Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Đấu tranh, ngăn ngừa cổ súy quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan

 


Những ngày gần đây, khi mà toàn Đảng đang tích cực chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trên một số diễn đàn mạng xã hội (MXH) liên tục xuất hiện những bài viết chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của những kẻ cuồng tín, tôn thờ dân chủ, thể chế “tam quyền phân lập” phương Tây, bất đồng chính kiến với Nhà nước Việt Nam. Trong đó bài “Vài suy nghĩ trước thềm Đại hội XIII” và một số bài bình luận về các sự kiện chính trị trong nước như kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên facebook cá nhân của N.Đ.C, cư trú ở quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội là một ví dụ điển hình.

Điều lo ngại ở đây là, những bài viết với nội dung không có gì mới theo kiểu này đã nhận được hàng chục lượt chia sẻ, hàng trăm bình luận của người theo dõi với những từ ngữ cực đoan, phản động, thể hiện nhận thức lệch lạc, méo mó, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đây là hiện tượng rất nguy hiểm, giống như thứ vi-rút độc hại lan truyền trong xã hội, ngấm vào tâm can con người, dẫn tới những hệ lụy khó lường, thúc đẩy “tự diễn biến", “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự ổn định của đất nước. 

Khi xem những bài viết này, trước hết cần khẳng định rằng, những nội dung trong đó chẳng có gì mới so với sự đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta từng ngày. Tuy nhiên, điều lo ngại ở đây là, trong số những kẻ tự khoác áo dân chủ cực đoan ấy lại có cả các trí thức, nhà khoa học có thâm niên cống hiến đã về nghỉ hưu, những người từng được dân chở che, được Đảng nuôi dưỡng học hành để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì là những người có ít nhiều ảnh hưởng đến xã hội nên không lạ khi những bài viết của họ được nhiều người đọc, chia sẻ và bình luận. Và biết đâu trong đó những tài khoản chia sẻ, bình luận ấy có cả cán bộ, đảng viên, công chức đang công tác trong các cơ quan, đơn vị, chính quyền các địa phương, những người từng biết, từng kết bạn với những nhà “tư tưởng dỏm”. Bởi có một thực tế là rất khó có thể xác định được danh tính những lời bình luận trong “ngôi nhà ảo” trên in-tơ-nét. 

Từ lâu, những nội dung chất chứa trong các bài viết chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực phản động, thù địch và cả của những nhà “tư tưởng dỏm” ở trong nước đã không còn quá lạ lẫm với xã hội Việt Nam. Điều mới mẻ dễ thấy là mỗi khi có một vụ việc tiêu cực nào đó được đưa ra ánh sáng là chúng chộp lấy, khoét sâu rồi quy chụp đó là bản chất, là lỗi hệ thống. Ví dụ như việc ông Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bị truy tố là họ vồ lấy, quy kết ngay rằng, nguyên nhân chính là do Đảng dung nạp và sử dụng toàn những cán bộ, đảng viên vụ lợi, thiếu đức, thiếu tài...  

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các nhà “dân chủ dỏm” hướng tới là kêu gào thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây. Núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, họ câu kết để hình thành “kênh phản biện” và cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Họ lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã xác định đó là những biểu hiện có nguy cơ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhanh nhất. Tuy nhiên, có một thực tế là việc đấu tranh với những bài viết có tư tưởng lệch lạc và phản động ấy ở ta lại chưa hiệu quả và cá biệt có một số cán bộ, đảng viên thờ ơ với việc đấu tranh này. 

Như đã biết, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những kẻ “bơi ngược”, chống đối với nhiều cách thức, chiêu bài, trong đó có hiện tượng đấu tranh dân chủ cực đoan. Đó là những đối tượng luôn ảo tưởng, khẳng định những nhận định của họ là đúng và theo đuổi mục tiêu đến cùng. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà họ nuôi trong mình những tư tưởng trái ngược với nền tảng tư tưởng của Đảng, thể chế nhà nước cũng như nhận thức chung của toàn xã hội. Ở Việt Nam, họ tìm đến nhau để có “tiếng nói chung”, kết bè, kết bạn, thảo luận những vấn đề to lớn liên quan tới vận mệnh quốc gia mà chẳng có gì để bảo đảm ngoài vỏ bọc “yêu nước, thương dân”, “dân chủ, nhân quyền” giả hiệu. Theo các nhà khoa học, tư tưởng cực đoan có thể lây lan nhanh trong xã hội nếu không có biện pháp phòng ngừa kịp thời. 

Thực tế cho thấy, vào thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với chính quyền đã tìm mọi thủ đoạn phát tán các tài liệu xuyên tạc, chống đối vào cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân và được gọi bằng tiếng Anh là “samizdat” (xuất bản lậu những sách bị cấm). Còn ở Việt Nam hiện nay, ngoài các ấn phẩm thù địch, cắt ghép, họ tận dụng tối đa lợi thế của truyền thông và MXH, phát tán tư tưởng phản động, hòng từ đó len lỏi, thấm dần vào suy nghĩ, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân. 

Thế nên, để không bị nhiễm độc bởi những tư tưởng lệch lạc, để không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và đặc biệt là để luôn có được động cơ làm việc đúng đắn, hướng tới sống tốt, cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì rất cần có những giải pháp căn cơ, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mỗi cơ quan, đơn vị và địa phương.

Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là quán triệt phương châm chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là: Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách. Và, để “chống” có hiệu quả. Nghị quyết chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị”. 

Cần chủ động hơn nữa trong công tác tuyên truyền để thu hút mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng tham gia đấu tranh trên cơ sở hiểu rõ bản chất của những kẻ dân chủ cực đoan, đặc biệt là về âm mưu, thủ đoạn và các biện pháp tiến hành. Các cấp ủy đảng cần quán triệt tình hình, thông báo, dự báo sát mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, có đối sách thích hợp để vạch trần, chứng minh, bác bỏ những luận điệu vu khống, bịa đặt.

Nội dung tuyên truyền cần dễ hiểu, dễ nhớ, làm rõ bản chất vấn đề, giúp mọi người trong xã hội luôn nêu cao cảnh giác. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường kiểm tra, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tiếp tay, chia sẻ, bình luận các bài viết phản động, làm tổn hại lợi ích của xã hội, lợi ích của nhân dân.

Cơ quan chức năng cần kiểm tra, duy trì và thực hiện tốt Luật An ninh mạng đã ban hành, trong đó kiên quyết xử lý các MXH cố tình dung túng, chứa chấp các nội dung bịa đặt, phản động. 

Trong khi Đảng, Nhà nước và toàn dân ta hết sức đồng tình với đường lối xây dựng nhà nước XHCN độc lập, tự chủ, đất nước dân chủ, công bằng và giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân, thì những kẻ “chọc gậy bánh xe” ở trong và ngoài nước tăng cường tuyên truyền, đặt điều, nói xấu và vu khống, xuyên tạc đường lối đổi mới và cả những chủ trương, chính sách đúng đắn. Nêu cao cảnh giác, giữ vững trận địa tư tưởng, tham gia MXH một cách thông minh, xây dựng đoàn kết nội bộ và đoàn kết toàn dân tộc chính là phương cách tốt nhất để đấu tranh với các thủ đoạn tuyên truyền của những nhà “dân chủ dỏm”. 

Tham gia thế giới ảo có bản lĩnh và chừng mực chính là cách tốt nhất để không vô tình trở thành phương tiện, tay chân cho những mưu đồ phản động, bán nước, hại dân. 

Đổi mới tư duy: Mạch nguồn thanh xuân của Đảng

 

Công cuộc đổi mới sau ba mươi lăm năm đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đã tạo thế và lực cho ta bắt đầu chuyển đổi về chất với sự hứng khởi và nỗ lực sống động của toàn dân, tự tin và khát vọng vươn tới thịnh vượng, hùng cường. 



Đất nước con Lạc cháu Hồng đang bước ra vũ đài toàn cầu với một tâm thế mới: Thế nước, lòng dân, vận Đảng chưa bao giờ mạnh như ngày hôm nay, chúng ta mở hội đón một năm mới với những sự kiện trọng đại: 90 năm Ngày thành lập Đảng, 75 năm Ngày thành lập nước, 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, định hướng tương lại đất nước ta cất cánh.            

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà trở thành lịch sử. Đảng ta ra đời vào mùa xuân, mùa xuân của Đất nước, mùa xuân của Dân tộc. Như một lẽ tự nhiên, Đất nước, Dân tộc và Đảng gắn liền với nhau làm một. Mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng là đất nước được độc lập, tự do, nhân dân ấm no, hạnh phúc, con người được sống trong mùa xuân vĩnh hằng. 90 năm chiến đấu của Đảng là 90 năm Đảng được Dân tộc ta sinh thành, nuôi dưỡng và giao phó những trọng trách lớn lao. 90 năm ấy Đảng ta đã không phụ lòng của Đất nước và Dân tộc, luôn giữ vững ngọn cờ lãnh đạo, sống trong lòng dân và cùng nhân dân giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên nhiều kỳ tích vĩ đại.

Nhìn lại 90 năm xây dựng và phát triển, nhờ có sự nhạy bén, sáng suốt, đổi mới tư duy mà Đảng ta đã giành chính quyền từ tay phát-xít Nhật trong Cách mạng Tháng Tám. Nhờ có tư duy sáng suốt mà ta đã giành thắng lợi to lớn ở Điện Biên phủ vang dội năm châu, chấn động địa cầu. Nhờ có tư duy sáng tạo: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” mà Đảng ta đã hình thành chiến lược để làm nên mùa Xuân đại thắng 1975. Có rất nhiều những mốc son chói lọi ghi dấu ấn xuất phát từ đổi mới tư duy của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.

Ra khỏi cuộc chiến tranh, đất nước ta bị cấm vận tứ bề, kinh tế chậm phát triển, nhân dân đói, nghèo, Đảng ta phải làm cuộc cách mạng Đổi mới từ năm 1986. Trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới tư tưởng, đổi mới kinh tế, vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập, Việt Nam làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Đổi mới lan tỏa sâu rộng, đã chắp cánh cho bao giấc mơ được hiện thực hóa, để rồi đất nước trong những thập niên sau đó đã vượt qua cái đói, cái nghèo, muôn nhà “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như chính mong ước khát khao nhất của Bác Hồ kính yêu. Xét về tỷ lệ giảm nghèo và tỷ lệ tầng lớp trung lưu tăng hằng năm 15% thì đây là một trong những cuộc vượt đói nghèo vĩ đại nhất trong lịch sử các nước. 35 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc lịch sử và ý nghĩa cách mạng to lớn, là một quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện triệt để, là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta.

Đổi mới tư duy có tính đột phá của Đảng trước cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ở giai đoạn mới mà thể hiện ở làn sóng vĩ đại của đổi mới công nghệ, đang tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội con người về mọi mặt từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội. Đó là một xu thế lớn mang tính toàn cầu của thập niên 90 và thế kỷ 21. Đảng ta đã nhanh chóng đổi mới tư duy, tận dụng lợi thế nước đi sau vươn lên nắm bắt khoa học công nghệ mới, sớm đưa  in-tơ-nét vào Việt Nam, xây dựng và phát triển xã hội thông tin. Mà đặc trưng nổi bật của nền văn minh trí tuệ (xã hội thông tin) là quá trình phát triển quốc gia ít dựa vào tài nguyên thiên nhiên, mà dựa chủ yếu vào tri thức, khoa học và công nghệ tức là nguồn lực có khả năng tái sinh và tự sinh sản. Đảng ta đã có những nghị quyết phát triển khoa học công nghệ; nghị quyết về đổi mới giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao tiềm lực trí tuệ và sản sinh ra kiến thức mới cho phát triển; nghị quyết về phát triển khoa học công nghệ trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư… Qua đó nhằm khẳng định thông tin và tri thức thực sự trở thành yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, quản lý, là công cụ để sáng tạo của cải, chìa khóa của quyền lực và an ninh kinh tế - xã hội. Cuộc đổi mới này đang lan tỏa trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tạo xung lực chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị hiệu lực, hiệu quả, nêu cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu, đổi mới cải cách thể chế… đó là cơ sở căn bản để phát triển kinh tế, đổi mới xã hội.

Thế giới đang vận động biến đổi rất khó lường, nhiều bất trắc có thể xẩy ra đột biến và bất ngờ, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu luôn rình dập đe dọa cuộc sống của mọi người dân trên hành tinh này. Không gian bây giờ không chỉ là thực mà thực ảo đan xen. Không gian kỹ thuật số đang tạo ra những cơ hội và những thách thức mới vô cùng quyết liệt cho mọi quốc gia, dân tộc nào không muốn trở thành kẻ lạc hậu.

Trong cuộc trường chinh bất tận này, thời gian đang mang trong mình nó sức mạnh của thời đại. Mỗi ngày qua đi, mỗi đêm thức dậy ta như thấy đất trời đã đổi khác. Vì vậy, nỗi lo tụt hậu lúc nào cũng canh cánh bên lòng, không những của quốc gia mà cả ở trong tư duy của mỗi người. Điều đó Đảng ta đã dự liệu và hiểu rằng tụt hậu là nguy cơ lớn nhất trong cuộc cạnh tranh quốc tế với sức mạnh tổng hợp. Nâng cao dân trí và tiềm lực khoa học - công nghệ sẽ là phương thuốc kỳ diệu để chống lại sự tụt hậu. Khi Việt Nam đang trở thành xứ sở của niềm say mê khám phá, hứng khởi hợp tác toàn diện của nhiều quốc gia trên thế giới và là nơi nuôi dưỡng niềm hy vọng thì mỗi chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn cảm xúc đó bền lâu trong lòng các đối tác và bạn bè quốc tế . Đó cũng là cảm hứng nâng cánh chúng ta bay lên.

Đảng ta đang chuẩn bị cho Đại hôi XIII, đánh giá sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện cương lĩnh, nhất là 10 năm gần đây đấtt nước ta đã đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Nhưng tiếp tục đổi mới tư duy để định hướng tương lai trong xã hội thông tin không thể chỉ dựa vào hiện tại để định hướng theo xu thế phát triển tới tương lai, càng không thể chỉ nhìn về quá khứ để học hỏi kinh nghiệm. Trong xã hội thông tin muốn có định hướng đúng đắn, những giải pháp chính xác nhất thiết phải nhìn thấy được tương lai. Không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược thứ 5 của loài người. Việc chuyển đổi mọi mặt đời sống từ không gian truyền thống lên không gian mạng được gọi là chuyển đổi số. Nhiều nước đã xây dựng và phát triển các chiến lược, chương trình quốc gia về chuyển đổi số. Một xã hội mà con người sẽ thay đổi những quan niệm cơ bản đối với thiên nhiên và xã hội. Sẽ thay đổi từ cách làm việc, lối sống, đến phương thức tiêu thụ. Sẽ thấy rõ rằng sự tồn tại của con người gắn liền với sự tồn tại của thiên nhiên và vũ trụ. Sự tiến bộ của xã hội không thể chỉ đo bằng công nghệ hoặc mức sống vật chất, mà phải bằng cả chỉ tiêu đạo đức, thẩm mỹ, chính trị, môi trường và sự tiến bộ, phong phú đa dạng của các nền văn hóa nhân loại. Triết học, khoa học nhân văn sẽ bùng nổ đột phá vào những câu hỏi về tư cách của con người mới và làm thế nào để xây dựng con người mới.

Đổi mới tư duy trong giai đoạn hiện nay là nhận thức đúng đắn trong công cuộc chuyển đổi từ không gian truyền thống lên không gian mạng hay công cuộc chuyển đổi số, vì thế, là thời cơ mà nếu không nắm bắt thì quốc gia, dân tộc đó sẽ bị bỏ lại phía sau. Đổi mới tư duy hiện nay phải mang tầm chiến lược. Nhìn thấy được tương lại trong công cuộc chuyển đổi số để kiến tạo định hình, hệ thống chính trị xã hội, văn hóa, đạo đức, sự phát triển thể chế, pháp chế, các mối quan hệ...

Thế hệ chúng ta đươc thừa hưởng thành quả 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng, không thể bỏ lỡ thời cơ và vân hội mới của dân tộc để đưa Việt Nam trở thành một quốc gia số thịnh vượng, hùng cường, nhân văn. Thế Việt Nam là thế đàn chim tung cánh đón gió thời đại, băng qua mọi thử thách giông bão vững vàng để tạo đà cất cánh.


90 mùa xuân có Đảng

 


Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam.

90 mùa xuân có Đảng, với đội ngũ những cán bộ trung kiên đã lãnh đạo nhân dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, độc lập, tự do, ghi tên Tổ quốc trên bản đồ thế giới.

90 mùa xuân có Đảng, Nhân dân Việt Nam đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Đó là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam, là thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam. Đồng thời là sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.

90 mùa xuân có Đảng, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân đội và nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước ta liền một dải, Đảng tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo nhân dân Việt Nam vững bước tiến vào thời kỳ xây dựng đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách.

90 mùa xuân có Đảng, thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kinh tế tăng trưởng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội phát triển, gương mặt đất nước và đời sống của nhân dân nhiều đổi mới. Dân chủ được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu,vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

90 mùa xuân có Đảng, đất nước và Nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những thắng lợi dưới sự lãnh đạo của Đảng bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết gắn bó keo sơn Nhân dân với Đảng, lòng yêu nước được phát huy cao độ, được dẫn dắt bởi những tấm gương hy sinh quên mình vì nước, vì dân của những người cộng sản chân chính, tiêu biểu là lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tự hào Đảng quang vinh, dân tộc anh hùng, đất nước trường tồn, mùa xuân vĩnh cửu!

Vượt qua khủng hoảng, vững tin xây dựng đất nước

 Cuộc chiến chống dịch bệnh COVID-19 để lại cho nhân loại khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các lĩnh vực. Đây là cuộc khủng hoảng phức tạp gồm ba cuộc khủng hoảng đan xen. Khủng hoảng y tế, với các mô hình dự báo cho thấy có thể đến 60 triệu người chết, nếu không có đáp ứng kịp thời của y tế công. Khủng hoảng kinh tế, với sự sụt giảm hoạt động kinh tế toàn cầu lên đến 3 đến 4% trong năm 2020. Và khủng hoảng tài chính với sự sụp đổ của các thị trường, với nguy cơ phá sản, sa thải dây chuyền. Có thể nói đây là một đại khủng hoảng chưa từng có, cả quy mô, tốc độ, và các biện pháp hỗ trợ tài chính được đưa ra, chưa từng thấy, với tổng số tiền lên tới hơn 7.000 tỉ đô-la, tín dụng, tiền bảo đảm từ phía các quốc gia để bảo vệ các doanh nghiệp và các gia đình qua cơn đại dịch. 


Với kinh tế Việt Nam, khảo sát gần nhất của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) trên 1.200 doanh nghiệp về ảnh hưởng của COVID-19 tới hoạt động kinh doanh, nhóm ngành bị tác động nghiêm trọng và tức thì là hàng không, du lịch, giáo dục, dệt may, da giày, sản xuất đồ gỗ... 60% doanh nghiệp giảm hơn một nửa doanh thu. Ngân hàng thế giới dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2020 chỉ đạt 2,7%. Sự diễn biến của dịch COVID-19 còn phức tạp, kéo dài đến quý II, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiên liệu mức tăng trưởng khó giữ mức 6,8% mà sẽ tụt xuống khoảng 5,96%.

Khủng hoảng kinh tế kéo theo những sang chấn xã hội. Đại dịch COVID-19 có thể làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Một hệ thống quy tắc và trật tự mới có thể xuất hiện, hoặc hệ thống hiện tại có thể được sửa đổi vì hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của dịch bệnh.  

Con người từ đây phải sống chung với COVID-19 bằng những biện pháp phòng ngừa và tạo lập cho mình một cách sống khác. Người ta sẽ không ôm hôn, nhưng tình cảm không giảm sút. Những cuộc tiếp khách ngoại giao vẫn mang khẩu trang mà không giảm đi sự trọng thị. Sẽ ít đi những cái bắt tay, những vòng tay nối nhau khi kết thúc những cuộc hội thảo, hội nghị, diễn đàn quốc tế nhưng tình đoàn kết thì vẫn nguyên vẹn. Thay vì tập trung đến cuộc họp người ta sẽ ngồi ở tại nhà mình, tại cơ quan, có khi tại nước mình mà vẫn tiến hành các cuộc họp quốc tế, quốc gia, hoặc ở từng địa phương mà vẫn đạt được sự thống nhất các quyết định, nghị quyết, chương trình hành động. Sẽ ra đời ngành kinh tế của doanh nghiệp, xí nghiệp nhưng nhân viên làm việc tại nhà. Việc học tại nhà sẽ trở thành phổ biến. Các phật tử, giáo dân cũng sẽ cầu kinh, niệm Phật mà không cần đến nhà thờ, nhà chùa… Một phong tục mới, một lối sống khác đang hình thành để xây dựng một nếp sống văn hóa mới.

Một thế giới đã phẳng nay lại càng phẳng hơn. Từ các quốc gia giàu nhất đến những quốc gia nghèo nhất đều phải nỗ lực để vực dậy nền kinh tế vượt qua thách thức của cuộc khủng hoảng. Người thắng lợi là người biết nhìn ra những ngành kinh tế thiết yếu, những nhu cầu bức thiết của xã hội và tương lại mà con người sẽ vươn tới để đẩy nhanh bước tiến của mình đứng vào đội hình những nước đi đầu để nhanh chóng vượt qua thử thách và bước vào giai đoạn hưng thịnh của đất nước, với những việc cụ thể.   

Dịch bệnh không thể kết thúc cùng một thời điểm trên thế giới. Việt Nam chưa thể giao thương rộng rãi với các nước, nên cần phải hoạch định một chiến lược vừa có tính trước mắt, vừa bảo đảm phát triển lâu dài phát triển ngành nghề, tập trung khai thác hiệu quả nhất thị trường nội địa với gần 100 triệu dân. Công nghệ cần đi vào ngõ ngách cuộc sống để tạo ra một quốc gia thông minh.

Một nền hành chính công trực tuyến đang phát triển. Hình thức làm việc hành chính không cần đến công sở đang nở rộ. Biện pháp dạy học trực tuyến cho tất cả các cấp học đang được áp dụng ngày càng có chất lượng. Đang manh nha một nền kinh tế phát triển không phụ thuộc không gian tập trung, có khi là sản xuất tại nhà (không phải kinh tế gia đình) mà công nhân ở nhà điều khiển sản xuất qua hệ thống xí nghiệp thông minh. Điều đó nhắc chúng ta rằng “chuyển đổi số hay là chết” nay đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Công nghiệp số đang có sứ mệnh dẫn đường. Nước nào không nắm bắt được thời cơ sẽ phải tụt lại, các nước khác tiến lên. Hiện thực xã hội sau dịch hé mở những tương lai cho việc lựa chọn hoạch định phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn dẫn dắt quá trình CNH, HĐH nền kinh tế trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Nhân dân ta biểu thị sự đoàn kết, kỷ luật và sẵn sàng đóng góp, hiến tặng của cải để chống đại dịch COVID-19, nhưng không sao nhãng theo dõi việc đấu tranh chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành. Nhân dân mong muốn công cuộc chống tham nhũng của Đảng được đẩy mạnh hơn nữa để Đảng ta thật sự vững mạnh. Mọi chính sách vĩ mô, dù tốt đến đâu nhưng nếu không gây dựng được niềm tin của người dân thì chính sách cũng khó thực hiện. Đây vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn cho Đảng, Nhà nước trong cuộc phục hưng đất nước sau cuộc khủng hoảng trầm trọng của thế giới.

Đại  dịch COVID-19 ập đến như thác lũ đổ xuống, nước nào cũng lo đắp bờ ngăn chặn, chia cắt để “tránh lũ”, nảy sinh sự nghi ngờ về thiếu trách nhiệm cung cấp thông tin cho cộng đồng, thông tin thiếu minh bạch, không chính xác làm cho những nước bị sau không đánh giá được mức độ nguy hiểm, để dự phòng, xây dựng phương án chống đỡ. Tất cả những động thái đó chỉ vì lợi ích dân tộc của họ. Trước tình hình đó, Việt Nam với trách nhiệm của Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và Chủ tịch Hiệp hội ASEAN tích cực hơn nữa xây dựng mối quan hệ hợp tác ứng phó và thích ứng trước những đột biến mang tầm khu vực và thế giới.

Những ngày này, Đảng ta đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Nhân dân vững lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết thống nhất ý chí xây dựng đất nước. Khát vọng thịnh vượng hùng cường là khát vọng cháy bỏng của mỗi người Việt Nam. Đất nước thịnh vượng, hùng cường là con đường mang lại hạnh phúc cho nhân dân, nguồn sức mạnh trong thời hội nhập, vũ khí để bảo vệ vững chắc hòa bình và chủ quyền lãnh thổ của đất nước Việt Nam thân yêu.

Một số vấn đề nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan kiểm tra của Đảng

 


Từ năm 1948 trở về trước, công tác kiểm tra của Đảng do các cấp ủy và chi bộ tiến hành. Cuối năm 1948 đến nay, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, quy mô tổ chức, điều kiện hoạt động của Đảng trong từng thời kỳ, cơ quan kiểm tra chuyên trách của Đảng từng bước được tổ chức, kiện toàn, ngày càng hoàn chỉnh. Ban Kiểm tra Trung ương đầu tiên của Đảng được thành lập ngày 16-10-1948 theo Quyết nghị số 29-QN/TW của Ban Thường vụ Trung ương Đảng (khoá I) do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng ký. Tiếp đó, ban kiểm tra của cấp khu ủy được thành lập vào những năm 1948, 1949. Tháng 3 năm 1951, BCH Trung ương có Nghị quyết quy định: "Ban Kiểm tra Trung ương kiêm Ban Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm kiểm tra cả trong quân đội". Ban kiểm tra của cấp tỉnh ủy, thành ủy được thành lập vào những năm 1956, 1957. Tháng 4 năm 1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 16-CT/TW, tách Ban Kiểm tra của Đảng và Ban Thanh tra của Chính phủ. Đến Đại hội III (1960) của Đảng, ban kiểm tra được thành lập đến cấp huyện ủy và tương đương. Từ Đại hội thứ lần thứ IV của Đảng (1976), ban kiểm tra được tổ chức đến đảng ủy cơ sở.

Thực tế hiện nay, ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu và cấp ủy cũng ban hành quy chế làm việc cho ủy ban kiểm tra. Do đó, bàn về đổi mới tổ chức bộ máy và hoạt động của ủy ban kiểm tra rất khó. Trước hết phải đổi mới tư duy của các cấp ủy, cần đổi mới từ gốc, tức là đổi mới từ cách thức thành lập ủy ban kiểm tra các cấp để ủy ban kiểm tra các cấp là cơ quan chuyên trách về kiểm tra, giám sát của Đảng, không phải cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy. Vấn đề là phải trở lại quan điểm về xây dựng Đảng kiểu mới của V.I.Lê-nin: Ủy ban kiểm tra các cấp do đại hội đảng cấp đó bầu ra.

1. Đổi mới cách thức thành lập ủy ban kiểm tra
Cần phải có quyết tâm chính trị cao trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó cần phải đổi mới nhận thức và nâng vị thế của ủy ban kiểm tra lên thành cơ quan kiểm tra và giám sát của Đảng, có tính độc lập tương đối với cấp ủy trong việc thực nhiệm vụ kiểm tra, giám sát do Điều lệ Đảng quy định. Trước hết, việc thành lập ủy ban kiểm tra nên do đại hội đảng cùng cấp bầu.

Tổ chức bộ máy, số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp đã được xác định trong Điều lệ Đảng và các quy định, quyết định, hướng dẫn của BCH Trung ương, Bộ Chính trị. Nhưng hiện nay vẫn chưa thống nhất, nơi thì ủy viên ủy ban kiểm tra đều là chuyên trách, nơi thì có ủy viên ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm. Nên chăng: Bỏ cơ cấu thành viên ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm để tăng cường ủy viên chuyên trách. Vì trong thực tế, ở nhiều nơi số đồng chí là ủy viên kiêm nhiệm hoạt động hạn chế, ít hiệu quả do phải tập trung vào nhiệm vụ chuyên môn là chính, lại chưa có chế độ đãi ngộ nên cũng chưa nhiệt tình với công tác kiểm tra, giám sát.

2. Đổi mới hoạt động của ủy ban kiểm tra
Đổi mới mối quan hệ giữa cấp ủy với ủy ban kiểm tra và mối quan hệ giữa ủy ban kiểm tra cấp trên với ủy ban kiểm tra cấp dưới. Đây là những mối quan hệ cơ bản chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của Ngành Kiểm tra Đảng, quyết định chất lượng, hiệu quả toàn bộ hoạt động công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng.   

Đổi mới mối quan hệ giữa cấp ủy với ủy ban kiểm tra:
Một là, cần đổi mới nhận thức trong quan hệ giữa cấp ủy với ủy ban kiểm tra. Khắc phục tình trạng cấp ủy "khoán trắng" công tác kiểm tra, giám sát cho ủy ban kiểm tra. Tình trạng một số cấp ủy vẫn "khoán trắng" công tác kiểm tra, giám sát cho ủy ban kiểm tra đã từng diễn ra trong thời gian dài và khá phổ biến. Nguyên nhân có phần do nhận thức chưa đúng của cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy hoặc tuy cấp ủy nhận thức được vai trò lãnh đạo đối với ủy ban kiểm tra, nhưng do những khó khăn, phức tạp nên có tư tưởng né tránh, đùn đẩy cho ủy ban kiểm tra.

Hai là, cần nhận thức đúng về tính độc lập tương đối của ủy ban kiểm tra trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Hằng năm, cấp ủy lãnh đạo ủy ban kiểm tra thực hiện Điều 32 Điều lệ Đảng, định kỳ yêu cầu ủy ban kiểm tra báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao… Nhưng trong quá trình lãnh đạo cần giải quyết tốt quan hệ giữa tập trung lãnh đạo với tạo điều kiện để ủy ban kiểm tra hoạt động đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Điều lệ Đảng quy định, tạo cho ủy ban kiểm tra thực hiện nhiệm vụ có tính độc lập tương đối - chỉ tuân thủ theo quy định của Điều lệ Đảng và quy định của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Bảo đảm tính khách quan, nghiêm minh, chính xác, kịp thời khi xem xét, kết luận và chịu trách nhiệm trước cấp ủy.

Ba là, đổi mới cách truyền đạt thông tin của cấp ủy đối với ủy ban kiểm tra. Định kỳ thông tin cho ủy ban kiểm tra những vấn đề quan trọng để ủy ban kiểm tra có điều kiện thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao.

Bốn là, phải duy trì tốt việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy và quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra, coi đó là cơ sở để duy trì thường xuyên mối quan hệ giữa cấp ủy với ủy ban kiểm tra. Một trong những hạn chế thường xảy ra ở nhiều cấp ủy là có xây dựng quy chế làm việc, song không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nội dung quy định trong quy chế. Cần đổi mới và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy, trong đó có cả nội dung lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát.

Trong các quy chế hoạt động của tất cả các cấp ủy đều có điều khoản giao cho ủy ban kiểm tra giúp cấp ủy giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cấp mình. Qua thực tế cho thấy, quy định như trên là thiếu tính khả thi vì ủy ban kiểm tra không có điều kiện giám sát toàn diện. Vì vậy, nên giao cho ủy ban kiểm tra cấp trên nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cấp dưới trực tiếp. Khi ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cấp dưới sẽ có tác động rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo của cấp ủy đối với ủy ban kiểm tra cùng cấp.

Làm rõ mối quan hệ giữa ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra:
Về chức năng của cơ quan ủy ban kiểm tra cần xác định rõ tham mưu, giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy; giúp ủy ban kiểm tra cấp mình và thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát theo quy định.

Về nhiệm vụ, quy định cụ thể nhiệm vụ của cơ quan ủy ban kiểm tra để không lẫn với nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra. Cơ quan ủy ban kiểm tra có phương pháp làm việc như các ban khác của Đảng trong cùng hệ thống.

Đổi mới mối quan hệ giữa ủy ban kiểm tra cấp trên với ủy ban kiểm tra cấp dưới:
Nếu ủy ban kiểm tra do cấp ủy cùng cấp bầu như hiện nay thì theo quy định của Điều lệ Đảng, mối quan hệ giữa ủy ban kiểm tra cấp trên với ủy ban kiểm tra cấp dưới là quan hệ chỉ đạo, hướng dẫn về công tác kiểm tra và kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cấp dưới. Bản chất của mối quan hệ này là quan hệ chỉ đạo và chấp hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Theo đó, ủy ban kiểm tra cấp trên chỉ đạo và kiểm tra, giám sát những vấn đề thuộc về nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra cấp dưới có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh, đồng thời kiến nghị, đề xuất với ủy ban kiểm tra cấp trên những vấn đề cần thiết, được cụ thể hoá trong quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra mỗi cấp. Tuy nhiên, trên thực tế việc chỉ đạo của ủy ban kiểm tra cấp trên đối với ủy ban kiểm tra cấp dưới rất hạn chế. Vì vậy, việc đổi mới hoạt động của ủy ban kiểm tra cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Giao quyền chuẩn y ủy ban kiểm tra cấp dưới cho ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp. Việc giao quyền chuẩn y này vừa bảo đảm việc chuẩn y nhanh, vừa bảo đảm thời gian để cấp ủy tập trung vào công việc lãnh đạo, chỉ đạo chung mà không phải sa vào các sự vụ cụ thể. Đồng thời, bước đầu bảo đảm việc quy hoạch, đào tạo và quản lý cán bộ trong Ngành Kiểm tra Đảng, để dần dần tiến tới việc quản lý cán bộ theo ngành dọc như ngành Kiểm sát, Toà án, Công an, Quân đội. Ủy ban kiểm tra cấp trên phối hợp với cấp ủy cấp dưới trong công tác tổ chức - cán bộ của ủy ban kiểm tra cấp dưới.

Ủy ban kiểm tra cấp trên quy định và hướng dẫn ủy ban kiểm tra cấp dưới theo thẩm quyền về nghiệp vụ chuyên môn của công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra cấp dưới phát hiện, đề xuất những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng, báo cáo ủy ban kiểm tra cấp trên xem xét giải quyết. Trong trường hợp cần thiết ủy ban kiểm tra cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo ủy ban kiểm tra cấp dưới giải quyết các vấn đề cụ thể thuộc các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng. 

Ủy ban kiểm tra cấp trên cần giao ban theo định kỳ với ủy ban kiểm tra cấp dưới. Đổi mới cách báo cáo và biểu mẫu báo cáo, thống kê của ủy ban kiểm tra khoa học, thống nhất, thuận lợi việc tổng hợp.

Đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong Đảng nói chung và công tác thi đua khen thưởng trong Ngành Kiểm tra Đảng nói riêng.

3. Đổi mới tổ chức bộ máy và hoạt động của cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp
Đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra. Hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng phụ thuộc rất lớn vào mức độ hoàn thiện tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra. Vì vậy, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra cho hợp lý, bảo đảm thực hiện có hiệu lực, hiệu quả và chất lượng nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật trong Đảng.

Đổi mới hoạt động của cơ quan ủy ban kiểm tra. Trước hết, phải đổi mới nhận thức của đội ngũ cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra. Hiện nay, ngay một số cán bộ của các cơ quan ủy ban kiểm tra vẫn cho rằng mình là cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, không muốn phụ thuộc vào sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của ủy ban kiểm tra. Thậm chí còn có những nhận thức lệch lạc là muốn tách cơ quan ủy ban kiểm tra ra khỏi ủy ban kiểm tra, để cơ quan ủy ban kiểm tra độc lập như các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy. Chính điều này đã dẫn đến những bất cập như quy định cơ quan ủy ban kiểm tra cũng là chủ thể kiểm tra, giám sát… Do vậy phải nhận thức lại cho đúng là: cơ quan ủy ban kiểm tra là cơ quan tham mưu, giúp việc ủy ban kiểm tra cấp đó. Có nhận thức đúng thì mới có đổi mới hoạt động một cách có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả.

Hai là, khi họp ban lãnh đạo cơ quan ủy ban kiểm tra (thường trực ủy ban) liên quan đến lĩnh vực, địa bàn, đơn vị do đồng chí ủy viên ủy ban trực tiếp phụ trách thì nhất thiết phải mời đồng chí ủy viên ủy ban đó dự họp để khắc phục tình trạng đồng chí là ủy viên ủy ban trực tiếp phụ trách đơn vị trong cơ quan lại không được tham dự vì không trong ban lãnh đạo cơ quan ủy ban kiểm tra dẫn đến nhiều chủ trương, vụ việc của cơ quan chậm được triển khai đến các đơn vị không có phó chủ nhiệm phụ trách trực tiếp. 

Ba là,
 phân định rạch ròi giữa cơ chế thủ trưởng trong hoạt động của cơ quan ủy ban kiểm tra với cơ chế tập thể trong hoạt động của ủy ban kiểm tra, đồng thời xác định rõ những công việc điều hành, quản lý trực tuyến và công việc quản lý, điều hành có tầng nấc trung gian (gián tiếp), những công việc phải kết hợp giữa quản lý, điều hành trực tuyến với gián tiếp. Đây là vấn đề diễn ra ở hầu hết các cơ quan ủy ban kiểm tra. Cần xác định lại khái niệm tổ chức đảng cho đúng để từ đó chỉ rõ cơ quan ủy ban kiểm tra là một cơ quan làm công tác đảng chứ không phải là tổ chức đảng như quan niệm hiện nay. Chính việc quy định các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc cấp ủy, trong đó có cơ quan ủy ban kiểm tra là những tổ chức đảng dẫn đến nhiều bất hợp lý như: trong tổ chức đảng đó còn có nhiều người chưa phải là đảng viên; là tổ chức đảng phải hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ - cơ chế tập thể, nhưng các cơ quan này lại hoạt động theo cơ chế thủ trưởng.

Bốn là, trong hoạt động của cơ quan ủy ban kiểm tra chưa có cơ chế giám sát nội bộ các đoàn kiểm tra, giám sát, trong khi lĩnh vực, địa bàn lại được khép kín đối với một số cán bộ kiểm tra, thiếu sự phối hợp và trao đổi thông tin trong hoạt động. Chưa có cơ chế, chế tài về trách nhiệm của cán bộ kiểm tra theo dõi lĩnh vực, địa bàn để nơi đó mất ổn định chính trị - xã hội, tham nhũng, tiêu cực lớn. 

Tổ chức là lực lượng, là sức mạnh. Nhưng sức mạnh của tổ chức tuỳ thuộc vào những điều kiện cơ bản để hình thành, tồn tại và phát triển của tổ chức và tuỳ thuộc vào việc xây dựng và điều hành, sử dụng tổ chức trong điều kiện, hoàn cảnh, nhiệm vụ cụ thể. Đó chính là khoa học và cũng là nghệ thuật trong công tác tổ chức.

Ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp là những tổ chức của Đảng nên việc xây dựng cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản về xây dựng tổ chức đảng. Đồng thời, phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng đảng bộ, trong từng thời kỳ để xây dựng cơ quan ủy ban kiểm tra cho phù hợp. Các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp phải thường xuyên quan tâm xây dựng, kiện toàn cơ quan ủy ban kiểm tra, thực hiện đúng các nguyên tắc, chế độ làm việc, tạo các yếu tố, điều kiện để phát huy đầy đủ năng lực của tổ chức, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều kiện cầm quyền và nhận diện những nguy cơ để tự chỉnh đốn, đổi mới

 Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam đã trải qua hơn 90 năm tồn tại và phát triển, từ lãnh đạo cách mạng trong điều kiện hoạt động bất hợp pháp đến khi trở thành đảng cầm quyền, từ cầm quyền khi có nhiều đảng phái khác tham chính đến khi trở thành một đảng duy nhất hợp pháp hoạt động, từ cầm quyền trên nửa nước đến cầm quyền trong cả nước, từ lãnh đạo kháng chiến chống đế quốc, thực dân là chủ yếu đến lãnh đạo xây dựng đất nước trong hòa bình, Đảng ta là một đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là một đảng cầm quyền trong những hoàn cảnh rất khác nhau, rất phức tạp. Sự lãnh đạo của Đảng đã phải thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của nhiệm vụ cách mạng, của tình hình trong và ngoài nước. Trong hoàn cảnh nào, vai trò lãnh đạo của Đảng được nhân dân thừa nhận, cùng với năng lực vượt lên chính mình là yêu cầu tiên quyết để khẳng định và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.


1. Ở Việt Nam, từ trước tới nay chưa có một đảng phái yêu nước nào ngay từ khi ra đời đã được tổ chức chặt chẽ, khoa học như Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam. Đây là điều kiện khách quan, lịch sử để Đảng trở thành một đảng cầm quyền

Trước khi Đảng ta ra đời, ở Việt Nam đã có một số tổ chức chính trị yêu nước xuất hiện, dưới các tên khác nhau như hội, đoàn, xã, hay đảng...[1]. Điều này chứng tỏ phong trào yêu nước Việt Nam đang ở bước chuyển quan trọng để đi vào đấu tranh chính trị ngày càng có tổ chức hơn. Nhưng do nhiều nguyên nhân, không một tổ chức chính trị nào có đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Việt Nam trước khi có ĐCS vẫn ở trong tình trạng khủng hoảng về đường lối, cả dân tộc như không có đường ra.

Sau 10 năm đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường để đưa dân tộc thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng đó. ĐCS Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện theo các nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp công nhân đã vượt qua được mọi sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, càng đấu tranh càng mạnh và giành thắng lợi ngày càng to lớn, càng được nhân dân tin cậy, bảo vệ và ủng hộ.

Hàng loạt các đảng phái thân Nhật xuất hiện trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, như: Đại Việt quốc gia xã hội Đảng, Đảng Phụng sự quốc gia, Đại Việt quốc gia liên minh (ở Bắc kỳ); Đảng Việt Nam quốc gia độc lập, Nhật - Việt phòng vệ đoàn (ở Nam kỳ)... Các đảng phái này đều được thành lập một cách vội vã, để rồi tan vỡ rất nhanh chóng. Sau Cách mạng Tháng Tám lại có một vài đảng phái phản động như: Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh; Việt Nam cách mạng đồng minh Hội của Nguyễn Tường Tam, Chu Bá Phượng, hoàn toàn sống nhờ ngoại bang, vì vậy khi không còn dựa được vào ngoại bang thì sự tồn tại của chúng cũng chấm dứt.

2. Vai trò lãnh đạo của Đảng được nhân dân thừa nhận là điều kiện tiên quyết để thành đảng cầm quyền

Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam được nhân dân Việt Nam thừa nhận hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, bởi mấy lẽ sau đây:

Một là, ĐCS Việt Nam ra đời sau khi đã có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: học thuyết, đường lối, tổ chức, cán bộ, tuyên truyền tổ chức đưa phong trào công nhân và phong trào yêu nước từ tự phát đến tự giác ngày càng cao, thiết lập mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Điều này đã được Nguyễn Ái Quốc thực hiện sau khi Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đặc biệt từ năm 1925 trở đi với việc tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên; mở các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu; viết tác phẩm Đường Cách mệnh; đưa đảng viên, cán bộ thâm nhập vào phong trào công nhân, gửi người đi học ở Quảng Châu và Mát-xcơ-va cả về chính trị và quân sự để chuẩn bị cán bộ cho các bước phát triển của cách mạng sắp tới.

Hai là, ngay sau khi ra đời, Đảng đã sớm xác định được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Với Chính cương, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và được Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 thông qua, những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp cách mạng như: mục tiêu cách mạng, con đường đi từ cách mạng tư sản - dân quyền kiểu mới, cách mạng thổ địa đến cách mạng XHCN, xây dựng Đảng của giai cấp công nhân, liên minh công - nông, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, phương pháp đấu tranh giành chính quyền... đều đã được xác định phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Ba là, Đảng đã xây dựng được một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới, và chuẩn bị một đội ngũ cán bộ, đảng viên đến với các tầng lớp nhân dân để tuyên truyền, giáo dục, tổ chức nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời cũng thu hút ngày càng nhiều những người ưu tú trong mọi giai tầng xã hội tham gia Đảng, làm cho lực lượng của Đảng ngày càng lớn mạnh.

Bốn là, thông qua phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó với quần chúng, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, giữ được uy tín với nhân dân, được nhân dân tin cậy và thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng.

Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam được nhân dân thừa nhận bởi nhiều lẽ, nhưng trước hết vì Đảng đã đưa ra được đường lối cách mạng đúng đắn, đáp ứng không chỉ những đòi hỏi bức thiết trước mắt, mà còn những yêu cầu cơ bản và lâu dài của nhân dân. Đảng tổ chức nhân dân thực hiện đường lối ấy đem lại lợi ích cho dân, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc. Quan hệ Đảng với Nhân dân là quan hệ máu thịt – Nhân dân tìm thấy ở Đảng người dẫn đường trong đấu tranh cách mạng; Đảng tìm thấy ở Nhân dân chỗ dựa vững chắc, lực lượng vô địch trong hai cuộc cách mạng nối tiếp nhau, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng XHCN trong cả nước. Vì vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định như một tất yếu lịch sử. ĐCS Việt Nam không tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng với bất cứ đảng phái nào khác; ngược lại các đảng phái chính trị đã có ở Việt Nam cũng không đủ vị thế và uy tín để tranh giành quyền lãnh đạo với ĐCS.

Đảng ta đã lãnh đạo qua hai thời kỳ: 15 năm đầu (1930-1945) là thời kỳ chưa giành được chính quyền; 75 năm trở lại đây (1945-2020) là thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ được chính quyền thực dân, phong kiến để xây dựng chính quyền nhân dân, từ đó Đảng trở thành đảng cầm quyền.

Lãnh đạo là “'đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện”, còn cầm quyền có nghĩa là “nắm giữ chính quyền”. Khái niệm đảng lãnh đạo là để chỉ vai trò, sứ mệnh của ĐCS Việt Nam từ khi thành lập đến nay, có nghĩa là trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Khái niệm đảng cầm quyền là để chỉ vị trí của Đảng khi đã giành được chính quyền, cũng có nghĩa là Đảng lãnh đạo khi đã có chính quyền. Bằng chính quyền, thông qua chính quyền và các đoàn thể nhân dân, Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Khái niệm đảng cầm quyền đã được V.I.Lê-nin nêu ra; sau này Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng đã sử dụng các khái niệm như:“Đảng giành được chính quyền”, “Đảng nắm chính quyền”, “Đảng cầm quyền” khi đề cập đến vai trò của Đảng đối với xã hội. 

3. Nhận diện rõ nguy cơ phái sinh để Đảng thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới

Sự lãnh đạo của Đảng trước khi có chính quyền khác rất nhiều so với khi đã có chính quyền. Trước khi có chính quyền, Đảng không có quyền lực nào đối với dân, đối với xã hội. Trong điều kiện hoạt động bất hợp pháp, mọi đường lối của Đảng có đến được với dân hay không chủ yếu là do các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến thuyết phục đến các hội, quần chúng cốt cán của Đảng, thậm chí đến từng người dân, từ đó tổ chức nhân dân thực hiện đường lối của Đảng. Đảng phải được dân tin, dân yêu, dân nuôi, dân bảo vệ; mọi sự xa rời nhân dân đều có thể dẫn đến tổn thất cho cách mạng. 

Khi đã có chính quyền thì chính quyền là công cụ mạnh mẽ để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống. Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng, Đảng lãnh đạo chính quyền (Nhà nước) thể chế hóa mọi đường lối, chính sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, thành các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức quần chúng thực hiện. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực đều là của nhân dân, nhân dân uỷ nhiệm Nhà nước thực thi quyền lực của nhân dân trong toàn xã hội. Do vậy, cần cảnh giác với nguy cơ những người nắm quyền lực Nhà nước vốn là đại biểu được nhân dân bầu ra nhưng có thể lợi dụng biến quyền lực đó thành quyền lực của mình. Nếu việc sử dụng quyền lực của Nhà nước có tính chất cưỡng chế cũng rất dễ làm cho không ít tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên coi nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trong công tác lãnh đạo của Đảng, hoặc làm chỉ có tính hình thức. Điều ấy chứng tỏ quyền lực nếu có sức mạnh to lớn trong việc cải tạo hiện thực, xây dựng xã hội mới, thì cũng có mặt trái dễ làm tha hóa con người, thậm chí làm tha hóa cả một đảng cầm quyền. Lord Acton - nhà sử học đồng thời là nhà triết học người Anh cuối thế kỷ XIX đã có câu nói nổi tiếng: “Quyền lực dẫn đến hư hỏng. Quyền lực tuyệt đối đẫn đến hư hỏng tuyệt đối” - Luận điểm ấy hoàn toàn có lý khi suy nghĩ về mặt trái của quyền lực.

Là người lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản thắng lợi và thành lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, V.I.Lê-nin đã cảnh báo về những tệ nạn như quan liêu, dốt nát, kiêu ngạo cộng sản từ rất sớm và đòi hỏi ĐCS (b) Nga khi đã trở thành đảng cầm quyền phải kiên quyết chống lại những tệ nạn này. Là người lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, thành lập nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã vạch rõ tham ô, lãng phí, quan liêu là ba thứ giặc nội xâm có thể biến một người có công trở thành kẻ có tội, thậm chí làm đổ vỡ cả sự nghiệp của một đảng cầm quyền. Đáng tiếc là những tệ nạn ấy đã diễn ra ở tất cả các nước XHCN, ở tất cả các ĐCS cầm quyền và đã trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến sự tan rã của ĐCS và sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu cuối thế kỷ XX. Như vậy, việc xây dựng một ĐCS cầm quyền không phải chỉ có thuận lợi, mà còn không ít thách thức cần phải vượt qua, nguy cơ cần phải đẩy lùi. Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới để luôn luôn xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính, như Hồ Chí Minh thường nhắc nhở.

Vấn đề chủ yếu đối với một ĐCS cầm quyền là làm sao giữ vững được vai trò cầm quyền của mình bằng đường lối cách mạng đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp và đặc biệt quan trọng là bằng sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng cũng như của cả đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ đó giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, nguồn gốc tạo nên sức mạnh của Đảng.

Ý nghĩa, lịch sử ra đời Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3

 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam dưới Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.


Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930, Đảng đã thấy rõ tầm quan trọng của việc xây dựng tổ chức Đoàn. Tại hội nghị, Ban Chấp hành lần thứ Hai họp từ ngày 20 đến 26/3/1931, Trung ương Đảng đã dành một ngày trong thời gian hội nghị để bàn và quyết định những vấn đề quan trọng về công tác vận động thanh niên của Đảng. Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt ấy, được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Bác Hồ, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III (họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 tại Hà Nội) đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn.
 
1. Ý nghĩa Ngày thành lập Đoàn 26-3

Cuối tháng 3 nǎm 1931, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã triệu tập Hội nghị toàn thể lần thứ hai tại Sài Gòn, dưới sự chủ toạ của Tổng bí thư Trần Phú. Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách và tǎng cường thành phần công nhân trong Đảng. Cũng tại Hội nghị này, nhận thấy vai trò của lực lượng thanh niên trong sự nghiệp cách mạng nên đã đề ra quyết định "Cần kíp tổ chức ra Cộng sản thanh niên Đoàn" và chỉ thị cho các tổ chức Đảng ở các địa phương quan tâm đến việc xây dựng tổ chức Đoàn thanh niên. Từ đó, Đoàn TNCS Đông Dương ra đời. Qua các giai đoạn của Cách mạng, tổ chức này trải qua các tên gọi như: Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc, Đoàn thanh niên lao động và ngày nay là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Cùng đất nước, các thế hệ thanh niên Việt Nam đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Từ ngày 23 đến ngày 25-5-1961, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đoàn lấy ngày 26-3, một ngày trong thời gian diễn ra Hội nghị Trung ương tháng 3-1931 làm kỷ niệm thành lập Đoàn.

2. Lịch sử ra đời của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26/3, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn.


Trước sự phát triển lớn mạnh của Đoàn trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở.

Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta; đồng thời, phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu - Người đã sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn. Được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 - 25/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm. Ngày 26/3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh.

Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:

-Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương

-Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương

-Từ 11/1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương

-Từ 5/1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam

-Từ 25/10/1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam

-Từ 2/1970 - 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh

-Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Những thế hệ thanh niên kế tiếp nhau đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì chủ nghĩa xã hội đã liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc và trưởng thành vượt bậc.

Không thế lực nào có thể chia cắt nghĩa đồng bào - mọi mưu đồ chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhất định thất bại

 Đoàn kết dân tộc là quy luật muôn đời để dựng nước và giữ nước, là nguồn sức mạnh tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động tập trung mũi nhọn chống phá sự nghiệp đổi mới là chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi. Cần phải bóc trần những âm mưu, thủ đoạn này để từng cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết.

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Câu nói mộc mạc và súc tích ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự tổng kết và khái quát ở tầm cao của trí tuệ, nêu lên một quy luật và khẳng định truyền thống văn hóa hàng ngàn năm lịch sử trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhờ có đoàn kết đồng lòng mà 54 tộc người cùng chung sống trên mảnh đất không rộng lắm, người không đông lắm, trình độ phát triển về kinh tế còn khó khăn, nhưng đã vượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi được với thiên tai, địch họa, bảo vệ giang sơn, bờ cõi, thống nhất non sông, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, và đang chung sức, chung lòng xây dựng đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Việt Nam (tranh lụa của họa sĩ Trần Minh Thái) _Ảnh: Tư liệu

Dân tộc nào cũng có truyền thống đoàn kết để sinh tồn và phát triển, song truyền thống đoàn kết của dân tộc ta có những nét đặc thù. Đó là cuộc sống xen kẽ giao hòa của dân cư một đất nước đa tộc người, đa tôn giáo, luôn phải biết chia sẻ giá trị, tôn trọng lẫn nhau những khác biệt. Đó là những cuộc vật lộn liên miên để chống chọi với thiên tai vô cùng khắc nghiệt và chiến đấu oanh liệt chống đủ loại chiến tranh xâm lược hòng thôn tính lãnh thổ và nô dịch dân tộc ta. Đó còn là quá trình tự ý thức về giá trị văn hóa thuộc về bản sắc dân tộc Việt Nam, một dân tộc ngay từ khi hình thành đã mang tính cố kết cộng đồng cao.

Nghiên cứu chiều sâu của đoàn kết dân tộc mới thấy rõ ý nghĩa trọng đại, có tầm lý luận cao và ý nghĩa thực tiễn mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã tổng kết thành bài học thứ ba trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta và của cả quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, đó là: Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Cương lĩnh của Đảng đã chỉ rõ các cấp độ đoàn kết có quan hệ biện chứng với nhau, kết hợp với nhau một cách hữu cơ, tạo thành một tổng hợp lực để sản sinh ra sức mạnh vô địch không thế lực nào phá vỡ nổi. Nhờ sức mạnh đó mà sự nghiệp chính nghĩa ắt giành được thành công từ nhỏ đến lớn, đi tới thắng lợi cuối cùng, cho dù phải trải qua sóng gió, thử thách, thậm chí vấp phải khó khăn, thất bại tạm thời. Bài học lịch sử đó bác bỏ một cách đanh thép mọi luận điệu của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc, bôi nhọ đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc; khẳng định chắc chắn rằng, đoàn kết là một truyền thống rất quý báu và vững chắc, một giá trị văn hóa và tinh thần vô cùng quý báu, là đường lối chiến lược mang tính lâu dài, là quy luật sinh tồn và phát triển của toàn dân tộc.

Sự tổng kết trong Cương lĩnh hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta, chứ không phải mang tính chủ quan duy ý chí. Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã phải trải qua những khó khăn, thử thách, nhiều lúc vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo trên sợi tóc”, những khúc quanh với những ấu trĩ, sai lầm, khuyết điểm. Có những nơi, những lúc, những người vì lợi ích cá nhân hẹp hòi đã tạo ra những hố ngăn cách không đáng có trong cộng đồng dân tộc. Bước vào kinh tế thị trường, những hậu quả do mặt trái của nó mang lại, mà nổi lên là sự phân hóa giàu nghèo, là chủ nghĩa thực dụng về vật chất, đã gây nên những thách thức phức tạp làm tổn hại khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà việc khắc phục và vượt qua những thách thức này không phải nhanh chóng, dễ dàng.

Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyết tâm làm tất cả những gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại hoặc làm xói mòn, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử đã cho chúng ta bài học quý giá: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”. Ngày nay, một môi trường quốc nội đoàn kết và ổn định là tiền đề cần thiết thu hút đầu tư nước ngoài, tạo thế đứng cho đất nước trong công cuộc hội nhập quốc tế, con đường tất yếu để nước ta tồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay. Mọi thế lực thù địch muốn phá hoại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc ta luôn luôn nhằm vào tiêu điểm là phủ nhận, xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta, vì đây chính là cội nguồn, là bảo đảm cơ bản nhất cho thắng lợi của cách mạng nước ta, là một động lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước hôm nay và mai sau. Hơn bao giờ hết, bất cứ lúc nào, hễ nội bộ chia rẽ thì đất nước suy vong, kẻ thù nhòm ngó, xã hội rối ren và tụt hậu. Tụt hậu về mọi mặt, trước hết là về kinh tế, có nghĩa là tự đánh mất những thành quả cách mạng của nhân dân ta, dẫn đến mất độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Vì lẽ đó, đấu tranh để bảo vệ vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tức là đấu tranh làm thất bại về căn bản âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, là vấn đề tồn vong của dân tộc, của chế độ. Đó là lương tâm, trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước, mỗi người cách mạng chân chính.

Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta từ lịch sử được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đã chứng minh một cách đanh thép sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là Đảng ta đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọi thời kỳ, từ khi thành lập Đảng cho đến ngày nay.

Trải qua gần 35 năm đổi mới đất nước, các nghị quyết của Đảng đã không ngừng đi vào cuộc sống và khẳng định những nội dung đúng đắn của đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh dân tộc đến mức cao nhất, đặt lợi ích chung của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, coi đó là điểm xuất phát để xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nghị quyết số 07-NQ/TW, ngày 17-11-1993, của Bộ Chính trị khóa VII, “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất”, đề ra những quan điểm phản ánh tập trung nhất tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, khẳng định nội dung cơ bản của đường lối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là “đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài”(1), lấy mục tiêu chung là giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu đưa nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, coi đó là điểm tương đồng, “đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau...”(2). Đây là bước phát triển mới có ý nghĩa rất quan trọng về đường lối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bác bỏ những luận điệu sai trái cho rằng, Đảng và Nhà nước ta thành kiến, hẹp hòi và phân biệt đối xử với những người trước kia từng làm việc trong chế độ cũ.

Chúng ta đều biết rằng, sau khi miền Nam được giải phóng, nước nhà thống nhất, nhiều người trong chế độ cũ đã trở lại trong lòng dân tộc. Họ được sử dụng theo khả năng và sở trường, không ít người đã được tín nhiệm bầu là đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, công tác trong các cơ quan nhà nước, thành viên của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Trung ương đến địa phương. Nguyễn Hữu Có, nguyên Trung tướng trong quân đội Sài Gòn, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của chính quyền Sài Gòn, sau nhiều năm phấn đấu hòa nhập với nhân dân đã trở thành Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chia sẻ: “Từ sau ngày đất nước thật sự độc lập và thống nhất đã có rất nhiều chuyển biến, không phải chỉ là một mặt mà ở nhiều mặt, không phải chỉ ở một phía, mà nhiều phía. Tôi ra đường, ra phố bây giờ ai cũng gọi tôi là anh, là bác. Đó là kết quả của những chuyển biến tích cực của xóm, phường, của chế độ và của chính tôi... Tôi đã chọn ở lại với quê hương, với dân tộc và tôi thật sự cảm thấy hạnh phúc...”(3).  

Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống của chính quyền Sài Gòn khi về thăm quê hương năm 2004, trong buổi tiếp xúc với lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bày tỏ: “Tôi cảm nhận thấy tình hình kinh tế - xã hội phát triển, ổn định, tốt đẹp, đời sống nhân dân được cải thiện. Nhân dân vui vẻ, bình yên đón Tết cổ truyền của dân tộc trong khối đại đoàn kết thống nhất vui vẻ. Trước đây, do sự áp đặt của ngoại bang, Tổ quốc ta như một cơ thể bị chia cắt ra từng khúc, nay quý vị đã làm được sự thống nhất trở lại. Tôi thấy từ trong đường gân thớ thịt mạch máu lưu thông, sức sống của một cơ thể thống nhất đang phát triển từng ngày không gì cản trở được. Chúng tôi, những người ở vào tuổi thất thập cũng nhắc nhở mình phải góp phần nhỏ bé cho đất nước. Nhưng tương lai huy hoàng của đất nước này thuộc về lớp trẻ hiện nay có sự lãnh đạo tập trung của Nhà nước Việt Nam và với chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn, chúng ta sẽ phát triển phù hợp với trào lưu chung của thế giới”(4).

Những lời phát biểu trên đây của những người đã từng giữ những chức vụ rất cao trong bộ máy chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 đã góp phần phê phán mạnh mẽ và bác bỏ luận điệu xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Không ai có thể tuyên truyền, cưỡng ép họ phải nghĩ tốt về chế độ. Chỉ một cảm nhận nhỏ khi đi ra đường được mọi người gọi là bác, là anh, đã làm cho họ thấy cuộc sống hạnh phúc, vì đồng bào dang tay đón họ, những người mà nếu ở nơi khác có thể bị trả thù và bị loại ra khỏi đời sống xã hội. Sức mạnh của đường lối đại đoàn kết đúng đắn của Đảng và Nhà nước chẳng những tập hợp được đông đảo nhân dân, cao hơn thế, nó còn khoan dung, cảm hóa được cả những người tưởng chừng như khó có thể trở về trong lòng dân tộc.

Những năm qua, sự xuyên tạc đường lối đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước còn nhằm vào chia rẽ và phá hoại quan hệ gắn bó máu thịt giữa 54 dân tộc anh em, chia rẽ dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, phủ nhận chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tuy thực tế còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng những thay đổi lớn lao trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp các vùng, miền của đất nước đã chứng minh tính đúng đắn của các chính sách thể hiện sự “bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển” đối với các dân tộc thiểu số. Quan điểm đó của Đảng và Nhà nước ta là nguyên tắc cơ bản của các chủ trương, chính sách đoàn kết các dân tộc thiểu số, xuất phát từ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam ngày 19-4-1946, đã viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta”(5). Tư tưởng đó là linh hồn của các chính sách dân tộc của Nhà nước ta. Các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế,... ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước thể hiện tinh thần đó và đã mang lại sự thay đổi rõ rệt.

Ya Đuk, người dân tộc Cơ Ho, tỉnh Lâm Đồng, nguyên là thủ lĩnh của lực lượng FULRO trước đây, sau nhiều năm sống trong rừng sâu chống lại chính quyền nhưng do nhận thức rõ chính sách đúng đắn của Nhà nước ta, đã quay về với nhân dân, tích cực tham gia xây dựng quê hương, tham gia Mặt trận Tổ quốc, rồi trưởng thành, là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng, đại biểu Quốc hội. Nhân dịp nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành khóa IX(6), Ya Đuk viết: “Xin cảm ơn Đảng Cộng sản Việt Nam, cảm ơn Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đem lại cho bà con dân tộc thiểu số quyền được làm một công dân của một đất nước độc lập, dân chủ, có cuộc sống ngày một ấm no, hạnh phúc và tiến bộ. Những thay đổi to lớn đó là ước mơ của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ bao đời nay”; “Đến nay, vẫn còn một số ít bà con dân tộc thiểu số Tây Nguyên bị kẻ xấu lợi dụng, kích động, chia rẽ, xúi giục, mua chuộc, đã tụ tập đông người có hành động gây rối. Đây chính là hành động mang màu sắc chính trị xấu xa, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước”(7).

Những chia sẻ đó là tiếng nói của người trong cuộc, của những nhân chứng sống về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, bác bỏ đanh thép mọi sự vu cáo xấu xa về chính sách dân tộc đúng đắn được đồng bào dân tộc thiểu số hoan nghênh và tích cực ủng hộ bằng hành động cụ thể, thiết thực.

Trong hoạt động chống phá đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch còn ráo riết chống phá chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chia rẽ khối đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta. Lợi dụng tính phức tạp của vấn đề tôn giáo và thổi phồng một số sai lầm, khuyết điểm trong nhận thức và việc làm của một số cán bộ, các thế lực thù địch không ngừng vu cáo Đảng và Nhà nước ta kỳ thị người theo đạo, bóp nghẹt tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vi phạm nhân quyền... Thực tế tự do tôn giáo ở nước ta đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.

Ngay từ khi mới ra đời nước Việt Nam mới, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố long trọng chính sách của Chính phủ là tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết. Chính sách đó đi vào cuộc sống đã tập hợp đồng bào có đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, sống tốt đời đẹp đạo, đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của công cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân ta.

Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, chính sách tôn giáo đã không ngừng hoàn thiện, ngày càng phù hợp với thực tế khách quan. Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào theo các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đạo đức tôn giáo có những điểm phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội mới. Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết tôn giáo, đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, đồng thời nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng dạy chữ cho con em đồng bào dân tộc thiểu số _Nguồn: qdnd.vn

Trong xã hội ta, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, được mở cơ sở đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, xuất bản các ấn phẩm về tôn giáo, được xây dựng, sửa chữa, giữ gìn cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Những công trình thờ tự cũ được tôn tạo khang trang, những công trình lớn mang tầm cỡ khu vực được đầu tư xây mới, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về tôn giáo đã được tổ chức thành công tại Việt Nam.

Hiến pháp và pháp luật bảo hộ các tôn giáo, các tôn giáo hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật là nhằm giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho hoạt động tôn giáo diễn ra lành mạnh. Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới không có yêu cầu về giữ vững môi trường ổn định để bảo đảm cuộc sống yên lành của nhân dân, trong đó có những người theo tôn giáo. Ngay từ thời trung cổ, các nhà nước vùng Trung Cận Đông và châu Âu cũng đã ra những đạo luật buộc những người theo tôn giáo phải chấp hành nghiêm chỉnh. Do vậy, nghiêm trị những kẻ gây rối, dù họ là người theo tôn giáo, tuy là một việc không muốn có, cũng là yêu cầu bắt buộc của việc quản lý đất nước. Không thể coi việc xử lý những cá nhân tín đồ có những hành động vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự xã hội, cuộc sống yên lành của nhân dân, là “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”. Thử hỏi, nếu cứ để cho những phần tử xấu, mượn cớ đòi tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hành động quá khích, gây rối làm tổn hại đến cuộc sống của cộng đồng dân cư, trong đó có cả những người theo đạo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thì sẽ dẫn đến hậu quả như thế nào? Khi đó, chẳng những lợi ích dân tộc bị đe dọa, mà lợi ích thiết thân của những người theo đạo - một bộ phận gắn bó của dân tộc, cũng sẽ không được bảo đảm.

Mùa thu năm 1843, trong tác phẩm Về vấn đề Do Thái, C. Mác đã viết: “Ngay trong một nước mà giải phóng chính trị đã hoàn thành, tôn giáo không những vẫn tồn tại mà còn biểu hiện sức sống và sức mạnh, thì điều đó chứng tỏ rằng tồn tại của tôn giáo không mâu thuẫn với tính chất hoàn thiện của Nhà nước”(8). V.I. Lê-nin cũng từng phê phán sự phân biệt đối xử giữa những người có đạo và không có đạo. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối với những người theo tôn giáo, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu gương sáng trong việc đoàn kết đồng bào theo đạo với tất cả tấm lòng chân thành và tình cảm thiết tha.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cơ bản bảo đảm cho sự thành công của chính sách tôn giáo. Xét về bản chất, chủ nghĩa xã hội nhằm xây dựng một xã hội, trong đó không còn chế độ bóc lột, đàn áp, bất công; mọi người sống tự do, bình đẳng, nhân ái, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Điều đó trùng hợp với những ý tưởng tốt đẹp của những nhà sáng lập các tôn giáo. Không nghi ngờ gì nữa, những luận điệu sai trái đặt chủ nghĩa xã hội đối lập với tôn giáo, vu khống Nhà nước ta đàn áp tôn giáo là hoàn toàn xa lạ với quan điểm, chính sách về tôn giáo ở nước ta.

Trong các cuộc làm việc, trao đổi với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, nhiều vị chức sắc tôn giáo đã bày tỏ sự trân trọng, tin tưởng, đồng thuận với chính sách tôn giáo của Việt Nam. Chẳng hạn như, mục sư đạo Tin Lành Vũ Hùng Cường bày tỏ: Nhờ có chính sách tôn giáo đúng đắn của Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, mọi người được tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng và bình đẳng trước pháp luật. Tôi thấy chính sách ấy vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế của mỗi một xã hội tươi đẹp văn minh. Nguyễn Cao Kỳ cũng phát biểu: “Tôi về kỳ này được yên ổn tham quan, vui chơi, không gặp một trường hợp trắc trở nào. Mọi người đều được yên ổn làm ăn, sinh sống, kể cả những người có đạo mà tôi được gặp ở các chùa, nhà thờ cũng được yên vui hành đạo”(9).

Linh mục Phê-rô Nguyễn Công Danh, Phó Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam sinh thời luôn khẳng định: Các tôn giáo tại Việt Nam nói chung - nói riêng là Công giáo - đều dành cho chủ nghĩa xã hội những tình cảm trân trọng, tin cậy và sẵn sàng cộng tác với Nhà nước trong những chương trình xã hội, ích quốc, lợi dân theo đúng phương châm mà Giáo hội Công giáo đề ra: “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, để phục vụ hạnh phúc cho đồng bào.

Các thế lực thù địch không thể chia rẽ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đồng bào theo đạo. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau cũng như tôn chỉ, mục đích hành đạo của từng tôn giáo, như “Đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo, “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo, “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” của đạo Tin Lành, “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài, “Chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc, phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” của Phật giáo Hòa hảo,... là xu hướng chủ lưu hành đạo của truyền thống tôn giáo yêu nước trong cộng đồng các tôn giáo của nước ta.

Trong cuộc đấu tranh chống lại những luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, còn phải phê phán những luận điệu sai trái xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào đang định cư, sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Đảng và Nhà nước ta luôn coi đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, luôn nhất quán chủ trương chăm lo cung cấp thông tin về tình hình đất nước, bảo hộ quyền lợi chính đáng của đồng bào, nâng cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng, tinh thần tự tôn và tự hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới chính sách, tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn để những người con xa xứ về thăm quê hương và đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhờ chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc đúng đắn mà kiều bào ta ngày càng xóa bỏ mặc cảm, gắn bó với quê hương. Đại bộ phận kiều bào đều hướng về Tổ quốc, nhiều người đã về thăm và tham gia đầu tư xây dựng đất nước. Số đồng bào về thăm quê hương ngày càng tăng, kể cả những người đã giữ những chức vụ cao trong bộ máy của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975. Thực tế đó bác bỏ luận điệu cho rằng, Nhà nước ta phân biệt đối xử với kiều bào.

Trong những thành tựu của đất nước gần 35 năm đổi mới có sự đóng góp không nhỏ của kiều bào, thông qua hoạt động sôi động của kiều hối với hàng chục tỷ USD hằng năm, các dự án đầu tư vào nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, khoa học - công nghệ... của các nhà doanh nghiệp, trí thức kiều bào với nhiều tài năng trên nhiều lĩnh vực. Tổ quốc và quê hương với truyền thống lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng luôn dang rộng vòng tay đón chào những người con xa quê trở về. Tuy còn bộ phận nhỏ cố chấp, có biểu hiện chống lại xu thế hòa giải, hòa hợp dân tộc nhưng với đường lối đại đoàn kết dân tộc đúng đắn, có thể tin tưởng rằng, trong tương lai không xa những rạn nứt và ngăn cách đó sẽ được khỏa lấp./.