Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

 

CHẾ NGỰ GIỚI HẠN CỦA LÒNG THAM

Lòng tham tạm chia thành ba loại: Tham tiền tài. Tham sắc đẹp. Tham quyền uy. Con người ai cũng có lòng tham không nhiều thì ít. Bản chất của lòng tham đối với tiền bạc là sự ham muốn vô độ , không bao giờ đủ, được rồi lại muốn tiếp. Đã giàu rồi lại muốn giàu nữa, giàu nữa rồi lại muốn giàu hơn nữa. Nhưng rốt cuộc  ngọn lửa lòng tham ấy  thiêu rụi chính con người có lòng tham.

Tác hại của lòng tham thật khôn lường! Để móc túi người khác con người sẵn sàng gây ra chuyện độc ác tày trời làm tổn hại đến sinh mệnh người khác như: Làm Xăng giả, bán thuốc chữa ung thư giả bằng than tre, lấy pin đèn nhuộm cà phê…Trong các vụ đại án như Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng Pham Văn Anh V (Vũ Nhôm), Đinh Ngọc Hệ (Út Trọc), mới đây nhất Nguyễn Đức Chung Chủ tịch Thành phố Hà Nội…, để thỏa mãn ham muốn tiền bạc các tội phạm đã sử dụng đủ mưu hèn, kế bẩn, ăn cắp trắng trợn tiến bạc của công, làm nghèo đất nước, làm đảo lộn cả nền tảng đạo đức xã hội. Khi đồng bào cả nước gồng mình chống dịch như chống giặc, sỗng trong nỗi lo dịch COVID-19 bùng phát một số công chức, viên chức đã táng tận lương tâm lợi dụng cơ hội kiếm tiền làm giàu đầu cơ trục lợi thuốc men dụng cụ y tế, hàng hóa thiết yếu, điển hình như: Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai, làm dư luận rất bất bình.

Lòng tham là ham muốn bản năng của con người, nó hố lủa, con si mê mù lòa. Nó hoành hành khắp mọi nơi. Cả nhân loại khốn khổ vì nó! Chế ngự nó thật không dễ, nhưng không có nghĩa là bó tay, đầu hàng. Vì sao? Vì nó là sản phẩm của con người nên con người phải có khả năng, trách nhiệm chế ngự, bài trừ. Vậy, làm thế nào để con người vượt qua cái ngưỡng ham muốn bản năng để khỏi phải phạm tội. Trước hết, phải xây dựng được hệ thống pháp luật và thực thi thật nghiêm minh, Thứ hai, giáo dục đạo lý vẫn luôn là biện pháp căn bản để khống chế lòng tham. Con người phải được giáo dục để khai mở tâm trí. Con người trong tâm có ánh sáng lý trí, lẽ phải lương tâm thì biết đâu sẽ tồn tại một cái ngưỡng mà cái xấu, các ác không thể vượt qua. Vậy người cộng sản phải mạnh mẽ hơn vì họ còn có công cụ hỗ trợ của trách nhiệm nêu gương, niềm vinh dự thiêng liệng của lý tưởng. Thứ Ba là, tham thì thâm đó là bài học rút ra từ thực tiễn cuộc sống hàng ngàn năm của loài người. Vì, lòng tham thường đi liền với rủi ro, sa sẩy, hậu họa không thể biết trước…Sa vào tham lam là sự tự chuốc lấy cuộc sống ăn không ngon, ngủ không yên, thấp thỏm lo âu vì phải thường xuyên đối phó, trốn tránh, nói dối…Thứ tư, Triết lý cuộc số đã dạy rằng: Chỉ hưởng những gì lao động chân chính của mình làm ra biết đủ là đủ, thì cuộc sống sẽ yên bình, thanh thản. Vì, khi công việc đạt đến cảnh giới hoàn hảo, mỹ mãn thì lợi nhuận và cuộc sống an bình, hạn phúc tự đến khong cần phải mong cầu. Những triết lý, chân lý của đời sống này, nhất là những cán bộ, đảng viên được giáo dục, nhắc nhở chắc chắn sẽ hiểu được cụm từ (biết đủ là đủ) để sống học tập, công tác và cống hiến xứng đáng với niềm tin yêu của Nhân dân và cả trachs nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân./.

CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG NÚP BÓNG “NHÀ XUẤT BẢN TỰ DO”

 Vừa qua, Hiệp hội các nhà xuất bản quốc tế đã trao giải thưởng Prix  Voltaire năm 2020 cho “Nhà xuất bản tự do”, “ghi nhận sự can đảm trong việc giữ vững quyền tự do xuất bản, tự do thông tin”. Thế nhưng, thực chất, đây lại là một tổ chức dân sự trá hình, chuyên xuất bản, in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung tiêu cực, xuyên tạc, kích động bạo lực, chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Mỗi công dân Việt Nam nhất là thế hệ trẻ, cần chủ động nâng cao tinh thần cảnh giác khi tiếp cận thông tin bên ngoài không để bị lợi dụng, kích động. Nguồn: BBD

Được thành lập vào tháng 2 năm 2019, “Nhà xuất bản tự do” là nơi tụ tập một bộ phận chống đối, phản động và cơ hội chính trị. Chúng công khai “hoạt động độc lập, không chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam”. Nhà xuất bản này đã cho ra đời hàng nghìn ấn phẩm đen như “Chính trị bình dân,” “Cẩm nang nuôi tù,” “Phản kháng phi bạo động”… kể về những bất mãn cá nhân bằng thái độ tiêu cực; bôi nhọ, xuyên tạc thể chế chính trị, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”; hướng dẫn, phổ biến biện pháp, cách thức “đấu tranh” phi bạo động, “không gây thương vong”; kêu gọi, tập hợp lực lượng biểu tình trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước; bóp méo hoạt động của lực lượng Công an, Quân đội; hướng dẫn các đối tượng đối phó lại với cơ quan chức năng, cách lợi dụng, vận động quốc tế…

Sau khi in ấn, xuất bản “chui”, những cuốn sách trên được ngang nhiên quảng cáo, giới thiệu, rao bán trên website của nhà xuất bản, trên mạng xã hội và một số trang thương mại điện tử với giá không hề rẻ. Người mua đặt hàng và sẽ “giao tận nơi”. Bên cạnh đó, những đối tượng này đã phát tặng, gửi tặng hàng chục nghìn cuốn sách ở nước ngoài và tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Nguy hiểm hơn, chúng còn công khai đăng tải một số ấn phẩm dưới dạng sách điện tử (ebook) để người đọc tải về miễn phí.

Thế mới thấy sự tinh vi, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch trong việc lưu truyền, phát tán thông tin xấu độc. Mục đích của chúng là nhằm kích động tâm lí người đọc, người xem, gây hoang mang dư luận; làm phai nhạt niềm tin, chia rẽ mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; lôi kéo lực lượng tham gia biểu tình, gây rối an ninh, trật tự tạo ra điểm nóng, khủng hoảng chính trị, tiến tới kịch bản bạo loạn và lật đổ chế độ. Không những thế, sự lộng ngôn, “đánh lận bản chất” nói trên còn làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng vu cáo để tìm kiếm hậu thuẫn cũng như kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động móc nối, tạo dựng lực lượng chống đối nước ta.

Ấy vậy mà, khi bị các cơ quan chức năng Việt Nam xử lý thì tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), tổ chức Ân xá quốc tế (AI) và ngay chính “Nhà xuất bản tự do” lại liên tục rêu rao, la lối rằng “Việt Nam đàn áp nhà xuất bản tự do”, “chế độ đang truy sát nhà xuất bản tự do”, “vi phạm quyền công dân”, “yêu cầu cho phép nhà xuất bản này và những người có liên quan được thực hiện quyền tự do ngôn luận”…

Cần khẳng định ngay đây là những luận điệu vu cáo hết sức trơ tráo bởi lẽ thứ nhất, trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (năm 2013), Chương II về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” không có quy định về “quyền tự do xuất bản”.  Đó là do chúng bịa đặt nên.

Thứ hai, trong Luật Xuất bản 2012, tại Điều 12 xác định, đối tượng thành lập nhà xuất bản là “Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương và cấp tỉnh; Đơn vị sự nghiệp công lập ở trung ương, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp ở trung ương trực tiếp sáng tạo tác phẩm và tài liệu khoa học, học thuật”. “Việc thành lập nhà xuất bản phải bảo đảm những điều kiện: Có tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ; trụ sở, nguồn tài chính và các điều kiện cần thiết khác bảo đảm hoạt động của nhà xuất bản do Chính phủ quy định…” (Điều 13). “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước. Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động xuất bản…” (Điều 6). Như vậy “Nhà xuất bản tự do” không đủ điều kiện để thành lập và sự hoạt động của tổ chức này là trái phép.

Hơn nữa, tại Điều 10 Luật Xuất bản 2012 cũng quy định rõ: “Nghiêm cấm việc xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc;… kích động bạo lực, truyền bá tư tưởng phản động…; xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc…; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Nghiêm cấm: Xuất bản mà không đăng ký, không có quyết định xuất bản hoặc không có giấy phép xuất bản; In lậu, in giả, in nối bản trái phép xuất bản phẩm; phát hành xuất bản phẩm không có nguồn gốc hợp pháp hoặc chưa nộp lưu chiểu; xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, tiêu hủy hoặc nhập khẩu trái phép…”. Vì vậy, “Nhà xuất bản tự do” đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.

Gần đây, “Nhà xuất bản tự do” kêu gọi “áp đặt” cái gọi là “Luật Magnitsky” đối với Việt Nam. Chúng ra ấn phẩm “Hướng dẫn sử dụng một công cụ pháp lý đặc biệt được tạo ra và thực thi ở các quốc gia như Mỹ, Anh, Canada,…” để “trừng phạt những kẻ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam…”. Rõ ràng, Magnitsky không phải là luật pháp quốc tế. Hơn nữa, chúng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, vừa xuyên tạc tình hình “dân chủ”, “nhân quyền” lại vừa muốn “áp đặt chế tài” với Việt Nam thì thật trắng trợn. Về nguyên tắc quốc tế, không thể can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Hơn nữa, Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; luôn tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền con người, quyền công dân nên không có lí do gì để can thiệp, áp đặt vào nước ta.

HÃY HỔ THẸN VÀ BIẾT SỬA MÌNH

Một số người làm sai như trên thật sự là những "con sâu làm rầu nồi canh". Nhìn tổng thể thì nhiều năm vừa qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng nghìn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý, như: Sư thầy Thích Thanh Sơn (chùa Vạn Thọ, TP Hồ Chí Minh) đã khám, chữa bệnh miễn phí cho hàng nghìn người nghèo; sư thầy Thích Thiện Chiếu (chùa Kỳ Quang II, TP Hồ Chí Minh) nuôi dạy hàng trăm trẻ em mồ côi, chất độc da cam, cấp thuốc miễn phí cho hàng nghìn lượt bệnh nhân nghèo; ông Đoàn Văn Hổ (Trưởng ban Trị sự Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh Biên, An Giang) quyên góp hàng tỷ đồng xây cầu, xóa đói, giảm nghèo; xây nhà cho người nghèo; bà Nguyễn Thị Lan (75 tuổi, giáo dân ở Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) đã quyên góp xây dựng hàng chục căn nhà tình nghĩa; trao hàng nghìn suất học bổng tặng các học sinh nghèo...

Các vị chức sắc, tín đồ làm điều sai trái cần cảm thấy hổ thẹn với những tấm gương chức sắc, tín đồ chân chính đang ngày đêm nỗ lực thực hành giáo lý, giáo luật, đóng góp công sức, tiền của nhằm xây dựng xã hội ngày càng tươi đẹp, phồn vinh hơn.

Cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân nhưng cũng nghiêm cấm việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để lừa đảo, mua chuộc, dụ dỗ, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng đến TTATXH. Thực hành tôn giáo đúng nghĩa luôn được xây dựng trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người khác, của xã hội. Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Vì vậy, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam. 

Biến mình thành một lực lượng chính trị là sai giáo luật Công giáo

 Nhắc đến giáo xứ Thái Hà (Hà Nội), người ta nghĩ ngay đến linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong. Năm 2016, thay vì rao giảng đạo đức, răn dạy những điều hay lẽ phải, khuyên bảo giáo dân “sống phúc âm trong lòng dân tộc” thì vị linh mục này lại lợi dụng các bài giảng thánh lễ để rao giảng những lời lẽ xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, kích động giáo dân chống đối Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Chính vị này đã nhiều lần kích động đòi chính quyền địa phương trả các khu đất cho cơ sở tôn giáo mà không có căn cứ pháp lý.

Cần khẳng định rằng, bản chất của tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Jesus hay Đức Chúa Trời... không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.

Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Tuy nhiên, số chức sắc, tín đồ vì lợi ích cá nhân hay số linh mục, giáo dân cực đoan, quá khích, vì động cơ chính trị không trong sáng mà có hành vi làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của họ, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam, chống lại chính dân tộc mình, chống lại chính người thân của họ.

Đừng lợi dụng tôn giáo làm điều trái đời, ngược đạo

 Vụ việc xảy ra tại chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh) mà báo chí phản ánh về việc tổ chức "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" thu hàng trăm tỷ đồng, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã kết luận: Việc tổ chức lễ "giải oan gia trái chủ", “chữa bệnh nhờ thỉnh vong”, "trả nợ cho vong" bằng tiền hoặc lao động không công tại chùa là không đúng với nghi lễ Phật giáo truyền thống, làm tổn thương đến thanh danh Giáo hội, đến Tăng đoàn.

Nói đến một số vụ việc phức tạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xảy ra ở các tỉnh miền Trung thời gian vừa qua, dư luận nhắc nhiều đến vị giám mục Nguyễn Thái Hợp, nguyên giám mục giáo phận Vinh (hiện nay là giám mục giáo phận Hà Tĩnh). Vị này được giao cai quản giáo phận Vinh từ năm 2010 đến 2018. Sau 8 năm thực thi nhiệm vụ, giáo phận Vinh do vị này quản lý từ vùng đất bình yên trở thành “điểm nóng” về an ninh trật tự, thường xuyên xảy ra các vụ vi phạm pháp luật. Giám mục này nhiều lần chẳng những không ngăn cản mà còn để một số chức sắc, giáo dân nơi đây trở thành những người “vô luật”, chống đối chính quyền. Các vị linh mục dưới quyền quản lý như Đặng Hữu Nam (Quản xứ Phú Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An), Lê Công Lượng (Quản xứ Xuân Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An)… đã kích động, lôi kéo một bộ phận tín đồ, chức sắc, nhân dân tham gia biểu tình gây rối, đập phá tài sản, cản trở giao thông, bắt giữ người trái pháp luật, tấn công người thi hành công vụ; thậm chí có linh mục còn nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Mới đây nhất, nhân vụ việc 39 người Việt tử vong trong container ở Vương quốc Anh, trên trang facebook cá nhân, linh mục Đặng Hữu Nam đã có nhiều bài viết, bài nói và việc làm xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng. Vị linh mục này đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước gây ra nghèo đói, khiến người dân phải bỏ đất nước ra đi kiếm sống… Vị này còn phát lên trang cá nhân những clip truyền giảng trong giáo đường với ngôn từ tục tĩu, kích động, thậm chí xuyên tạc cả tôn giáo khác. Những lời nói lộng ngôn, coi thường đạo lý và những hành động ngông cuồng của số chức sắc nêu trên không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn vi phạm nghiêm trọng giáo lý, giáo luật của Công giáo.

NHỮNG VIỆC LÀM TRÁI ĐỜI, NGƯỢC ĐẠO

 

Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Điều 3), đồng thời khẳng định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm: “Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân” và “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi” (Điều 5). Tuy nhiên, thời gian qua, bất chấp pháp luật, đã có một số chức sắc, tín đồ lợi dụng chính tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm đạo đức, vi phạm giáo lý, giáo luật và đi ngược với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

ĐỪNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO LÀM ĐIỀU TRÁI ĐỜI, NGƯỢC ĐẠO

 Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những chức sắc, tín đồ chân chính tu hành đúng giáo lý, giáo luật; còn có một số người lợi dụng tôn giáo để thực hiện những hành vi đi ngược với giáo lý của tôn giáo và đạo lý của dân tộc Việt Nam, trái với quy định của pháp luật. Hành vi của số người này đã làm mất thanh danh của tôn giáo, gây bức xúc trong xã hội.

Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay

 

Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam

Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, phát triển đã trải qua hơn 172 năm với bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn mang trong lòng nó những giá trị bền vững. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.

Mặc dù chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhưng không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội sụp đổ. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Đây là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về chủ nghĩa xã hội, cùng với sự điên cuồng chống phá của các thế lực thù địch. Hơn nữa, sự tồn tại, đổi mới, mở cửa, phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Cu Ba, Lào, Việt Nam, v.v.. cũng chứng tỏ chủ nghĩa xã hội với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội vẫn là một giá trị bền vững.

Chủ nghĩa Mác - Lênin với vai trò là Học thuyết của sự phát triển; Chủ nghĩa nhân đạo triệt để; Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư, hình thái kinh tế - xã hội, chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ; vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức; là học thuyết khoa học trang bị cho ta phương pháp luận nhận thức đúng đắn xu thế của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản trong lựa chọn con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội; trang bị cho những người cộng sản Việt Nam phương pháp luận khoa học để thực hiện đổi mới thành công.

Nhờ vận dụng đúng đắn thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ cải tổ của Liên Xô, quán triệt tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với tám đặc trưng bản chất; tám phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội và chín mối quan hệ lớn cần giải quyết. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vứng trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết tốt nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh như xóa thế bao vây cấm vận, mở rộng đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân có điều kiện; chú trọng xây dựng đảng về đạo đức; phát triển kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa… Nhờ vậy, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu này có nhiều nguyên nhân, trong có có nguyên nhân Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên quyết trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn nảy sinh.

Như vậy, có thể khẳng định, thực tiễn có nhiều đổi thay, khoa học, công nghệ có nhiều đột phá, phong trào cách mạng có nhiều biến động nhưng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Có thể có những luận điểm riêng biệt nào đó do thực tiễn đổi thay phải được bổ sung, phát triển nhưng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng bền vững. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đang đặt ra; xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội./.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang.

Kiên trì, giữ vững sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, kết hợp với nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang, lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đấu tranh chống thủ đoạn “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với quân đội. Củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng uỷ Quân sự Trung ương.

Xây dựng các tổ chức trong lực lượng vũ trang trong sạch vững mạnh đủ sức lãnh đạo đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của quân đội. Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp uỷ đảng gắn với kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chủ chốt. Coi trọng củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Kết hợp chặt chẽ xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên vững mạnh, có chất lượng cao, số lượng phù hợp, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Giữ vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giữ nghiêm kỷ luật Đảng.

Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện ché độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính uỷ, chính trị viên trong quân đội. Chế độ một người chỉ huy và chế độ chính uỷ, chính trị viên đều là bộ phận trong cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Người chỉ huy và người chính uỷ, chính trị viên hoạt động dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng uỷ cùng cấp. Người chính uỷ, chính trị viên là người chủ trì về chính trị, chủ trì công tác đảng, công tác chính trị trong đơn vị. Quan hệ giữa người chỉ huy và người chính uỷ, chính trị viên là quan hệ hợp đồng công tác.

Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang. Kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững sự lãnh đạo của Đảng với tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang. Không đối lập sự lãnh đạo của Đảng với sự quản lý của Nhà nước. Khắc phục quan niệm sai lầm đòi tăng cường sự quản lý của Nhà nước bằng cách buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.VNĐ


Nâng cao giác ngộ, lập trường, bản lĩnh chính trị của lực lượng vũ trang trong giai đoạn hiện nay

             Nâng cao giác ngộ, lập trường, bản lĩnh chính trị là vấn đề rất cơ bản, làm cơ sở tạo ra sức mạnh của lực lượng vũ trang. Chỉ có giác ngộ chính trị cao, lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng thì lực lượng vũ trang mới kiên định với mục tiêu lý tưởng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Giác ngộ chính trị, lập trường, bản lĩnh chính trị là yếu tố cơ bản tạo thành sức mạnh chính trị, tư tưởng, tinh thần, làm cơ sở tạo thành sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang. Lập trường, bản lĩnh chính trị còn là cơ sở để cán bộ, chiến sĩ phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ. Giác ngộ chính trị, lập trường, bản lĩnh chính trị là điều kiện cơ bản để cán bộ, chiến sĩ nhận thức, xem xét và giải quyết đúng đắn các sự kiện, hiện tượng trong đời sống xã hội; nhận thức đúng kẻ thù, không mơ hồ ảo tưởng, lẫn lộn bạn – thù, địch – ta; có thái độ kiên quyết, đấu tranh bảo vệ cái đúng, phê phán cái xấu, cái sai.

Lập trường, bản lĩnh chính trị của lực lượng vũ trang còn là một trong những điều kiện cơ bản để giữ vững ổn định chính trị, làm cho lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân

Nội dung nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường, bản lĩnh chính trị của lực lượng vũ trang bao gồm:  Nâng cao nhân thức, giác ngộ cho cán bô, chiến sĩ về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; kiên định, không giao động, hoài nghi về mục tiêu lý tưởng, con đường đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; xây dựng ý chí, động cơ, quyết tâm thực hiện mục tiêu lý tưởng; đấu tranh với những quan điểm sai trái, hiện tượng hòai nghi, dao động về mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Nghiên cứu, học tập, vận dụng đúng đắn, sáng tạo, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của lực lượng vũ trang. Thường xuyên tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho hệ tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo chi phối, định hướng nhận thức và hành động của lực lượng vũ trang. Thường xuyên làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ chí minh, bổ sung, hoàn thiện đường lối. đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, các trào lưu tư tưởng tư sản, phản động, những quan điểm, hiện tượng sai trái, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thường xuyên quán triệt, phổ biến tình hình, nhiệm vụ cách mạng nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, của từng đơn vị. Làm cho cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang luôn thấu triệt nhiệm vụ, nắm vững tình hình mọi mặt, có động cơ, trách nhiệm, quyết tâm thực hiện mọi nhiệm vụ được giao. Giáo dục âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ.

Thường xuyên giáo dục truyền thống, lịch sử vẻ vang của dân tộc, của Đảng, của quân đội, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu Đảng, yêu chế độ, yêu nhân dân. Xây dựng tình cảm, trách nhiệm giữ gìn và phát huy truyền thống hào hùng của Đảng, dân tộc và quân đội.

Bồi dưỡng, xây dựng, hình thành ở cán bộ, chiến sĩ thế giới quan khoa học và cách mạng, có quan điểm và phương pháp xem xét, giải quyết các sự kiện, hiện tượng một cách đúng đắn, có lập trương, bản lĩnh chính trị vững vàng, có thái độ kiên quyết đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái mới, cái tiến bộ, phê phán cái xấu, cái sai, cái tiêu cực, lạc hậu

Đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những hiện tượng thoái hoá, biến chất về chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu kiên định, thiếu nhạy cảm về chính trị, “dĩ hoà vĩ quý” “ gió chiều nào che chiều ấy”, cơ hội, thủ đoạn về chính trị, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranN...TB.

 


Vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh phong chống “Diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ; là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngăn chặn và làm thất bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô và cường độ khác nhau, làm tròn chức năng đội quân chiến đấu cả vũ trang và phi vũ trang trong giai đoạn mới

Luôn luôn là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trên lĩnh vực chính trị, giữa vững ổn định chính trị của đất nước, tạo môi trường chính trị thuận lợi để phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, làm tròn chức năng đôi quân công tác trong giai đoạn mới.

Tích cực tham gia, xây dựng kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn là lực lượng quan trọng góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm tròn chức năng lực lượng vũ trang lao động sản xuất trong giai đoạn mới.TB.


NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, là chân lý, có giá trị vượt thời đại, có sức sống mãnh liệt. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống tư tưởng ở tầm đỉnh cao lý luận, vì đã không chỉ dừng lại ở việc mô tả hiện tượng của chủ nghĩa tư bản mà còn phát hiện ra những quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản nói riêng và sự phát triển xã hội loài người nói chung. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; là ngọn cờ tư tưởng và kim chỉ nam dẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán chủ trương kiên định, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản. Một là, dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận, lấy thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân làm chỗ dựa vững chắc cho tư tưởng. Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là thực tiễn như Mác đã từng nói “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”(2). Không một lý thuyết nào có thể đứng vững nếu lý thuyết đó không giúp làm thay đổi thực tiễn theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Cũng như vậy, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, trong điều kiện mới của đất nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ngày càng được khẳng định bằng chính thực tiễn sinh động của Việt Nam. Hai là, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, giáo dục và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một thứ tín ngưỡng hay giáo điều cứng nhắc, mà là một học thuyết mang tính mở, sáng tạo, gắn liền với sự phát triển của thực tiễn, hay nói cách khác, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học. Muốn bảo vệ một cách đúng nghĩa nhất phải thực sự sử dụng vũ khí tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải phát huy sức mạnh thế giới quan và phương pháp luận của nền tảng tư tưởng trong hoạt động thực tiễn, nghĩa là phải có ích cho việc phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề của thực tiễn Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được nuôi dưỡng, bổ sung và phát triển bằng thực tiễn cuộc sống. Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là để vận dụng vào chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, thực tiễn hằng ngày chính là nguồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do đó, tách rời thực tiễn đất nước khỏi nền tảng tư tưởng vừa khiến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở nên giáo điều, vừa làm chậm quá trình phát triển bền vững của đất nước. Ba là, phê phán nền tảng tư tưởng của thế lực thù địch và phản động. Nhiều nhà tư tưởng phương Tây, từ các góc độ của mình đã tập trung phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều khía cạnh khác nhau. Bên cạnh việc thảo luận học thuật, chống lại các luận điệu sai trái, thù địch, việc chống lại các nền tảng tư tưởng của các luận điệu sai trái đó, đấu tranh với các hệ tư tưởng thấm đẫm trong các trào lưu chính trị cũng là một việc làm hết sức quan trọng. Để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần quan tâm và đấu tranh với các hình thức cực đoan của các loại chủ nghĩa khác, như chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân tộc dân túy, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa đế quốc,... Cụ thể, chủ nghĩa tự do mới phản đối sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, cực đoan hóa vai trò của thị trường tự do, quá thiên về chủ nghĩa cá nhân; chủ nghĩa dân tộc dân túy cực đoan hoá chủ nghĩa dân tộc, đe dọa đến hòa bình và thịnh vượng chung…Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vốn được đúc kết từ tinh hoa trí tuệ dân tộc và nhân loại, vì vậy phải được sử dụng để đối thoại với các trào lưu tư tưởng tiến bộ hiện nay, để hấp thụ, chuyển hóa và sử dụng những giá trị hợp lý phục vụ cho dân tộc và cộng đồng. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không tách rời kho tàng trí tuệ nhân loại, không quay lưng với thế giới, không “một mình một kiểu”. Chủ nghĩa Mác - Lênin không xa lạ với những giá trị của thế giới phương Tây đương đại, như tôn trọng nhân phẩm, tôn trọng tự do, bình đẳng, dân chủ, bác ái, bao dung,... vì những giá trị này cũng chính là những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng ta không nên chỉ tập trung vào những điểm khác biệt của chủ nghĩa Mác - Lênin so với các học thuyết khác mà còn phải nhìn thấy những điểm tương đồng, dù cho cách tiếp cận có thể khác nhau. Có như vậy, chúng ta mới có thể xuất phát từ cao độ của chủ nghĩa Mác - Lênin để lý giải các học thuyết khác, phê phán và tiếp thu các học thuyết ấy nhằm làm phong phú thêm cho hệ tư tưởng mácxít và giải quyết tốt hơn những vấn đề do thực tiễn đặt ra./.

 BẢN ÁN NGHIÊM KHẮC NHƯNG ĐẦY TÍNH NHÂN VĂN

Chiều 14/9, sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, HĐXX sơ thẩm TAND TP Hà Nội tuyên bố các bị cáo: Lê Đình Công, Bùi Viết Hiểu, Nguyễn Văn Tuyển, Lê Đình Doanh, Lê Đình Chức, Nguyễn Quốc Tiến phạm tội “Giết người”; 23 bị cáo còn lại phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
HĐXX trong vụ án Đồng Tâm cáo buộc nhóm cầm đầu phải bồi thường 116 triệu đồng cho mỗi gia đình nạn nhân và chu cấp chi phí nuôi dưỡng cho các con nạn nhân đến khi 18 tuổi.
Qua vụ án trên chúng ta thấy các bị cáo đều đã ăn năn hối lỗi, nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Toà đã chuyển tội danh từ giết người sang chống người thi hành công vụ đã thể hiện tính khoan hồng, nhân văn của pháp luật
Với những hành vi phạm tội nghiêm trọng đã thực hiện, các bị cáo trong vụ án Đồng Tâm đã phải đối mặt với những hình phạt tương xứng. Không một ai, không một lý do nào có thể bao biện cho hành vi phạm tội của các đối tượng. st

 

CÓ PHẢI ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG MỚI CÓ DÂN CHỦ?


 

Hiện nay, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị vin vào những hiện tượng tham nhũng, quan liêu, vi phạm pháp luật…của một số cán bộ xảy ra trong thời gian vừa qua, để quy kết rằng cội nguồn của những hiện tượng trên là do Việt Nam thực hiện chế độ “độc tài” và “toàn trị”, và vì thế “mất dân chủ”.

Họ cho rằng “cần phải thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ”. Điển hình là bài viết “Triết lý do thái và Việt Nam” của ThuanVanBui trên trang của tổ chức Vịt tần. Xin khẳng định quan niệm này hoàn toàn sai lầm!

Trước hết, đối với chủ nghĩa xã hội, dân chủ thuộc bản chất. Chủ nghĩa xã hội không thể tách rời dân chủ, không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là đỉnh cao trong sự phát triển của nhân loại, nên cũng là đỉnh cao của dân chủ. Chỉ có giai cấp vô sản và Đảng tiên phong của mình với cơ sở xã hội rộng lớn là quảng đại quần chúng nhân dân lao động mới đảm bảo dân chủ và lợi ích của quần chúng nhân dân.

Hai là, chế độ đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ. Cái gốc để đảm bảo dân chủ hay không dân chủ là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai. Dưới chủ nghĩa xã hội tư liệu sản xuất nằm trong tay nhân dân lao động và họ là người làm chủ xã hội.

Chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản chỉ là sự phân chia quyền lực của các nhà tư bản độc quyền. Thực chất, chế độ đa đảng ở phương Tây cũng dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, phục vụ giai cấp tư sản, các đảng thay nhau nắm quyền lãnh đạo đất nước.

Ba là, chỉ có Đảng cộng sản mới có thể lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nếu thực hiện đa nguyên thì các đảng khác chỉ có tìm cách thủ tiêu Đảng cộng sản, thủ tiêu chủ nghĩa xã hội, đi ngược với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người, như vậy chính là mất dân chủ.

Mặt khác, Đảng cộng sản Việt Nam không hề áp đặt vai trò độc quyền lãnh đạo của mình, để được nhân dân thừa nhận, Đảng đã trải qua quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, đầy thử thách, hy sinh.

Hiện nay Đảng ta không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng để xứng đáng với sứ mệnh lãnh đạo đất nước. Có điều, quá trình xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới không tránh khỏi việc phải thải loại một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, và đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch “mượn gió bẻ măng” chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Vì vậy, không thể phủ nhận tính dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng ở Việt Nam.

 

Một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm

 

Là một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm nhưng “bất bạo động” lại thường được ngụy trang dưới danh nghĩa phản kháng “ôn hòa”, “dân sự”. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất của phương thức “bất bạo động” không chỉ góp phần thống nhất nhận thức mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước không gian hậu Xô viết như: Gruzia (2003), Ucraina (2004), Kưrgưstan (2005)...; “Cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; “Cách mạng ô dù” ở Hồng Kông năm 2014; các cuộc biểu tình phản đối Dự luật Dẫn độ ở Hồng Kông, Trung Quốc năm 2019… cho thấy vai trò đặc biệt to lớn của “bất bạo động”.

Được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài, các lực lượng đối lập, phần tử chống đối chính phủ tại các quốc gia này triệt để lợi dụng sự khủng hoảng, tình trạng mất ổn định chính trị, xã hội trong nước, thông qua hô hào sử dụng “bất bạo động” đã kích động, lôi kéo được hàng vạn người dân xuống đường biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính phủ cầm quyền tại các nước này. 

“Bất bạo động” được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trên thế giới, Mahatma Gandhi được xem là người đầu tiên áp dụng phương thức đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh. Đấu tranh “bất bạo động” cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ đòi quyền bình đẳng, chống lại nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, được lãnh đạo bởi mục sư Martin Luther King.

Ở nước ta, thuật ngữ “bất bạo động” được xuất hiện vào khoảng thập niên đầu của thế kỷ XX. Những tư tưởng ban đầu của phương pháp đấu tranh “bất bạo động” đã được nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh tiến hành để đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược với phong trào Duy Tân. Phương thức hoạt động của phong trào là “bất bạo động”, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lĩnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghiệp, bỏ mê tín dị đoan… Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”.

Tư tưởng ban đầu là như vậy, tuy nhiên gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước không gian hậu Xô viết, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Vậy, “bất bạo động” là gì? Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng vũ khí, súng đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Có thể nhận diện phương thức “bất bạo động” với những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, “bất bạo động” là phương thức hoạt động không sử dụng vũ khí, súng, đạn mà sử dụng áp lực của quần chúng, từng bước làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia. Khác với phương thức bạo lực, vũ trang, “bất bạo động” là phương thức hoạt động chống đối không sử dụng vũ trang mà chủ yếu tập trung vào việc sử dụng sức mạnh của quần chúng để chống đối chính quyền, trên cơ sở hô hào, kích động quần chúng tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền; kích động công nhân đình công, bãi công; lôi kéo, lừa bịp, kích động các giai tầng xã hội xuống đường tuần hành, biểu tình, gây áp lực với Đảng, Nhà nước, đòi thực hiện các yêu sách như: đòi Đảng cầm quyền từ bỏ vai trò lãnh đạo; đòi cải cách chính trị; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang… từ đó làm suy yếu, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền, chính quyền đương nhiệm, lập nên chính quyền mới thân với các thế lực thù địch nước ngoài.

Hai là, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền, đưa chính quyền vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” là những nội dung cơ bản của phương thức “bất bạo động”. Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” diễn ra tại một số nước trên thế giới thời gian qua cho thấy, những nội dung chính được các lực lượng đối lập, chống đối sử dụng trong đấu tranh “bất bạo động” là: 1) Bất tuân dân sự: Tức là người tham gia phương thức này có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của luật pháp (tẩy chay bầu cử, biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa…). 2) Hành động một cách có chủ đích: Tức là người tham gia có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện (tập hợp lực lượng, rải truyền đơn, kích động quần chúng xuống đường, chiếm trụ sở, bắt giữ cán bộ; tạo sự kiện, lấy cớ cho các tổ chức quốc tế, các nước phương Tây can thiệp...). 3) Thuyết phục và thương lượng: Đưa ra các điều kiện phù hợp với tình hình, từ thấp đến cao, đẩy chính quyền vào thế buộc phải dùng vũ lực, gây đổ máu, tạo cớ bên ngoài can thiệp buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Nói cách khác, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền được thực hiện trong phương thức “bất bạo động” chủ yếu là tẩy chay, bất hợp tác về kinh tế (không tuân theo các quy định, luật lệ, pháp luật của nhà nước về kinh tế, công nhân đình công, doanh nghiệp dừng sản xuất, bãi thị đồng loạt, rút tiền khỏi ngân hàng, từ chối trả các lệ phí, từ chối nhận tiền của nhà nước…); bất hợp tác về chính trị (công khai từ chối ủng hộ nhà nước; viết và phát biểu kêu gọi chống đối; tẩy chay bầu cử; ngồi ăn vạ; bất hợp tác về tư pháp, phản ứng; cản trở các hệ thống thông tin và tin tức…); bất hợp tác xã hội (tẩy chay giao tiếp; sinh viên biểu tình, bất phục tùng dân sự, rút lui khỏi các định chế xã hội; ở nhà, tạo khu an toàn, tiêu thổ tập thể...)…

Ba là, đình công, biểu tình, tuần hành chống đối chính quyền là hình thức chủ yếu, đặc trưng chính của “bất bạo động”. Mục tiêu chính của các thế lực thù địch, phản động trong thực hiện phương thức “bất bạo động” là bằng những “chiến thuật” hòa bình trong đấu tranh chính trị để lật đổ chính quyền. Do đó, đình công, biểu tình, tuần hành là hình thức được chúng xác định mang lại hiệu quả cao nhất, ít thiệt hại nhất. Đồng thời, sử dụng các hình thức này, trong trường hợp chính quyền sử dụng vũ lực để đàn áp thì đó sẽ là điều kiện thuận lợi, là “cái cớ” để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng can thiệp, gây sức ép, thậm chí sử dụng sức mạnh quân sự để tấn công.

Bốn là, “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động” khi có điều kiện, thời cơ. Về hình thức, “bất bạo động” được thể hiện thông qua các biện pháp “ôn hòa”, “dân sự”. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, không phải bất cứ lúc nào, trong trường hợp nào “bất bạo động” cũng đều là ôn hòa, phi bạo lực. Khi “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động”. Nói cách khác, ranh giới giữa “bất bạo động” và “bạo động” là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng.

Ở Việt Nam, thời gian gần đây được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan trong nước đang ra sức hô hào, tuyên truyền rộng rãi về phương thức “bất bạo động” trên các trang mạng xã hội; mở các lớp huấn luyện, đào tạo về “bất bạo động” cho số đối tượng chống đối, phản động; triệt để lợi dụng các vụ việc, sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm để lôi kéo, kích động, thu hút quần chúng tham gia vào các hoạt động trái pháp luật…

Các cuộc biểu tình phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình năm 2016, 2017; các cuộc biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và dự thảo Luật Đặc khu tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… năm 2018… là những vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự mang bóng dáng của “bất bạo động”.

Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng.

Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhận diện bản chất của “bất bạo động” có ý nghĩa hết sức quan trọng…

Nguồn: ST

Cuộc cách mạng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế kỷ XX

 

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc Khánh 2/9 - là sự kiện mang tầm vóc thời đại, mở ra trang sử mới vô cùng rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đó là đưa đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.

Theo dòng lịch sử, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin. Ngày 09/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở Châu Âu. Ngày 08/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào phe Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng nước ta.

Ở trong nước, trải qua ba cao trào Cách mạng lớn, ba cuộc diễn tập cách mạng: Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931); Cao trào dân chủ (1936-1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945), đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 09/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng thực dân Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng chiến chống Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 04/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Tuyên Quang trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình cách mạng trong nước đã có sự phát triển mạnh mẽ, sôi sục và rộng khắp và bối cảnh quốc tế đang có những diễn biến thuận lợi đã đi đến khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời. Đến 23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân tổng khởi nghĩa. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và ở Bắc Kạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mau lẹ do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, tài tình của Đảng; là sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, chiến thuật cách mạng phù hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Nguyên nhân thứ hai rất quan trọng là do tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, không chịu sống mãi kiếp nô lệ của người dân mất nước; một lòng đi theo Đảng và được Đảng lãnh đạo qua các cuộc tổng diễn tập, đã quyết vùng lên giành độc lập cho dân tộc. Cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945 là thành tựu tuyệt vời của tinh thần, ý chí, trí tuệ con người Việt Nam. Tinh thần, trí tuệ ấy xuất hiện từ buổi đầu lịch sử dân tộc, đã được nâng lên một tầm cao mới sau 15 năm đấu tranh quật cường dưới dự lãnh đạo của Đảng. Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công cũng do được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định khi mà chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.

Cách mạng Tháng Tám thành công có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng. Đó là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước Công Nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm nhân dân ta sống dưới ách kìm kẹp của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác - Lênin tại một nước thuộc địa ở Châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 để lại nhiều bài học quý báu, nổi bật là:

Một là, có một đảng tiên phong thật sự cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, được tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng đã nắm vững hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, có phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp; biết nắm bắt thời cơ, xây dựng lực lượng và tổ chức, sử dụng lực lượng; phát huy được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để dẫn dắt quần chúng đứng lên giành thắng lợi.

Hai là, vấn đề giành và giữ chính quyền của cuộc cách mạng. Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, từ đó làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, tạo ra thời cơ cách mạng để đưa cuộc cách mạng đến thành công. Để giữ vững chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã dựa chắc vào nhân dân, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần để đấu tranh thắng lợi với thù trong giặc ngoài. Đảng ta biết kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng thích hợp và đúng lúc để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra nhà nước mới của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ba là, vấn đề nắm bắt được thời cơ ngàn năm có một, đề ra được những quyết định chính xác và kịp thời. Nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc thể hiện cụ thể trong Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3/1945 “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc phát đi đêm 13/8/1945. Chọn thời điểm 13/8 để phát động Tổng khởi nghĩa là vô cùng sáng suốt. Bởi vì vào thời điểm đó, Cách mạng đã lên tới cao trào, lực lượng cách mạng đã lôi kéo được cả những tầng lớp trung gian, lưng chừng lúc đó quân Nhật bại trận mất tinh thần cao độ, chỉ ngồi chờ quân Đồng minh đến tước vũ khí, ngụy quân tay sai tan rã và đã tỏ thái độ đầu hàng lực lượng cách mạng. Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một đã được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa muộn hơn, khi quân Đồng minh đã vào Đông Dương thì Cách mạng Việt Nam sẽ mất đi thế chủ động của mình và sẽ gặp khó khăn khác. Điều đó đúng như V.Lênin đã nhấn mạnh khi nói về thời cơ: Chiều nay quá sớm nhưng sáng mai quá muộn. Có thể đêm thì vừa! Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám được nhân lên gấp bội, đã tiến hành tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn.

Kỷ niệm 75 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trong đó cả hệ thống chính trị đang được phát huy sức mạnh với tinh thần: “Chống dịch như chống giặc” để chiến thắng đại dịch COVID-19. Hơn bao giờ hết, chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị và những bài học kinh nghiệm quý giá của Cách mạng Tháng Tám để vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

TS. Bùi Thế Đức

Phó Chủ tịch Hồi đồng lý luận, phê bình Văn học, Nghệ thuật TW; nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo TW

Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

Thu Hiền (st)