Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) do Phan Lạc Tiếp (SN 1933), nguyên là sĩ quan hải quân Nguỵ quân Sài Gòn và Nguyễn Hữu Xương, nguyên giáo sư Đại học San Diego, thành lập năm 1980, có trụ sở tại Sandiego, Carlifornia (Mỹ) với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ. Năm 1990, Phan Lạc Tiếp và Nguyễn Hữu Xương đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng (SN 1958, tại TP Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ), tiếp tục điều hành BPSOS. Sau khi tiếp nhận, Thắng đã dời trụ sở của BPSOS đến bang Falls, Church, Viginia (Mỹ) và hướng lái các hoạt động chuyển sang việc lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Việt Nam.
Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021
VẠCH MẶT TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG UỶ BAN CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN -BPSOS
Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021
Một số quy định đối với quân nhân chuyên nghiệp có hiệu lực từ hôm nay (15-3)
Đập tan chiêu trò bịa đặt về nhân sự đại hội Đảng
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên
Quân đội nhân dân Việt Nam mãi xứng đáng là điểm tựa, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Tấm khiên trong đại dịch và một đảng biết lo cho dân
Biển Đông dậy sóng
Trong những ngày biển Đông dậy sóng, không ít người tỏ ra lo lắng cho rằng nào là “Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc”, nào là “chênh lệch về sức mạnh vũ khí, sức người sức của”. Thậm chí cho rằng “hèn với giặc”.
Gã hàng xóm xấu bụng, lâu nay quen thói bắt nạt tư tưởng đại Hán, thấy Việt Nam nhẫn nhịn càng lấn tới. Nhưng, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn đang kiềm chế một cách khôn ngoan tỉnh táo.
Nếu Trung Quốc bước qua “lằn ranh đỏ”, phát động chiến tranh, lòng kiên nhẫn của người Việt bị dập tắt, như chiếc lò xo bị nén lại để bung ra, thì kẻ xâm lược sẽ bị quân đội nhân dân Việt Nam can trường giáng những đòn táo bạo bất ngờ nhất như đã từng từ 1979-1989.
Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng không khuất phục được cả dân tộc vốn hiền lành nhưng có truyền thống chống ngoại xâm. Tinh thần “Còn cái lai quần cũng đánh” sẽ dạy cho kẻ thù về sức mạnh Việt Nam.
Những trận Bạch Đằng, Như Nguyệt, trận Đông Bộ Đầu, Thăng Long, Hàm Tử - Tây Kết, trận Chương Dương Độ, Chi Lăng, Xương Giang, trận Rạch Gầm – Xoài Mút, trận Ngọc Hồi - Đống Đa và hàng trăm ngàn trận chiến lớn nhỏ, đã có biết bao thế hệ đã ngã xuống để dân tộc trường tồn.
Bị ví “châu chấu đá voi”, Pháp đã dồn người Việt tới đường cùng, buộc cả dân tộc phải vùng dậy, nhờ hơn hẳn khát vọng độc lập và ý chí quật cường, dân tộc Việt đã tiến hành “Cuộc chiến giữa hổ và voi” nghiền nát đội quân kẻ thù, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân, là nguồn cổ vũ giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa khắp thế giới lúc ấy.
Cuối năm 1972, Mỹ đã quyết định chơi đòn sinh tử, né.m poom hủy diệt miền Bắc Việt Nam bằng tất cả vũ khí tối tân nhất, nghiến răng tuyên bố: “Sẽ đẩy Bắc Việt Nam vào thời kỳ đồ đá”. Nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam không phải là Thỏ mà là Cóc tía.
Boom đạn chỉ hù dọa được những kẻ yếu bóng vía. Dân tộc Việt Nam xưa nay chỉ cúi đầu trước lẽ phải chứ chưa bao giờ khiếp nhược trước kẻ thù. Dù bom rơi, đạn trút, trẻ em vẫn tung tăng đến lớp học mái hình chữ A. Quân đội nhân dân Việt Nam đối đầu với những siêu pháo đài bay B52, những máy bay tàng hình cánh cụp cánh xòe cỡ F111…. và lại rụng như sung. Nhân dân Việt Nam lại làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.
Đã có Điện Biên Phủ trên mặt đất, dưới hầm sâu năm 1954 và “Điện Biên Phủ trên không” xé toang bầu trời năm 1972. Cả dân tộc Việt Nam nếu cần, sẵn sàng một “Điện Biên Phủ trên biển”, đập tan mọi tham vọng ngông cuồng muốn bá chủ biển Đông.
Người Việt ta có đầy lòng vị tha, bao dung, khi đất nước bị xâm lăng thì dẹp qua mọi thứ, gan góc, đoàn kết một lòng, kiên cường bảo vệ Tổ quốc. Đây là lúc để mỗi người dân Việt nhìn lại mình, sửa những thói hư tật xấu, bỏ qua mọi hiềm khích, làm việc nhiều hơn vì một Tổ quốc Việt Nam cường thịnh.
Không một ai đủ tư cách dạy người Việt về lòng yêu nước! Không một ai đủ tư cách dạy bộ đội Việt Nam về lòng dũng cảm và gan dạ ! Đừng nhân danh bất kỳ cái gì để kích động chiến tranh. Quân đội Nhân dân Việt Nam không phải là người rút gươm ra trước, nhưng sẽ là người tra gươm vào vỏ sau cùng!
ĐẤT NƯỚC NIỀM TIN
Đất nước nào nhỏ bé mảnh mai
Dáng rồng phục chạy dài biển cả
Hàng nghìn năm vẫn không bị đồng hoá
Mười bẩy lần đánh trả giặc ngoại bang.
Đất nước nào từ máu dựng thành làng
Xây Tổ quốc bằng tiếng vang nhân loại
Hàng nghìn năm chưa một lần thất bại
Trước quân thù sống mãi để lưu danh.
Đất nước nào vang liệt hùng anh
Xăm sát thát để trở thành sức mạnh
Hội nghị Diên Hồng tiếng hô quyết đánh
Lừng lẫy Nguyên Mông cũng phải tan tành.
Đất nước nào mà sử sách lưu danh
Gậy tầm vông cũng trở thành vũ khí
Huyền thoại Điện Biên chuyển rung thế kỷ
Khiến Á, Âu, Phi, Mỹ ngước nhìn.
Đất nước nào mà dân vững niềm tin
Từ đứa trẻ cũng giữ gìn đất nước
Khối đoàn kết luôn hướng về phía trước
Vai sát vai cùng tiến bước dưới cờ.
Đất nước nào đẹp những vần thơ
Khiến đứa trẻ cũng mơ thành Thánh Gióng
Vì độc lập luôn khát khao cháy bỏng
Quyết xông lên từ sức nóng tim mình.
Đất nước nào mà dám nguyện hi sinh
Đốt cả Trường Sơn vì hoà bình độc lập
Già trẻ gái trai tim chung nhịp đập
Dưới quân kỳ rầm rập bước tiến quân.
Đất nước nào mà sức mạnh toàn dân
Tay liềm, búa tiến quân lên chiến thắng
Hũ gạo đồng tâm, triệu người cố gắng
Bớt phần ăn để chiến thắng quân thù.
Đất nước nào trong lửa đạn mịt mù
Vùng đứng dậy giữa trời thu hửng sáng
Tất cả đồng tâm dưới ngọn cờ của Đảng
Từ tay không giáng đế quốc hung tàn.
Đất nước nào tuy nhỏ lại to gan
Vũ khí thô xơ vẫn đánh tan đế quốc
Nhất tề đứng lên không chịu đời lệ thuộc
Vì hoà bình đốt đuốc đấu tranh.
Đất nước nào mà sử sách ghi danh
Đến đứa trẻ cũng trở thành dũng sĩ
Đưa đất nước vươn ngang tầm thế kỷ
Thu phục năm châu thành đồng chí của mình.
Việt Nam đó đất nước Hồ Chí Minh
Từ nô lệ đã vùng mình toả sáng
Dưới chân lý ngọn cờ của Đảng
Đã vươn lên đúng dáng Tiên Rồng.
Việt Nam đó đất nước của cha ông
Mặt hướng biển đông chân rồng ôm đảo
Lưng dựa Trường Sơn thế bền kiến tạo
Ưỡn ngực hiên ngang gió bão đẩy lùi.
Việt Nam đó đất nước của niềm vui
Từ chiến tranh dập vùi đổ nát
Cân thóc, hạt ngô ta gom gieo hạt
Giờ đã vươn lên đạt nước dẫn đầu.
Việt Nam đó với những hố bom sâu
Ta san phẳng bằng cái đầu yêu nước
Bao nhiêu năm luôn hướng về phía trước
Với mục tiêu đất nước mạnh giầu.
Việt Nam đó “Cánh chim ưng" dẫn đầu
Khu vực ASEAN ta dẫn đầu tốp trước
Hoà hiếu ngoại giao gần hai trăm nước
Thân thiện thị trường kết nối giao bang.
Đất nước đó đang rạng rỡ hào quang
Vùng đột phá rồng vàng khởi sắc
Đang vươn tới tầm cao vững chắc
Lên kỳ đài sánh bước năm châu.
Đất nước mình vinh quang chẳng xa đâu
Bởi có cháu con rất giầu nghị lực
Hào sảng, đồng tâm lòng người hợp sức
Văn hoá thăng hoa đúng mức xứng tầm.
Đất nước đó là con Lạc cháu Rồng
Yêu núi sông qua từng trang sử Đảng
Nên thăng hoa đang vung mình tỏa rạng
Ngàn năm sau vẫn chói sáng hôm nay.
Bởi đất nước đang chắp cánh rồng bay
Đang đột phá từng ngày lột xác
Đảng dẫn đường ta vững tin theo Bác
triệu con tim hoà nhạc đồng hành.
Một đất nước có truyền thống vang danh
Có cháu con học hành vươn tới
Ngay vinh quang đâu còn xa vời vợi
Sánh bước năm châu ngày mới sẽ về.
Gạc Ma 33 năm trước
64 chiếc bát, 64 đôi đũa, hình tượng chiếc tàu 604 và mâm giỗ chung 64 liệt sỹ
33 năm trước, ngày 14/3/1988, tại vùng biển Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, 64 cán bộ, chiến sĩ hải quân, những người con kiên trung của dân tộc, đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của nhiều tàu chiến Trung Quốc.
Ngày 14/3/1988 chứng kiến tr.ận ch.iến không cân sức giữa Hải quân Nhân dân Việt Nam và hải quân Trung Quốc tại cụm đảo Cô Lin - Len Đao - Gạc Ma.
3 tàu vận tải Việt Nam phải đối đầu với nhiều tàu hộ vệ và khu trục hạm tên lửa của Trung Quốc. Cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ có cuốc xẻng, súng AK, RPD, B-41 để đối đầu với pháo hạm 30-100mm và hàng trăm tên địch.
Chúng ta không có khu trục hạm và tuần dương hạm với pháo to súng lớn, không có 120 tiêm kích F-5E sẵn sàng hủy diệt cả hạm đội Trung Quốc.
Chúng ta cũng không có căn cứ kiên cố trên các đảo với lực lượng tiếp vận đường biển và đường không hùng hậu.
Những người lính hải quân và công binh phải đổ bộ lên các ghềnh đá nửa chìm nửa nổi, lấy chính thân mình làm cột mốc giữ đảo.
Cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu đến người cuối cùng, quyết không đầu hàng trước lực lượng áp đảo mọi mặt của Trung Quốc. Chúng ta kiềm chế KHÔNG NỔ SÚNG TRƯỚC, chứ không có chuyện giơ tay xin hàng để địch chiếm trọn cả quần đảo, hay tệ hơn là chiến hạm pháo to súng lớn tự bắn vào nhau rồi trốn sang Philippines.
64 cán bộ chiến sĩ đã nằm lại quần đảo Trường Sa trong ngày 14/3/1988. Trung Quốc chiếm được Gạc Ma, nhưng chúng ta đã đóng giữ thành công trên đảo Cô Lin và Len Đao. Khi giải phóng quần đảo Trường Sa vào tháng 4/1975, chúng ta chỉ có 5 đảo nổi. Kết thúc chiến dịch CQ-88, Việt Nam đã kiểm soát 21 đảo chìm và đảo nổi với 33 điểm đóng quân.
Tách rời Gạc Ma khỏi cụm Cô Lin và Len Đao là hành vi đánh tráo lịch sử, cố tình lờ đi sự hi sinh của nhiều người lính hải quân ở cụm đảo này nói riêng và toàn bộ quần đảo Trường Sa nói chung. Đó không phải yêu nước, mà nhẹ là thiếu hiểu biết còn nặng là lũ phá hoại!
Ngày này là để chúng ta tưởng nhớ anh linh những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong chiến dịch CQ-88, cảm phục tinh thần chiến đấu của các lực lượng đã tham gia bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa khi đó và toàn Biển Đông suốt bao năm qua.
Nhớ đến sự kiện này để hiểu rằng cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông rất khốc liệt và chưa có hồi kết. Không phải chỉ chửi bới với hô hào đòi đánh Trung Quốc là xong, mà phải kết hợp giữa đấu tranh ngoại giao, quân sự và thực thi pháp luật. Chứ chửi mồm mà giành được đảo thì Philippines giờ kiểm soát toàn bộ Trường Sa rồi.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội
Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1-1-1914-1-1-2019) chúng ta có dịp ôn lại những đóng góp to lớn của Đại tướng, nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam. Cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng đã để lại nhiều bài học sâu sắc, quý giá, trong đó có bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.
đang trao đổi tình hình chiến sự ở miền Nam ngày 5-7-1967.
"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ".
Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta trong thời kỳ hội nhập ngày nay
Bên cạnh các yêu cầu về tri thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy, giảng viên lý luận chính trị còn cần có những phẩm chất và năng lực đặc thù để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe và đa dạng, phong phú của thực tiễn quá trình giảng dạy trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.
1. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, những chủ trương, đường lối chính trị của Đảng được phổ biến, lan tỏa, thực hiện sâu rộng trong xã hội là minh chứng thiết thực cho sự nhân văn, tiến bộ của Đảng ta, cho tinh thần chung sức đồng lòng xây dựng, phát triển đất nước của nhân dân ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này có được bởi nhiều lý do, trong đó có phần quan trọng là do Đảng ta đã đề ra, vận dụng các biện pháp, hình thức tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị một cách đa dạng, phong phú. Đặc biệt, là có sự phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với tư cách là những người truyền giảng, định hướng các tư tưởng, đường lối lý luận chính trị đến các đối tượng người học, đến người dân.
Nhìn tổng thể, giảng viên lý luận chính trị không chỉ là người thầy truyền dạy những tri thức lý luận chính trị cho người học, mà sâu xa hơn, còn là người hoạt động chính trị (nhà chính trị) một cách cả trực tiếp và gián tiếp thông qua việc cung cấp và phổ biến những quan điểm, đánh giá, nhận xét về các vấn đề lý luận chính trị và các hoạt động, lĩnh vực xã hội. Đồng thời, là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng, người cung cấp thông tin và người phản hồi diễn biến tình hình tư tưởng – chính trị trong xã hội, trong Nhân dân đến Đảng và từ Đảng đến Nhân dân. Họ còn là người góp phần tham gia vào công tác tham mưu lý luận chính trị cho Đảng thông qua các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học, các ý kiến nhận xét, đánh giá… mang tính lý luận chính trị của mình. Do đó, bên cạnh các yêu cầu về tri thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy, giảng viên lý luận chính trị còn cần có những phẩm chất và năng lực đặc thù để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe và đa dạng, phong phú của thực tiễn quá trình giảng dạy trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.
Ở nước ta hiện có đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở khắp các cơ sở đào tạo, các trường đại học, các trung tâm giáo dục lý luận chính trị… Đội ngũ này đa phần đã được chuẩn hóa về bằng cấp, có năng lực và trình độ chuyên môn, nhiệt huyết với nghề, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng. Không ít người đã khẳng định được vị trí, tên tuổi của mình trong nghề nghiệp và xã hội nhờ những bài giảng hấp dẫn, thuyết phục, các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hội thảo khoa học trong và ngoài nước có giá trị cao về lý luận và thực tiễn… Song, vẫn có một bộ phận giảng viên lý luận chính trị sa vào giảng dạy lý luận mà chưa có sự liên hệ, kết nối với thực tiễn, với yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của người học, khiến bài giảng khô khan, thiếu tính hấp dẫn và thuyết phục. Một bộ phận giảng viên chưa thực sự ý thức được hết tầm quan trọng của việc giảng dạy lý luận chính trị, nên “đánh đồng” với giảng dạy các môn học khác, chưa chủ động tìm tòi, nắm bắt bản chất, đặc trưng của việc giảng dạy lý luận chính trị để tìm phương pháp, hình thức tiếp cận, giảng dạy hiệu quả, phù hợp, khiến người học cảm thấy nhàm chán…
Xuất phát từ thực trạng trên, những yêu cầu về phẩm chất, năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta đang dần trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá, nhận xét cán bộ giảng dạy lý luận chính trị. Đồng thời, là yêu cầu cấp bách đặt ra của thực tiễn hoạt động giảng dạy lý luận chính trị, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập với nhiều thời cơ và thách thức mới đan xen.
2. Nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta trong thời kỳ hội nhập hiện nay cần chú ý bảo đảm những tiêu chí cơ bản: Không tách rời các yêu cầu về xây dựng và phát triển con người, đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới. Đồng thời, gắn liền với việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa chính trị Việt Nam, phục vụ sự phát triển bền vững nền lý luận chính trị nước ta.
Bên cạnh những yêu cầu về trình độ tri thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng, kinh nghiệm giảng dạy nói chung vốn là những yếu tố tiên quyết cần có ở giảng viên lý luận chính trị, giảng viên lý luận chính trị cần bảo đảm những yêu cầu về phẩm chất đặc thù sau: Về tri thức: Có tri thức lý luận chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về con đường và định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Có đạo đức, lối sống trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chủ động và gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Về phẩm chất chính trị: Luôn kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; không bị dao động, lung lay trước cám dỗ vật chất, tinh thần hay chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, không lôi kéo người học vào ý thức tự do dân chủ quá trớn, hoặc đòi đa nguyên, đa đảng… Về phẩm chất kỷ luật: Nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật do nhà trường và đơn vị đề ra, nghiêm túc và gương mẫu, kỷ luật trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác.
Đồng thời, giảng viên lý luận chính trị cũng cần có những năng lực đặc thù, trước hết là năng lực truyền giảng lý luận chính trị một cách hấp dẫn, không khô khan, tránh sa vào hình thức, chủ quan, duy ý chí… trên cơ sở nền tảng tri thức lý luận chính trị vững vàng, có khả năng đánh giá, vận dụng hợp lý và thường xuyên cập nhật, bổ sung cái nhìn, cách tiếp cận mới với các vấn đề lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…, các tình huống, quan điểm lý luận chính trị trong cả lý luận và thực tiễn. Năng lực sáng tạo và vận dụng sáng tạo trong quá trình tìm hiểu, tiếp thu kinh nghiệm giảng dạy, truyền đạt lý luận chính trị từ các nước bạn, từ trong lịch sử cũng là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị hiện nay để truyền bá tri thức lý luận chính trị đến người học vừa bảo đảm yêu cầu về chính trị, vừa thu hút được sự quan tâm, chú ý, vận động và lôi kéo người học có nhận thức lý luận chính trị đúng đắn.
Giảng viên lý luận chính trị cũng rất cần có sự nhạy bén, tỉnh táo và chủ động trong tư tưởng, lập trường chính trị để trang bị kịp thời cho bản thân và cho người học các tri thức, kỹ năng đối phó, miễn nhiễm với các hoạt động, chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm vào đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, vào người học cũng như vào đời sống xã hội nước ta. Cũng cần khéo léo, tế nhị để tránh sa vào quan điểm chính trị cực đoan, hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ chính trị giữa nước ta với các nước khác, giữa mối quan hệ con người với con người… trong quá trình giảng dạy, truyền bá tri thức lý luận chính trị, để nhìn nhận, đánh giá, hóa giải và định hướng một cách nhẹ nhàng, thấu đáo các vấn đề, tình huống tư tưởng chưa đúng đắn (nếu có) ở người học.
Năng lực hoạt động thực tiễn cũng là một yêu cầu không thể thiếu đối với giảng viên lý luận chính trị để có thể học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, làm cho bài giảng trở nên phong phú, sinh động và thực tế hơn. Gắn với đó là khả năng hòa nhập tốt với môi trường giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị quốc tế nhằm tăng cường sự giao lưu, tương tác giữa các môi trường học thuật lý luận chính trị để làm giàu cho nhận thức lý luận chính trị của bản thân, tăng cơ hội giao lưu, học hỏi các vấn đề lý thuyết và thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị với thế giới.
3. Để các phẩm chất và năng lực đặc thù của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị được tăng cường và phát huy, gắn với nâng cao chất lượng giảng viên lý luận chính trị, cũng là góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo lý luận chính trị, ở tầm vĩ mô, cần không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị nhằm tạo sự nối tiếp giữa các thế hệ giảng viên lý luận chính trị ở các cấp, các địa bàn. Có cơ chế, chính sách tiền lương và tạo điều kiện làm việc thuận lợi hơn nữa cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đặc biệt là những người công tác ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nông thôn… Kịp thời khen thưởng, biểu dương các tấm gương giảng viên lý luận chính trị vừa có đức vừa có tài, có thành tích tiêu biểu trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu. Đồng thời, xử lý nghiêm minh một bộ phận giảng viên vi phạm kỷ luật nghề nghiệp, đạo đức lối sống, hoặc có biện pháp thuyên chuyển công tác đối với những trường hợp giảng dạy lý luận chính trị không đạt hiệu quả, yêu cầu chuyên môn đề ra.
Bản thân đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cần không ngừng trau dồi, tu dưỡng đạo đức, lối sống, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách đức Hồ Chí Minh; thường xuyên có ý thức nâng cao tri thức lý luận chính trị trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, cập nhật các kiến thức lý luận chính trị, kiến thức văn hóa – xã hội… nhằm tạo nền tảng tri thức rộng, sâu. Tích cực học hỏi, rèn luyện, đổi mới các phương pháp, hình thức giảng dạy lý luận chính trị để nâng cao chất lượng giảng dạy. Cần biết thông thạo ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) để có thể đọc, nghiên cứu được các tài liệu lý luận chính trị nước ngoài, trực tiếp tham gia trao đổi, bàn luận các vấn đề lý luận chính trị với các đồng nghiệp quốc tế giảng dạy trong lĩnh vực này. Đồng thời, nâng cao khả năng sử dụng thành thạo công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là máy vi tính để tìm kiếm tài liệu trên mạng in-tơ-net, soạn bài giảng điện tử… nhằm đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy, góp phần nâng chất lượng giáo dục – đào tạo lý luận chính trị lên một tầm cao mới trong thời kỳ hội nhập ngày nay.
Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên
Văn hóa chính trị và những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên.
Văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành của văn hóa, kết tinh trong đó tri thức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin, tạo thành ý thức chính trị, biểu hiện ở thái độ, hành vi và năng lực hoạt động chính trị của các chủ thể chính trị. Văn hóa chính trị được hình thành từ lịch sử văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa chính trị hiện đại, dưới sự chi phối của hệ tư tưởng chính trị của đảng cầm quyền.
Văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên thường được hiểu là, trình độ hiểu biết và giác ngộ chính trị tham gia vào thực tiễn hoạt động chính trị. Đó là ý thức chính trị, thái độ, hành vi và lập trường, quan điểm chính trị; mức độ nhận thức, đánh giá các sự kiện, các diễn biến chính trị; sự lựa chọn tham gia của cán bộ, đảng viên vào hoạt động thực tiễn; thái độ và mức độ phản ứng hay hưởng ứng trước một tình huống nào đó trong đời sống chính trị. Văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên vừa góp phần tạo lập các giá trị, vừa góp phần hình thành dư luận xã hội tích cực đấu tranh chống những hành vi gây tổn hại tới lợi ích chung. Những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên gồm:
Tri thức chính trị và kinh nghiệm chính trị là hai mặt thống nhất, nằm trong chủ thể nhân cách văn hóa chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong đó, tri thức chính trị - lý luận chính trị - càng đạt tới tính khách quan, khoa học bao nhiêu thì càng có vai trò to lớn, mở đường cho hành động thực tiễn hoạt động chính trị trở nên đúng đắn bấy nhiêu. Nó giúp cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ bản chất các quá trình, quy luật và các lợi ích chính trị. Kinh nghiệm chính trị sẽ là những giá trị tăng thêm sức mạnh cho tri thức chính trị, nhưng nó chỉ trở thành giá trị văn hóa chính trị khi nó kết hợp với tri thức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin và năng lực hành động chính trị của bản thân cán bộ, đảng viên. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên, trong thực tiễn hoạt động chính trị không được coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tri thức chính trị - lý luận chính trị - mà coi nhẹ kinh nghiệm chính trị sẽ dẫn đến lý luận suông, rơi vào chủ nghĩa giáo điều. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa mặt kinh nghiệm chính trị, coi thường lý luận chính trị sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinh nghiệm, hành động mù quáng, cảm tính. Việc thường xuyên bồi dưỡng và tự bồi dưỡng tri thức chính trị và kinh nghiệm chính trị không còn là chuyện bắt buộc, mà đã trở thành nhu cầu và động lực tự thân mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình vươn lên hoàn thiện nhân cách chính trị.
Tình cảm và niềm tin chính trị. Tình cảm và niềm tin chính trị, tuy có khác nhau ở cấp độ, phạm vi nhưng lại thống nhất ở mục tiêu, con đường và tuân theo quy luật từ thấp đến cao, từ tình cảm đến niềm tin. Sự hình thành và phát triển của tình cảm và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên không thể là tự phát, cảm tính. Tình cảm và niềm tin khi được hình thành bằng con đường tự giác, khoa học sẽ tạo nên động lực chính trị ổn định, mạnh mẽ, giúp người cán bộ, đảng viên vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Ngược lại, nếu tình cảm và niềm tin chính trị được hình thành ở ai đó một cách tự phát, cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, thì dễ dẫn đến dao động, bế tắc, đổ vỡ, thậm chí dẫn đến cơ hội, phản bội khi gặp khó khăn.
Năng lực hành động chính trị. Tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên, cuối cùng phải được biểu hiện bằng hành động. Chính trị không phải chỉ là nói mà phải làm: chỉ có làm và thông qua việc làm cụ thể và thiết thực để biến các chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược, nghị quyết, chỉ thị… thành các chương trình, kế hoạch, biện pháp, để đưa chính trị vào cuộc sống, thực hiện bằng được mục tiêu đề ra.
Năng lực hoạt động chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bao gồm nhiều mặt, nhưng quan trọng nhất là khả năng phân tích đặc điểm tình hình (trong nước, thế giới, đặc điểm cơ quan, đơn vị, địa phương, tình hình dân cư…) để đề ra kế sách, bước đi, cách làm đúng quy luật, hợp lòng dân, phù hợp với thực tiễn địa phương, cơ sở, có khả năng tổ chức đội ngũ cấp dưới thành một tập thể đoàn kết, nhất trí, thu hút và lôi cuốn, truyền cảm hứng để họ cùng với mình quyết tâm thực hiện bằng được các mục tiêu, chương trình đã đề ra. Biết điều chỉnh chủ trương, kế hoạch cho sát hợp với thực tế, biết ứng phó thành công với mọi tình huống, rủi ro từ khách quan tác động. Phải có tác phong dân chủ, gần dân, lắng nghe cấp dưới, có thói quen đi vào quần chúng, có khả năng đối thoại, cảm hóa, thuyết phục, lôi cuốn quần chúng đi theo, ủng hộ.
Những nội dung biện pháp nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên.
Trước hết, cần nâng cao nhận thức về văn hóa chính trị. Cơ sở và nội dung để nâng cao văn hóa chính trị là nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin quan trọng nhất là học tập tinh thần, lập trường, quan điểm; cốt lõi nhất là học được phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác. Đây là cơ sở khoa học để xem xét và giải quyết, xử trí mọi vấn đề, tình huống chính trị thực tiễn đặt ra. Phương pháp học là gắn chặt giữa lý luận với thực tiễn và không ngừng tổng kết thực tiễn; tránh lối học tập kiểu đối phó cốt để cho xong, nhưng học xong rồi không biết vận dụng vào thực tiễn.
Cùng với việc nâng cao trình độ nhận thức Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần nắm vững Cương lĩnh chính trị và đường lối đổi mới của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng, trực tiếp nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên. Bất kỳ một sự dao động, ngả nghiêng, hành động và phát ngôn nào trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng không chỉ dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, mà còn gây tổn hại cho Đảng.
Hai là, tăng cường bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về khoa học chính trị và truyền thụ kinh nghiệm thực hành chính trị cho cán bộ, đảng viên. Đây được coi là nội dung cốt lõi của văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên và là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá văn hóa chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải trang bị kiến thức toàn diện cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Những kiến thức về chính trị là những nguyên lý, quy luật đã có sự phát triển mới, trong điều kiện mới (kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế); những kiến thức về khoa học lãnh đạo cần phải được mỗi cán bộ, đảng viên cập nhật và bổ sung thường xuyên. Coi trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nắm, phân tích các sự kiện, các tình huống chính trị và có những quyết sách kịp thời, hiệu quả.
Ba là, phát huy tính tự giác, tích cực tự học, tự rèn phong cách công tác và đạo đức, lối sống. Phát huy tính tự giác, tích cực tự học, tự rèn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự đặt kế hoạch phấn đấu cho chính mình. Những nội dung tri thức, kinh nghiệm chính trị và phong cách hoạt động chính trị sẽ được lĩnh hội từ quá trình học tập ở các lớp học, tập huấn đều nằm trong kế hoạch tự học, tự rèn của bản thân họ và được diễn ra thường xuyên, liên tục. Để việc tự học, tự rèn đạt kết quả cao thì kế hoạch phải được xây dựng một cách khoa học và phải luôn đặt ra yêu cầu cao với bản thân; phải kiên quyết thực hiện kế hoạch và phải lấy hiệu quả làm thước đo, có sự phối hợp, giám sát của tổ chức. Tránh lối học tập, rèn luyện nửa vời, đặt ra kế hoạch một đằng, làm một nẻo, “đầu voi đuôi chuột”.
Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Môi trường văn hóa ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương là cơ sở xã hội và là điều kiện nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên. Tập trung xây dựng và phát triển ý thức dân chủ trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và cơ sở. Quán triệt và thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ ở tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là thực hiện dân chủ trong Đảng, trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng để cán bộ, đảng viên phát huy dân chủ và nêu cao trách nhiệm xã hội của bản thân. Nhưng dân chủ phải có nguyên tắc, không phải dân chủ quá trớn, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách. Đề phòng và khắc phục cả hai khuynh hướng: dân chủ hình thức hoặc tập trung quan liêu.
Như vậy, để góp phần nâng tầm lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; khắc phục những cản trở, rào cản trong quá trình phát triển đất nước, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trọng sạch, vững mạnh, thì vấn đề nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên đang thực sự cấp thiết. Những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị, được đề cập trên đây mới chỉ là nội dung cơ bản, bước đầu, cần tiếp tục được nghiên cứu bổ sung; tích cực tạo điều kiện để dần hình thành những giá trị mới, làm cho văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mớ