về môi trường văn hóa hiện đại là biểu hiện của một tầm nhìn xa chiến lược và sự sâu sắc toàn diện của Nghị quyết 80.

Để phát huy vẻ đẹp, sức mạnh, bản sắc của con người và văn hóa Việt Nam trong trật tự thế giới hiện đại, Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa". Tư duy đột phá trong xác định nhiệm vụ lớn này là đưa văn hóa vào toàn bộ hoạt động đối ngoại ở mức cao nhất, hiệu quả nhất trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh để đồng thời vừa chủ động hội nhập, vừa tỉnh táo tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại - hai quá trình có tính quy luật của sự phát triển văn hóa trong thời kỳ hiện đại.

Văn hóa – Lĩnh vực đặc biệt tinh tế, đặc thù

Cũng theo Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, thấu hiểu văn hóa là lĩnh vực đặc biệt tinh tế, rất đặc thù nên khi xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết 80 luôn lưu tâm đến đặc trưng này.

Trước hết, nghị quyết yêu cầu xử lý hài hòa, biện chứng các "quan hệ nội tại của văn hóa", đặc biệt chú trọng quan hệ đặc thù của văn hóa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Trong các nghị quyết về văn hóa, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa của chúng ta vươn lên hiện đại từ truyền thống. Tiếp tục tư tưởng đó, Nghị quyết 80 nhấn mạnh tính dân tộc, nguồn gốc và bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đồng thời thấu hiểu quy luật, khát vọng vươn lên hiện đại, "đóng góp xứng đáng vào dòng chảy của văn minh nhân loại".

Nghị quyết 80 có tới 10 lần dùng từ "hiện đại" khi xác định phương hướng phát triển của các lĩnh vực văn hóa như công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa, công trình văn hóa, văn học, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo nội dung số... Đó là yêu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Trong nghị quyết, sự thấu hiểu đặc trưng của văn hóa còn thể hiện cụ thể trong xác định các chính sách cho phát triển văn hóa. Nghị quyết nhiều lần nhắc đến tính đặc thù, đột phá, vượt trội, giải phóng sức sáng tạo trong thể chế, chính sách, cơ chế phát triển văn hóa, phát huy tài năng văn hóa.

Ba thành tố quan trọng để phát triển văn hóa

Có ba thành tố cực kỳ quan trọng để phát triển văn hóa được Nghị quyết 80 gắn kết trong một nhiệm vụ lớn, đó là phát triển hạ tầng, huy động, sử dụng các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết chỉ rõ, về hạ tầng, Nghị quyết xác định: "Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế". Một nhiệm vụ chưa từng được đặt ra trước đây.

Về nguồn lực, Nghị quyết khẳng định "đảm bảo bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án, tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng điểm, trọng tâm và thu hút đầu tư xã hội ở mức cao nhất".

Nghị quyết dành phần đặc biệt quan trọng trong phát triển đột phá văn hóa, đó là xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ chủ chốt ở địa phương, xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa.

Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiên tiến, hiện đại và tính đặc thù trong đào tạo và nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt Nam. Đối chiếu với thực tiễn, thực trạng hiện nay, mỗi nhiệm vụ cụ thể trên thực sự là một thách thức lớn và khó, cần một tư duy đột phá và một kế hoạch dài hạn, khẩn trương, kiên quyết và kiên trì trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH "XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP TRUNG BÌNH"!

     Sáng 26-2, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản (Ban Chỉ đạo) chủ trì Phiên họp thứ 6 của Ban Chỉ đạo để rà soát, đánh giá thực hiện các nhiệm vụ đề ra tại Phiên họp thứ 5, đặc biệt, cho ý kiến đề xuất xây dựng chính sách cho phân khúc nhà ở đối với người có thu nhập trung bình. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, trực tuyến với đầu cầu 34 tỉnh, thành phố. Dự phiên họp có: Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo tỉnh, thành phố; đại diện hiệp hội, doanh nghiệp, ngân hàng.

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, quyền có chỗ ở là quyền cơ bản của công dân. Mỗi người dân đều có quyền tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch về nhà ở phù hợp với thu nhập và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp. Việc phát triển nhà ở cần đa dạng phân khúc, bao gồm nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, song dù phân khúc nào thì hạ tầng đều phải đầy đủ, đồng bộ, bình đẳng, toàn diện, bao trùm, không phải tiếp cận có chọn lọc.

Thủ tướng cho biết, năm 2025, Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt, đưa ra những chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để phát triển nhà ở, nhất là nhà ở xã hội. Theo đó, cả nước đã hoàn thành hơn 100 nghìn căn nhà xã hội, hướng tới hoàn thành 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2028, sớm hơn dự kiến 2 năm. Thực tiễn đặt ra yêu cầu mới, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở đối với các đối tượng thu nhập trung bình từ 20 triệu đồng/tháng. Thủ tướng yêu cầu tại Phiên họp lần thứ 6 này, Ban Chỉ đạo Trung ương và các địa phương, đại biểu cần tập trung thảo luận, thống nhất tư duy, bàn giải pháp về phát triển phân khúc nhà ở cho người có thu nhập trung bình, tăng nguồn cung về nhà ở cho nhiều tầng lớp khác nhau, đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận nhà ở của mỗi người dân.

Trong đó, các đại biểu cần bàn về các chính sách nhằm tăng cường quỹ đất dành cho dự án nhà ở thương mại có giá phù hợp với người dân có thu nhập trung bình; đẩy nhanh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chung xây dựng, nghiên cứu ưu tiên bố trí quỹ đất làm nhà ở thương mại có giá phù hợp; tăng cường phát triển đô thị theo định hướng giao thông đô thị TOD nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm ùn tắc giao thông, nâng cao chất lượng sử dụng đất; dành nguồn tín dụng ưu đãi cho các dự án nhà ở thương mại có giá trị phù hợp mà người dân có nhu cầu mua nhà.

Thủ tướng Phạm Minh Chính lưu ý, mục đích cuối cùng là tăng nguồn cung bất động sản, phù hợp với nhiều đối tượng, góp phần giảm giá thành bất động sản, để các đối tượng có nhu cầu nhà ở được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, tránh phiền hà, tiêu cực. Thủ tướng yêu cầu "Không lãng phí một ngày; không chậm trễ một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng; không để bị động trong một năm", khẩn trương có chính sách đáp ứng yêu cầu thực tiễn./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN NHÀ Ở BÌNH ĐẲNG, CÔNG KHAI, MINH BẠCH CHO MỌI NGƯỜI DÂN!

     Sáng 26/2, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản chủ trì Phiên họp thứ sáu của Ban Chỉ đạo. Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà!

Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh quyền có chỗ ở là quyền cơ bản của công dân, phải được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp điều kiện kinh tế đất nước. Nhà ở phải được đặt trong tổng thể, hệ cấu trúc chung của phát triển kinh tế-xã hội đất nước, chứ không thể đặt riêng lẻ; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp hài hòa, rủi ro cùng nhau chia sẻ. Chúng ta phải có trách nhiệm phát triển nhà ở công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu, phù hợp thu nhập của người dân.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu dù là nhà ở xã hội hay nhà ở thương mại thì các hạ tầng thiết yếu cũng phải như nhau; tiếp cận phải bình đẳng toàn diện, bao trùm. Có hạng mục Nhà nước đầu tư, có hạng mục nhà đầu tư phải đầu tư, có hạng mục phải hài hòa, có sự đóng góp của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp trong phát triển hạ tầng.

Trong năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt công tác phát triển nhà ở, nhất là nhà ở xã hội; liên tục tổ chức nhiều cuộc họp, đưa ra nhiều chính sách, tháo gỡ khó khăn; tận dụng, không từ bỏ các cơ hội khả thi. Cách làm này đã được đúc rút qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, nhất là sau đại dịch Covid-19. Do đó, năm 2025, cả nước đã hoàn thành hơn 100 nghìn căn nhà ở xã hội. Với đà này, có thể hoàn thành 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2028, về đích sớm hơn mục tiêu đề ra là năm 2030. Mục tiêu này là có cơ sở, vì hiện nay, chúng ta đã và đang triển khai 600 nghìn căn nhà ở xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp thì thực tiễn đang đặt ra yêu cầu mới, đặc biệt là nhu cầu nhà ở cho đối tượng thu nhập trung bình. Chúng ta đặt ra mức thu nhập thấp là dưới 20 triệu đồng/tháng, vậy đối tượng có thu nhập ở mức trên 20 triệu đồng/tháng thì như thế nào để bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở bình đẳng cho các đối tượng. Do đó, tại phiên họp này, Thủ tướng đề nghị thống nhất tư duy, bàn cách làm và giải pháp để phát triển nhà ở xã hội cho tầng lớp thu nhập trung bình, phù hợp điều kiện của từng địa phương, của đất nước, theo quy luật thị trường, tăng nguồn cung nhà ở cho nhiều tầng lớp khác nhau, bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận nhà ở của mỗi người dân.

Với tinh thần đó, Thủ tướng đề nghị phiên họp thảo luận:

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đã được giao tại các phiên họp trước của Ban Chỉ đạo; kiểm điểm xem từ phiên họp trước đến phiên họp này đã làm được gì, chưa làm được gì, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, bài học kinh nghiệm rút ra là gì trong quá trình tổ chức thực hiện?

Tình hình nhà ở và thị trường bất động sản tính đến hết tháng 2 có gì biến động, bất thường, mới không? Qua số liệu tăng trưởng bất động sản, nhà ở xã hội thì địa phương nào làm tốt, địa phương nào chưa làm tốt? Các công việc đã nêu ra trong phiên họp trước còn gì vướng mắc, chưa thực hiện được mà cần phải tháo gỡ? Tín dụng bất động sản còn vướng mắc gì không? Gói tín dụng 145 nghìn tỷ đồng cho phát triển nhà ở xã hội có giải ngân được không? Nếu không giải ngân thì nguyên nhân vì sao? Phải nỗ lực tìm cách tháo gỡ, không thể để có tiền mà không sử dụng được.

Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện; đã làm, đã cam kết thực hiện thì phải có hiệu quả; mục tiêu cuối cùng là người dân được thụ hưởng. Tập trung trao đổi giải pháp, cơ chế, chính sách để tăng cường phát triển nhà ở cho tầng lớp thu nhập trung bình; tăng cường quỹ đất dành cho các dự án nhà ở thương mại có giá phù hợp cho người thu nhập trung bình liệu có thực hiện được không, cách làm như thế nào? Đẩy nhanh công tác quy hoạch, sử dụng đất, quy hoạch chung xây dựng trong đó có nghiên cứu ưu tiên bố trí các quỹ đất để làm nhà ở thương mại có giá phù hợp; tăng cường phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm ùn tắc giao thông, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Về tín dụng, đề xuất chính sách ưu đãi, bố trí vốn tín dụng cho các dự án nhà ở thương mại có giá bán phù hợp mà người dân có nhu cầu mua nhà. Tóm lại là nghiên cứu giải pháp tăng nguồn cung bất động sản; giá thành phải phù hợp; các đối tượng có nhu cầu mua nhà ở phải được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, giảm phiền hà, tránh tiêu cực. Bên cạnh đó, phải có các chính sách liên quan quy hoạch, đất đai, cơ chế, chính sách khác để thực hiện. Thủ tướng yêu cầu phải có “sản phẩm, đầu ra” sau phiên họp này để tiết kiệm thời gian với tinh thần “Không lãng phí một ngày; không chậm trễ một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng; không để bị động trong một năm"./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẦU CỬ SỚM TẠI VÙNG 2 HẢI QUÂN!

     Sáng 26/2, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân phối hợp Ủy ban Bầu cử xã Long Sơn tổ chức bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 tại bến cho các lực lượng đi thực hiện nhiệm vụ trên biển...

Theo đó, sẽ có 2 đoàn công tác đi thực hiện nhiệm vụ bầu cử sớm cho các Nhà giàn DK1, tàu trực và các ngư dân đang khai thác thủy hải sản trên biển.

Tới dự có đồng chí Hoàng Nguyên Dinh, Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chuẩn Đô đốc Trần Mạnh Chiến, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Vùng 2 Hải quân; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Long Sơn cùng 100 cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các cơ quan, đơn vị thuộc Vùng 2 Hải quân.

Việc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân tổ chức 2 tàu thực hiện nhiệm vụ bầu cử trên biển thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh; sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đối với việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ bầu cử của cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên biển.

Đây là sự cụ thể hóa tinh thần trách nhiệm chính trị cao, sự chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, bảo đảm để mọi cán bộ, chiến sĩ dù đang công tác nơi đầu sóng, ngọn gió vẫn được tham gia ngày hội lớn của toàn dân theo đúng quy định của pháp luật, an toàn, chặt chẽ, đúng nguyên tắc.

Trong điều kiện lực lượng phân tán, hoạt động dài ngày trên biển, việc tổ chức tàu, lực lượng, phương tiện mang thùng phiếu đến từng điểm nhà giàn, tàu đang thực hiện nhiệm vụ đã khẳng định quyết tâm chính trị, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị; đồng thời góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Tham gia bầu cử sớm tại bến có cử tri Tổ bầu cử và cử tri là cán bộ, chiến sĩ thuộc các tàu Trường Sa-04, Trường Sa-21 (Lữ đoàn 125) và Tàu 273 (Lữ đoàn 167) của Vùng 2 Hải quân đang chuẩn bị lên đường thực hiện nhiệm vụ.

Trung úy Trịnh Viết Minh, Phó Thuyền trưởng tàu 273, Lữ đoàn 167 Vùng 2 Hải quân cho biết, đây là lần đầu anh tham gia bỏ phiếu sớm: Mặc dù rất bận chuẩn bị cho chuyến đi thực hiện nhiệm vụ dài ngày sau đợt nghỉ Tết Nguyên đán nhưng chúng tôi vẫn dành thời gian nghiên cứu danh sách cử tri, tiểu sử các đại biểu và đã có sự lựa chọn chu đáo, thực hiện quyền công dân một cách nghiêm túc, có trách nhiệm.

Trên biển thuộc Vùng 2 Hải quân có hơn 400 cử tri đang công tác trên các Nhà giàn DK1, các tàu của Vùng 2 Hải quân; Hải đoàn 128, Hải đoàn 129 và ngư dân của các tàu cá đang khai thác thủy hải sản trên khu vực biển sẽ được tổ chức bầu cử sớm.

Đại tá Đỗ Hồng Duyên, Phó Chính ủy Vùng 2 Hải quân cho biết: Tuy thời gian chuẩn bị rất ngắn nhưng với tinh thần khẩn trương, chúng tôi đã phối hợp với xã Long Sơn và các phường của Thành phố Hồ Chí Minh làm tốt công tác chuẩn bị bầu cử sớm cho các lực lượng đang thực hiện nhiệm vụ trên biển. Đến hôm nay công tác bầu cử sớm đã bắt đầu thực hiện bước đầu.

Trong 15 ngày tiếp theo, với lực lượng 2 tàu TS-04 và TS-21, chúng tôi sẽ thực hiện bầu cử sớm cho cử tri tại các Nhà giàn DK1, tàu trực và ngư dân đang khai thác thủy hải sản trên biển không có điều kiện tham gia bầu cử đúng ngày 15/3.

Với vai trò nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc; cán bộ, chiến sĩ Vùng 2 Hải quân rất vinh dự, tự hào khi là nơi đầu tiên của cả nước được thực hiện nhiệm vụ bầu cử sớm.

Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã chủ động phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Bầu cử xã Long Sơn, làm tốt công tác chuẩn bị bảo đảm cho bầu cử sớm tại bến và trên biển diễn ra thành công tốt đẹp, đúng pháp luật, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Cán bộ, chiến sĩ Vùng 2 Hải quân phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm, lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài, đủ tiêu chuẩn, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân để bầu vào đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031, góp phần vào thành công cuộc bầu cử cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp./.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: LÍNH ĐẠI HÀN - CHƯ HẦU CỦA MỸ ĐÃ THẢM SÁT DÂN THƯỜNG VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH!

     Ảnh dưới là Nhà sư Myeong Jin đang quỳ lạy trước bia tưởng niệm vụ thảm sát nạn nhân Việt Nam của lính Đại Hàn ở Điện An, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ).

Có thể bạn chưa biết: Trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973, Hàn Quốc đã điều động hơn 320.000 quân sang tham chiến tại Việt Nam với vai trò là chư hầu của Mỹ. Đây là lực lượng nước ngoài đông đảo thứ hai chỉ sau sự hiện diện của quân đội Mỹ. Mãi đến những năm 90, các vụ thảm sát do quân đội Hàn Quốc đối với dân thường Việt Nam mới được thông tin rộng rãi trên toàn thế giới gây nên chấn động, chia rẽ sâu sắc tại Hàn Quốc.

Năm 1999, ngay sau khi tòa soạn báo Hankyoreh 21 công khai thông tin các vụ thảm sát do quân đội Hàn Quốc gây ra tại Việt Nam, các cựu binh từng tham chiến đã lao vào đập phá, đốt cháy tòa soạn. Mặc dù vậy, chiến dịch “Thành thật xin lỗi Việt Nam” vẫn được báo Hankyoreh 21 phát động từ tháng 2-1999 đến tháng 2-2003, kêu gọi lời xin lỗi, đóng góp tài chính hỗ trợ nạn nhân Việt Nam, xây công viên hòa bình tại Việt Nam... Chiến dịch này lan tỏa mạnh trong xã hội Hàn Quốc.

Đúng ngày này 58 năm về trước (25/2/1968), 135 dân thường ở làng Hà My, Quảng Nam (cũ) bị quân đội Hàn Quốc thảm sát chỉ trong vòng một buổi sáng, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, người già./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: KỲ BÍ TẤM VĂN BIA CỔ GẦN 700 NĂM TUỔI Ở NGHỆ AN ĐƯỢC CÔNG NHẬN LÀ BẢO VẬT QUỐC GIA!

     Theo Quyết định số 236/QĐ-TTg về việc công nhận bảo vật quốc gia của Thủ tướng Chính phủ, Nghệ An vinh dự có 6 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia, trong đó có văn bia "Ma nhai kỷ công bi ký" ở xã Con Cuông.

"Ma nhai kỷ công bi ký" được khắc trên vách núi Thành Nam tại xã Con Cuông. Văn bia có niên đại năm 1335 dưới triều Trần, mang giá trị đặc biệt về lịch sử quân sự và quá trình bảo vệ vùng biên viễn phía Tây của quốc gia Đại Việt trong thế kỷ XIV.

Tấm bia cổ kỳ bí nằm ẩn khuất sau dãy núi đá vôi trùng điệp. Đây cũng là tấm bia được khắc trực tiếp lên núi cổ nhất tại Việt Nam. Dù đã trải qua gần 700 năm, từng nét chữ trên tấm bia Ma Nhai vẫn như trường tồn cùng thời gian.

Theo sử sách ghi chép, văn bia do Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn biên soạn và khắc lên vách núi. Tấm bia nhằm kỷ niệm chiến công của Thái thượng hoàng Trần Minh Tông (1300 đến 1357) chống giặc Ai Lao.

Nội dung văn bia:

Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế, Chương Nghiêu Văn triết Thái thượng hoàng đế thụ thiên quyến mệnh, yêm hữu trung hạ, phổ hải nội ngoại võng bất thần phục, tối nhĩ Ai Lao, do ngạnh vương hoá. Tuế tại Ất Hợi quý thu, đế thân suất lục sư tuần vu tây bỉ. Chiêm Thành quốc thế tử, Chân Lạp quốc, Xiêm quốc cập man tù đạo thần Quỳ, Cầm, Xa, Lặc, tân phụ Bôi Bồn man, tù đạo Thanh Xa man chư bộ các phụng phương vật, tranh tiên nghênh kiến. Độc nghịch Bổng chấp mê uý tội, vị tức lai triều. Quý đông đế trú tất vu Mật Châu, Cự Đồn chi nguyên. Nãi mệnh chư tướng cập man di chi binh nhập vu kỳ quốc. Nghịch Bổng vọng phong bôn thoán, toại giáng chiếu ban sư. Thì Khai Hựu thất niên, Ất Hợi đông, nhuận thập nhị nguyệt nhật lặc thạch.

Bản dịch trong Việt Nam sử lược:

Chương Nghiêu Văn triết Thái thượng hoàng là vua thứ sáu đời nhà Trần, nước Hoàng Việt, chịu mệnh trời nhất thống cõi trung hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai Lao nhỏ mọn kia dám ngạnh vương hóa; cuối mùa thu năm Ất Hợi vua thân đem sáu quân đi tuần cõi tây, Thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Xiêm La và tù trưởng các đạo mán là Quỳ, Cầm, Xa, Lạc, tù trưởng rợ Bồn Man mới phụ và các bộ mán Thanh Xa đều mang phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật, sai các tướng và quân rợ mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng chạp nhuận năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hữu thứ 7, khắc vào đá./.



QV-ST!

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TUYÊN BỐ CỦA NGƯỜI PHÁT NGÔN BỘ NGOẠI GIAO NGA VỀ SAU 4 NĂM CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ ĐẶC BIỆT TẠI UKRAINE!

     Tuyên bố của người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova nhân kỷ niệm bốn năm ngày bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt (24 tháng 2 năm 2026)!

Bốn năm trước - vào ngày 24 tháng 2 năm 2022 - Lực lượng vũ trang Liên bang Nga, theo quyết định của Tổng thống Vladimir Putin và phù hợp với Hiến pháp Liên bang Nga, đã phát động chiến dịch quân sự đặc biệt (SVO). Mục tiêu của chiến dịch là loại bỏ các mối đe dọa xuất phát từ các vùng lãnh thổ do chế độ Kiev kiểm soát, và đảm bảo phi quân sự hóa và phi phát xít hóa Ukraine. Tất cả các hành động được thực hiện tuân thủ nghiêm ngặt Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc, trong đó quy định quyền tự vệ cá nhân và tập thể.

Bước đi cưỡng bức này đã diễn ra sau tám năm dài, trong thời gian đó Nga đã nỗ lực có trách nhiệm để tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp chính trị và ngoại giao cho cuộc xung đột ở Donbass, sau cuộc đảo chính vũ trang do phương Tây dàn dựng, tài trợ và tổ chức vào tháng 2 năm 2014. Những người từ chối khuất phục trước mệnh lệnh của "những người chiến thắng Maidan" - hàng triệu thường dân ở Donbass và Novorossiya - đã phải chịu sự đàn áp có hệ thống.

Đến năm 2022, số nạn nhân dân sự của cuộc xung đột vũ trang ở Donbass đã vượt quá 13.500 người.

Một chiến dịch tuyên truyền chống Nga quy mô lớn đã được phát động với mục đích duy nhất là thuyết phục thế giới rằng người Nga - và tất cả những người tự coi mình là một phần của thế giới Nga rộng lớn hơn - được cho là không có quyền bảo tồn bản sắc dân tộc và văn hóa của họ, cả ở Ukraine hay bất cứ nơi nào khác.

Kể từ năm 2014, với sự hỗ trợ của phương Tây, Ukraine đã tích cực quân sự hóa và phát triển quân sự trên lãnh thổ của mình như một chiến trường tiềm năng chống lại Nga, tạo ra những mối đe dọa tương đương với mối đe dọa đối với sự tồn tại của đất nước chúng ta. Cùng với sự bành trướng không kiểm soát của NATO, điều này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng an ninh sâu sắc ở châu Âu. Nga tìm cách gây ảnh hưởng tại Washington và Brussels, liên tục và dài dòng giải thích về ranh giới đỏ của mình.

Các đề xuất của Nga về việc cung cấp các đảm bảo an ninh ràng buộc về mặt pháp lý - bao gồm cả việc không mở rộng NATO về phía đông - đã bị phớt lờ.

Những tuyên bố công khai của Zelensky tại Hội nghị An ninh Munich vào tháng 2 năm 2022 về việc tuyên bố sở hữu vũ khí hạt nhân cũng gây ra mối lo ngại nghiêm trọng, tạo ra những rủi ro thực sự cho Nga và cho sự ổn định chiến lược nói chung. Hành động này đã làm suy yếu ba trụ cột cơ bản của nhà nước Ukraine – vị thế trung lập, không liên kết và không hạt nhân, những yếu tố đảm bảo sự công nhận quốc tế của nước này vào đầu những năm 1990.

Tính kịp thời và hiệu quả của quyết định mà giới lãnh đạo Nga đưa ra năm 2022 về việc khởi động SVO được khẳng định bởi sự suy thoái liên tục của các vùng lãnh thổ do chế độ Kiev kiểm soát vào chủ nghĩa cực đoan tân Quốc xã công khai.

Trong số những điều khác, Chiến dịch Quân sự Đặc biệt (SVO) đã vạch trần kế hoạch của phương Tây, do các nước Anglo-Saxon dẫn đầu, nhằm áp đặt lên cộng đồng quốc tế một cái gọi là “trật tự dựa trên luật lệ”, mục đích duy nhất là đảm bảo và duy trì bá quyền của phương Tây. Ngày nay, nhiều người - kể cả ở phương Tây - nhận ra bản chất sai lầm và phi thực tế của cuộc phiêu lưu địa chính trị này.

Trong việc theo đuổi các mục tiêu của SVO, Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga đang dũng cảm đóng góp vô cùng quan trọng vào việc tăng cường ổn định khu vực và quốc tế. Đất nước chúng ta đang tích cực tham gia đối thoại với tất cả các đối tác quan tâm về việc tạo ra một hệ thống an ninh Á-Âu bình đẳng và không thể chia cắt. Chúng tôi tin tưởng rằng điều này cũng sẽ được tạo điều kiện thuận lợi bằng việc giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraine với sự tôn trọng đúng mức đối với các lợi ích chính đáng của Nga.

Tất cả các mục tiêu của chiến dịch quân sự đặc biệt sẽ được hoàn thành.

Một nền hòa bình lâu dài, công bằng và bền vững chỉ có thể đạt được trên cơ sở loại bỏ tận gốc nguyên nhân của xung đột. Mục tiêu này định hướng những nỗ lực hiện tại của ngoại giao Nga, bao gồm cả các cuộc tiếp xúc với các nước thuộc Khối Đa số Toàn cầu và trong khuôn khổ đối thoại Nga-Mỹ./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY BẦU CỬ ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

     Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử. Trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Ủy ban bầu cử trình Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, quyết định.

Căn cứ vào quy định nói trên, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21 tháng 5 năm 2025 quyết định rõ Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là Chủ nhật, ngày 15 tháng 3 năm 2026.

Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Bầu cử là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và thành lập cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương nói riêng.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức cùng một ngày trên phạm vi cả nước, trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta sau 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội; đồng thời tích cực triển khai việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổ chức lại địa giới hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, là bước cụ thể hóa nghị quyết gắn liền với công tác cán bộ của Đảng, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM!

     Sáng 25/02/2026, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị!

Tham dự Hội nghị có đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (dự tại điểm cầu Tây Ninh); đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Dự Hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự tại điểm cầu Trung ương và các điểm cầu trong cả nước; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương… Tại điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, các cơ quan, tổ chức Đảng có các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư, ủy viên Ban Thường vụ tỉnh, thành ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, lãnh đạo các ban, sở, ngành, đoàn thể của các tỉnh, thành phố cùng toàn thể lãnh đạo, đảng viên tại các xã, phường, đặc khu và các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn…

Đây là Hội nghị rất quan trọng được tổ chức trực tiếp tại Hội trường Diên Hồng, kết hợp trực tuyến tới 27.284 điểm cầu ở Trung ương, các tỉnh, thành phố, các xã, phường, đặc khu và các tổ chức đảng trong quân đội, công an và doanh nghiệp với hơn 2 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu. Hội nghị được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam, phát thanh trực tiếp trên kênh thời sự VOV1, VOV Giao thông của Đài tiếng nói Việt Nam và trên các nền tảng số.

Hội nghị được tổ chức nhằm nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW, tập trung vào những điểm mới, những nội dung cốt lõi, đột phá. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện 2 nghị quyết; đồng thời tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện 2 nghị quyết, giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những điểm mới trong 2 nghị quyết của Bộ Chính trị.

Hội nghị đã được nghe 3 chuyên đề. Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam” do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết truyền đạt.

Chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước” do Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị truyền đạt.

Chuyên đề “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW” do Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình truyền đạt.

Đặc biệt, Hội nghị được nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm./.



QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 79-NQ/TW và NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

     Sáng 25/2, Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79 - NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm!

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí cán bộ, đảng viên, đồng bào cả nước tham dự Hội nghị tại các điểm cầu và qua hệ thống truyền hình, phát thanh trên cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện hai Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Bên cạnh những Nghị quyết đã ban hành trước đó, hai Nghị quyết mới là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường "nội lực vật chất" và củng cố "nội lực tinh thần". Khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, năng động, hiệu quả gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Với ý nghĩa đó, tôi đề nghị toàn thể các đồng chí tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng nội dung các Nghị quyết, nội dung chỉ đạo của các đồng chí Bộ Chính trị phát biểu trong Hội nghị, làm sâu sắc thêm những vấn đề cốt lõi, những điểm mới, những yêu cầu đặt ra trong tổ chức thực hiện, từ đó thống nhất cao về nhận thức và hành động.

Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đầy đủ và quyết tâm thực hiện, các Nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Xuất phát từ những yêu cầu về nhiệm vụ giải pháp được đặt ra trong hai Nghị quyết, tôi xin nhấn mạnh thêm một số nội dung sau:

I. Kinh tế nhà nước phải thực sự chiếm lĩnh "những cao điểm chiến lược chỉ huy" của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo, trở thành "điểm tựa quốc gia" trong kỷ nguyên mới.
Những năm gần đây, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tư nhân đã tạo thành hai trụ cột quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng phát triển năng động, đóng góp lớn vào tăng trưởng, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Song song với đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm các cân đối lớn, ổn định, điều tiết vĩ mô và thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trung và dài hạn liên quan trực tiếp đến an ninh năng lượng, an ninh tài chính, tiền tệ, an ninh viễn thông, hạ tầng thiết yếu và những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Nói cách khác, kinh tế nhà nước phải chiếm lĩnh được "những cao điểm chiến lược chỉ huy" của nền kinh tế.

Tuy nhiên, để thực sự chiếm lĩnh "những cao điểm chiến lược" của nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước phải được cơ cấu lại mạnh mẽ, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao. Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả, bằng đóng góp thực chất cho ổn định vĩ mô, cho an ninh kinh tế và cho phát triển trung và dài hạn.

Lĩnh vực nào Nhà nước cần nắm giữ để bảo đảm chủ quyền và ổn định thì phải nắm cho chắc, làm cho tinh, cho mạnh. Lĩnh vực nào Nhà nước chỉ nên giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng, mở đường thì phải thiết kế cơ chế để khu vực tư nhân cùng tham gia, cùng cạnh tranh và cùng phát triển. Lĩnh vực nào Nhà nước không cần thiết làm hoặc làm không hiệu quả thì phải kiên quyết sắp xếp lại theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chống "lợi ích nhóm", chống "sân sau", chống "thao túng", chống "trục lợi" chính sách.

Kinh tế nhà nước phải có những đóng góp mang tính đột phá vào năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm duy trì ổn định và can thiệp kịp thời khi xuất hiện rủi ro mang tính hệ thống. Vì vậy, trong giai đoạn mới, kinh tế nhà nước phải thực sự được cụ thể hóa thành 05 "điểm tựa" lớn sau đây:

Thứ nhất: điểm tựa về an ninh và chủ quyền kinh tế. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ và làm chủ các "huyết mạch" và "xương sống" quốc gia từ năng lượng, hạ tầng chiến lược, tài chính-tín dụng, logistics then chốt, dữ liệu và nền tảng số thiết yếu,… Nắm giữ không phải để độc quyền, mà để bảo đảm chủ quyền, tránh lệ thuộc, chủ động trước biến động và bảo vệ lợi ích quốc gia trong mọi tình huống, và có sức lan tỏa cho cả nền kinh tế.

Thứ hai: điểm tựa về điều tiết, ổn định và sức chống chịu. Đặc biệt, trong thời kỳ nhiều cú sốc đan xen như đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động lãi suất-tỷ giá, chiến tranh thương mại, thiên tai- dịch bệnh, kinh tế nhà nước phải đóng vai trò giữ ổn định những thị trường thiết yếu, đảm bảo cung ứng các dịch vụ công ích thiết yếu, duy trì đầu tư nền tảng và năng lực dự phòng để ứng phó kịp thời với rủi ro hệ thống.

Thứ ba: điểm tựa dẫn dắt cho khu vực tư nhân. Kinh tế nhà nước mạnh không phải để lấn át, mà trở thành "bệ đỡ", "mở đường " và "tiếp sức" để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó hình thành những cụm liên kết ngành với những "đầu tàu" đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Nếu kinh tế nhà nước làm tốt vai trò dẫn dắt, khu vực tư nhân sẽ có điểm tựa để lớn lên bền vững và sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế sẽ tăng lên rõ rệt.

Thứ tư: điểm tựa về dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Nếu kinh tế nhà nước chỉ mạnh về vốn, mạnh về tài sản mà yếu về công nghệ, quản trị và nhân lực, thì không thể giữ vai trò chủ đạo trong kỷ nguyên mới. Vai trò chủ đạo hôm nay không chỉ đo bằng quy mô, mà phải được đo bằng khả năng làm chủ công nghệ, chuẩn hóa theo chuẩn mực quốc tế, vận hành dữ liệu như một nguồn lực chiến lược, bảo đảm an ninh mạng và quản trị rủi ro hiện đại.

Thứ năm: điểm tựa về chuẩn mực quản trị và liêm chính công vụ trong kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước phải là nơi kỷ luật, minh bạch, cùng trách nhiệm giải trình cao nhất. Doanh nghiệp nhà nước phải là nơi của chuẩn mực quản trị quốc gia, tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực cạnh tranh và tinh thần phụng sự. Không thể để tồn tại tình trạng "lợi ích nhóm", "sân sau", đầu tư theo nhiệm kỳ, thua lỗ kéo dài nhưng không rõ trách nhiệm.

Năm "điểm tựa" trên phải được chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, có mục tiêu, có thước đo, có thời hạn, có cơ chế kiểm tra và có chế tài rõ ràng. Nếu không, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước sẽ chỉ dừng ở khẩu hiệu, còn đất nước thì phải trả giá bằng lãng phí nguồn lực, bằng suy giảm sức cạnh tranh và bằng sự xói mòn niềm tin xã hội.

TOÀN VĂN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM tại HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 79-NQ/TW và NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW của BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 3.
Tổng Bí thư Tô Lâm: Phải xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới - Ảnh VGP/Nhật Bắc

II . "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi" là nền văn hóa hướng tới con người, là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường.
Trong lịch sử dân tộc, sức mạnh Việt Nam không chỉ được tạo nên bởi tài nguyên hay quy mô, mà trước hết bởi bản lĩnh, khí phách, ý chí và hệ giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi ". Lời dạy ấy đến hôm nay càng cho thấy văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà văn hóa phải đứng ở "vị trí dẫn đường" , là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia. Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì "văn hóa quyết định khả năng đi xa". Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên.

Thách thức lớn nhất đối với văn hóa hôm nay không chỉ là thiếu nguồn lực, mà là nguy cơ xói mòn hệ giá trị, lệch chuẩn hành vi, thực dụng hóa, bạo lực ngôn từ, tin giả, tin thất thiệt và sự tấn công của những yếu tố độc hại trong không gian mạng. Nếu không kịp thời chấn hưng văn hóa, chúng ta có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng sẽ thiếu điểm tựa dài hạn. Con người có thể giàu lên nhưng nghèo đi về chuẩn mực, về lòng tự trọng, về trách nhiệm công dân và về khát vọng cống hiến.

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị tập trung triển khai đồng bộ 05 nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Trước hết, phải xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Một đất nước muốn đi xa phải có "la bàn" về giá trị. Giá trị ấy phải kết tinh được truyền thống và khát vọng hiện đại, đủ mạnh để dẫn dắt hành vi xã hội, đủ rõ để phân biệt đúng- sai; tốt- xấu; thật-giả và đủ bền để chống lại sự lệch chuẩn, lai căng và sự thao túng trong môi trường số. Trong đó, cần nhấn mạnh những phẩm chất cốt lõi: yêu nước, thuần phong mỹ tục, kỷ cương, liêm chính, trách nhiệm, nhân ái, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Quan trọng hơn, hệ giá trị không thể chỉ "viết trong văn bản", mà phải được cụ thể hóa thành chương trình giáo dục, thành chuẩn mực công vụ, thành tiêu chí đánh giá văn minh cộng đồng và thành thước đo chất lượng phát triển.

Thứ hai, phải coi xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh là nhiệm vụ mang tính nền tảng. Môi trường văn hóa phải thực sự là tổng hòa những chuẩn mực ứng xử, thái độ tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự thật, tôn trọng nhân phẩm con người, tôn trọng lao động và sự cống hiến. Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, môi trường văn hóa mở rộng sang không gian mạng, nơi thông tin lan truyền nhanh, cảm xúc bị kích động dễ dàng và độc hại có thể "đầu độc", tạo mơ hồ trong nhận thức nếu thiếu sức đề kháng. Vì vậy, cần nâng cao năng lực "miễn dịch xã hội" trước tin giả, thông tin xấu độc và xây dựng văn hóa tranh luận văn minh, văn hóa ứng xử có trách nhiệm. Kiên quyết bài trừ bạo lực ngôn từ, xúc phạm nhân phẩm, gieo rắc hằn thù, chia rẽ và suy đồi.

Thứ ba, đặt trọng tâm vào giáo dục và phát triển con người, coi đây là trục xuyên suốt của chấn hưng văn hóa. Nhà trường không chỉ dạy chữ, mà phải dạy làm người, dạy trách nhiệm công dân, dạy kỷ luật và năng lực sống. Gia đình không chỉ là nơi nuôi dưỡng vật chất, mà là nơi hình thành nhân cách, nền nếp và lòng tự trọng. Cộng đồng không chỉ tạo ra không gian sinh hoạt, mà phải tạo ra môi trường tôn vinh điều tốt, khuyến khích lao động, khuyến khích học tập và khuyến khích cống hiến. Chấn hưng văn hóa phải bắt đầu từ những điều gần gũi nhất: tôn trọng pháp luật, tôn trọng người khác, trung thực, tử tế, trách nhiệm và tinh thần phụng sự cộng đồng, "mình vì mọi người". Mọi người đều phải có trách nhiệm với xã hội.

Thứ tư, phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia. Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng chiều sâu truyền thống, mà còn bởi năng lực sáng tạo và năng lực sản xuất những sản phẩm văn hóa chất lượng cao, có sức lan tỏa và có thị trường. Phải thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa. Đồng thời bảo vệ bản quyền, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao. Làm được điều đó, văn hóa sẽ không chỉ "giữ gìn bản sắc", mà còn "tạo ra giá trị mới", đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và hình ảnh quốc gia.

Thứ năm, xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị và coi đây là gốc của niềm tin xã hội. Văn hóa trong Đảng, trong bộ máy công quyền phải là văn hóa gương mẫu, nói đi đôi với làm, trọng danh dự, trọng kỷ luật và tận tụy phục vụ nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một hạt nhân lan tỏa văn hóa liêm chính, chuẩn mực trong ứng xử, nghiêm túc trong thực thi nhiệm vụ, không né tránh, không đùn đẩy, không vô cảm. Không thể xây dựng văn hóa xã hội trong khi văn hóa công vụ còn hình thức, quan liêu, thiếu trách nhiệm. Càng không thể nói về kỷ cương xã hội khi kỷ luật thực thi ở một số nơi còn lỏng lẻo, hình thức. Niềm tin của nhân dân được tạo ra trước hết từ thái độ phục vụ, từ kỷ luật hành động và từ sự nêu gương của đội ngũ cán bộ.

Vì vậy, tôi đề nghị mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định rõ thực trạng văn hóa của mình để tập trung giải quyết. Tránh làm dàn trải, tránh hình thức, tránh "làm cho có, làm cho xong". Đặc biệt, phải coi nêu gương là phương thức lãnh đạo có sức thuyết phục cao nhất trong xây dựng văn hóa. Nêu gương không phải nói cho hay, mà là làm cho đúng. Nêu gương không phải vận động chung chung, mà là kỷ luật bản thân, kỷ luật tổ chức, kỷ luật thực thi. Ở đâu cán bộ gương mẫu, ở đó kỷ cương mạnh. Ở đâu kỷ cương mạnh, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Khi đó, mọi nhiệm vụ phát triển đều có nền tảng để bứt phá, vươn lên.

Kính thưa các đồng chí, thưa toàn thể nhân dân!

Hai Nghị quyết được quán triệt hôm nay không chỉ là hai nhóm nhiệm vụ song song, mà là một cấu trúc phát triển thống nhất, bổ trợ và nâng đỡ lẫn nhau, trong đó: Nghị quyết 79 tạo dựng nội lực vật chất để đất nước giữ vững ổn định, làm chủ các cân đối lớn và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. Nghị quyết 80 tạo dựng nội lực tinh thần để bồi đắp bản lĩnh, kỷ cương, niềm tin và sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Điều quan trọng nhất, như tôi đã nhấn mạnh, là tổ chức thực hiện. Quán triệt Nghị quyết là để hành động, hành động là để tạo chuyển biến, chuyển biến là để nhân dân cảm nhận được trong đời sống hằng ngày, trong thực tế. Vì vậy, tôi đề nghị ngay sau Hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể, phân công rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Kiên quyết chấn chỉnh tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm hình thức.

Tôi tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị cao, với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, với tinh thần đoàn kết, kỷ cương và khát vọng vươn lên, chúng ta sẽ đưa hai Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét, góp phần xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, độc lập, tự chủ và tự cường trong giai đoạn mới.

Một lần nữa, chúc toàn thể hội nghị , toàn thể các đồng chí, đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Xin trân trọng cảm ơn./.
QV-ST!