Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

TRẬN CHIẾN GẠC MA, MỘT THIÊN SỬ ANH HÙNG

 Mỗi năm, cứ đến ngày 14/3, cả nước lại tổ chức tưởng niệm các anh, những người lính đã hy sinh xương máu của mình trong trận hải chiến bảo vệ đảo Gạc Ma năm 1988.

Với lực lượng không cân sức, 3 tàu vận tải làm nhiệm vụ vận chuyển lực lượng công binh và nguyên vật liệu ra  xây dựng các công trình nhằm phục vụ cho đời sống của quân, dân Việt Nam đang làm nhiệm vụ trên quần đảo Trường Sa theo kế hoạch thường niên đã đấu chọi với lực lượng Trung Quốc hùng mạnh với trên 6 tàu chiến được trang vị  nhiều vũ khí hạng nặng. 64 chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã hy sinh, 11 người bị thương, nhưng vẫn bảo vệ được Cô Lin và Len Đao...

Sự kiện ngày 14/3/1988, cùng với sự kiện 19/01/1974, là những dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình dân tộc Việt Nam, Nhà nước Viêt Nam qua các thời kỳ đã chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn  lãnh thổ của mình trong Biển Đông, là dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của mỗi con dân đất Việt. Đây là sự kiện cần được quan tâm nghiên cứu đầy đủ và phải rút ra được những bài học quý giá nhằm phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Đất nước hiện tại và tương lai.

Thực ra, thời điểm ngày 14/3/1988 chỉ là đỉnh điểm của cả một chiến dịch theo kịch bản đã được Trung Quốc  tính toán, triển khai nhằm thực hiện quyết tâm đặt được chân lên khu vực quần đảo Trường Sa.

Thời điểm trước đó, CHND Trung Hoa chưa từng chiếm đóng được vị trí nào trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam (trừ  Đài Loan đã chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình từ năm 1956), trong khi hầu hết các đảo nổi chủ yếu của quần đảo Trường Sa đều đã do các lực lượng  Việt Nam đóng giữ, bảo vệ với tư cách những chủ nhân thật sự, ngoài ra còn có sự chiếm đóng của Philippinnes, Malaysia trên một số đảo ở phía Đông và Nam của quần đảo này. 

Việt Nam đã tiếp quản các đảo nổi trong chiến dịch Hồ Chí Minh và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các đảo nổi, còn các đảo chìm, bãi cạn, bãi đá phụ thuộc, lúc đó Việt Nam chỉ tiến hành bảo vệ, quản lý bằng biện pháp quan sát, tuần tra định kỳ mà chưa có điều kiện xây dựng các công trình như hiện nay. Hơn nữa, ngay cả việc tuần tra kiểm soát đó trong điều kiện lúc bấy giờ cũng không phải lúc nào cũng thực hiện được… Đây là một tình thế mà Trung Quốc đã lợi dụng  triển khai chiến dịch đánh chiếm các đảo chìm, các bãi đá…nhằm  biến các bãi cạn này thành các căn cứ quân sự, các điểm đóng quân, để “đặt được chân” vào khu vực Trường Sa của Viêt Nam. Trung Quốc đã triển khai chiến dịch “đặt chân” này ngay từ đầu năm 1988, đồng thời  với một loạt các động thái trên phương diện thông tin tuyên truyền, ngoại giao, pháp lý… diễn ra trước, trong và sau chiến dịch này nhằm biện minh cho hành động xâm chiếm băng vũ lực của họ… Cụ thể là: ngày 31/1/1988, họ đã chiếm đá Chữ Thập, ngày 18/2, chiếm đá Châu Viên, ngày 26/2/1988,  chiếm đá Gaven, ngày 28/2,  chiếm đá Huy gơ, ngày 23/3 chiếm đá Xu bi…

Việt Nam xây dựng, bảo vệ chủ quyền hòa bình

Trước tình hình đó, trong tình thế hết sức khó khăn về nhiều mặt, Việt Nam vẫn cố gắng tìm mọi cách xây dựng, củng cố các khu vực, các vị trí của quần đảo Trường Sa  mà Việt Nam đang quản lý, bằng việc đưa tàu vận tải chở vật liệu xây dựng ra các đảo chìm, bãi đá theo một kế hoạch mang tên CQ-88:

Ngày 26/1, xây dựng đá Tiên Nữ; Ngày 5/2 xây dựng  Đá Lát; Ngày 6/2,  xây dựng Đá Lớn; Ngày 18/2, xây dựng Đá Đông; Ngày 27/2, xây dựng Tốc Tan; Ngày 2/3, cắm chốt  Núi Le...

Về phía Trung Quốc, không chỉ dừng lại ở những vị trí chiếm đóng bất hợp pháp nói trên, họ còn tiếp tục tổ chức chiếm thêm 3 đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma, gây ra sự kiện 14 tháng 3 đẫm máu.

Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy, trong chiến dịch này, Trung Quốc đã huy động một liên đội tàu chiến gồm 9 đến 12 tàu chiến. Trong đó có 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ. Ngoài ra, có tàu đo đạc, tàu kéo... và một Pông-Tông lớn

Trong khi đó, Việt Nam chỉ có 3 tàu vận tải, chủ yếu lực lượng Công binh Hải quân ra làm nhiệm vụ xây dựng đảo, đá với 2 phân đội công binh gồm 70 người và 4 tổ chiến đấu. Các tàu vận tải của Việt Nam gồm HQ-604, HQ-505, HQ- 605, đều là những tàu không trang bị vũ khí, ngoại trừ những khẩu AK của các chiến sỹ công binh để tự vệ khi cần thiết.

Theo các tài liệu, trận chiến Trường Sa năm 1988 được ghi lại khá đầy đủ, chi tiết.

Tại khu vực đá Gạc Ma, sáng ngày 14 tháng 3, từ tàu HQ-604 đang thả neo tại Gạc Ma làm nhiệm vụ xây dựng, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu uý Trần Văn Phương và hai chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Lanh được cử lên đá bảo vệ lá cờ Việt Nam đang tung bay trên đá Gạc Ma.

Phía Trung Quốc cử hai xuồng chở tám lính có vũ khí lao thẳng về phía đá. Chỉ huy Trần Đức Thông ra lệnh cho các thủy thủ từ tàu 604 tiến về bảo vệ  để hình thành tuyến phòng thủ, không cho đối phương tiến lên.

Khoảng 6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả ba thuyền nhôm và bốn mươi quân đổ bộ lên đá giật cờ Việt Nam. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương.

Lúc 7 giờ 30 phút, Trung Quốc dùng hai chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng. Hải quân Trung Quốc cho quân xông về phía tàu Việt Nam. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu.

Hải quân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, cùng một số thủy thủ trên tàu đã hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đá Gạc Ma.

Tại đá Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đá. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505, Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu 505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đá thì bốc cháy. 8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đá, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó.

Hành động dũng cảm ủi bãi của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và đồng đội đã giữ được đá Cô Lin.

Tại đá Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3.

Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên đá Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Trần Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng về đến đá Cô Lin.

Từ thực trạng nói trên chúng ta thấy rõ một bên là Trung Quốc đã tổ chức một chiến dịch quân sự nhằm tiến hành xâm chiếm lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam hoàn toàn  không có ý định  sử dụng lực lượng quân sự để tiến hành hải chiến theo quy luật chiến tranh thông thường mà chỉ sử dung 3 con tàu vận tải làm nhiệm vụ chi viện cho các đảo thuộc quyền quản lý của mình. Khi buộc phải nổ súng để tự vệ, các chiến sĩ công binh, bằng sức mạnh của lòng yêu nước, không tiếc máu xương, họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ mảnh đất thiêng của cha ông để lại, giữ vững ngọn cờ vẻ vang của Tổ quốc luôn hiên ngang tung bay giữa trùng khơi sóng gió./.

LVK

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của mọi tổ chức đảng và tất cả cán bộ đảng viên. Trước những diễn biến mới của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, phản bác những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch ngày càng diễn biến phức tạp. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.

 Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. 

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta. Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ,… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. 

 Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; chuẩn bị bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân; chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng. Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.

 Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động. 

 Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn  các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.

 Những năm qua, các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đã khẳng định tính cách mạng khoa học của mục tiêu lý tưởng, của đường lối, chủ trương, chính sách và những thành tựu của cách mạng. Đây là những luận cứ quan trọng, là điều kiện để cỗ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới./.

LVK

 

Chủ nghĩa xã hội, đơn giản là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động

Theo hầu hết cách tiếp cận, định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được diễn đạt, trình bày một cách dung dị, mộc mạc, dễ hiểu và mang tính phổ thông, đại chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân chính là chủ nghĩa xã hội chứ Bác không lý luận nhiều về việc nhà nước phải kiểm soát tư liệu sản xuất.

Trong bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đọc tại phiên bế mạc, sáng 1/2/2021. Tổng bí thư nhấn mạnh "Thành công rất tốt đẹp của Đại hội, đây chỉ là mở đầu có làm được hay không, mai kia có biến nghị quyết thành hiện thực sinh đông hay không, có ra của cải vật chất mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân hay không. Đó mới là thành công thực tế của Đại hội"

Mai Năm Mới 


Tìm hiểu về Quyền bầu cử của công dân theo Hiến pháp 2013

 

Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước nói chung và cơ quan đại diện-cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương ở nước ta nói riêng. Thông qua việc bầu cử này, nhân dân thực hiện quyền dân chủ bằng cách lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội, HĐND. Vì vậy, việc lựa chọn những người bảo đảm tiêu chuẩn, xứng đáng đại diện cho nhân dân tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước là yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa chính trị to lớn.Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền bầu cử không chỉ là quyền bỏ phiếu, mà còn bao gồm quyền đề cử. Đây là quyền chính trị quan trọng bảo đảm cho công dân có thể tham gia vào việc thành lập ra những cơ quan quan trọng nhất của mỗi quốc gia. 

 Đối với mỗi cử tri, việc đi bầu cử là quyền lợi đồng thời cũng là trách nhiệm của công dân đối với đất nước. Chủ thể của quyền bầu cử Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử. Tuy nhiên, không phải mọi công dân đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử mà có những trường hợp công dân đủ 18 tuổi trở lên không được bầu cử. Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015, có 4 trường hợp không được bầu cử như sau: 

 - Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. - Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án. 

 - Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo. 

 - Người mất năng lực hành vi dân sự. 

 Trường hợp người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. 

 Nguyên tắc bầu cử Việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. 

 - Nguyên tắc phổ thông: Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. 

 - Nguyên tắc bình đẳng: Cử tri tham gia bầu cử có cơ hội tham gia bầu cử như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Kết quả bầu chỉ phụ thuộc vào số phiếu bầu. Ngoài ra, nguyên tắc này còn đòi hỏi sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để đại diện cho các vùng, miền, địa phương, tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số. 

 - Nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu; cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. 

 - Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Nhằm bảo đảm sự tự do đầy đủ, thể hiện ý chí cử tri, việc bầu cử được tiến hành dưới hình thức bỏ phiếu kín. Nguyên tắc bỏ phiếu bầu Có 8 nguyên tắc khi bỏ phiếu bầu: 1. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp HĐND. 2. Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp quy định tại mục (3) và (4); khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri. 3. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. 4. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri đang bị tạm giam, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện hoặc đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. 5. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử. 6. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác. 7. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri. 8. Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu. 

 Thời gian bỏ phiếu Theo quy định, ngày bầu cử do Quốc hội quyết định, ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất 115 ngày trước ngày bầu cử. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 được ấn định là ngày 23-5-2021. Việc bỏ phiếu bắt đầu từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 5 giờ hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 21 giờ. Tuy nhiên, trường hợp đặc biệt có thể hoãn hoặc bỏ phiếu sớm hơn theo quyết định của Hội đồng bầu cử Quốc gia.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG UỶ BAN CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN -BPSOS

 

Các tổ chức phản động luôn có cự cấu kết chặt chẽ trong các hoạt động, thực hiện cái gọi là "tiền hô hậu ủng" trong mọi thủ đoạn chống phá Đảng và nhà nước ta. Việc chỉ mặt từng đối tượng tổ chức phản động sẽ giúp mỗi cán bộ, đảng viên và người dân biết cách đấu tranh và phòng chống âm mưu, thủ đoạn của chúng. Vậy chúng ta cần nhận diện bộ mặt thật của chúng như thế nào?

Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) do Phan Lạc Tiếp (SN 1933), nguyên là sĩ quan hải quân Nguỵ quân Sài Gòn và Nguyễn Hữu Xương, nguyên giáo sư Đại học San Diego, thành lập năm 1980, có trụ sở tại Sandiego, Carlifornia (Mỹ) với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ. Năm 1990, Phan Lạc Tiếp và Nguyễn Hữu Xương đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng (SN 1958, tại TP Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ), tiếp tục điều hành BPSOS. Sau khi tiếp nhận, Thắng đã dời trụ sở của BPSOS đến bang Falls, Church, Viginia (Mỹ) và hướng lái các hoạt động chuyển sang việc lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Việt Nam. 

BPSOS là gì?
Quá trình hoạt động, Nguyễn Đình Thắng triệt để lợi dụng danh nghĩa của một tổ chức hoạt động trên lĩnh vực “cứu trợ thuyền viên”, “người tị nạn”, “chống buôn người” để xin kinh phí hoạt động. Ngoài ra, đối tượng còn thường xuyên tổ chức các buổi vận động gây quỹ trong cộng đồng người Việt tại Mỹ, Canada.
Với sự hậu thuẫn của một số chính khách thiếu thiện chí với Việt Nam và nguồn kinh phí như trên, BPSOS đã trở thành một tổ chức phản động lưu vong chống đối quyết liệt ở cả trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia. BPSOS xây dựng “Ban điều hành” gồm 3 cấp: Hội đồng quản trị, Đội ngũ điều hành, quản lý các chi nhánh, phạm vi hoạt động tại Mỹ và một số nước lân cận Việt Nam; móc nối, tuyển mộ nhân viên và các tình nguyện viên ở một số nước.
Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn đã xây dựng các kế hoạch hoạt động với mưu đồ “chuyển hóa nền dân chủ Việt Nam” theo mô hình phương Tây. Chúng đề ra mục tiêu sẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong nước hình thành khoảng 1.000 “cộng đồng” (thực chất là các hội, nhóm xã hội dân sự) với đa dạng thành phần (các dân tộc, tôn giáo, công nhân, công chức, tri thức...), tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam, nhằm chuyển hóa thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở bên ngoài, Nguyễn Đình Thắng cùng số đối tượng cầm đầu đã huy động các chiến dịch như “Thỉnh nguyện thư”, “Người Mỹ gốc Việt đòi tài sản”..., lợi dụng các sự kiện quốc tế, diễn đàn nhân dân ASEAN; Hội nghị tự do tôn giáo quốc tế..., để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; tích cực vận động chính giới các nước, thông qua dự luật nhân quyền nhằm gây sức ép, yêu cầu Việt Nam phải trả tự do cho số đối tượng chống đối trong nước đang bị bắt và xử lý. Lợi dụng danh nghĩa hoạt động nhân đạo “chống buôn người” “bảo vệ người tị nạn”..., thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc các nhóm người Việt lao động bất hợp pháp, ngư dân đánh bắt cá trái phép bị bắt tại một số nước Đông Nam Á để tìm chọn, đào tạo đội ngũ cốt cán đưa về nước hoạt động chống phá, đồng thời, thành lập “Trung tâm phối hợp” tại Thái Lan nhằm liên kết “lực lượng dân chủ khu vực ASEAN” hoạt động chống phá ta; hỗ trợ Việt kiều thuộc thế hệ thứ 2 và thứ 3..., hỗ trợ số đối tượng vượt biên sang Mỹ, Canada; móc nối tuyển lựa số này tham gia các hoạt động chống phá Việt Nam. Đồng thời, hỗ trợ số đối tượng trong nước vượt biên, định cư tại Mỹ, Canada..., sau đó, móc nối và tuyển lựa số này tham gia các hoạt động chống phá Việt Nam.
Những hoạt động chống đối của BPSOS
Ở trong nước, BPSOS tập trung vào các hoạt động tổ chức huấn luyện cho số đối tượng trong nước nhằm móc nối, lôi kéo xây dựng đội ngũ cốt cán, thúc đẩy “phong trào xã hội dân sự” hình thành các “Cộng đồng tôn giáo độc lập tại Việt Nam”. Từ năm 2016 đến nay, BPSOS đã tổ chức các khóa huấn luyện cho các đối tượng ở trong nước chủ yếu là số trí thức, thành viên có nhận thức lệch lạc về chính trị, pháp luật, số đối tượng chính trị cực đoan trong tôn giáo, dân tộc. Qua huấn luyện, BPSOS đã hướng dẫn số đối tượng này viết báo cáo về vấn đề dân chủ, nhân quyền với mục đích tuyên truyền chống Việt Nam.
Cùng với đó, các đối tượng đã liên kết, hỗ trợ tiền cho số đối tượng trong nước thành lập các hội nhóm trá hình dưới danh nghĩa hoạt động “dân chủ” “nhân quyền” để tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Tăng cường liên kết, móc nối với các tổ chức “xã hội dân sự” để triển khai các hoạt động chống phá từ bên ngoài. BPSOS tuyên bố đã liên kết với các hội nhóm chống đối trong nước, để thu thập thông tin, xây dựng báo cáo xuyên tạc về tình hình Việt Nam nhằm đưa vấn đề này ra các cuộc họp; hội thảo do các cơ quan có thẩm quyền đứng ra tổ chức.
Mặc dù hoạt động với danh nghĩa “hỗ trợ tị nạn” song thực chất BPSOS đã triệt để lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền, chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế cũng như gây phức tạp tình hình ANTT tại một số địa phương trong nước. Các đối tượng lập văn phòng tại Bangkok và thành lập một số “tổ chức dân sự”, “ngoại vi chuyên hoạt động trong lĩnh vực cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan như ACF, PSPF; móc nối, liên kết với một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và tị nạn Thái Lan để tiếp tay cho số đối tượng người Việt vượt biên trái phép đối phó với các biện pháp bắt giữ, điều tra, xét xử của chính quyền Thái Lan (và) tác động các tổ chức lên tiếng đòi trả tự do cho số đối tượng trên trong trường hợp bị bắt giữ. Không dừng lại ở đó, BPSOS còn chỉ đạo nhóm ACF tại Thái Lan và NEXT GEN (tổ chức do BPSOS lập ra, tập hợp số thanh niên gốc Việt tại Mỹ, từng tham gia hội nghị “Thượng đỉnh lãnh đạo thanh niên 2019” được BPSOS hướng lái, hoạt động chống Việt Nam.
Cùng với đó, BPSOS tổ chức các hoạt động đào tạo, huấn luyện cho các đối tượng tị nạn Thái Lan, Campuchia cũng như một số đối tượng thuộc các hội nhóm dân tộc, tôn giáo trong nước về kỹ năng thu thập tin tức, viết báo cáo hoạt động “vi phạm nhân quyền” của giới chức một số địa phương tại Việt Nam; lấy thông tin này làm tài liệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Cụ thể, tại Hội nghị tự do tôn giáo, tín ngưỡng Đông Nam Á lần thứ V (SEA FORBV) được tổ chức tại Bangkok từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 11 năm 2019 đã có khoảng hơn 20 đối tượng trong các hội, nhóm trong nước cũng như đang “tị nạn” tại Thái Lan được BPSOS huấn luyện về kỹ năng viết “báo cáo vi phạm nhân quyền” và tiếp cận với giới chức phương Tây.
Nhóm NEXT GEN tìm cách kết nối với số người vượt biên tại Campuchia, Thái Lan để mở lớp đào tạo tiếng Anh cho số này qua các ứng dụng trực tuyến... Khai thác thông tin từ các đối tượng vượt biên trái phép để tập hợp hồ sơ vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ, nhân quyền” tại các diễn đàn quốc tế. Hiện, BPSOS đã tập hợp được khoảng 100 hồ sơ về các vụ việc chúng cho là “vi phạm nhân quyền” tại Việt Nam trong 15 năm gần đây để trình Bộ Ngoại giao Mỹ xem xét, áp dụng biện pháp chế tài với một số cán bộ, chính quyền theo luật “Magnistsky”
Đồng thời, khai thác thông tin từ các đối tượng vượt biên trái phép để tập hợp hồ sơ vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ, nhân quyền” tại các diễn đàn quốc tế. Hàng trăm hồ sơ về các vụ việc được các đối tượng cho là “vi phạm nhân quyền” tại Việt Nam trong khoảng 15 năm gần đây. Để phô trương thanh thế, các đối tượng liên tục “quảng bá” về thành tích “cứu trợ người tị nạn” ở Thái Lan của BPSOS thông qua các trang mạng, báo và đài hải ngoại như RFA, VOA, Mạch sống Media..., cũng như các lớp đào tạo, huấn luyện một số đối tượng trong nước. Trong đó, nêu bật những vấn đề BPSOS đã và đang trợ giúp người tị nạn nhất là vấn đề tài chính, pháp lý để sang định cư tại các nước phương Tây. Qua đó, tạo ảo tưởng, kích động hoạt động vượt biên của các đối tượng trong nước.
Song, thực tế đã chứng minh những vấn đề nảy sinh trong hoạt động “cứu trợ người tị nạn” của BPSOS. Trong quá trình hoạt động, “cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan, Campuchia, BPSOS đã bộc lộ nhiều vấn để bất minh, mâu thuẫn trong nội bộ và với các tổ chức phản động khác. Trong khi BPSOS tiến hành các hoạt động “cứu trợ người tị nạn” thì các tổ chức phản động như “Việt Tân”, VOICE,... cũng đang có các hoạt động “cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan, Campuchia. Không dừng lại ở đó, số đối tượng này lại bị chính người tị nạn ở Thái Lan tố cáo việc mang danh “cứu trợ người tị nạn” tại Mỹ (trong đó có BPSOS) để bỏ rơi, không triển khai bất cứ hoạt động trợ giúp nào như lời hứa hẹn ban đầu cũng như xét duyệt trợ cấp thiếu minh bạch.
Ngoài ra, chúng còn bị thành viên trong tổ chức tố cáo việc sử dụng ngân quỹ “cứu trợ người tị nạn” không rõ ràng. Trường hợp của Nguyễn Đình Thắng, từng bị Holly Huệ Ngô (cựu nhân viên của BPSOS) tố cáo chi tiêu ngân quỹ trong quá trình hoạt động tại Thái Lan là một bằng chứng rõ ràng, làm rõ bản chất của Nguyễn Đình Thắng.
Việc BPSOS lợi dụng vấn đề người Việt tị nạn tại các địa bàn cận kề, đặc biệt là Thái Lan và Campuchia để chống phá Việt Nam đã gián tiếp kích động hoạt động vượt biên trái phép của một bộ phận người dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên, Tây Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan với ảo tưởng sớm được các tổ chức quốc tế cho định cư tại các nước phương Tây. Những người này, sẽ có cuộc sống vô cùng khó khăn ở nơi đất khách quê người nếu nhẹ dạ, cả tin vào những lời đường mật của các đối tượng.

MƠ ƯỚC CỦA NHỮNG KẺ CHỐNG ĐẢNG

 

Trên trang mạng của RPA ngày 11/11/2015 đăng bài có tiêu đề: Sao không nhìn sang Myanmar để “đi tắt, đón đầu” của Nguyễn Tường Thụy; trong đó y nêu vấn đề: Sao không đi tắt đón đầu về chính trị? Và dẫn lại lời thách đố của Nguyễn Quang A đối với Đảng ta:

Description: Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi thách Đảng cộng sản VN dám làm như Myanmar. Citizen photo.

Như chúng ta đã thấy Myanmar đang diễn ra cuộc binh biến kinh hoàng. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay tại Myanmar đó là sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái. Thể chế đa đảng đã làm một đất nước chỉ với 54 triệu dân luôn bị khủng hoảng bởi sự tranh giành quyền bính của hơn 90 đảng phái. Các đảng phái chẳng ai quan tâm đến quyền lợi của đất nước, của dân tộc và nhân dân. Vì lợi ích của đảng mình, các phe phái luôn gầm gừ và sẵn sàng hi sinh quyền lợi của dân tộc, của đất nước miễn sao đảng của họ, cá nhân họ giành được quyền lợi cao nhất. Một điều đáng chú ý nữa là trong hơn 90 đảng phái đang hoạt động tại Myanmar, không có đảng nào đủ uy tín và danh dự để thuyết phục các đảng khác phải nghe theo. Sự không thỏa hiệp và bất đồng lẫn nhau giữa các đảng phái đã đưa đất nước chìm trong khủng hoảng. Các đảng phải không chịu hòa hợp, không chịu bắt tay nhau để cùng nhau xây dựng đất nước. Sự thiếu tin tưởng lẫn nhau khiến việc làm của đảng này luôn là mối nghi ngờ của đảng khác, đất nước dậm chân tại chỗ vì sự giằng co giữa các phe phái. Người chịu thiệt thòi nhất chính là nhân dân và đất nước Myanmar. Trong bối cảnh khủng hoảng và rối ren như hiện nay, và bên cạnh đó là đại dịch Covid-19 đang lan rộng, người dân Myanmar lúc này mới thấm thía cái giá của “dân chủ”, của “đa nguyên, đa đảng”.

Có lẽ ngay lúc ngày, rất nhiều người Myanmar đang ước ao được sống cuộc sống yên ổn và hạnh phúc, ước mơ có được một thế lực lãnh đạo luôn đặt lợi ích quốc gia và hạnh phúc nhân dân lên trên hết, như những gì người dân Việt Nam được thụ hưởng. Thế mà trong lúc cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam đang là điều ước ao của bao nhiêu người dân các nước thì có những kẻ tâm thần chính trị như Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Quang A lại đòi hỏi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng giống như Myanmar chìm trong khủng hoảng triền miên, người dân phải sống trong sự đấu đá giữa các đảng phái, đất nước chìm trong đói nghèo và nỗi sợ hãi./.

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG” RỒI SẼ RA SAO?

 

Sáng 01/02/2021, Quân đội Myanmar ban bố tình trạng khẩn cấp sau khi bắt giữ Tổng thống, Cố vấn nhà nước cùng một loạt nhân vật cấp cao khác của đảng NLD cầm quyền và tuyên bố quyền lực được giao lại cho Tổng tư lệnh Quân đội. Việc quân đội Myanmar tiến hành đảo chính được xem là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn kéo dài giữa quân đội với chính phủ dân sự cầm quyền ở quốc gia này. Cuộc chính biến này có thể sẽ để lại nhiều hệ lụy to lớn, đẩy nền dân chủ non trẻ ở Myanmar rơi vào khủng hoảng và những bất ổn chính trị sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Myanmar vốn bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Mặt khác, đảo chính có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ các thỏa thuận giữa chính quyền với các nhóm nổi dậy, có thể một lần nữa đẩy Myanmar vào vòng xoáy của bạo lực. Một điều dễ nhận thấy rằng, tương tự như ở Thái Lan, quân đội ở Myanmar không nằm dưới sự lãnh đạo của bất kỳ một chính đảng nào, họ có quyền lực rất to lớn, được phép nắm quyền trong trường hợp khẩn cấp và mặc dù không thực hiện nhiều cuộc đảo chính như Thái Lan nhưng thời gian họ nắm giữ chính quyền nhà nước lại kéo rất dài. Việc chính phủ cầm quyền ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ sau một cuộc đảo chính của quân đội sẽ là bài học đắt giá về “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” đối với nhiều chính đảng cầm quyền trên thế giới.

Thời gian qua ở Việt Nam, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập; đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân; …; trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm. Chúng ngụy biện rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả” là giải phóng dân tộc, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến” và Công an, Quân đội phải “trung lập”, “đứng giữa”, không thuộc một đảng phái nào, “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”, …. Đây rõ ràng là những luận điệu sai trái, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là tách Công an và Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công an, Quân đội; làm cho lực Công an, Quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa. Với thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động không có gì khác là muốn làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta dần dần biến chất, từ lực lượng vũ trang của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản.

Thực tiễn khẳng định, không có một lực lượng vũ trang nào là "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ quân đội, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần cho lực lượng vũ trang của họ. Trong khi đó, thực tiễn cũng đã cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô tuyên bố xóa bỏ quy định của Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu vào cuối năm 1991.

Từ cuộc chính biến ở Myanmar, một bài học sâu sắc được rút ra với chúng ta, đó là phải luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các lực lượng vũ trang, tuyệt đối không bao giờ được sa vào bẫy “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch, phản động./.

 

Một số quy định đối với quân nhân chuyên nghiệp có hiệu lực từ 15-3-2021

Theo Thông tư số 12/2021/TT-BQP ngày 28-1-2021 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 170/2016/TT-BQP ngày 30-10-2016, quy định về cấp bậc quân hàm quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) tương ứng với mức lương, phong, thăng, giáng cấp bậc quân hàm trong trường hợp bị kỷ luật hạ bậc lương; trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định đối với QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng (CN&VCQP), bắt đầu từ hôm qua (15-3-2021), một số quy định đối với QNCN có sự thay đổi.

Tấm khiên trong đại dịch và một đảng biết lo cho dân

 

Với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng Covid-19 đại trà nhanh hơn nhiều so với dự kiến, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về chiến lược phòng, chống dịch, sớm tạo tấm khiên vững chắc trong cuộc chiến với đại dịch.

Bản tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái: Việt Nam phản bác thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền

 

Nhằm tiếp tục tuyên truyền sâu sắc hơn nữa việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Báo Quân đội nhân dân Điện tử sẽ tổ chức bản tin hằng tuần về nội dung này.

Dẫn chứng sinh động bác bỏ quan điểm sai trái Việt Nam không có tự do kinh tế và nền kinh tế thị trường

 Theo bảng xếp hạng về Chỉ số tự do kinh tế năm 2021 (Index of Economic Freedom 2021) mới công bố của Quỹ Di sản (Heritage Foundation) đưa ra, Việt Nam lần đầu tiên lọt nhóm các nền kinh tế có chỉ số tự do kinh tế ở mức trung bình (Moderately Free) với 61,7 điểm. Như vậy, Việt Nam tăng 2,9 điểm và tăng 15 bậc so với thứ hạng năm 2020. Nếu xét trong nhóm 40 nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương về chỉ số này, Việt Nam cũng đứng thứ 17 với tổng điểm cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới.

Với điểm số này, Việt Nam cũng đứng thứ 90 trong bảng xếp hạng các nền kinh tế tự do. Đây là thành tựu quan trọng, là dẫn chứng sinh động bác bỏ quan điểm sai trái Việt Nam không có tự do kinh tế và nền kinh tế thị trường.

Hải Đăng ST

Giá trị và sức sống của Công xã Pari

 

 Công xã Pa-ri là cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản trên thế giới, tuy không thực hiện được những chính sách đề ra, nhưng có thể nói, với tất thảy những gì làm được, nó xứng đáng là dấu son chói lọi trong lịch sử thế giới cận đại. V.I. Lê-nin cho rằng Công xã Pa-ri là kiểu mẫu vĩ đại nhất của phong trào vô sản vĩ đại nhất trong thế kỷ XIX. 

Công xã Pa- ri là khẳng định sức mạnh to lớn của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống giai cấp tư sản và áp bức trên toàn thế giới và phong trào cộng sản thế giới. Bài Quốc tế ca của Ơ-gien Pô-chi-ê đã ra đời trong Công xã Pari

 Là một kiểu kiểu nhà nước mới của giai cấp vô sản rốt cuộc đã tìm thấy. Những chính sách của Công xã Pa-ri về xây dựng nhà nước kiểu mới, về phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá giáo giục, chính sách đối với người lao động, v.v.. là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng các nền chuyên chính vô sản, nền dân chủ XHCN, nền QPTD, chiến tranh nhân dân, liên minh công - nông…. sau này.

 Cách mạng Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ nguyên nhân thất bại của Công xã (không tấn công sào huyệt cuối cùng, không liên minh với nông dân, không đoàn kết công nhân cả nước…) mà đã giành thắng lợi trong cách mạng tháng tám. Chúng ta đã làm được nhiều hơn thế! Chúng ta đã kế thừa và phát triển rất nhiều những bài học kinh nghiệm cả thất bại và thành công của giai cấp công nhân trên thế giới. Trong đó có những bài học thất bại của Công xã Pari. Chúng ta đã tấn công sào huyệt, đập tan bộ máy cai trị; mời những người trong chính quyền cũ ra cộng tác với cách mạng (mời Bảo Đại làm cố vấn chính phủ). Liên minh chặt chẽ với nông dân và biến liên minh công- nông thành nền tảng liên minh giai cấp và liêm minh công- nông- trí tành nền tảng đại đoàn kết toàn dân tộc.  Đoàn kết gia cấp công nhân trỏ thành nguyên tắc của cách mạng


Giá trị và sức sống của Công xã Pari

 

    Với những gì đã làm được, Công xã Pa-ri đã chứng minh đó là một nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản, là nhà nước của quần chúng cần lao, được nhân dân lao động và công nhân nhiều nơi trên thế giới đồng tình, ủng hộ noi theo. 

    Ở Đức, những hội nghị quần chúng của công nhân bày tỏ tình đoàn kết và ủng hộ Công xã Pa-ri diễn ra ở nhiều thành phố lớn. Những lãnh tụ của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Đức là F.A.Bê-ben và W.Lip-nêch cũng lên tiếng bênh vực sự nghiệp của Công xã. Trong diễn văn ở Quốc hội đầu tiên của Đức, Bê-ben nói: “Các bạn hãy tự tin chắc rằng tất cả giai cấp vô sản châu Âu và bất cứ ai còn giữ trong tâm hồn mình tình yêu đối với tự do và độc lập thì đều hướng về Pa-ri. Và nếu như trong lúc này, Pa-ri bị đàn áp thì tôi xin nhắc để các bạn biết rằng cuộc đấu tranh ở Pa-ri chỉ mới là trận giao tranh ở tiền đồn mà thôi...”. 

    Nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa Bun-ga-ri Cri-xtô Bô-chi-ep, nhân danh cá nhân và các đồng chí mình, gửi điện chào mừng Công xã với nội dung: “Công xã Bun-ga-ri gửi lời chào hữu nghị và nhiệt tình. Công xã muôn năm!”. Chi bộ Li-e-giơ của Quốc tế thứ nhất nhân danh công nhân Bỉ viết thư cho Công xã, nhấn mạnh: “Mọi trái tim của giai cấp vô sản đều hướng về các bạn”,v.v...

MLN


Dự kiến chương trình kỳ họp 11 của Quốc hội khoá XIV



Sáng 15/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về chương trình kỳ họp 11, Quốc hội XIV. Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết kỳ họp này sẽ khai mạc vào 24/3 và kéo dài trong 12 ngày.

Giá trị và sức sống của Công xã Pari

 

    Ngay sau khi ra đời, Công xã Pa-ri đã đề ra nhiều chính sách nhằm xây dựng một nhà nước kiểu mới. Trong mọi hoạt động của mình, Công xã đều dựa vào những sáng kiến và sức mạnh của quần chúng. Trước hết, để bảo vệ chính quyền vô sản, tránh sự đàn áp của bọn tư sản và địa chủ, Công xã chú ý đến nhiệm vụ vũ trang toàn dân. Sắc lệnh đầu tiên của Công xã là quyết định thủ tiêu quân đội nhà nghề- công cụ mù quáng của giai cấp thống trị - thay thế bằng Vệ quốc quân, một quân đội con em của nhân dân. Cùng với đó, Công xã cũng tiến hành giải tán lực lượng cảnh sát cũ và dựa vào nhân dân vũ trang để bảo vệ trật tự trị an xã hội. Có thể nói, trước Công xã Pa-ri, chưa bao giờ vị trí, vai trò của nhân dân lại được đề cao như vậy. Đó là một trong những tiến bộ lớn nhất của Công xã Pa-ri 1871.

    Để tỏ rõ tính ưu việt của Công xã, bộ máy nhà nước theo hình thức Nghị viện tư sản được thay thế bằng Hội đồng Công xã. Đây là cơ quan cao nhất của nhà nước vô sản do tuyển cử phổ thông bầu ra. Hội đồng Công xã ban bố luật pháp và lập những uỷ ban để thi hành luật pháp. Có tất cả 10 ủy ban do Uỷ viên Công xã đứng đầu, chịu trách nhiệm trước Hội đồng Công xã. Những người đứng đầu này phần đông là công nhân, còn lại là những người được thừa nhận làm đại biểu của giai cấp công nhân, đều do tuyển cử mà ra và có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào khi mất tín nhiệm. Ngoài ra, Hội đồng Công xã còn ra sắc lệnh tách Nhà thờ khỏi những hoạt động của Nhà nước, đóng cửa toà án tư sản, huỷ bỏ ngân sách về tôn giáo,v.v...

    Về kinh tế - xã hội, Hội đồng Công xã giao quyền quản lý các xí nghiệp, nhà máy mà chủ tư bản bỏ trốn cho công nhân. Ở các nhà máy, xí nghiệp mà chủ tư bản đang làm chủ, Hội đồng Công xã quản lý chế độ tiền lương công nhân, nghiêm cấm cúp phạt dưới mọi hình thức đối với công nhân, cấm làm việc ban đêm (Sắc lệnh ngày 20-4-1871). Hội đồng Công xã ban bố chế độ ngày làm việc 8 giờ và điều chỉnh mức lương cho công nhân theo năng lực chuyên môn và tính chất công việc. Hội đồng Công xã cũng quy định giá cả lương thực, thực phẩm và hoãn trả các khoản nợ trước đây; bãi bỏ dịch vụ cầm đồ, trả lại đồ cầm cho công nhân; thay đổi điều kiện ăn ở cho người nghèo; bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ; xây dựng các cơ sở giữ trẻ cho con em công nhân...

    Về văn hoá - giáo dục, Hội đồng Công xã ra sắc lệnh tách nhà thờ khỏi hệ thống giáo dục, thay thế đội ngũ giáo viên là cha cố bằng giáo viên mới, tăng lương cho giáo viên. Hội đồng Công xã ra sắc lệnh quy định chế độ giáo dục bắt buộc, miễn phí đối với lứa tuổi học sinh. Ngày 2-5-1871, Hội đồng Công xã quyết định thành lập 2 trường trung học chuyên nghiệp...

Ngày 21-5-1871, Hội đồng Công xã ra sắc lệnh thủ tiêu việc kinh doanh nghệ thuật tư nhân và trực tiếp quản lí các công trình, di sản văn hoá cũng như các hoạt động nghệ thuật để phục vụ đông đảo quần chúng; khuyến khích các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác những tác phẩm văn học phục vụ cho sự nghiệp của Công xã, và bài Quốc tế ca của Ơ-gien Pô-chi-ê đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử ấy.

MLN

Giá trị và sức sống của Công xã Pari

 

    Trên đà thắng lợi và được sự cổ vũ của quần chúng, đến chiều ngày 18-3-1871, Ủy ban Trung ương Vệ quốc quân ra lệnh cho các tiểu đoàn tiến vào trung tâm thủ đô Pa-ri. Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Vệ quốc quân, từ các ngả ngoại ô ồ ạt kéo vào thành phố. Mọi sự kháng cự của quân Chính phủ đều bị đè bẹp. Chi-e cùng tàn dư của sư đoàn quân chính quy vội vã rút về Véc-xây trong cơn hoảng loạn. 21 giờ tối ngày 18-3, các cánh quân khởi nghĩa tập trung về Toà thị chính. Lá cờ đỏ được kéo lên, cả Pa-ri vang dậy tiếng hô “Cách mạng 18-3 muôn năm”.

Như vậy, cuộc khởi nghĩa 18-3-1871, ban đầu chỉ là sự trả lời tự phát của quần chúng lao động chống lại sự tấn công của tư sản Pháp, nhưng sau đó, trong quá trình đấu tranh, Ủy ban Trung ương Vệ quốc quân đã nắm lấy quyền lãnh đạo cuộc vận động này... Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền giai cấp tư sản bị lật đổ ở một trong những thủ đô lớn nhất trên thế giới.

Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản Pháp nhanh chóng tiến hành lật đổ bộ máy nhà nước tư sản, xây dựng nền chuyên chính vô sản. Ngày 26-3-1871, Pa-ri tổ chức bầu cử Công xã. Nhân dân lao động lần đầu tiên được thực hiện quyền lợi thiêng liêng của mình. Cuộc tổng tuyển cử theo lối phổ thông đầu phiếu cho mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đã diễn ra trong không khí tưng bừng, nhộn nhịp. Ngày 28-3-1871, Hội đồng Công xã gồm 85 đại biểu long trọng ra mắt quốc dân. Sự hân hoan của nhân dân Pa-ri trước sự ra đời của Công xã được thể hiện: “Tiếng hoan hô vang dậy “Công xã muôn năm”! Tiếng đại bác chào mừng rung chuyển đất trời. Các đoàn quân nhạc cử Quốc ca (bài Mac-xây-e). Hàng mấy trăm ngàn người đồng thanh hát theo như sấm động. 

MLN

Giá trị và sức sống của Công xã Pari

 

             Lần giở lại những trang lịch sử thế giới cận đại, Công xã Pa-ri 1871 là lần đầu tiên giai cấp vô sản trên thế giới đứng lên tiến hành cuộc cách mạng lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản, thành lập Công xã. Dù chỉ tồn tại vẻn vẹn có 72 ngày, nhưng những chính sách của Công xã Pa-ri về xây dựng nhà nước kiểu mới, về phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá giáo giục, chính sách đối với người lao động, v.v.. là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng các nền chuyên chính vô sản sau này.

    Với âm mưu mở rộng bành trướng ra bên ngoài, ngày 19-7-1870, Na-pô-lê-ông III tuyên chiến với Phổ, mở đầu cuộc chiến tranh Pháp - Phổ. Ngay từ đầu cuộc chiến tranh, quân Pháp đã bị tổn thất nặng nề. Nhân cơ hội đó, ngày 4-9-1870, nhân dân Pa-ri lập tức vùng lên khởi nghĩa, lật đổ nền đế chế thứ II, thành lập nước Cộng hoà Pháp lần thứ ba. Để bảo đảm cho nền cộng hoà vừa mới thành lập, đồng thời xoa dịu dân chúng, giai cấp tư sản Pháp đã thành lập Chính phủ vệ quốc. Với động thái này, nhân dân Pa-ri và giai cấp công nhân Pháp hy vọng Chính phủ sẽ đảm đương được trọng trách bảo vệ Tổ quốc trước sức ép của quân Phổ. Nhưng trên thực tế, Chính phủ Vệ quốc không có bất cứ hành động nào chống lại quân xâm lược, ngược lại, ngầm có hành động bán nước. Trong khi đó ở ngoài mặt trận, quân Pháp đang bị thua liên tiếp, quân Phổ theo đà thắng lợi tiến rất nhanh vào lãnh thổ Pháp, chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm 1/3 lãnh thổ và vây chặt Pa-ri. Hơn lúc nào hết, Pa-ri tráng lệ đang đứng trước thử thách vô cùng nghặt nghèo. Trong thời khắc lịch sử quan trọng đó, nhân dân và giai cấp công nhân Pháp đã đứng lên khẳng định sức mạnh của mình trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền dân tộc. Với tinh thần xả thân vì nước, rất nhanh chóng, giai cấp công nhân Pháp đã tổ chức được 194 tiểu đoàn Vệ Quốc quân(3) với quân số lên tới 30 vạn người.

    Tháng 2-1871, A.Chi-e công khai đầu hàng và ký hoà ước với quân xâm lược, đồng ý bồi thường 5 tỉ Phơ-răng, cắt nộp hai tỉnh An-dát và Lo-ren cho Phổ và giải giáp quân đội chính quy của Chính phủ Vệ quốc. Lúc này, Vệ quốc quân trở thành trở ngại cho chính sách đầu hàng của Chính phủ bán nước. Do vậy, những người đứng đầu Chính phủ bán nước tìm mọi cách tiêu diệt lực lượng Vệ quốc quân. Theo đó, ngày 18-3-1871, quân Chính phủ do Tư lệnh bảo vệ Pa-ri Vê-nua chỉ huy đánh lén vào các trận địa pháo của Vệ quốc quân. Một đội cảnh sát và một số quân thường trực do đích thân Vê-nua chỉ huy đánh vào cao điểm Mông-mác ngoại thành Pa-ri về phía bắc. Sau gần 5 giờ tấn công, quân Chính phủ đã chiếm được cao điểm Mông-mác. Để đối phó với tình hình, Ủy ban Trung ương Vệ quốc quân điều lực lượng đến chi viện cho Mông-mác. Có được lực lượng tăng cường, các chiến sĩ Vệ quốc quân tiến hành phản công, nhanh chóng chiếm các cơ quan Chính phủ, quảng trường, nhà ga và các trại lính (còn nữa)

MLN


KHÔNG RIÊNG Ở VIỆT NAM!

 Sau phiên tòa phúc thẩm vụ Đồng Tâm, dư luận không bất ngờ gì những phán quyết của tòa bởi tội ác của đám “thảo khấu Đồng Thuận” đã rành rành ra đó. Dã man từ lúc tung hô trên mạng xã hội đến công tác chuẩn bị vũ khí và thực hiện hành vi phạm tội.

Những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị- họ là ai?



Sau Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là trước ngày bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ở nước ta, cùng với các thế lực thù địch, phản động; một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị “mọc lên như nấm sau trận mưa rào”!

CHIẾN DỊCH BUÔN MÊ THUẬT

 


Là một trong những Chiến dịch thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật Quân sự Việt Nam, là đòn điểm huyệt vừa đúng, vừa trúng, vừa đủ để chuyển hóa thế trận có lợi cho ta, trong chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam chúng ta. Thực tế đã chứng minh, sau chiến dịch giải phóng Buôn Mê Thuật, đã là làm rung chuyển bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tạo thế và thời cơ thuận lợi để giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước nhanh nhất, ít tổn thất nhất, đạt được mục đích cao nhất...

CHIẾN SĨ GẠC MA 1988

 


Hồn của các anh luôn gắn liền với núi sông đất Việt. Các anh đã anh dũng hy sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ và vì sự bình yên của Tổ Quốc. Tổ Quốc Việt Nam và người dân Việt Nam luôn ghi lòng, tạc dạ và nhớ đến các anh. Để đất nước luôn được bình yên, thì nhiều người đã noi gương và tiếp bước các anh. Mong các anh yên nghỉ ngàn thu...

PHÒNG CHỐNG COVID Ở VIỆT NAM

 


Thành công của đợt phòng chống Covid lần này, là lần phòng chống Covid biến thể mới, gian nan, vất vả nhất của các cơ quan chức năng và người dân nơi xẩy ra dịch bệnh. Nước ta đã được WTO, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều tờ báo có tên tuổi ở Á, Âu ca ngợi. Ấy vậy, lại có một số người lại có biểu hiện bới lông, tìm vết hạ thấp sự thành công đó của Việt Nam, cái đau nhất họ lại là người Việt Nam, ý kiến phản biện chính đáng là đúng, nhưng ý kiến cho rằng là phản biện ở dạng cay nghiệt thì không nên chút nào ? không biết tinh thần xây dựng đất nước của họ để ở đâu... và để làm gì ?

“KHÔN” NHƯ ANH Ở QUÊ EM BỊ DÂN HỌ CHỬI CHO SẤP MẶT

Mới đây, Joseph Chaplik, một dân biểu đảng Cộng hòa ở Arizona, đã giới thiệu dự luật 2770, quy định rằng người dân bang này sẽ không bắt buộc phải đeo khẩu trang khi dịch COVID-19 đang diễn ra. Để thuyết phục Hạ viện bang thông qua dự luật này, Chaplik nói rằng trước đây, người dân cũng không phải đeo khẩu trang trong các dịch bại liệt, đậu mùa, sởi, HIV-AIDS…

Đây là một lập luận nực cười, vì những bệnh vừa nêu đều không lây qua đường hô hấp, và phương tiện thay thế khẩu trang trong việc phòng ngừa HIV-AIDS là bao cao su.
Tuy nhiên, bất chấp sự vô lý của lập luận, Dự luật hiện đã được Hạ viện Arizona thông qua vào ngày 03/03, với 31 phiếu thuận từ đảng Cộng hòa và 28 phiếu chống của đảng Dân chủ. Sắp tới, chắc chắn dự luật sẽ được thông qua bởi Thượng viện Arizona, vì cả hai viện của bang này đều do đảng Cộng hòa kiểm soát.
Nói cách khác, nền dân chủ Mỹ đã quyết định chọn Joseph Chaplik làm một dân biểu của bang, bất kể sự thiếu hiểu biết hoặc ngụy biện mà ông này thể hiện. Nó cũng sắp thông qua một dự luật đe dọa sức khỏe và mạng sống của người dân bang Arizona, dù những lý do mà Chaplik đưa ra để bảo vệ dự luật này là phi logic đến lố bịch và hoàn toàn phản khoa học. Hiện tại Mỹ tiếp tục là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới với 30.043.662 ca mắc và 546.605 ca tử vong. Trong đó bang Arizona đã có hơn 16.300 người chết và hơn 827.000 người bị nhiễm virus corona.
Với bức tranh u ám này, dự luật về khẩu trang của ban Arizona xứng đáng được xem là trò cười mới nhất của nền dân chủ Mỹ.
Từ năm 2016 đến nay, nước Mỹ đã bị đảo lộn vì chủ nghĩa dân túy, tin giả, quảng cáo chính trị, mâu thuẫn giữa hai đảng, và nền chính trị dựa trên căn cước. Nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Donald Trump là một bài học đắt giá, cho thấy nền dân chủ đa đảng không thể vận hành tốt nếu không tôn trọng sự thật, kiến thức chuyên môn, quyền bình đẳng và đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, dường như cuộc khủng hoảng của nền dân chủ Mỹ vẫn chưa chấm dứt sau sự thất cử của ông Trump. Việc nhiều nhà một số nhà “dân chủ cuội” tiếp tục kêu gọi Việt Nam sao chép mô hình Mỹ, thậm chí tiếp tay phát tán các tin giả từ Mỹ vào Việt Nam, là khó có thể thông cảm trong bối cảnh hiện tại.
Thật đúng là trò cười của nền dân chủ kiểu Mỹ.