Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

TÀ ĐẠO Ở ĐIỆN BIÊN VÀ ÂM MƯU LẬP “NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ MÔNG” BẤT THÀNH

 Điện Biên là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh phía Tây Bắc của Tổ quốc, biên giới dài hơn 455km, tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Đặc biệt, ở địa phương này, người Mông chiếm số đông với hơn 38%, tiếp sau là người Thái chiếm hơn 35%. Người Kinh chỉ chiếm 17,3%.

           Với vị trí chiến lược, những năm qua, tỉnh Điện Biên luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư bằng nhiều nguồn, nhiều dự án để giúp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống một bộ phận nhân dân còn rất nhiều khó khăn, cùng với đặc điểm tự nhiên của tỉnh nên những năm qua, các thế lực thù địch, phần tử xấu triệt để lợi dụng để kích động, tuyên truyền, lôi kéo nhân dân tham gia hoạt động ly khai, tự trị, tuyên truyền đạo trái pháp luật…

           Sau khi cơ quan chức năng giải tán vụ tụ tập đông người, phá rối an ninh ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé (tháng 5/2011) và đập tan âm mưu phối hợp trong ngoài tiếp tục gây rối, gây bạo loạn lần 2 tại khu vực biên giới Việt-Trung (tháng 10/2012), tình hình hoạt động tuyên truyền, tập hợp lực lượng lập “Nhà nước Mông” tại địa bàn tỉnh Điện Biên tiếp tục có những diễn biến mới phức tạp, manh động.

           Lôi kéo những người theo tà đạo “Giê sùa” để thành lập Nhà nước riêng

           Trong bài viết trước, VOV đã đề cập 2 nhóm tà đạo xuất hiện ở Điện Biên từ năm 2015 với tên gọi “Giê sùa” và “Bà cô Dợ”, lôi kéo hơn 1500 người tham gia ở các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ, Điện Biên Đông… Bản chất là xuyên tạc Kinh thánh, lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người tin theo “Nhà nước Mông” và nhiều lần gửi tiền tài trợ cho số đối tượng cầm đầu tại địa bàn với tổng số hơn 300 triệu đồng.

           Đáng chú ý, một số điểm nhóm theo “Giê sùa” đã công khai cầu nguyện, mong muốn chúa “Giê sùa” về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông”. Một số đối tượng đã công khai tuyên bố “Ở Mường Nhé hoạt động Nhà nước Mông không thành thì người Mông ở huyện Tuần Giáo sẽ làm, mọi người phải tin theo Giê sùa để lập Nhà nước Mông, ai làm lộ thông tin sẽ giết người đó”. Một số đối tượng cầm đầu hoạt động lập “Nhà nước Mông” đã chỉ đạo các đối tượng theo đạo “Giê sùa” thu thập các thông tin vu cáo chính quyền đàn áp, tiêu diệt người Mông với âm mưu gửi các tổ chức phản động ở bên ngoài nhờ can thiệp, giúp đỡ… làm cho tình hình an ninh trật tự trong vùng đồng bào Mông diễn biến rất phức tạp.

Các đối tượng triệt để sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông, lỗ hổng trong quản lý sim trả trước, mạng internet, điều kiện địa hình, địa vật, vùng giáp biên, mối quan hệ dòng tộc, đồng tộc, niềm tin tôn giáo mù quáng và các tà đạo “Giê sùa”, “Bà cô Dợ” để tuyên truyền, tập hợp lực lượng tiếp tục gây bạo loạn tại địa bàn. Số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài ráo riết xuyên tạc kinh thánh, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội facebook… để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia hoạt động lập “Nhà nước Mông”; tài trợ tiền cho số cầm đầu trên địa bàn.

Âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” bất thành

           Đầu năm 2018, các cơ quan chức năng ở tỉnh Điện Biên phát hiện một số đối tượng trên địa bàn móc nối với một số đối tượng phản động ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái… và số đối tượng đã trốn ra nước ngoài nhen nhóm hoạt động trở lại. Số đối tượng này từng tham gia nhóm “7 cánh” do Tráng A Chớ ở xã Mường Toong, huyện Mường Nhé cầm đầu, hiện đang chấp hành án phạt tù về tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Mục đích của tổ chức này là cướp đất, cướp chính quyền, thay thế chính quyền tại huyện Mường Nhé bằng một chính quyền riêng của người Mông, do người Mông làm chủ, có bộ máy, tổ chức riêng, có chữ viết, có con dấu, cờ, đồng tiền, lực lượng công an quân đội riêng của người Mông, có cương lĩnh riêng.

           Chúng đã nhiều lần họp bàn thống nhất cách thức hoạt động, xây dựng “cương lĩnh”, “điều lệ”, vẽ mẫu “cờ”, đúc “sao”, “dấu”, “trang phục”, vũ khí, phương tiện phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông”… với âm mưu gây bạo loạn vũ trang, lật đổ chính quyền nhân dân huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” và gửi đơn đề nghị Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế công nhận.

           Âm mưu của chúng là gây bạo loạn vũ trang, đánh chiếm huyện Mường Nhé, lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” từ đó mở rộng ra các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh. “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” gồm 4 cấp : Trung ương- cấp tỉnh- cấp huyện- cấp bản, sau đó mở rộng ra các tỉnh Tây Bắc.

Đầu tháng 3/2019, các đối tượng tụ tập về huyện Mường Nhé để thực hiện chủ trương bắt cóc, thủ tiêu cán bộ nhằm gây tiếng vang, đưa yêu sách với chính quyền.

           Tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, kiên quyết đấu tranh, trấn áp những phần tử phản động… một chuyên án đã được thành lập, phối kết hợp từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, sự phức tạp của địa hình tại khu vực biên giới Việt- Lào, sự manh động, liều lĩnh của các đối tượng… Cuối cùng, âm mưu lập “Nhà nước cộng hòa dân chủ Mông” đã bị vô hiệu hóa.

           Kết quả đã bắt giữ được 15/20 đối tượng cầm đầu, cốt cán; vận động 8 đối tượng ra đầu thú, xác minh làm rõ, triệu tập đấu tranh vô hiệu hóa 28 đối tượng liên quan, thu giữ 400 triệu đồng, 1 tập tài liệu (49 trang) chữ Mông Latinh có hình quân hàm, quốc huy, sao, cương lĩnh, điều lệ, 3 súng tự chế, 155 viên đạn, 17 sao “7 cánh” bằng kim loại, 22 chiếc áo, 14 chiếc quần trang phục “công an Mông”, “bộ đội Mông”và nhiều tài liệu khác.

           Căn cứ kết quả đấu tranh, cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, khởi tố, bắt tạm giam 15 bị can và khởi tố, ra quyết định truy nã đối với 5 bị can đang lẩn trốn.

           Với 5 đối tượng lẩn trốn, tổ công tác đã khắc phục khó khăn, không quản ngại nắng mưa, đêm tối liên tục luồn rừng, trèo đèo, lội suối để lần theo dấu vết, truy bắt các đối tượng tại biên giới Việt-Lào thuộc các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ của Điện Biên và tại các huyện Mường Tè, Nậm Nhùn, Sìn Hồ của tỉnh Lai Châu; huyện Phong Sa Ly, tỉnh Phong Sa Ly của Lào khiến các đối tượng liên tục phải tìm cách thay đổi nơi lẩn trốn.

           Cuối tháng 12/2019, ngay khi phát hiện 5 đối tượng này đang lần trốn, móc nối với số đối tượng phản động ở tỉnh Lai Châu tổ chức tuyên truyền, lôi kéo người tụ tập về bản Giàng Ly Cha, xã Tà Tổng, huyện Mường Tè để gây bạo loạn, lập “Nhà nước Mông”, các đơn vị chức năng đã phối hợp giải tán vụ tụ tập, đồng thời triển khai các tổ công tác trên các tuyến đường dọc tuyến gianh giới giữa tỉnh Điện Biên với tỉnh Lai Châu để nắm tình hình, ngăn chặn không để người ở địa bàn kéo sang tỉnh Lai Châu tụ tập.

           Đến ngày 3/1/2020, các lực lượng chức năng đã giải quyết xong vụ tụ tập, bắt giữ các đối tượng chủ mưu, cầm đầu cốt cán, trong đó có 4/5 đối tượng truy nã, thu giữ được 5 con dấu phục vụ hoạt động lập “Nhà nước Mông” mà nhóm này đang cất giấu tại xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé.

Tháng 3 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã đưa ra xét xử công khai 14 bị cáo vì có các hoạt động tuyên truyền, chống phá Nhà nước xảy ra tại huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên).

           Theo nhận định của Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Điện Biên, Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Nam, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiến pháp quy định và đủ các yếu tố cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình sự.

           Kết thúc phiên tòa, Sùng A Sính, Lầu A Lềnh với vai trò chủ mưu cầm đầu, là người khởi xướng việc lập nhà nước Mông và trực tiếp soạn thảo điều lệ, cương lĩnh, mô hình tổ chức, đúc sao hàm… chịu mức án chung thân. 12 bị cáo còn lại chịu mức án từ 24 tháng đến 20 năm tù giam./.

TÊN GỌI "QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM" CÓ TỪ KHI NÀO?

 


Theo Công văn số 400 – TTg ngày 23/9/1954 của Thủ tướng Phủ do đồng chí Phạm Văn Đồng ký. Quyết định về tên gọi của Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được gọi thống nhất là Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Như vậy kể từ ngày 23/9/1954 Quân đội ta được gọi chính thức là Quân đội nhân dân Việt Nam, được xem là một cột mốc vàng trong trang sử vẻ vang của lực lượng vũ trang nhân dân./.

Thanh Bình st

KỶ NIỆM 66 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954 - 10/10/2020)

 


Từ sáng sớm ngày 10-10-1954. Nhân dân Thủ đô quần áo chỉnh tề, mang cờ, ảnh Bác Hồ và những bó hoa tươi thắm, thành đội ngũ trật tự theo từng công sở, xí nghiệp, trường học, khu phố... kéo tới những con đường được báo trước là bộ đội hành quân qua. Đoàn xe đầu tiên do thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Uỷ ban quân chính và bác sĩ Trần Duy Hưng, Phó chủ tịch Uỷ ban Quân chính Hà Nội dẫn đầu. 8 giờ: Cánh quân phía Tây xuất phát từ Quần Ngựa. Đó là những chiến sĩ bộ binh của trung đoàn Thủ đô, do Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Trị, anh hùng quân đội dẫn đầu. Các chiến sĩ diễu binh qua Kim Mã, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang... Đến 9 giờ 45 tiến vào Cửa Nam, thành Hà Nội.    8 giờ 45 phút. Cánh quân phía Nam xuất phát từ Việt Nam học xá, tiến qua Bạch Mai, phố Huế, vòng quanh Hồ Gươm rồi vòng lại chiếm lĩnh toàn bộ khu vực Đồn Thuỷ và Đấu Xảo. 9 giờ 30: Đoàn Cơ giới và pháo binh xuất phát từ Bạch Mai, qua Phố Huế; 10 giờ 15 đến Bờ Hồ, qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Chợ Đồng Xuân, rẽ sang đường Cửa Bắc, tiến vào thành lúc 10 giờ 45 phút. 15 giờ: Còi Nhà hát thành phố nổi lên một hồi dài. Mấy chục vạn quân dân Hà Nội, đã trang nghiêm dự lễ chào cờ do Uỷ an quân chính tổ chức tại sân vận động Cột Cờ với sự tham gia của các đơn vị quân đội. Sau lễ chào cờ, Chủ tịch Uỷ ban Quân chính Vương Thừa Vũ đã trân trọng đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng. Mở đầu lời kêu gọi Bác viết: "Tám năm qua, Chính phủ phải xa rời Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau, nhưng lòng Chính phủ luôn luôn gần cạnh đồng bào. Ngày nay do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hoà bình đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về Thủ đô với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng không xiết kể". St

 

Những mốc sự kiện trong ngày Giải phóng Thủ đô 66 năm trước.


 

Cảnh giác với những thông tin xấu độc trước Đại hội Đảng

 


 Trong những ngày diễn ra Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi. Thủ đoạn của các phần tử phản động là lợi dụng không gian mạng để tập trung tuyên truyền những nội dung xấu, độc, trá hình, “bới lông tìm vết” để thổi phồng, xuyên tạc những khuyết điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của cấp uỷ, chính quyền địa phương…Các cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện và ngăn chặn những thông tin có nội dung sai sự thật, xấu, độc trên internet, mạng xã hội, nhằm làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch.

Trong những ngày gần đây, trên không gian mạng xuất hiện các tài liệu, luận điệu xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nguy hiểm hơn, càng gần đến đại hội đảng các cấp, các đối tượng này càng gia tăng các hoạt động xuyên tạc, bóp méo sự thật về đội ngũ cán bộ của Đảng, nhằm bôi xấu cuộc sống xã hội hiện tại, tạo tâm lý hoang mang, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ.
 
Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trước thềm ĐH đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Hoạt động này muốn được thực hiện hiệu quả thì cần tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp trong phòng, chống thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, định hướng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về những thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Cấp ủy các cấp phải đề ra những biện pháp quản lý sát thực để cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, phát huy mặt tích cực đồng thời đẩy lùi những tác động tiêu cực của việc sử dụng mạng xã hội.

 
Trong thời gian tới, các địa phương, đơn vị trong toàn tỉnh tăng cường công tác phối hợp trong việc theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, cung cấp thông tin, kịp thời định hướng dư luận xã hội trước những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm, trong đó trọng tâm là những vấn đề liên quan đến công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020-2025; thực hiện tốt quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; kịp thời xác minh, xử lý thông tin trên báo chí, mạng xã hội phản ánh về tình hình địa phương, đơn vị, nhất là những thông tin không đầy đủ, phiến diện, một chiều; phát hiện, xử lý nghiêm những đảng viên, công chức, người dân vi phạm trong việc chia sẻ, bình luận tiêu cực những thông tin có nội dung sai sự thật, xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Các chi bộ, đảng bộ chú trọng công tác quán triệt, tuyên truyền để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc chi bộ, đảng bộ quản lý nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu, độc (nhất là những thông tin trên các trang của các tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn)...
 
Cần tỉnh táo trước những chiêu trò tung tin thất thiệt để chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên xem đây là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm nhằm làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động./.

Đập tan âm mưu lợi dụng dịch covid-19 để chống phá nước ta qua mạng xã hội

 


         Trong khi chúng ta tiến hành “chống dịch như chống giặc”, thì các thế lực thù địch cũng triệt để lợi dụng cơ hội dịch Covid-19 lây lan sang nước ta để xuyên tạc, chống phá đất nước. Nhiều tổ chức phản động lưu vong, như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ… cùng một số phần tử phản động trong nước cấu kết, a dua, lợi dụng tính năng lan tỏa nhanh của internet, của truyền thông xã hội như các kênh: Google, Youtube, Facebook... đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận. Họ sẵn sàng và đã chi ra hàng nghìn USD để thực hiện các quảng cáo chính trị trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc bôi đen về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam, hàm chứa nhiều nội dung chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang lợi dụng dịch Covid-19 để xuyên tạc, chống phá đất nước ta trên truyền thông xã hội chủ yếu:

       Một là, ngụy tạo bức tranh đen tối về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam các thế lực thù địch đã đăng tải trên các kênh truyền thông, nhất là truyền thông xã hội hàng trăm bài viết chứa đựng những thông tin sai sự thật do chúng ngụy tạo về thực trạng đen tối của dịch Covid-19 đang hoành hành tại Việt Nam. Họ đã đưa lên truyền thông xã hội hàng trăm nghìn tin giả, như: "số người mắc bệnh, sự lây lan tốc độ nhanh ở nhiều địa bàn lớn gấp nhiều lần con số chính thức do Chính phủ Việt Nam công bố". Đặc biệt, họ còn dựng chuyện về số người tử vong do dịch Covid-19 lên tới hàng chục người và không ngừng gia tăng, trong đó có rất nhiều thông tin sai sự thật. Qua đây cho thấy, việc ngụy tạo ra bức tranh đen tối về dịch Covid-19 đang hoành hành tại Việt Nam, là thủ đoạn tạo tâm lý hoang mang, sợ hãi cho cộng đồng, làm xáo trộn mọi mặt của đời sống xã hội, gây nghi ngờ, tạo sự đối lập, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; đồng thời tạo sự hoài nghi, làm mất lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Thực chất thủ đoạn này là nhằm tạo “luận cứ giả” để thực hiện âm mưu đánh phá vào vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước trong xử lý dịch bệnh Covid-19 và đánh phá vào một số quan điểm, chính sách của Việt Nam.

       Hai là, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước ta trong xử lý dịch bệnh. Từ ngụy tạo “luận cứ giả” nêu trên, các thế lực thù địch đổ lỗi cho Nhà nước về nguyên nhân để xảy ra dịch bệnh là đã không ngăn chặn ngay từ đầu mà theo họ là “phải đóng cửa hoàn toàn với Trung Quốc”-nơi bùng phát dịch bệnh. Khi dịch bệnh lây lan sang Việt Nam, ngay lập tức họ tán phát nhiều tin giả để tạo sự hoài nghi là Nhà nước ta đã che giấu dịch bệnh, rằng “Chính phủ bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh” nên để tình hình dịch trầm trọng như bức tranh mà họ đã ngụy tạo. Với con số chính thức mắc bệnh và địa bàn xảy ra dịch bệnh do Nhà nước công bố và cập nhật từng giờ, thì họ trắng trợn xuyên tạc rằng, con số thực tế “lớn hơn rất nhiều!”. Chúng còn dựng chuyện về một số ca tử vong không phải do dịch bệnh Covid-19 như: “Rất có thể là do dịch, nhưng bị nhà cầm quyền che đậy bằng việc công bố âm tính với Covid-19”, để gây nghi ngờ và vu cáo Đảng, Nhà nước ta “khuất tất, che giấu”.

Ba là, lợi dụng tình hình dịch bệnh xuyên tạc một số quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta lợi dụng ổ dịch bùng phát ở Trung Quốc, các thế lực thù địch đưa “yêu sách” đòi Nhà nước ta phải phong tỏa biên giới với Trung Quốc. Khi dịch lan rộng ra nhiều nước ngoài Trung Quốc, Chính phủ ta đưa ra những hạn chế về xuất nhập cảnh với một số nước đang có dịch diễn biến phức tạp, trong khi vẫn mở cửa giao thương hàng hóa với Trung Quốc, thì họ xuyên tạc rằng Nhà nước ta là “lệ thuộc”. Đây là hành vi lợi dụng dịch bệnh để chống phá đường lối, chính sách về đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Cùng với đó, các thế lực thù địch lớn tiếng vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm các quyền tự do, dân chủ, khi các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh, xử lý những người tán phát thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 trên truyền thông xã hội khi cơ quan này phối hợp với công an các địa phương xác minh, đấu tranh yêu cầu gỡ bỏ tin sai sự thật, phạt hành chính những đối tượng theo đúng Luật An ninh mạng, thì các thế lực thù địch ngay lập tức la lối, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, chà đạp quyền tự do ngôn luận “bịt miệng người dân, không cho dân nói sự thật”.

Từ sự phân tích trên có thể nhận định, thực chất thủ đoạn lợi dụng dịch Covid-19 chống phá đất nước, là những thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam. Những thủ đoạn đó được kết hợp với các thủ đoạn khác mà họ đã và đang ráo riết tiến hành trên các lĩnh vực, trong đó tập trung vào làm làm suy yếu, dần vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đã trở thành thách thức đa chiều mang tính toàn cầu, chưa có tiền lệ và ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống quốc tế nhất là trong bối cảnh nước ta đang đảm nhiệm trọng trách là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN./.

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng dịch covid-19 để chống phá đất nước qua mạng xã hội

         Tình hình đại dịch CoVid-19 ở nước ta hiện đã được kiểm soát, song vẫn có những nguy cơ khó lường. Tính đến ngày 8 tháng 10 nước ta cũng đã ghi nhận 1100 người mắc Covid-19, 35 ca tử vong. Với mức độ nguy hiểm tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người và tốc độ lây lan nhanh của nó.

Trong khi chúng ta tiến hành “chống dịch như chống giặc”, thì các thế lực thù địch cũng triệt để lợi dụng cơ hội dịch Covid-19 lây lan sang nước ta để xuyên tạc, chống phá đất nước. Nhiều tổ chức phản động lưu vong, như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ… cùng một số phần tử phản động trong nước cấu kết, a dua, lợi dụng tính năng lan tỏa nhanh của internet, của truyền thông xã hội như các kênh: Google, Youtube, Facebook... đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang dư luận. Họ sẵn sàng và đã chi ra hàng nghìn USD để thực hiện các quảng cáo chính trị trên Facebook nhằm tuyên truyền, xuyên tạc bôi đen về tình hình dịch Covid-19 tại Việt Nam, hàm chứa nhiều nội dung chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang lợi dụng dịch Covid-19 để xuyên tạc, chống phá đất nước ta trên truyền thông xã hội chủ yếu:

       Một là, ngụy tạo bức tranh đen tối về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam các thế lực thù địch đã đăng tải trên các kênh truyền thông, nhất là truyền thông xã hội hàng trăm bài viết chứa đựng những thông tin sai sự thật do chúng ngụy tạo về thực trạng đen tối của dịch Covid-19 đang hoành hành tại Việt Nam. Họ đã đưa lên truyền thông xã hội hàng trăm nghìn tin giả, như: "số người mắc bệnh, sự lây lan tốc độ nhanh ở nhiều địa bàn lớn gấp nhiều lần con số chính thức do Chính phủ Việt Nam công bố". Đặc biệt, họ còn dựng chuyện về số người tử vong do dịch Covid-19 lên tới hàng chục người và không ngừng gia tăng, trong đó có rất nhiều thông tin sai sự thật. Qua đây cho thấy, việc ngụy tạo ra bức tranh đen tối về dịch Covid-19 đang hoành hành tại Việt Nam, là thủ đoạn tạo tâm lý hoang mang, sợ hãi cho cộng đồng, làm xáo trộn mọi mặt của đời sống xã hội, gây nghi ngờ, tạo sự đối lập, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; đồng thời tạo sự hoài nghi, làm mất lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Thực chất thủ đoạn này là nhằm tạo “luận cứ giả” để thực hiện âm mưu đánh phá vào vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước trong xử lý dịch bệnh Covid-19 và đánh phá vào một số quan điểm, chính sách của Việt Nam.

       Hai là, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước ta trong xử lý dịch bệnh. Từ ngụy tạo “luận cứ giả” nêu trên, các thế lực thù địch đổ lỗi cho Nhà nước về nguyên nhân để xảy ra dịch bệnh là đã không ngăn chặn ngay từ đầu mà theo họ là “phải đóng cửa hoàn toàn với Trung Quốc”-nơi bùng phát dịch bệnh. Khi dịch bệnh lây lan sang Việt Nam, ngay lập tức họ tán phát nhiều tin giả để tạo sự hoài nghi là Nhà nước ta đã che giấu dịch bệnh, rằng “Chính phủ bưng bít thông tin, yếu kém trong xử lý dịch bệnh” nên để tình hình dịch trầm trọng như bức tranh mà họ đã ngụy tạo. Với con số chính thức mắc bệnh và địa bàn xảy ra dịch bệnh do Nhà nước công bố và cập nhật từng giờ, thì họ trắng trợn xuyên tạc rằng, con số thực tế “lớn hơn rất nhiều!”. Chúng còn dựng chuyện về một số ca tử vong không phải do dịch bệnh Covid-19 như: “Rất có thể là do dịch, nhưng bị nhà cầm quyền che đậy bằng việc công bố âm tính với Covid-19”, để gây nghi ngờ và vu cáo Đảng, Nhà nước ta “khuất tất, che giấu”.

Ba là, lợi dụng tình hình dịch bệnh xuyên tạc một số quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta lợi dụng ổ dịch bùng phát ở Trung Quốc, các thế lực thù địch đưa “yêu sách” đòi Nhà nước ta phải phong tỏa biên giới với Trung Quốc. Khi dịch lan rộng ra nhiều nước ngoài Trung Quốc, Chính phủ ta đưa ra những hạn chế về xuất nhập cảnh với một số nước đang có dịch diễn biến phức tạp, trong khi vẫn mở cửa giao thương hàng hóa với Trung Quốc, thì họ xuyên tạc rằng Nhà nước ta là “lệ thuộc”. Đây là hành vi lợi dụng dịch bệnh để chống phá đường lối, chính sách về đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Cùng với đó, các thế lực thù địch lớn tiếng vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm các quyền tự do, dân chủ, khi các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành xác minh, xử lý những người tán phát thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 trên truyền thông xã hội khi cơ quan này phối hợp với công an các địa phương xác minh, đấu tranh yêu cầu gỡ bỏ tin sai sự thật, phạt hành chính những đối tượng theo đúng Luật An ninh mạng, thì các thế lực thù địch ngay lập tức la lối, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, chà đạp quyền tự do ngôn luận “bịt miệng người dân, không cho dân nói sự thật”.

Từ sự phân tích trên có thể nhận định, thực chất thủ đoạn lợi dụng dịch Covid-19 chống phá đất nước, là những thủ đoạn nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam. Những thủ đoạn đó được kết hợp với các thủ đoạn khác mà họ đã và đang ráo riết tiến hành trên các lĩnh vực, trong đó tập trung vào làm làm suy yếu, dần vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đã trở thành thách thức đa chiều mang tính toàn cầu, chưa có tiền lệ và ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống quốc tế nhất là trong bối cảnh nước ta đang đảm nhiệm trọng trách là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN./.

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về công tác nhân sự đại hội đảng.

         Trước mỗi kỳ đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các cơ quan chức năng lại nhận được những đơn thư nặc danh, mạo danh; trên các trang mạng xã hội (MXH) lại lan truyền những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ, bôi nhọ những cán bộ liên quan đến công tác nhân sự đại hội. Thật đáng tiếc, tham gia vào “đám mây mù” ấy có một số người là cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện đó cũng đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo và chỉ rõ, đó là tình trạng “lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, MXH để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Đại hội đảng các cấp là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng với cán bộ, đảng viên và quân dân cả nước. Mặc dù chúng ta đang trong quá trình chuẩn bị và hơn một năm nữa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Đại hội XIII) của Đảng mới diễn ra, nhưng từ nhiều tháng qua, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là nắm bắt được nhu cầu thông tin của người dân về công tác chuẩn bị đại hội, nhất là chuẩn bị nhân sự, một số phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị tung lên các trang MXH đủ các loại thông tin bịa đặt, bôi nhọ, suy diễn, đồn đoán, nhận định vô căn cứ về công tác cán bộ, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và phá hoại sự thành công của đại hội đảng các cấp. Đặc biệt, họ lợi dụng quyền tự do ngôn luận để gửi đơn thư nặc danh, mạo danh; triệt để sử dụng internet tán phát thông tin xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo. Điển hình là trường hợp ông Lê Hữu Thuận, Phó Bí thư Chi bộ, Trưởng khoa Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc Trường Chính trị Trần Phú (Hà Tĩnh) đưa những thông tin sai sự thật về sức khỏe cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước lên Facebook... Hành vi của ông Thuận gây ra những tác động xấu trong dư luận, nhất là khi những thông tin ấy được những người thiếu nhãn quan chính trị chia sẻ, bình luận... Đây chỉ là một ví dụ minh chứng cho biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên do những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội trong nội bộ ta tung ra thường biểu hiện ở một số kiểu dạng, như: Xuyên tạc, nói sai sự thật về tình hình sức khỏe cán bộ; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... Họ không là thầy thuốc, nhưng lại dựa vào những thông tin cóp nhặt trên mạng về sức khỏe cán bộ. Chẳng hề chứng kiến sự kiện, vậy mà bịa đặt, dựng lên những câu chuyện gắn với hoạt động đối nội, đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước tán phát trên mạng... khiến dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối nội, đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

Từ những vụ việc đã xử lý hoặc đang trong quá trình xử lý, họ đưa ra bình luận ác ý, rồi suy diễn, bịa đặt rằng các đối tượng đã “bôi trơn” nên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật không dám làm mạnh tay. Vấn đề càng trở nên nguy hiểm khi những thông tin ấy bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khai thác để tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chẳng hạn từ những thông tin trong nội bộ về kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, một số trang mạng ở nước ngoài đã xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn, cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân...

Bên cạnh đó, ngay trong nội bộ ta cũng có những cán bộ, đảng viên phát ngôn thiếu ý thức xây dựng, suy diễn chủ quan về các mối quan hệ, cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự họ phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, có người đã xuyên tạc, suy diễn rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ. Họ bình phẩm, phán xét rồi nhận định “sắp xếp” người này nghỉ thì người kia lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, cán cân quyền lực sẽ nghiêng về phe nào? Để hướng lái nội dung đại hội, nhất là công tác nhân sự, khi nghe những thông tin trái chiều trong quần chúng, một số cán bộ, đảng viên chẳng những không định hướng mà còn hùa theo, đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần hạ bệ người nào, họ tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cán bộ đó phụ trách, rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”, thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo, làm thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự đại hội đảng các cấp,... Thực chất của những việc làm trên vẫn là những trò cũ rích đã xuất hiện trong các kỳ đại hội trước đây. Vì vậy, mỗi người dân Việt nam yêu nước cần hết sức cảnh giác với những âm mưu chống phá của các phần tử cơ hội, phản động.

Giá của các nhà "dân chủ"



Phạm Đoan Trang (PĐT) không là cái tên xa lạ. Từng là một cây bút có năng lực, được một số tòa soạn báo tại Việt Nam ghi nhận, trọng dụng, nhưng sự hỡm hĩnh, hoang tưởng đã khiến nữ nhà báo này biến mình thành người tha hóa về chính trị. Từ nhiều năm nay, PĐT đã viết nhiều bài cùng một số cuốn sách (in, phát hành bất hợp pháp) xuyên tạc tình hình đất nước; vu khống nhà nước Việt Nam; gieo rắc hoài nghi trong dư luận; kích động những người nhẹ dạ, thiếu thông tin gây rối, chống phá chế độ…

 

Công tác nhân sự Trung ương khóa mới được tiến hành như thế nào?

Một trong những phương châm của việc xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026 là "làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó".

Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 13 (khóa XII) sáng 5/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho biết, từ cuối tháng 12/2018 đến tháng 9/2020, để chuẩn bị nguồn nhân sự cho Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, Bộ Chính trị đã 4 lần phê duyệt nhân sự quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII với tổng số 227 người.

Tính đến 20/8, đã có 116 địa phương, cơ quan, đơn vị giới thiệu 119 Uỷ viên Trung ương đương nhiệm (cả chính thức và dự khuyết) tái cử Trung ương khóa mới; 107 người lần đầu tham gia Uỷ viên chính thức và 44 người tham gia Uỷ viên dự khuyết Trung ương khoá XIII.

Theo ông Nguyễn Đức Hà, chuyên gia cao cấp về xây dựng Đảng, quy trình chuẩn bị nhân sự Ban chấp hành Trung ương khóa mới được khởi động từ hai năm trước. Lúc đó, hội nghị Trung ương 8, khóa XII (tháng 10/2018) quyết định thành lập 5 tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội lần thứ XIII của Đảng, bao gồm Tiểu ban Nhân sự do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Tiểu ban.

Ngoài ra, lần đầu tiên Bộ Chính trị khóa XII thành lập Ban chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021 - 2026; ban hành kế hoạch số 11 về xây dựng quy hoạch Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026.

"Phương châm của quy hoạch là làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó", ông Hà nói và giải thích khác với trước đây, lần này không quy hoạch cho nhiều khóa mà chỉ tập trung cho khóa tới (2021-2026). Quy hoạch lần này cũng không làm đồng thời các chức danh mà từng bước, nghĩa là quy hoạch Ban chấp hành Trung ương, sau đó tiến hành quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cuối cùng mới đến các chức danh chủ chốt của Ðảng, Nhà nước.

Với cách làm trên, việc xây dựng quy hoạch cấp chiến lược của Trung ương Đảng sẽ gắn kết chặt chẽ với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác nhân sự của mỗi nhiệm kỳ đại hội Đảng toàn quốc.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (hàng đầu, thứ hai từ phải qua) trước khai mạc Hội nghị Trung ương 13, khóa XII sáng 5/10. Ảnh: VGP

Hàng đầu từ trái qua: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM Huỳnh Thành Đạt; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; Bộ trưởng Công an Tô Lâm, tại hội nghị Trung ương 13 (khóa XII) sáng 5/10. Ảnh: VGP

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương mới có ý nghĩa quan trọng chi phối trực tiếp đến công tác quy hoạch cán bộ chiến lược, đơn cử như chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương. Tính đến cuối tháng 9, trong số 16 đảng bộ cấp tỉnh đã tiến hành đại hội nhiệm kỳ mới, có 8 bí thư cấp uỷ không phải người địa phương.

Cũng để xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, Trung ương đề ra định hướng xây dựng kế hoạch cụ thể để luân chuyển, điều động nhân sự trong diện này giữ vị trí cấp trưởng, phù hợp với chức danh quy hoạch ở địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, nơi triển khai mô hình mới để thử thách, rèn luyện; đồng thời, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt và tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp...

Đến nay Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo mở 5 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho những người được quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII.

Thời gian qua, nhiều cán bộ từ Trung ương được luân chuyển về giữ các vị trí cấp trưởng ở địa phương. Có thể kể đến như Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có 3 thứ trưởng được điều động về địa phương và hiện đều giữ các vị trí bí thư, chủ tịch cấp tỉnh.

Đại biểu dự hội nghị Trung ương 13, khóa XII sáng 5/10. Ảnh: VGP

Đại biểu dự hội nghị Trung ương 13, khóa XII sáng 5/10. Ảnh: VGP

Công tác quy hoạch cán bộ cấp chiến lược còn được đổi mới quy trình, cách làm trên cơ sở "tiếp tục mở rộng dân chủ, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm trực tiếp của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp trong việc xem xét, phát hiện, giới thiệu nhân sự của địa phương, cơ quan, đơn vị mình vào quy hoạch cấp chiến lược", theo ông Nguyễn Thanh Bình, Phó trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương.

Để cụ thể hóa về tiêu chuẩn, điều kiện đối với các chức danh quy hoạch, Bộ Chính trị đã ban hành quy định 90 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Quy định này nêu rõ tiêu chuẩn chung cũng như tiêu chuẩn chức danh cụ thể với uỷ viên Trung ương, uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư... Quy định 90 đến đầu năm 2020 được sửa đổi, bổ sung thành quy định 214.

Quy định này nêu, Tổng bí thư phải là người "đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ bí thư tỉnh ủy, thành ủy hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương; tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên; trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương quyết định".

Cùng với quy định 90, các cấp có thẩm quyền cũng bổ sung quy định về cơ cấu, số lượng, đối tượng, quy trình, cách làm theo hướng "thống nhất, đồng bộ, tổng thể, liên thông". Quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện theo 4 bước; quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước.

Tổ giúp việc của Ban chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ tổng hợp nhân sự giới thiệu của địa phương, bộ, ban ngành; phân tích xem đã đúng yêu cầu và đảm bảo tiêu chuẩn, tiêu chí hay chưa.

Trên cơ sở này, Ban chỉ đạo sẽ thẩm định, lấy ý kiến các đơn vị liên quan về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra Đảng... Tiếp đó, Ban chỉ đạo báo cáo Bộ Chính trị xem xét rồi mới trình Trung ương. Tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương, các đại biểu sẽ nghiên cứu tờ trình, văn bản liên quan và giới thiệu bằng phiếu. Từ giới thiệu này, Ban chỉ đạo tổng hợp, báo cáo Bộ Chính trị để phê duyệt.

Hội nghị Trung ương 9 (khóa XII) vào tháng 12/2018 đã cho ý kiến về việc giới thiệu nhân sự quy hoạch Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026 để Bộ Chính trị xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Đây là những cán bộ lần đầu được giới thiệu vào Trung ương. Trong công tác nhân sự cụ thể của đại hội XIII sẽ còn có các Uỷ viên Trung ương đương nhiệm tái cử.

Hội nghị Trung ương 12 (khóa XII) hồi tháng 5 đã quyết định phương hướng công tác nhân sự Ban chấp hành Trung ương khoá XIII; thảo luận về tiêu chuẩn Uỷ viên Trung ương; điều kiện, cơ cấu, số lượng, quy trình giới thiệu, cách thức lựa chọn và một số vấn đề cần lãnh đạo thực hiện trong quá trình chuẩn bị và triển khai công tác nhân sự liên quan.

Đến tháng 7/2020, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gửi thư đến các Uỷ viên Trung ương khoá XII, đề nghị từng người đề xuất ý kiến về cá nhân mình và giới thiệu nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thay thế mình.

Hội nghị Trung ương 13 (khóa XII) khai mạc hôm 5/10, tiếp tục xem xét công tác nhân sự Ban chấp hành Trung ương khóa XIII. Tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng nói, nhìn chung, việc tổ chức lấy phiếu giới thiệu nhân sự Trung ương đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, cơ bản bảo đảm tiến độ, đúng quy trình, hướng dẫn của Tiểu ban Nhân sự.

Tiểu ban Nhân sự đã chỉ đạo 10 cơ quan chức năng và địa phương liên quan thẩm định, kiểm tra, rà soát tiêu chuẩn, điều kiện đối với các nhân sự đã được giới thiệu (bao gồm nhân sự tái cử và nhân sự tham gia lần đầu).

Các cơ quan này gồm: Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội và Ban Thường vụ Thành uỷ TP HCM.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tich nước, trên cơ sở phương hướng và quy trình công tác nhân sự đã được Trung ương thông qua, Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, "xem xét một cách khách quan, công tâm, toàn diện, thảo luận kỹ lưỡng dự kiến danh sách giới thiệu ứng cử Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XIII (bao gồm danh sách tái cử và danh sách tham gia lần đầu)".

Tại hội nghị đang diễn ra, Bộ Chính trị trình Trung ương kết quả giới thiệu nhân sự của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương và ý kiến của Bộ Chính trị về các nhân sự được giới thiệu...

Các uỷ viên Trung ương sẽ nghiên cứu kỹ danh sách giới thiệu để "thảo luận, cân nhắc, lựa chọn kỹ trước khi ghi phiếu biểu quyết". Căn cứ vào kết quả hội nghị Trung ương lần này cũng như góp ý của Trung ương, Bộ Chính trị sẽ chỉ đạo việc tiếp tục chuẩn bị, xem xét, bổ sung hoàn thiện các phương án về nhân sự, "bảo đảm đủ về số lượng, đúng về tiêu chuẩn, chất lượng và hoàn chỉnh các hồ sơ để báo cáo Trung ương xem xét, quyết định thông qua trước khi trình Đại hội XIII của Đảng".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Ban chấp hành Trung ương khóa mới phải bám sát phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIII, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Trung ương trên các địa bàn, lĩnh vực công tác có cơ cấu Uỷ viên Trung ương.

Công tác nhân sự Trung ương khóa XIII cũng phải đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương, nhất là ở những lĩnh vực trọng yếu, địa bàn phức tạp, trọng điểm; đồng thời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng trước mắt cũng như lâu dài.

Khi xem xét, lựa chọn, giới thiệu nhân sự phải căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng; phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ là chính nhưng cũng cần quan tâm, chú ý đến cơ cấu hợp lý, cân đối giữa các địa bàn, lĩnh vực công tác và các khối; giữa Trung ương và địa phương; cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số và yếu tố vùng miền hợp lý... "Không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn", Tổng Bí thư, Chủ tich nước nói và yêu cầu phải bảo đảm dân chủ, công bằng, công tâm, khách quan, minh bạch; kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực trong quá trình thực hiện công tác nhân sự, gây dư luận không tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nguồn VN EXPRESS

 

Văn phòng Chủ tịch nước có tân Phó chủ nhiệm

Ông Lê Khánh Hải, Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch được điều động, bổ nhiệm giữ chức Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước.

Sáng 8/10, Phó chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã trao quyết định nêu trên cho ông Lê Khánh Hải.

Ông Lê Khánh Hải. Ảnh: Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch

Ông Lê Khánh Hải. Ảnh: Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch

Ông Hải 54 tuổi, quê Quảng Trị; từng theo học trường Kỹ thuật quân sự, sau đó công tác tại Bộ tư lệnh Quân khu 7, TP HCM; Công ty vận tải Biển Việt Nam; Công ty Xuất nhập khẩu và Phát triển văn hóa, doanh nghiệp loại I và Trung tâm triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Ông Hải đảm nhiệm chức Thứ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch từ tháng 6/2010.

Văn phòng Chủ tịch nước hiện có ba Phó chủ nhiệm là bà Phan Thị Kim Oanh và các ông Phạm Thanh Hà, Lê Khánh Hải. Chủ nhiệm Văn phòng là ông Đào Việt Trung.

Nguồn EXPRESS

Nhận diện thông tin xấu độc trước thềm Đại hội Đảng

 Trong những ngày diễn ra Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi. Thủ đoạn của các phần tử phản động là lợi dụng không gian mạng để tập trung tuyên truyền những nội dung xấu, độc, trá hình, “bới lông tìm vết” để thổi phồng, xuyên tạc những khuyết điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của cấp uỷ, chính quyền địa phương…Các cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện và ngăn chặn những thông tin có nội dung sai sự thật, xấu, độc trên internet, mạng xã hội, nhằm làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch.

Ngăn chặn thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trước thềm Đại hội Đảng

 Thời điểm trước, trong và sau mỗi kỳ Đại hội Đảng các cấp là dịp các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động thường đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trên không gian mạng. Do đó, lực lượng An ninh Công an tỉnh đã luôn chủ động trong công tác nắm tình hình, nhằm phát hiện, ngăn chặn thủ đoạn chống phá của các đối tượng.

'Nội công, ngoại kích', thủ đoạn chống phá Đại hội XIII của Đảng

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước. Thời điểm đại hội cận kề, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá, tung ra luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin, phá hoại Đại hội XIII của Đảng.

Mánh khóe tinh vi của 'Việt Tân'

 Để chống phá Việt Nam, “Việt Tân” đã lợi dụng tình hình dịch COVID-19 để chỉ đạo RISE lên kế hoạch quyên góp khẩu trang và dung dịch sát khuẩn để hỗ trợ cho gia đình số phạm nhân đang chấp hành án phạt tù và số đối tượng có quan hệ với “Việt Tân” ở miền Bắc và miền Trung...

Vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để hình thành “nhà nước Mông”

 

Những năm qua, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch, các tổ chức người Mông lưu vong… tăng cường các hoạt động kích động, tuyên truyền tư tưởng ly khai tự trị trong đồng bào các dân tộc. Đặc biệt ở những khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa các tỉnh biên giới phía Bắc nổi lên vấn đề tuyên truyền, hoạt động thành lập “nhà nước Mông” tự trị.

“KHÔNG ĐỔI MỚI THÌ SẼ ĐI VÀO NGÕ CỤT”

 Trong cuộc đời hoạt động cách mạng dài lâu, phong phú và hoàn toàn không đơn giản thuận chiều của mình, đồng chí Trường Chinh (tên thật: Đặng Xuân Khu, bút danh: Sóng Hồng, 9-2-1907-30-9-1988), nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn từ tháng 11-1940 tới tháng 10-1956 và nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn tháng 7 tới tháng 12-1986 được đánh giá là bậc thầy về nắm thời cơ.

Không ít những thành tựu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX có thể được coi như là kết quả trực tiếp từ những quyết định sáng suốt và nhìn xa trông rộng của nhà lãnh đạo kiệt xuất này có tư duy thức thời và luôn biêt cách hành động kịp thời...
Đầu những năm 40 của thế kỷ trước, cách mạng Việt Nam đã phải ở trong tình thế cực kỳ gian nan và phức tạp. Đất nước “một cổ hai tròng”, vừa phải chịu ách áp bức đã kéo dài tới 8 thập niên của thực dân Pháp lẫn những trò tác oai tác quái của quân đội phát xít Nhật mới tràn vào. Hai lực lượng ngoại xâm này vừa mâu thuẫn với nhau nhưng vừa “đồng điệu” cùng nhau trong những hoạt động bóc lột, đàn áp người Việt Nam, chống phá những người cộng sản và yêu nước. Từ tháng 8-1942 tới tháng 9-1944, Bác Hồ đi công tác vắng, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt và giam giữ trong tù tới 14 tháng. Với cương vị Quyền Tổng Bí thư Đảng, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này nhớ lại, đồng chí Trường Chinh đã đảm trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng với nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên trên hết. Và như thực tế cho thấy, đồng chí Trường Chinh đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình, sớm nhìn ra những thời cơ thuận lợi có thể tới với cách mạng Việt Nam. Không ngẫu nhiên mà ngay tại Hội nghị Võng La (Đông Anh, lúc đó còn thuộc Phúc Yên), diễn ra tháng 2-1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta đã sớm vạch ra một kế hoạch toàn diện chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đất nước. Tới tháng 9-1944, chính đồng chí Trường Chinh cũng đã sớm nhìn ra được kết cục tất yếu sẽ bùng nổ từ những mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và phát xít Nhật và rung chuông cảnh báo trên báo “Cờ Giải phóng” qua bài báo “Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ”. Và ngay từ ngày 8-3-1945, khi nhận được những thông tin đầu tiên về dấu hiệu dường như quân đội Nhật ở Việt Nam đang chuẩn bị chiến đấu, đồng chí Trường Chinh đã nhanh nhạy dự báo về cuộc lật đổ mau lẹ của Nhật đối với lực lượng của Pháp ở Đông Dương và đã ngay lập tức triệu tập Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bác Ninh để đề ra những hoạt động cụ thể trong tình hình mới. Và cũng chính đồng chí Trường Chinh đã sớm thay mặt Thường vụ Trung ương ngày 12-3-1945 thảo ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và nhiệm vụ của chúng ta”. Theo đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “Cùng với Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, bản Chỉ thị ấy đã chỉ rõ thời cơ đang đến, khả năng thời cơ xuất hiện và thái độ của chúng ta như thế nào... Chỉ thị đó có tác dụng quyết định trong việc động viên, hướng dẫn toàn Đảng trong cao trào chống Nhật, cứu nước...”. Đại tướng Văn Tiến Dũng cũng nhận định: “Chỉ thị này dự kiến những trường hợp làm cho cuộc Tổng khởi nghĩa có thể mở ra thắng lợi, chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Chỉ thị này là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng trong cao trào này, dẫn tới thắng lợi trực tiếp của Cách mạng tháng Tám”.
Và khi thời cơ đến theo đà phe Đồng Minh tiêu diệt dần các lực lượng phát xít ở châu Âu, cũng chính đồng chí Trường Chinh là người đã chỉ đạo tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nhiều nơi, thành lập các khu giải phóng. Khi nước Đức phát xít sụp đổ, Tổng bí thư Đảng đã kêu gọi đồng chí, đồng bào chuẩn bị sẵn sàng Tổng khởi nghĩa giành lại độc lập tự do. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã diễn ra đúng lúc “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nhất, không sớm hơn và cũng không muộn hơn. Và vì thế, đã thành công rực rỡ trong vòng hơn 10 ngày, lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa đầu tiên trên dải đất hình tia chớp. Trong sự kiện lịch sử vĩ đại này có phần đóng góp to lớn của Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh...
Còn nhiều sự kiện lịch sử khác nữa in dấu ấn đậm nét tài dự báo đúng và xử lý đúng cơ hội lịch sử của đồng chí Trường Chinh. Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh đã đưa ra nhiều quyết sách mang tính chiến lược, góp phần đưa cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp tới thắng lợi. Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, tập hợp những bài báo đã đăng trên tờ Cứu Quốc, của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh chứa đựng những đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận cách mạng. Trong tác phẩm đã từng là “sách gối đầu giường” của nhiều cán bộ ta trong kháng chiến, đồng chí Trường Chinh cũng nhấn mạnh tới việc nắm bắt thời cơ một cách nhạy bén để tạo ra các bước ngoặt trong chiến tranh cách mạng...
Trong sự nghiệp kiến quốc, đồng chí Trường Chinh cũng là người nhạy bén với những đòi hỏi của thực tế, vừa kiên định lập trường cách mạng vừa biết tự thay đổi tư duy cho phù hợp với thực tế. Thậm chí cho tới tuổi đã gần 80, sức khỏe không còn được như trước nữa, khi thêm một lần nhận trọng trách làm Tổng Bí thư Đảng trong bối cảnh đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đồng chí Trường Chinh vẫn rất minh mẫn trong việc cùng Đảng và Nhà nước ta nhìn thẳng vào sự thật, tiến hành đúng mực và đúng hướng đường lối Đổi Mới. Đi sâu vào thực tế luôn có thể nhìn ra lối thoát hiểm tối ưu. Chính với tư duy đó nên Tổng Bí thư Trường Chinh đã rất tích cực thực hiện những chuyến công tác tới các địa phương trong cả nước để thấy rõ hơn thực trạng nền kinh tế và tình hình xã hội mọi mặt. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong bài viết nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của đồng chí Trường Chinh (năm 2002), đã nhắc tới lời tâm sự của Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh sau những chuyến thăm thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam cuối những năm 80 của thế kỷ trước: “Việc đi thăm Thành phố... cũng như những chuyến đi thăm các địa phương khác trong thời gian qua đã giúp tôi hiểu rõ thêm tình hình thực tế của đất nước, từ đó mà suy nghĩ về một số vấn đề chung có ích cho việc đóng góp vào sự lãnh đạo của Trung ương”. Chính trong ấn tượng từ những chuyến đi thực tế sâu sát đó, Tổng bí thư Trường Chinh đã đưa ra câu phát biểu tối quan trọng với vận mệnh quốc gia và dân tộc trong thời điểm hết sức nhạy cảm của những năm cuối thập niên thứ 8 thế kỷ XX: “Đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn”. Chúng ta đã không bỏ lỡ thời cơ có một không hai của lịch sử để tìm ra “những mô hình “tháo gỡ” sản xuất để dần dần thoát khỏi sự trói buộc của cơ chế quản lý kinh tế theo kiểu hành chính-quan liêu-bao cấp” (lời Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong bài viết đã dẫn). Tưởng nhớ đồng chí Trường Chinh, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đặt tựa đề bài viết của mình là: “Đồng chí Trường Chinh – Tổng Bí thư của Đổi mới”. Đồng chí Võ Văn Kiệt viết: “Đồng chí Lê Duẩn qua đời, đồng chí Trường Chinh được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư và bắt tay vào chuẩn bị Đại hội VI. Phải nói rằng, ở thời điểm đó chỉ có đồng chí Trường Chinh với hiểu biết sâu sắc về lý luận, và hình ảnh một đồng chí hết sức nguyên tắc, có phần cứng theo kiểu chính thống, mới có thể chỉ đạo thành công Đại hội VI – Đại hội của Đổi Mới. Điều tôi thấy hết sức thú vị là “tác giả” – nói chính xác hơn là “chủ biên” – của Đổi Mới lại là một người vốn được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh. Tôi hiểu rằng, đồng chí đã chú ý nghe từ nhiều phía và đặc biệt đã coi trọng ý kiến của những cán bộ có tư duy, dám nói thật, nói rõ quan điểm của mình. Đồng chí là người rất kiên trì đấu tranh với mọi ý tưởng, mọi sự việc mà theo đồng chí là không đúng và cũng rất quyết đoán đối với những điều mà đồng chí cho là đúng đắn, có cơ sở”. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng rất ấn tượng với cách làm việc tỉ mỉ, sâu sát của Tổng Bí thư Trường Chinh trong quá trình chuẩn bị văn kiện cho Đại hội VI: “Đồng chí Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và đích thân sửa chữa từng câu, chữ trong dự thảo văn kiện. Qua thực tiễn công việc sau này, tôi càng thấy chi tiết có vẻ mang tính kỹ thuật đó rất quan trọng, cần thiết. Đối với những tài liệu liên quan tới các chủ trương lớn, nếu người lãnh đạo không trực tiếp cho định hướng rõ ràng mà “giao khoán” cho anh em biên tập thì sau này dù có sửa đi sửa lại cũng khó đạt đúng tầm cần thiết, mong muốn. Cuối giai đoạn chuẩn bị, cần dành thời gian xem xét tỉ mỉ tới từng câu chữ để bảo đảm mọi ý tứ đều được thể hiện”...
Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại, trong những năm 80 của thế kỷ trước, tình hình đất nước rất khó khăn nên thực tiễn đặt ra yêu cầu phải đổi mới: “Anh Trường Chinh đã theo dõi sát tình hình, đi vào thực tiễn, đi xuống cơ sở ở một số tỉnh phía Nam. Trong một cuộc nói chuyện ở Hà Nội, anh Trường Chinh kết luận: Hiện nay, nhiều báo cáo không đúng sự thật, Đảng ta phải cứu lấy giai cấp công nhân; muốn thế, nhất định phải đổi mới. Đổi mới là yêu cầu bức thiết, đổi mới là vấn đề có tầm quan trọng sống còn. Anh nhấn mạnh: Nếu không đổi mới thì sẽ đi vào ngõ cụt”...
Nói cho cùng, cách mạng luôn là một quá trình liên tục đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu mới của thời cuộc. Cách mạng cũng là nghệ thuật đưa ra những quyết định hợp thời và thức thời để giành lấy thắng lợi cho dân, cho nước. Nhìn từ góc độ đó, đồng chí Trường Chinh quả thực đã là một tấm gương lớn của những người cộng sản trong mọi hoàn cảnh...

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950: CHIẾN DỊCH CÓ QUY MÔ LỚN ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI TA

 70 năm trước, trên miền biên giới Đông Bắc đất nước, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân Việt Nam mở chiến dịch tiến công quy mô lớn vào hệ thống phòng ngự quân đội Pháp (khu vực Đường số 4). Chiến dịch giành thắng lợi vang dội, mở ra bước ngoặt mới theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng.

Bối cảnh quốc tế năm 1950 có sự chuyển biến quan trọng. Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa ra đời (1/10/1949) tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng nước ta có thể quan hệ trực tiếp với các nước xã hội chủ nghĩa, tiếp nhận viện trợ quốc tế. Từ tháng 1 năm 1950, các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ kháng chiến (Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa).
Trong nước, cuộc kháng của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược có sự phát triển toàn diện. Tuy nhiên, cách mạng còn gặp nhiều khó khăn. Thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ hậu thuẫn xây dựng “tuyến hành lang cơ bản” (Hải Phòng - Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La) hòng cắt liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc của ta với đồng bằng Liên khu III, Liên khu IV; đồng thời tăng cường hệ thống phòng ngự tại các tỉnh biên giới phía Bắc nhằm “khóa chặt biên giới Việt - Trung”, cô lập cách mạng Việt Nam với thế giới bên ngoài.
Trong tình thế đó, để tạo bước “đột phá” xoay chuyển cục diện chiến tranh, tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng, Chính phủ chủ trương mở chiến dịch quy mô lớn ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc nhằm mục đích: “Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; giải phóng một phần biên giới, mở đường thông thường với các nước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc”. Tuy nhiên, việc lựa chọn hướng chính chiến dịch (Đông Bắc hay Tây Bắc) chưa thống nhất.
Tháng 7 năm 1950, Thường vụ Trung ương Đảng tiếp tục họp bàn, quyết định chọn hướng tiến công chính ở Đông Bắc (trọng điểm là Cao Bằng - Lạng Sơn), vì đây là địa bàn hiểm yếu; địa hình rừng núi phù hợp với sở trường tác chiến bộ đội ta; việc huy động nhân lực, vật lực có nhiều thuận lợi. Để bảo đảm giành thắng lợi, Trung ương Đảng huy động phần lớn các đơn vị chủ lực cơ động chiến lược của Bộ, bao gồm Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 và bốn đại đội sơn pháo, năm đại đội công binh; phối hợp cùng lực lượng vũ trang của Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn.
Ngày 25/7/1950, Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch Biên giới (mật danh Lê Hồng Phong II). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quyết định sẽ trực tiếp đi mặt trận tham gia chỉ đạo, động viên cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Ngoài ra, chiến dịch còn được sự giúp đỡ tích cực về vũ khí, lương thực từ chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là có Đoàn cố vấn Trung Quốc bên cạnh Sở chỉ huy.
Chiến dịch Biên giới 1950 là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta, mang ý nghĩa chiến lược rất to lớn. Sự thành - bại trong chiến dịch này có ảnh hưởng quyết định đến việc thay đổi cục diện chiến tranh, đến lòng tin của quân và dân đối với đường lối kháng chiến của Đảng, đến quá trình xây dựng, trưởng thành của quân đội trong giai đoạn cách mạng mới. Với ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị: “Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được thắng không được thua!”. Thường vụ Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh lại quyết tâm: “Phải thực hiện cho bằng được những nhiệm vụ chiến dịch đã nêu ra ở trên”.
Chấp hành chủ trương, chỉ đạo chiến lược đề ra, quân dân ta khẩn trương chuẩn bị mọi mặt. Riêng lực lượng hậu cần lên đến ba vạn người, cộng thêm 12 vạn dân công thuộc các dân tộc Việt Bắc ngày đêm hoạt động phục vụ tiền tuyến. Khối lượng vật chất vận chuyển từ xa đến mặt trận khoảng 4.000 tấn. Bên cạnh đó, Trung ương Đảng cũng giao nhiệm vụ cho các chiến trường đẩy mạnh hoạt động tại chỗ để phối hợp kiềm chế địch, không cho chúng dồn quân tăng viện cho mặt trận biên giới.
Lúc này, lực lượng quân Pháp trên tuyến phòng thủ biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn có 11 tiểu đoàn và 9 đại đội bộ binh (phần lớn là lính Âu - Phi tinh nhuệ) được trang bị vũ khí hiện đại, tổ chức thành những cụm cứ điểm mạnh dọc theo Đường số 4: Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình... cách nhau trung bình từ 25 - 30km. Trong trường hợp một cụm cứ điểm bị tiến công, địch có thể chi viện trực tiếp bằng đường không, hoặc tổ chức lực lượng ứng cứu đường bộ từ những cụm cứ điểm gần nhất.
Sau thời gian tích cực chuẩn bị, sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950, ta tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, mở màn chiến dịch. Đến sáng ngày 18 tháng 9, ta tiêu diệt toàn bộ quân phòng ngự, đẩy quân Pháp vào tình thế hoang mang: Thất Khê bị uy hiếp, Thị xã Cao Bằng bị cô lập; thế phòng thủ Đường số 4 bị lung lay.
Bị mất Đông Khê, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định rút quân khỏi Cao Bằng theo Đường số 4 với kế hoạch “hành quân kép”: Tổ chức một cuộc hành quân đánh lên Thái Nguyên nhằm buộc ta đưa chủ lực về đối phó, giảm áp lực cho quân Pháp ở biên giới; đồng thời tổ chức một cuộc hành quân từ Thất Khê tiến lên chiếm lại Đông Khê, để đón cánh quân từ Cao Bằng rút về.
Nhận định đúng ý định của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị kiên trì mai phục chờ đánh quân tiếp viện. Đúng như dự đoán, ngày 30 tháng 9 năm 1950, quân Pháp bắt đầu triển khai kế hoạch hành quân. Chớp thời cơ, từ ngày 1 đến ngày 8 tháng 10 năm 1950, quân ta liên tục chặn đánh tiêu diệt từng cánh quân địch tại khu vực ngoại vi Đông Khê, làm phá sản hoàn toàn kế hoạch rút quân của chúng. Bộ chỉ huy quân Pháp hoảng loạn, ra lệnh rút quân khỏi hàng loạt cứ điểm trên Đường số 4: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập.
Ngày 14/10/1950, Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, hoàn thành xuất sắc mục tiêu cơ bản đề ra. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu (16/9 - 14/10/1950), ta diệt và bắt hơn 8.000 quân tinh nhuệ địch, thu 3.000 tấn vũ khí, mở thông dải biên giới Đông Bắc kéo dài từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn), trực tiếp góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh: ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công, Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự. Đây thực sự “là kết tinh thành quả những nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong những năm tháng chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ trong vòng vây bốn bề của địch, dưới sự lãnh đạo hết sức tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta”.

HỌC VÀ LÀM THEO PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN HỒ CHÍ MINH

 PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN “LẤY DÂN LÀM GỐC”

Kế thừa tư tưởng “trọng dân”, “thân dân” theo truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, cho nên Người đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”; “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân”; “dân là gốc của nước”; “dân là quý nhất, là quan trọng nhất. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân là gốc của nước”, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, vì “mọi lực lượng đều ở nơi dân”. Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hoá, nuôi sống bộ máy Nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”.
Phương pháp “Lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh là phải tôn trọng nhân dân, làm lợi cho dân để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng. Người nói: “Vô luận việc gì đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế cả”, cho nên phải xem xét mọi việc để có lợi cho dân. Người nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước đã cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
PHƯƠNG PHÁP “DÂN VẬN KHÉO” LÀ PHẢI BIẾT PHÁT HUY DÂN CHỦ
Phát huy dân chủ tức là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để dân thực sự được “làm chủ” và thực sự “là chủ”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, phát huy dân chủ không chỉ là “ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ” mà còn là “không được phung phí nhân lực, vật lực của dân. Khi huy động nên vừa phải, không nên nhiều quá lãng phí vô ích. Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ dân cũng là biết tôn trọng dân”. Trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận phải sâu sát, tìm hiểu kỹ càng, “hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân... Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân”.
Theo Hồ Chí Minh, “không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm trò dân mới làm được thầy học dân”.
DÂN VẬN BẰNG PHƯƠNG PHÁP “NÊU GƯƠNG”
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu nhất. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là những cán bộ trực tiếp làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống.
Khi nhận xét về V.I.Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, V.I.Lênin là người “đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về sự giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ” và “không phải thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”.
Cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải trở thành tấm gương: “Nói đi đôi với làm”; “Nói ít, làm nhiều”, hướng về dân, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Thực hiện phương pháp nêu gương trong công tác dân vận, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không gì thuyết phục hơn là bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, Hồ Chí Minh nói, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, vì “trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, dùng phương pháp “nêu gương” để vận động nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Cán bộ, đảng viên càng giữ chức vụ cao, đảm trách vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình; luôn tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi.
Đó là những vấn đề căn cốt của phương pháp “dân vận khéo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh