Thứ Ba, 22 tháng 9, 2020

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay

 

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay

 

Trong bối cảnh các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều luận điệu, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hòng thực hiện mưu đồ chống phá hệ tư tưởng của Đảng ta, làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ ta. Vì vậy, kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện mới là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăng-ghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới đã được V.I. Lê-nin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mang bản chất khoa học và cách mạng, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người.

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác đã tồn tại trên 172 năm và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định đó nói lên ý nghĩa to lớn, giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức thời đại, nhận thức tình hình thế giới và trong nước, là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, cho sự thống nhất và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Trong quá trình xây dựng, phát triển học thuyết khoa học của mình, C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin đã phải thường xuyên đấu tranh chống các quan điểm sai trái, như chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, giáo điều, xét lại. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen từng phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ, của Pru-đông, của Đuy-rinh, của Lát-xan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua đấu tranh phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với quan điểm giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện các kỳ đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh này. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng yêu cầu tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”...), Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết chỉ rõ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết trong xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao./.

 

Kịp thời đấu tranh với chiêu trò chống phá, xuyên tạc sự thật

 

Lịch sử hơn 75 năm xây dựng và trưởng thành của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã khẳng định chân lý: Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ “kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”. Điều này thể hiện rõ ở việc, tất cả vụ việc sai phạm từ nhỏ đến lớn đều được đưa ra xem xét, xử lý thấu đáo theo phân cấp. Trong quá khứ cũng như hiện tại, chúng ta từng xử lý nghiêm khắc những cán bộ, quân nhân có sai phạm.

Như vậy, tính kỷ luật không chỉ thể hiện trong thời chiến tranh mà cả thời bình hiện nay. Thế nhưng vừa qua, lợi dụng sự nghiêm minh của "kỷ luật thép", những cán bộ vi phạm được các phương tiện truyền thông công khai rộng rãi, các thế lực thù địch đã chủ ý cấu kết với các đối tượng cơ hội chính trị tung ra nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc sự thật, hòng làm sai lệch bản chất và truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam.

Vì lẽ đó, mỗi quân nhân, tập thể quân nhân cần nhận thức rõ rằng “Kỷ luật thép” là truyền thống cao quý, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam",  đồng thời có biện pháp tổ chức kịp thời đấu tranh với các quan điểm sai trái, chống phá Quân đội ta.

Cần nêu cao hơn nữa trách nhiệm cán bộ, chỉ huy các cấp, tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, lợi dụng các vụ việc sai phạm của cán bộ quân đội để xuyên tạc, gây xói mòn lòng tin trong nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, nhằm thực hiện “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy các cấp phải kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với cán bộ có sai phạm. Đồng thời, cán bộ các cấp phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm, tự mình soi xét, tu dưỡng. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường kiểm tra, kiểm soát tài sản công, không để xảy ra tham ô, tham nhũng, không để “con sâu làm rầu nồi canh”, qua đó giữ vững niềm tin, hình ảnh của Bộ đội Cụ Hồ.

Tạo “sân chơi”, chủ động kiểm soát tình hình

 

Có thể khẳng định rằng, không phải trước đây, hiện nay và những năm theo mỗi chúng ta cần phải tiếp tục khẳng định truyền thống tốt đẹp, bản chất tự giác nghiêm minh của kỷ luật quân đội và lật tẩy các chiêu trò, mưu đồ “mượn gió bẻ măng” của lực lượng thù địch, chống phá. Đó là: Cần phải tạo “sân chơi”, chủ động kiểm soát tình hình.

“Kỷ luật thép” là truyền thống cao quý, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam", góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các phần tử lợi dụng những trang mạng tung ra nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc sự thật, hòng làm sai lệch bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch hết sức thâm độc và xảo quyệt. Cứ mỗi lần chúng ta tổ chức đại hội đảng là các thế lực thù địch lại ra sức chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều chiêu trò thâm độc, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và tổ chức cán bộ. Điều nguy hiểm nhất là các phần tử lợi dụng sai phạm của một số sĩ quan, tướng lĩnh bị xử lý để bôi nhọ và hạ thấp vai trò của quân đội, gây mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với LLVT. Việc làm này, mới đầu, không ít người cho rằng họ chỉ tập trung nói về một vài cá nhân nào đó, nhưng thực chất là nói xấu, xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

Thế nên, để đấu tranh, ngăn ngừa những luận điệu này, chúng ta cần phải tỉnh táo, phân biệt rõ đúng-sai, từ đó tỏ rõ thái độ kiên quyết đấu tranh với những hành vi chống phá của các thế lực thù địch, không để các luồng thông tin xấu độc này thẩm thấu vào trong các cơ quan, đơn vị quân đội. Muốn vậy, trước hết, đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải có biện pháp quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng nhận thức rõ tính hai mặt của thông tin mạng, trên cơ sở đó nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; tuyệt đối nghiêm cấm các hành vi tán phát tài liệu xấu độc trong đơn vị. Trường hợp nào vi phạm thì phải xử lý nghiêm minh.

Hiển nhiên thực tế trong thời gian qua, nhờ phát huy tinh thần cảnh giác cách mạng, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, nên các cơ quan, đơn vị trong toàn quân nói chung và Học viện Quốc phòng nói riêng cơ bản chưa để xảy ra tình trạng thông tin xấu độc xâm nhập vào nội bộ đơn vị. Các cơ quan, đơn vị chủ động tạo “sân chơi” cho bộ đội; đội ngũ cán bộ các cấp thường xuyên duy trì chặt chẽ các chế độ trong ngày, trong tuần; kịp thời nắm bắt tình hình, định hướng tư tưởng, duy trì nghiêm kỷ luật trong mọi hoạt động...

Cái "đuôi cáo" của một số người núp bóng "thần linh pháp quyền"


Ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Chính phủ Lâm thời và quốc dân đồng bào đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đánh dấu một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cũng đã và đang ra sức lập thành tích chào mừng đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng-đại hội có ý nghĩa bản lề, đánh dấu 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới; đồng thời tiếp tục mở ra thời kỳ phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Ấy vậy, chính những ngày tháng Tám này, vẫn có người cố tình ngược dòng lịch sử, núp bóng dưới những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhằm xuyên tạc chính tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp của Người, nhằm chống phá Đại hội XIII của Đảng. Họ đã dở chiêu trò lừa gạt hết sức thâm hiểm là đưa ra câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”cùng những "bình luận" lăng nhăng, hòng lòe bịp người chưa hiểu biết nhiều về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chiến đấu, hy sinh, cống hiến trọn cuộc đời mình để dân tộc Việt Nam có được như ngày hôm nay.

Trong bản gọi là “Góp ý cho Dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng”với 24 trang in màu, tác giả đã xưng danh và tự nhận đã có một thời tham gia các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; từng là thành viên của một đại đội anh hùng... Mục đích cũng là để “khéo” gây lòng tin, thiện cảm về mình; từ đó dẫn dắt người đọc đến với sự xuyên tạc trắng trợn, bóp méo tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm “thần thánh hóa”, “tôn giáo hóa” Hồ Chí Minh. Cuối cùng, họ mong muốn không ai dám đụng vào những triết lý gọi là “Thần đạo Việt Nam” do chính họ tưởng tượng ra và mô tả trong bản "góp ý". Cũng từ đó họ suy ra và xuyên tạc Chủ nghĩa Mác, phủ nhận thành tựu của CNXH ở Liên Xô và chủ nghĩa duy vật biện chứng; phản ánh sai lạc, tiến tới phủ nhận thành quả và con đường đi lên CNXH mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Cuối cùng họ cũng lộ ra cái “kiến nghị” quay lại “chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa”; “Phục hưng đất nước và phục hưng giá trị con người trước hết là phục hưng Thần đạo Việt Nam”... Đây thực sự là sai lầm dẫn đến phản động về chính trị của cái gọi là bản “góp ý” này được thể hiện trên những vấn đề sau:

Với chủ nghĩa cộng sản. Họ đã quy kết chủ nghĩa cộng sản chỉ là “đấu tranh/ phân biệt”; và dám cả gan bịa ra rằng: “Đấu tranh giai cấp là một điều ngu ngốc”? Có thể thấy, trước hết ở đây là thể hiện sự kém hiểu biết về bản chất của chủ nghĩa cộng sản; sau là xuyên tạc tư tưởng và hành động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghiên cứu Hồ Chí Minh toàn tập (bộ 15 tập), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011, không có một dòng nào, chữ nào Chủ tịch Hồ Chí Minh viết và nói như họ dẫn dắt.

Cuộc đấu tranh giai cấp ấy được tiến hành bằng nhiều biện pháp: Đấu tranh vũ trang, đấu tranh hòa bình, hoặc kết hợp cả hai. Không thể lấy, hoặc tuyệt đối hóa một trong hai hình thức đó, nhất là như ở Liên Xô và Việt Nam để quy kết chủ nghĩa cộng sản chỉ là “đấu tranh/ phân biệt”, rồi phủ nhận toàn bộ học thuyết khoa học, cách mạng này.

Với tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ đã trích dẫn, phản ánh sai lệch hầu như toàn bộ tư tưởng và hành động cách mạng của Người. Trong 24 trang đó, họ đã “trích dẫn” rất nhiều “câu nói”, “bài viết” của Hồ Chí Minh, nhưng chỉ có một câu chép đúng là: “Trăm điều phải có Thần linh Pháp quyền”, còn lại đều cố tình trích dẫn sai lệch, hoặc bóp méo, nhằm đạt được dụng ý xấu trong cái gọi là “góp ý” của mình là “tôn giáo hóa” tư tưởng Hồ Chí Minh. Thời điểm ra đời câu nói này, họ đã phản ánh sai là “ngày 19-5-1941”; mà chính xác, Hồ Chí Minh khi đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, viết trong bài thơ Việt Nam yêu cầu ca, vào khoảng tháng 6 đến tháng 11-1921. Bài thơ do Người viết tay, nay còn được lưu tại Viện Hồ Chí Minh và Các lãnh tụ của Đảng.  

Về cái gọi là “Thần đạo Việt Nam”. Trong cái gọi là bản “góp ý” này, họ lúc nào cũng nêu lên “Thần đạo Việt Nam” và gắn kết nó trong một câu phức hợp với nhiều ý tứ, ngôn từ của Hồ Chí Minh, những mục tiêu, lý tưởng, giá trị tốt đẹp của dân tộc, chủ nghĩa cộng sản và nhân loại, cả ở quá khứ, hiện tại và “đường hướng” do họ vạch ra cho đất nước ở tương lai. Nhưng nội hàm “Thần đạo” đó là cái gì thì không rõ. Người đọc phải lần tìm từng chữ, nghĩa và những hình ảnh về di sản vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam mà họ “trưng diện” mới cố mà hiểu được, như tượng Quốc Mẫu Âu Cơ, Phù điêu Quốc Tổ Lạc Long Quân, Đền Hùng, Hoàng Thành Thăng Long, Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ... Phải chăng sự tập hợp những di sản vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam trên đây được đúc kết trở thành cái gọi là “Thần đạo Việt Nam” của họ?

Trong đời sống hiện thực của nhân dân, những giá trị đó không có gì khác hơn là truyền thống lịch sử hào hùng về dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và lịch sử dân tộc thời đại Hồ Chí Minh đã đúc kết. Đọc kỹ cái gọi là bản "góp ý" kiểu tóm tắt của họ mới thấy, cái gọi là “Thần đạo Việt Nam” do họ tạo dựng nên, thực chất chỉ là sự góp nhặt lộn xộn, đầy mâu thuẫn và đối lập với những giá trị trong đời sống hiện thực của đất nước và của dân tộc Việt Nam hiện nay, nhất là đối lập với nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn nhiều vấn đề sai lạc, lệch chuẩn và phản động về chính trị ở cái gọi là bản “góp ý” này. Như để lôi kéo được nhiều người, thủ đoạn của họ khá tinh vi, tựu trung ở một số thủ đoạn:

Trưng ra một câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi đó như tấm “bùa hộ mệnh” để không ai có thể phản biện hoặc phê phán họ;

Đưa ra những câu từ phức hợp, lươn lẹo, “nửa đúng, nửa sai” hòng tuyên truyền, đánh lạc hướng người đọc, từ đó phủ nhận cái đúng, dụ dỗ và chiếm đoạt niềm tin của những người kém hiểu biết;

Núp bóng danh hiệu của tập thể anh hùng, mượn danh cựu chiến binh để gây lòng tin với người đọc;

Núp bóng thư gửi lãnh đạo cấp cao của Đảng để hòng thu hút, lôi kéo mọi người chú ý;

Rỉ tai, phát tán tờ rơi, in ấn bừa bãi, không đúng quy định của pháp luật về xuất bản phẩm...

Có thể khẳng định rằng những tư tưởng và hành động sai trái trên đây của những người tự cho là “góp ý” vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, cho thấy họ không có động cơ đóng góp đúng đắn cho Đảng, Nhà nước, trái lại, đó là sự tuyên truyền những tư tưởng sai lạc, lệch chuẩn đến phản động về chính trị, thông qua những thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt. Tuy nhiên, với nhận thức chính trị đúng đắn và tinh thần yêu nước sắt son, nhân dân Việt Nam không dễ mắc mưu cái gọi là “thần linh, thần đạo" nhăng nhít của những người tâm địa đen tối.

 

Liệu có khuấy đảo luật pháp Việt Nam

 


Đến nay, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra vào rạng sáng 9-1-2020 tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Do tính chất phức tạp của vụ án nên ban đầu, tòa dự kiến tiến hành xét xử trong 10 ngày. Nhưng mới bước sang ngày thứ 4 thì toàn bộ các bị cáo đã nhận tội và xin được sự khoan hồng của pháp luật. Và nhiều đối tượng khi được tòa phân tích đã nhận ra tội lỗi của mình, mong muốn sửa chữa, chuộc lại lỗi lầm, bỏ con đường tối, tìm về đường sáng.

Song trong suốt thời gian diễn ra vụ việc cho đến khi vụ án xảy ra, một số cơ quan báo chí nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và một số trang mạng xã hội được điều hành bởi một số người cơ hội chính trị, mang danh “đấu tranh cho dân chủ” đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về tính chất vụ việc và vụ án. Họ cho rằng sự việc xảy ra rạng sáng 9-1-2020 là sự “đàn áp” của chính quyền đối với những người gọi là “nông dân” để rồi kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia điều tra, can thiệp, tác động... hòng chính trị hóa vụ án hình sự này nói riêng và các vụ án hình sự ở nước ta nói chung. Họ hy vọng với sự tham gia, can thiệp, tác động của một số tổ chức quốc tế tới chính quyền của một số nước thì có thể sẽ làm thay đổi hệ thống pháp luật và nền tư pháp, dẫn tới sự thay đổi về thể chế chính trị của Việt Nam. Cần phải khẳng định rằng, trong quá trình điều tra vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, các nghi can không hề bị “ép cung”, hay “mớm cung” như một số hãng tin, cơ quan báo chí nước ngoài và một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam đã rêu rao. Bởi trước khi phiên tòa chính thức diễn ra, trong buổi cung cấp thông tin cho báo chí, Đại tá Nguyễn Thanh Tùng, Phó giám đốc Công an TP Hà Nội đã nêu rõ: “Trong quá trình điều tra, khi thẩm vấn các nghi can, các điều tra viên đã làm đúng quy định của pháp luật. Các cuộc thẩm vấn đều được ghi âm, ghi hình, có sự tham gia trực tiếp của đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội (sau đây gọi là Viện Kiểm sát), luật sư bào chữa do các nghi can mời và luật sư do cơ quan chức năng chỉ định theo quy định của pháp luật...”. Thực tế khi ra tòa, cũng có một số bị cáo đã khai một số nội dung khác với bản luận tội của Viện Kiểm sát. Nhưng ngay buổi xét xử sau đó, chính họ đã tự đính chính lời khai của mình, thống nhất với bản luận tội của Viện Kiểm sát, bởi chính họ nhận ra việc khai khác đi là dối trá, không có cơ sở và hoàn toàn trái với thực tế, trái lương tâm.

Vậy thì tại sao một số cơ quan báo chí nước ngoài như RFA, RFI, BBC... và một số trang mạng vẫn cố tình xiên xẹo tính chất và bản chất vụ án? Đã từ nhiều năm nay, các cơ quan báo chí này thường xuyên đăng tải những bài viết sai sự thật về tình hình thực hiện quyền dân chủ và việc thực thi pháp luật ở Việt Nam. Họ thường đăng tải các bài viết có quan điểm trái chiều, rồi cuối bài viết bao giờ cũng kèm theo câu “bài viết thể hiện quan điểm cá nhân...”. Đọc lướt qua thì thấy, có vẻ đây là sự “dân chủ” kiểu như “chúng tôi đăng tải cả các bài viết tích cực và tiêu cực, cả bài viết đồng thuận và trái chiều”, để thể hiện sự “công bằng, minh bạch”.

Nhưng trong số các bài viết về tình hình thực thi dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mà các cơ quan báo chí này đăng tải thì hầu hết là các bài viết có tính chất tiêu cực, võ đoán, phản ánh sai (hoặc cố tình hướng lái, cố tình phản ánh sai) sự thật tại Việt Nam. Họ lấy một vài sự việc cá biệt để diễn giải, quy chụp nhằm ngụy tạo hệ thống, từ đó phủ nhận những thành quả mà Việt Nam đã và đang đạt được. Chẳng hạn trong lĩnh vực tư pháp và duy trì pháp luật ở Việt Nam, họ thường chỉ đăng tải bài viết của một số người được cho là đang “đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam”. Hầu hết bài viết của các tác giả này tập trung vào phân tích các vụ án có một vài sai sót trong quá trình điều tra, xét xử, rồi từ đó quy chụp, cho rằng hệ thống pháp luật của chúng ta “có vấn đề”, cho rằng nền tư pháp của chúng ta “chưa minh bạch”. Họ cố tình không hiểu rằng, trong số hàng chục nghìn vụ án do các cấp tòa xét xử mỗi năm, khó có thể “mười phân vẹn mười”. Nguyên nhân bắt nguồn cả từ sự khách quan và chủ quan. Về khách quan, có những vụ án thiếu nhân chứng cụ thể, hiện trường bị xáo trộn, phía bị hại hợp tác chưa đầy đủ... Về chủ quan, diễn biến vụ án nào cũng phức tạp, kẻ phạm pháp cơ bản là ngoan cố, quanh co, chối tội, vì vậy tạo ra lực cản cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Thế nên, đã có một số vụ án xét xử chưa đúng với diễn biến và tính chất vụ án, gây ra thiệt hại cho một số công dân như chúng ta đã thấy trong thực tế. Tuy nhiên các vụ án này đã được khắc phục, người bị oan đã được minh oan, các cá nhân gây nên sự việc đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Còn lại, hàng vạn vụ án đã được xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội, công minh, công bằng, góp phần tích cực vào việc trấn áp tội phạm, duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn và lợi ích chính đáng của nhân dân, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thượng tôn pháp luật, bảo đảm cho Việt Nam luôn là điểm đến an toàn, thân thiện. Đó là những thành tựu không thể phủ nhận của hệ thống pháp luật và nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Việc góp ý với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp trong thực thi dân chủ, nhân quyền là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân. Vấn đề này đã được xác định trong Hiến pháp năm 2013 (thể hiện cụ thể từ Điều 14 đến Điều 49 của Hiến pháp) và trong Quy chế dân chủ ở cơ sở, cùng nhiều bộ luật khác. Trong thực tế, các quyền chính đáng của nhân dân như: Tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội, quyền được biết, được bàn... đều có thể thực hiện theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, hầu hết người dân Việt Nam, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, tôn giáo... đều được tham gia trong các hội, hiệp hội, các tổ chức chính trị xã hội, tôn giáo... mà mình thấy phù hợp. Họ được phát biểu chính kiến và bảo lưu chính kiến thông qua người/tổ chức đại diện của mình và các cơ quan chức năng, để ý kiến của mình được chuyển tới nơi cần đến.

Còn đối với vụ án xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, ông Lê Đình Lưỡng, Bí thư Chi bộ thôn Hoành, khi trả lời các nhà báo cũng đã nói rõ: “Từ ngày những người gây rối bị cơ quan chức năng bắt giữ, thôn Hoành đã có cuộc sống yên bình trở lại. Không như trước đây, cuộc sống của bà con lúc nào cũng nơm nớp vì bị một số người trong “tổ đồng thuận” đe dọa...”. Như vậy, không thể nói “Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền” để đến nỗi một số người mang danh “hoạt động vì dân chủ” kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc hòng “cải cách nền tư pháp” của Việt Nam.

Việc hứa “chia đất” của đối tượng Lê Đình Kình cho những người trong “tổ đồng thuận” và một số người khác, một phần dựa vào những cam kết có tính hậu thuẫn của một số người được cho là có hiểu biết nhất định về pháp luật. Vì thế, khi vụ án xảy ra, sự thật đã rõ mười mươi, nhưng một số đối tượng thuộc loại “cố đấm ăn xôi” vẫn cứ cố tình tập hợp những cứ liệu rời rạc, rồi chắp ghép, ngụy tạo ra những bản tin lòng vòng để đánh lừa dư luận. Tất cả những cuộc “phỏng vấn” của BBC, RFA, RFI... đối với một số người về vụ việc và vụ án xảy ra ở thôn Hoành, đã được, đăng/phát trên các trang của họ, đều thiếu tính thuyết phục. Bởi những nhân vật phỏng vấn và trả lời phỏng vấn thậm chí còn không biết thôn Hoành ở đâu và chưa từng “thực mục sở thị” những gì đã diễn ra tại thôn Hoành cả trước, trong và sau sự việc diễn ra ngày 9-1-2020. Sự suy diễn và “đoán mò” của họ chỉ có thể lừa phỉnh trong chốc lát đối với những người thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu khả năng phân tích, nhận định về những tiến bộ, đổi mới đang diễn ra ở Việt Nam.

Từ những hành vi và mưu mô của một số người được cho là đang “đấu tranh cho dân chủ” ở Việt Nam, có thể thấy, họ chỉ là những kẻ lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật của số ít người dân để kích động họ vướng vào vòng lao lý. Chúng ta đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, trong đó điều cơ bản và đầu tiên là toàn quyền xử lý các vấn đề có tính nội bộ của mình, thông qua hệ thống pháp luật đã được toàn dân thừa nhận và phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Uy tín, vị thế của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và thế giới ngày càng được củng cố, nâng cao bằng các hoạt động có trách nhiệm đối với các tổ chức, công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Như vậy có thể thấy, Việt Nam xây nên và khẳng định vị thế, uy tín đối với thế giới bằng thực lực của chính mình. Do đó, mọi hành vi xuyên tạc của thế lực thù địch và cơ hội chính trị, hòng làm chuyển hóa hệ thống pháp luật, nền tư pháp và thể chế chính trị ở Việt Nam, đều là những hành động hão huyền, phi thực tế và không thể lừa phỉnh được ai.