HACK FACEBOOK NGƯỜI KHÁC CÓ THỂ BỊ PHẠT TÙ ĐẾN 7 NĂM
Thứ Năm, 8 tháng 4, 2021
Tỉnh táo để không tiếp tay, không mắc mưu
Thế nên, bắt là phải!
Việt
Tân, Chân Trời Mới Media, Tiếng Dân, RFA… hối hả tung các thông tin xuyên tạc
bầu cử quốc hội Việt Nam khóa 15 sắp tới. Nhan nhản những bài viết kiểu: “Tự
ứng cử đại biểu quốc hội sẽ bị bắt giam” (Việt Tân, 29/3); “Bắt những người tự
ứng cử Đại biểu Quốc Hội, sự vi phạm Hiến pháp!” (RFA, 29/3); “Hiến Pháp, một
tài liệu phản động chống phá nhà nước?” (Việt Tân); “Người thứ hai tự ứng cử
đại biểu quốc hội bị bắt” (Người Việt); “Thêm một ứng cử viên đại biểu quốc hội
độc lập bị bắt ở Hà Nội” (VOA); Ứng cử viên Đại biểu quốc hội thứ hai bị bắt
(BauxitVN)…
Đọc
thì biết: thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen” thể hiện ngay từ tít bài. Phần nội
dung, họ càng lu loa rầm rĩ, nhấn mạnh rằng: nhà nước Việt Nam bắt người “tự
ứng cử đại biểu quốc hội”; vì “tự ứng cử” nên bị bắt, dù thực hiện bắt tạm
giam, cơ quan công an đã nêu rõ tội danh của cả hai, là “làm, tàng trữ, phát
tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại điều 117 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuy
nhiên, màn kích động của Việt Tân, Chân Trời Mới Media, Tiếng Dân, RFA…chẳng
mảy may làm ai xúc động, trừ một số phần tử cùng cánh hẩu với họ. Là bởi hai
điều:
Thứ
nhất, nếu thật thế, có ngay một câu hỏi ngược: Vậy 74 người còn lại sao chưa bị
bắt? Thông tin được cung cấp bởi ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chánh Văn phòng Hội đồng
Bầu cử quốc gia, tại Kỳ họp 11, sáng 25/3: “có 76 người tự ứng cử, đạt tỷ lệ
bình quân 2,17 lần so với tổng số đại biểu Quốc hội được bầu”.
Thứ
hai, đọc tên tuổi 2 người bị bắt tạm giam: Lê Trọng Hùng (42 tuổi, trú tại
ngách 325/59 Kim Ngưu, phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), và Trần
Quốc Khánh (quê ở xã Lưu Phương, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình), nhiều người
không những không thắc mắc, không mủi lòng, mà còn…vỗ tay!
Ngay
luật gia Trần Đình Thu ở TP.HCM, trả lời RFA hôm 29/3, dù muốn bênh hai “ứng
viên” kia lắm, cũng phải thở dài mà rằng:“Cũng không có bằng chứng về việc do 2
người này ứng cử quốc hội mà bị bắt…”. Còn “ông nghị” Lê Như Tiến – người hay
phản biện gắn với những phát biểu mang tính lập ngôn, làm nóng nghị trường,
kiểu “quả đấm thép tan chảy”, “Hoàng hôn nhiệm kỳ”…- thì khẳng định: “Chúng ta
không hạn chế những người tự ứng cử và chúng ta tạo mọi điều kiện, Hội đồng bầu
cử quốc gia cũng như Ủy ban bầu cử các tỉnh cũng tạo mọi điều kiện cho những
người tự ứng cử hoàn thành các thủ tục, động viên những người tự ứng cử hãy tự
tin, bản lĩnh và quyết tâm trở thành người đại biểu của nhân dân”. Tuy nhiên,
cũng chính ông, cảnh báo: “những người tự ứng cử cũng phải xem lại mình đã đủ
bản lĩnh, đủ trình độ, đủ tâm và tầm để thuyết phục được cử tri chưa?”
Thực
ra, cũng có người thắc mắc. Nhưng thắc mắc là sao cơ quan pháp luật không
“nhốt” sớm hơn hai vị “đại công dân” Lê Trọng Hùng và Trần Quốc Khánh lúc nào
cũng cao ngạo cho mình là “thừa bản lĩnh”, “thừa trình độ”, vẽ ra cả một cái
“dự án 500 năm tiếp theo cho dân tộc Việt”…
Vì
họ quá biết “đức độ, phẩm chất, tài năng” của cả hai cao, dày đến mức nào; quá
biết, những hành vi phá bĩnh đểu giả và trơ tráo từng bị vạch mặt nhiều lần của
cả hai. Điển hình là việc: một mặt, phỉ báng nhà nước Việt Nam, chế tác, tán
phát thông tin xuyên tạc sự thật; mặt khác, hai “đại công dân” lại bày trò khệ
nệ vác Hiến pháp đi phát, đi bán kèm với la lối ầm ĩ là “ta đi tuyên truyền
Hiến pháp đây”…hòng gây khó cho cơ quan bảo vệ pháp luật…
“Vua
chèo” là cụ Tào Mạt, từng viết: “Đã làm hề thì đừng làm quan”. Hai ông hề vụng
Lê Trọng Hùng và Trần Quốc Khánh sao có thể lừa được thiên hạ, càng không thể
qua mắt cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam.
VẪN CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ TRƯỚC KHI DIỄN RA BẦU CỬ
Âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước trong khoảng thời gian này, các thế lực thù địch, phản động sẽ tập trung huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện tham gia nhằm làm gia tăng mức độ, tính chất, phạm vi tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền. Gần như thành thông lệ, trước mỗi sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và dân tộc ta, các thế lực thù địch lại ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Lần này cũng vậy chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội liên tục đưa nhiều thông tin tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Kết hợp với các trang mạng chúng ra tăng gửi những đơn thư nặc danh, mạo danh lan truyền những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ, bôi nhọ những cán bộ liên quan đến công tác nhân sự đại hội. Đồng thời tổ chức tham gia ứng cử làm gây rối loạn công tác nhân sự và chuẩn bị cho bầu cử.
Mục đích trực tiếp của
các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá là nhằm phá hoại công tác chuẩn bị bầu
cử, phá hoại công tác nhân sự; phá hoại các dự thảo văn kiện; gây mâu thuẫn,
chia rẽ, nghi kỵ, mất đoàn kết nội bộ Đảng; làm suy giảm niềm tin của các tầng
lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm cho bầu cử
không diễn ra theo kế hoạch hoặc không đạt được các mục đích, yêu cầu đề ra.
Bên cạnh đó, chúng còn hướng tới những mục tiêu khác như: tăng quyền lực của
quốc hội giảm sự lãnh đạo của Đảng đối với quốc hội; Chuyển đổi Đảng Cộng sản
Việt Nam từ Đảng nắm quyền thành Đảng cầm quyền; thực hiện cải cách hệ thống
chính trị - nhà nước hiện tại thành nhà nước pháp quyền với Hiến pháp mới và
thể chế chính trị dân chủ đa nguyên…
NGHE TÂY NÓI VỀ TA
Tại buổi họp báo sáng 7/4 khi kết thúc nhiệm kỳ, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink chia sẻ, được đại diện Mỹ tại Việt Nam là một niềm vui và tự hào lớn của ông vì ông có thể trực tiếp góp phần cũng như chứng kiến vào sự phát triển mạnh mẽ của mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Mỹ.
“Tôi
đã có được đặc ân trở thành Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Với tư cách là Đại sứ Mỹ
tại Việt Nam, tôi có thế thúc đẩy quan hệ đối tác giữa Mỹ vào Việt Nam. Đây là
niềm vinh dự lớn lao trong cuộc đời tôi”, Đại sứ Mỹ khẳng định.
Đại
sứ Daniel Kritenbrink nêu rõ Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng
nhất của Mỹ và cả hai nước đang nỗ lực thúc đẩy cho sự lớn mạnh không ngừng của
quan hệ song phương. Kim ngạch thương mại giữa hai nước đang phát triển nhanh
và kim ngạch thương mại tăng đến 46,5 tỷ USD trong năm đầu nhiệm kỳ của ông; Mỹ
và Việt Nam ký thỏa thuận thương mại trị giá 6 tỷ USD; chính phủ và doanh
nghiệp hai bên hợp tác chặt chẽ với nhau để tháo gỡ những khúc mắc trong nhiều
vấn đề, như tiếp cận thị trường; hay việc hai bên phối hợp với nhau giải quyết
các hồ sơ quốc tế lớn, tổ chức các sự kiện quốc tế lớn như Thượng đỉnh Mỹ-Triều
lần thứ 2 hay những lập trường chung trong các vấn đề an ninh khu vực; Việt Nam
hỗ trợ Mỹ hàng nghìn khẩu trang y tế phòng chống dịch Covid-19... là những ví
dụ cho thấy quan hệ Việt Nam - Mỹ đang có những bước chuyển mạnh mẽ, thể hiện
sự tin cậy và hiệu quả trong hợp tác.
Đại
sứ Dainel Kritenbrink cho biết, mới đây ông cảm thấy xúc động khi cùng lãnh đạo
Bộ Quốc phòng cùng tham dự buổi lễ đánh dấu hoàn thành giai đoạn đầu tiên của
dự án tẩy rửa ô nhiễm dự án xử lý ô nhiễm dioxin ở sân bay Biên Hòa. Chính phủ
Mỹ biết ơn sự hợp tác của chính phủ Việt Nam trong việc tìm kiếm quân nhân Mỹ
mất tích trong chiến tranh và phía Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam rà phá bom
mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh.
“Tôi
tự hào vì mình Đại sứ Mỹ đầu tiên đến thăm nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn và
cùng nắm tay các cựu chiến binh đi trên cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa)”, ông Daniel
Kritenbrink chia sẻ.
“Tôi
vô cùng lạc quan về tương lai của mối quan hệ đối tác toàn diện Mỹ và Việt
Nam”, ông nhấn mạnh.
Đại
sứ Mỹ Daniel Kritenbrink dẫn lại câu nói từ người tiền nhiệm đầu tiên của ông -
cựu Đại sứ Peterson rằng, “quan hệ Việt Nam - Mỹ có được như ngày nay, là một
phép màu”. Theo ông Daniel, “phép màu” ấy không tự dưng mà có mà là nhờ sự nỗ
lực hàn gắn quá khứ để xây đắp tương lai, lòng tin và sự chia sẻ.
“Tổng
thống Joe Biden cũng cho rằng, việc ủng hộ một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng
và độc lập là lợi ích quốc gia của Mỹ. 25 năm tới chúng ta sẽ tiếp tục phát huy
mối quan hệ này dựa trên nền tảng vững chắc, là sự tin tưởng, tôn trọng lẫn
nhau. Đây sẽ là ưu tiên hàng đầu của chúng ra trong 25 năm tiếp theo”, ông
Kritenbrink nói.
Đại
sứ Mỹ Daniel Kritenbrink cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong hợp tác,
dẫn dắt, giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế. “Sự kỳ vọng vào vai trò của
Việt Nam những năm tới đây sẽ tiếp tục tăng lên, nhất là từ phía Mỹ. Việt Nam
hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch ASEAN cũng như Ủy viên không thường trực
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc”.
Tất
cả phải dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật
Theo
Đại sứ Mỹ Daniel Kritenbrink, việc các nhà lãnh đạo Mỹ và Việt Nam nhiều lần
điện đàm cùng chung tay giải quyết các thách thức toàn cầu, trong đó có đại
dịch Covid-19 hay biến đổi khí hậu cho thấy tầm nhìn chung hợp tác giữa hai
nước. Việc Phó Thủ tướng Bộ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh điện đàm với Đặc
phái viên của Tổng thống Mỹ về chống biến đổi khí hậu John Kerry mới đây là một
ví dụ khác thể hiện rõ những ưu tiên của hai nước trong việc giải quyết các
thách thức toàn cầu.
Theo
Đại sứ Daniel Kritenbrink, Tổng thống Joe Biden, Ngoại trưởng Antony Blinken và
các lãnh đạo cấp cao Mỹ đều nhất trí quan điểm: Vấn đề Biển Đông phải được giải
quyết bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế, yêu sách về chủ
quyền biển cũng phải dựa trên Luật Biển.
“Chúng
tôi sẽ luôn đứng về phía các đối tác, đồng minh, bạn bè trong việc xây dựng
trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Chúng tôi phản đối hành động đe dọa khiêu
khích nước khác”, Đại sứ Daniel Kritenbrink nói.
Đại
sứ Mỹ Daniel Kritenbrink nhắc lại lập trường: “Mỹ tái khẳng định tuyên bố ngày
13/7/2020, bác bỏ gần như toàn bộ yêu sách phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.
Mỹ sẽ tiếp tục tích cực thực hiện các chương trình tăng cường năng lực hàng hải
không chỉ với Việt Nam mà còn nhiều nước khác như Malaysia, Indonesia,
Philippines”.
Ông
Daniel Kritenbrink khẳng định, việc tăng cường quan hệ của Mỹ với các đối tác
bạn bè và đồng minh trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một trong
những ưu tiên trong chiến lược của Mỹ và Việt Nam là một phần quan trọng trong
chiến lược này. Việt Nam là mắt xích quan trọng cùng các đối tác quốc tế trong
đó có Mỹ giải quyết các thách thức ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Và đó là
một trong những lý do khác khiến ông lạc quan về quan hệ đối tác giữa Việt Nam
– Mỹ.
Việt
Nam có một đội ngũ lãnh đạo “chiến lược, năng lực và thực tế”
Đại
sứ Mỹ Daniel Kritenbrink nhận định, nền tảng cho một mối quan hệ hiệu quả và
lâu dài là sự tôn trọng. Theo sự quan sát của ông, các nhà lãnh đạo Việt Nam -
Mỹ luôn khẳng định sự tôn trọng lẫn nhau và sự tôn trọng về độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị.
“Trong
3 năm rưỡi nhiệm kỳ, tôi được tiếp xúc với rất nhiều lãnh đạo và cán bộ cấp cao
Việt Nam. Mới hôm qua, tôi chia sẻ với một nhà lãnh đạo Việt Nam rằng, chúng
tôi biết ơn khi lãnh đạo hai nước đã rất cởi mở, thành thật với nhau. Tôi
thường nói, nếu được dùng 3 từ ngắn gọn mô tả các nhà lãnh đạo Việt Nam thì đó
là: Chiến lược, năng lực và thực tế”.
Đại
sứ Mỹ Daniel Kritenbrink cho biết, cá nhân ông cũng như các nhà lãnh đạo Mỹ rất
mong chờ được làm việc chặt chẽ với các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam.
“Chúng
tôi xin được chúc mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân
Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với những
cương vị mới của họ”.
Tổng
thống Biden đã nhấn mạnh Mỹ giữ vững cam kết xây đắp mối quan hệ đối tác và hữu
nghị với Việt Nam. Mỹ giữ vững cam kết ủng hộ một nước Việt Nam vững mạnh,
thịnh vượng và độc lập, cho rằng đó là lợi ích chung của cả hai nước.
“Như
Tổng thống Biden và Ngoại trưởng Blinken đã nói, Mỹ sẽ trở nên mạnh mẽ, thành
công và thịnh hơn khi làm việc với bạn bè, đồng minh và đối tác cũng có thành
công tương tự”, ông Daniel Kritenbrink nói.
Hiện
ông Daniel Kritenbrink là ứng cử viên duy nhất được Tổng thống Joe Biden đề cử
vào vị trí Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á - Thái Bình Dương
giai đoạn tới./.
HỒ CHÍ MINH SỐNG MÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ BẠN BÈ QUỐC TẾ
ĐỪNG LÀM NHỮNG VIỆC TRÁI VỚI LƯƠNG TÂM MÌNH
Cố tình không hiểu và bịa đặt
Thực
tiễn cho thấy để thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng thực sự vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nhất thiết phải giữ vững và tuân thủ nghiêm
ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ. Thời gian qua, thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá Đảng, trong đó trước
hết nhằm vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính vì thế, bảo vệ nguyên tắc tổ
chức cơ bản này của Đảng vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là vấn đề cơ bản lâu dài
trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Trước
hết, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị rêu rao rằng nguyên tắc tập trung
dân chủ đã “lỗi thời”. Chúng cho rằng nguyên tắc này chỉ phù hợp với hoạt động
của Đảng khi chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật, hoặc khi lãnh
đạo chiến tranh cần có kỷ luật chặt chẽ, tập trung, thống nhất cao độ. Còn
trong điều kiện hòa bình, Đảng cầm quyền, lãnh đạo xây dựng, đòi hỏi phải mở
rộng dân chủ, phát huy tối đa sáng tạo cá nhân, nguyên tắc tập trung dân chủ đã
lỗi thời, không còn phù hợp nữa.
Một
số đối tượng thì lập luận rằng trong cụm từ “tập trung dân chủ” thì “tập trung”
là danh từ, còn “dân chủ” chỉ là tính từ, dân chủ chỉ là cái bổ nghĩa cho tập
trung, làm rõ thuộc tính tập trung. Vì vậy, tập trung là mục đích, dân chủ chỉ
là phương tiện. Nhưng do có rất nhiều phương tiện để đạt được mục đích, thành
ra dân chủ chỉ là một loại phương tiện mà thôi.
Từ
những luận điểm sai lầm này, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị khẳng
định tập trung dân chủ chỉ là “một thứ chế độ tập quyền, độc đoán bảo thủ, kìm
hãm tư duy sáng tạo”. Dẫn ra vài ví dụ về sai lầm, quan liêu độc đoán, mất dân
chủ của một số người trong bộ máy của Đảng, chúng cho rằng càng thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ thì hiện tượng chuyên quyền độc đoán trong bộ máy
lãnh đạo càng nhiều. Từ chỗ lẫn lộn bản chất của nguyên tắc với những hiện
tượng vi phạm nguyên tắc, chúng kết luận cần phải thay nguyên tắc tập trung dân
chủ, rằng “tập trung” và “dân chủ” là hai mặt đối lập, luôn có xu hướng phủ
định, triệt tiêu nhau; nếu thực hiện tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân
chủ, triệt tiêu dân chủ; ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ thì phải từ bỏ
tập trung.
Đặc
biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, các thế lực này cho rằng Đảng đã ra sức
bênh vực nguyên tắc tập trung dân chủ để bảo vệ công tác quy hoạch cán bộ cấp
chiến lược và chủ chốt vào Ban Chấp hành Trung ương XIII mà dân không hề được
hỏi ý kiến. Chúng lập luận rằng nguyên tắc tập trung dân chủ được thống nhất
trong 3 văn kiện quan trọng nhất gồm Cương lĩnh, Điều lệ đảng và Hiến pháp cho
thấy nó có mục đích chung là bảo vệ quyền cai trị tự phong cho mình của Đảng và
phủ nhận quyền tự quyết chính trị của dân. Chúng ra sức tán dương thực hiện dân
chủ tự do, dân chủ vô hạn độ; ủng hộ nhiều phe nhóm đối lập để đấu tranh, bàn
cãi; sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “đa nguyên” cổ vũ cho những bất đồng ý kiến
trong Đảng để chia rẽ nội bộ Đảng.
Có
thể thấy việc chia cắt nguyên tắc vốn thống nhất, hoặc đem “dân chủ” đối lập
với “tập trung” là không hiểu đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực chất, các
thế lực thù địch và cơ hội chính trị cố tình không hiểu, cố tình bịa đặt nhằm
phá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nhân sự Chính phủ có gì mới?
"CÁCH MẠNG MÀU ONLINE" VÀ THỦ ĐOẠN DỰNG HÌNH MẪU NGƯỢC!
Thời
gian qua, lợi dụng tình hình bất ổn diễn ra tại Myanmar, các thế lực thù địch,
phản động đã đánh võng, bẻ lái thông tin, xuyên tạc bản chất vụ việc để tạo cớ
chống phá Việt Nam. Các đối tượng này ra sức kích động, cổ suý, hô hào tiến
hành các hoạt động chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự
an toàn xã hội trong nước, hiện thực hóa mưu đồ tiến hành bạo loạn lật đổ theo
hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.
Trên
các trang mạng xã hội do các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính
trị, bất mãn điều hành đưa ra hàng loạt bài viết sai trái, tiêu cực với nội
dung liên hệ tình hình tại Myanmar với Việt Nam. Các đối tượng đang tích cực
tiến hành “cách mạng màu online” để làm nền tảng hiện thực hóa “cách mạng đường
phố”. Trong đó, các mũi nhọn chống phá mà các đối tượng đang thực hiện là:
Thứ
nhất, xuyên tạc, bôi đen tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền và bức tranh
chính trị - xã hội tại Việt Nam. Từ lâu, các “mõ làng dân chủ” vẫn cố tình
xuyên tạc một cách hết sức trắng trợn rằng Việt Nam đang đặt dưới “chế độ độc
tài toàn trị” nên không có tự do, dân chủ, nhân quyền.
Thông
qua vấn đề Myanmar, họ rêu rao các luận điệu sai trái, độc hại như: “Chính
quyền Cộng sản Việt Nam đã thành công tạo ra một xã hội con người không còn đề
cao những giá trị tinh thần và quyền con người, chỉ biết hưởng thụ vật chất”,
“bài toán của Miến Điện sẽ được giải quyết trong vài tháng nhưng bài toán dân
chủ của Việt Nam thì chưa biết chừng nào mới có giải đáp”, “Đảng Cộng sản chỉ
chăm lo bảo vệ quyền lợi của bản thân mà không chú ý tới đời sống của nhân
dân”…
Từ
đây, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị rêu rao rằng “những
gì đang diễn ra tại Myanmar sẽ tạo ra một thông điệp dân chủ cho Việt Nam”,
“Myanmar là hình mẫu mà Việt Nam phải học tập”, kích động người dân Việt Nam
phải “học theo Myanmar”, phải “xuống đường đấu tranh vì dân chủ”, đòi đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập…
Đáng
chú ý, sau khi xảy ra việc nhiều người dân đập phá nhà máy, công ty của nước
ngoài tại Myanmar để phản đối đảo chính khiến những đối tượng lợi dụng vấn đề
dân chủ, tìm cách “diễn xiếc” trên mạng xã hội. Chẳng hạn như facebooker M.V đã
phát tán nhiều bài ca thán về các cuộc biểu tình tại Myanmar kèm những luận
điệu xuyên tạc để gieo rắc tâm lý tiêu cực đến với cộng đồng mạng.
Mới
đây, sau khi xảy ra việc đốt đường ống dẫn dầu, cắt dây cáp quang mạng, đốt phá
các nhà máy may mặc ở khu ngoại ô Hlaingthaya của thành phố Yangon, Myanmar do
những người quá khích gây ra, ngay lập tức facebooker M.V đã chia sẻ bài viết
với “Khi tiền không phải là mục đích sống của họ”, trong đó anh ta cổ súy rằng:
“Người dân Việt Nam có thể giàu hơn người Myanmar về kinh tế, nhưng về trí tuệ
và tâm hồn thì chưa chắc là đã hơn? Vì với họ, tự do, dân chủ mới là chân lý để
họ sống, tiền không có, nghèo vẫn được nhưng miễn sao họ sống được hưởng không
khí tự do”…
Một
số người giở trò “mượn gió bẻ măng”, cố tình liên hệ về những câu chuyện vốn
không liên quan để thêu dệt, suy diễn, qua đó tung hô, cổ vũ, coi vấn đề biểu
tình tại đất nước Myanmar là “hình mẫu lý tưởng” để Việt Nam học theo.
Do
đó, từ khi chính biến bắt đầu bùng phát tại Myanmar, các thế lực thù địch, phản
động, chống đối, số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng vỏ bọc đấu tranh đòi
“dân chủ, nhân quyền” để gieo rắc các quan điểm, tư tưởng, nhận thức sai lệch
về tình hình trong nước bằng cách so sánh một cách khập khiễng tình hình tại
Việt Nam với vấn đề nội bộ đất nước Myanmar. Họ đồng nhất vấn đề “dân chủ” và
“chống độc tài”, tìm mọi lý do để nói xấu Đảng, Nhà nước ta, từ đó kích động
người dân xuống đường biểu tình đòi yêu sách, chống đối chính quyền nhân dân.
Thứ
hai, các đối tượng đẩy mạnh việc thần tượng hóa các chiêu trò mà họ tung hô là
“hình mẫu dân chủ”. Đối tượng được lựa chọn để “thần tượng hóa” thường là những
người ở độ tuổi trẻ, đứng đầu các hội nhóm dân sự hoặc những người trẻ bị thiệt
mạng trong các cuộc đụng độ với cảnh sát tại quốc gia này. Trên một số diễn
đàn, họ tung ra các bài viết với câu chữ hoa mỹ như: “Cảm phục những chiến binh
trẻ tuổi của Myanmar trong những cuộc biểu tình tại Miến Điện”, “Lịch sử tại
Myanmar sẽ ghi ơn những người đã hi sinh cho đất nước”…
Họ
cố tình so sánh một cách khập khiễng, vô căn cứ vấn đề tại Myanmar với tình
hình Việt Nam và kích động rằng giới trẻ Việt Nam không có tinh thần đấu tranh
“vì dân chủ”, còn thờ ơ, vô cảm trước thời cuộc. Thực chất, đây là thủ đoạn
kích động tâm lý để lôi kéo, dụ dỗ giới trẻ tham gia vào hoạt động chống phá.
Thứ
ba, bôi nhọ lực lượng vũ trang nhân dân, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ
trang. Lợi dụng việc lực lượng quân đội tiến hành đảo chính tại Myanmar, các
đối tượng chống phá gia tăng hoạt động xuyên tạc về vị trí, vai trò của lực
lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản với lực lượng vũ trang tại Việt Nam.
Nhiều
bài viết có nội dung sai trái, bôi nhọ lực lượng vũ trang Việt Nam được tung ra
như: “Chính biến thành Naypyidaw và bài học phi chính trị hóa lực lượng vũ
trang cho Việt Nam”, “Chính trị hóa quân đội, mối nguy khôn lường cho đất
nước”… Luận điệu xuyên suốt được các đối tượng xấu rêu rao là đòi lực lượng vũ
trang phải “phi chính trị hóa”, phải “trung lập”, cho rằng lực lượng vũ trang
“chỉ cần trung thành với Tổ quốc”…
Thứ
tư, gia tăng việc thực hiện các cuộc “cách mạng màu” trên mạng xã hội. Lợi dụng
vấn đề Myanmar, có thể thấy các đối tượng chống đối đang tích cực sử dụng mạng
xã hội để lan truyền những thông tin, luận điệu, quan điểm độc hại, hô hào tiến
hành các “chiến dịch” mang màu sắc “cách mạng màu” trên mạng xã hội như: thực
hiện chiến dịch “mùa xuân Đông Á” thông qua việc gắn hashtag #EastAsianSpring
(hashtag là một loại thẻ, gồm một từ hoặc chuỗi các ký tự liên tiếp nhau đặt
sau dấu #, được sử dụng để mô tả các chủ đề trên các trang web mạng xã hội);
chiến dịch uống trà sữa, chống độc tài, tranh đấu cho tự do bằng việc gắn
hashtag #MilkTeaAlliance”.
Bắt đầu từ việc sử dụng hashtag để làm nóng những vấn đề, sự kiện được quan
tâm, các đối tượng tiến hành chia sẻ, lan truyền những thông tin sai trái, tập
hợp lực lượng, châm ngòi các cuộc bạo loạn.
Tỉnh
táo để không bị lợi dụng
Đằng
sau những luận điệu tưởng chừng như đầy “thương cảm” cho Myanmar, thực chất lại
là những bộ mặt xảo trá. Núp dưới vỏ bọc “yêu nước”, đấu tranh vì “dân chủ”,
“nhân quyền”, các thế lực phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã gieo rắc
những quan điểm, nhận thức, đánh giá phiến diện, chủ quan, sai lệch nhằm đánh
lạc hướng dư luận, từ đó lôi kéo, dụ dỗ, hướng lái những người nhẹ dạ, cả tin
tham gia vào các hoạt động chống phá.
Câu
chuyện bất ổn, biểu tình tại Myanmar hay trước đó là Hồng Kông (Trung Quốc),
Thái Lan hay biểu tình tại Mỹ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc
lấy những gì đã và đang diễn ra tại các nước này để so sánh với Việt Nam là
hoàn toàn sai lệch. Đặc biệt, việc cho rằng biểu tình, chống đối với Nhà nước
là thước đo cho sự “dũng cảm” trong đấu tranh dân chủ, nhân quyền như luận điệu
các “nhà dân chủ mạng” đang rêu rao là không thể chấp nhận được.
Đảng lãnh đạo Quốc hội đã được Hiến định
Đầu tiên cần phải khẳng định rằng, Nhà nước mà
chúng ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân; do đó, mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp
luật, không chấp nhận bất cứ một hoạt động nào trái pháp luật. Pháp luật nước
ta đã quy định, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước
và xã hội. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.
Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt
Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội”. Như thế, việc Đảng lãnh đạo Nhà nước trong đó có Quốc hội-một cơ quan của
Nhà nước-đã được khẳng định trong Hiến pháp. Cho nên, không thể có việc Quốc
hội độc lập hoặc thậm chí đối lập với Đảng như yêu sách của các thế lực thù
địch bên ngoài, một số phần tử chống đối hoặc một số người không am hiểu pháp
luật. Và như vậy, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử Quốc hội, HĐND là hoàn toàn
đúng quy định của pháp luật.
Phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội,
trước tiên bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Quốc
hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện cho cử tri, toàn thể nhân
dân nên việc Đảng lãnh đạo Quốc hội chính là để thể chế hóa các chủ trương,
đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, từ đó đưa vào thực tiễn cuộc
sống.
Đảng lãnh đạo Quốc hội trực tiếp, toàn diện
nhưng không làm thay, mà Đảng lãnh đạo Quốc hội là để phát huy vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, phát huy trí tuệ của Đảng Đoàn Quốc hội, các
đoàn ĐBQH, từng ĐBQH và thực hiện ý nguyện của nhân dân. Thông qua hoạt động
của Quốc hội (lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất
nước) tác động lại sự lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra các chủ trương, chính
sách mới để đưa đất nước ngày càng phát triển.
Đảng viên trong Quốc hội thể hiện bản chất Nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Ý kiến đòi ĐBQH không phải là đảng viên phải
chiếm 50% Quốc hội là không phù hợp. Đó là vì, Đảng lãnh đạo Quốc hội thông qua
Đảng Đoàn Quốc hội và thông qua các đảng viên tại Quốc hội. Trong Quốc hội, số
lượng đảng viên chiếm đa số, thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp, thành phần trong
xã hội. Có thể nói, số lượng đảng viên trong Quốc hội cũng chính là một đặc
trưng, thể hiện bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Đảng viên được bầu làm ĐBQH nhìn chung đều có trình độ, có tri thức,
có đạo đức, có vị trí, vai trò nhất định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của
đất nước cũng như thực hiện đường lối chính sách của Đảng. Thông qua hoạt động
của mình, các đảng viên giữ các vị trí quan trọng trong xã hội tham gia giải
quyết những vấn đề của Quốc hội và cũng chính là thực hiện vai trò lãnh đạo của
Đảng thông qua các đảng viên. Muốn nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám
sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần định hướng, xây dựng
các ĐBQH, đội ngũ cán bộ hoạt động tại Quốc hội có nhận thức chính trị vững
vàng, đạo đức tốt, có tri thức và chuyên môn sâu.
Các bài học rút ra từ "năm COVID-19"
Theo tạp chí World Politics Review ngày 29/3, khi đại dịch COVID-19 bắt đầu dịu lại, thế giới nên tự hỏi đã rút ra được bài học gì từ trải nghiệm “trừng phạt” này để có thể chuẩn bị tốt hơn khi các đại dịch tiếp theo có thể xảy ra.
Mặc dù sẽ mất nhiều năm để tiếp thu những bài học của bệnh dịch, nhưng sau đây là bốn phân tích sâu sắc được rút ra trong năm đại dịch vừa qua để chuẩn bị cho việc đối phó toàn cầu với các dịch bệnh có thể xảy ra trong những năm tháng tới.
Về nhận thức
Bài học đầu tiên và dễ nhận thấy nhất đó là hành tinh đang mất cân bằng, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Đại dịch COVID-19 rất nghiêm trọng, nhưng không phải là một bất ngờ. Trong nửa thế kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng các bệnh truyền nhiễm từ động vật hoặc virus có thể lây lan từ động vật sang vật chủ là người, bao gồm Ebola, SARS, cúm A H1N1, MERS-CoV và Zika…
Sự xuất hiện của những căn bệnh này là hậu quả từ việc tấn công vào thế giới tự nhiên. Khi xâm phạm và làm suy thoái các hệ sinh thái, con người đã tiếp xúc với các loài động vật hoang dã và mầm bệnh của chúng. Theo tài liệu của Liên hợp quốc (LHQ) về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái, con người có thể bị nhiễm đến 850.000 trong số 1,7 triệu virus chưa được phát hiện. Do đó có lẽ sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi một loại virus mới, rất dễ lây lan xuất hiện và lợi dụng các liên kết giao thông toàn cầu để lây lan đến mọi quốc gia trên Trái Đất.
Đây sẽ không phải là lần cuối cùng xảy ra một dịch bệnh như vậy và thế giới sẽ phải tìm cách đối phó. Thời gian tồn tại của bệnh truyền nhiễm từ động vật đòi hỏi một cách tiếp cận phối hợp phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa con người, động vật và sức khỏe môi trường - giống như chiến lược “Một Sức khỏe” mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã vạch ra. Để giảm mức độ phơi nhiễm của con người với các mầm bệnh mới, các quốc gia phải hợp tác để bảo vệ môi trường sống còn nguyên vẹn và các loài của chúng, hạn chế buôn bán trái phép động vật hoang dã, xác định các bệnh truyền nhiễm từ động vật có khả năng gây đại dịch, đồng thời mở rộng khả năng giám sát và dự báo để dự đoán, phát hiện ngay và nhanh chóng ngăn chặn ổ dịch.
Bài học thứ hai, đại dịch cho thấy hợp tác y tế toàn cầu còn bấp bênh. Đại dịch COVID-19 đã chỉ ra một cách rõ ràng nhất là chủ nghĩa đa phương chính là những gì các quốc gia tạo nên nó. Kể từ cái gọi là dịch cúm Tây Ban Nha cách đây một thế kỷ, khi các quốc gia có rất ít lựa chọn ngoài việc tự chống đỡ, thế giới đã tạo ra một cơ sở hạ tầng mang tính thể chế cho sự hợp tác toàn cầu, bao gồm cả WHO. Tuy nhiên, những tháng đầu của đại dịch COVID-19 đã chứng kiến sự suy sụp gần như hoàn toàn trong chủ nghĩa đa phương. Các chính phủ đã thông qua các chính sách dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi hoặc, đặc biệt là trong trường hợp của Trung Quốc và Mỹ, để cho sự cạnh tranh địa chính trị và luận điệu gay gắt của họ lấn át các lợi ích chung đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu, làm tê liệt bất kỳ phản ứng tập thể nào trong Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và thậm chí cả Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7). Gần đây hơn, chủ nghĩa dân tộc về vaccine đã nổi lên khi các quốc gia giàu có cũng như Liên minh châu Âu (EU) đã tích trữ nguồn cung vaccine trong nước, mà không màng đến các nước còn lại trên thế giới.
Thế giới không thể lặp lại hành vi như vậy, vì điều này chỉ làm trầm trọng thêm mức độ kéo dài và nghiêm trọng của đại dịch. Trong thời đại liên kết với nhau về mặt dịch tễ học, an ninh y tế là một lợi ích to lớn của cộng đồng toàn cầu. Các chính phủ không thể hy vọng tự bảo vệ công dân của mình bằng cách dựng lên các “Phòng tuyến Maginot” về y tế. Chủ nghĩa dân tộc vaccine sẽ tạo điều kiện cho các chủng loại virus đang lan truyền ở bên ngoài có thời gian để phát triển thành các dạng mới, độc hại hơn. Phương pháp “giải độc” hứa hẹn nhất cho xu hướng này chính là sáng kiến COVAX, một cơ chế toàn cầu để thu mua và phân phối công bằng vaccine phòng chống dịch COVID-19. Do đó, việc coi việc duy trì sáng kiến này một cách lâu dài và tài trợ ở mức độ tham vọng hơn nhiều để đạt được mục tiêu chống lại các đợt bùng phát trong tương lai là một ưu tiên sau đại dịch.
Về sự hợp tác và cách thức vận hành
Bài học thứ ba là, WHO thiếu năng lực cũng như nguồn ngân sách. Đại dịch COVID-19 đã phơi bày những điểm yếu của WHO. Các quốc gia thành viên đã đổ dồn trách nhiệm cho WHO nhưng lại không thừa nhận các chức năng và đóng góp nguồn lực cho tổ chức này để thực hiện trách nhiệm đó, ngoài việc biến cơ quan này thành một “quả bóng chính trị”. WHO thường xuyên bị thiếu vốn, với ngân sách khiêm tốn khoảng 4,8 tỷ USD - tương đương ngân sách của một bệnh viện lớn ở Mỹ.
Trên giấy tờ, WHO có quyền hạn đáng kể theo Quy định Y tế Quốc tế của mình, một hiệp ước mang tính ràng buộc pháp lý, bắt buộc các quốc gia thành viên phải chia sẻ thông tin về đợt bùng phát mới một cách kịp thời và minh bạch; đồng thời thông báo cho WHO về các hạn chế đi lại và thương mại. Trên thực tế, nhiều chính phủ đã không tuân thủ các nghĩa vụ này trong năm qua và WHO đã bất đắc dĩ phải lên tiếng phản đối những chính phủ kiên quyết tìm cách bảo vệ chủ quyền của mình như Trung Quốc. Mặc dù WHO đã được đánh giá cao về vai trò kỹ thuật của mình trong thời kỳ đại dịch, nhưng tổ chức này cũng bị chỉ trích vì những sai lầm chính trị.
Sau sự xuất hiện của đại dịch COVID-19, điều cấp thiết là phải tăng cường tính độc lập và hiệu quả của WHO. Để bắt đầu, các quốc gia thành viên cần đảm bảo tài trợ đầy đủ cho Chương trình Khẩn cấp của WHO vốn đang thiếu nguồn lực nghiêm trọng, cũng như tăng cường đóng góp tự nguyện và đánh giá các đóng góp cho tổ chức này. Ngoài ra, các quốc gia thành viên nên thành lập một hội nghị đánh giá thường kỳ đối với Quy định Y tế Quốc tế, tương tự như những gì được thực hiện trong các hiệp ước kiểm soát vũ khí, để củng cố những hiểu biết chung và tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế hiện hành.
Bài học cuối cùng, ngay cả những nước giàu có cũng có thể trở nên mong manh. Trong những năm gần đây, cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đã tập trung nhiều vào việc tăng cường năng lực của những nước đang phát triển để phát hiện, ngăn ngừa và ứng phó với bệnh truyền nhiễm, bao gồm thông qua các cơ chế như Chương trình nghị sự về An ninh Y tế Toàn cầu mà WHO đã giúp tạo ra vào năm 2014. Tiền đề đằng sau những những nỗ lực đó là hỗ trợ những quốc gia nghèo nàn và đặc biệt mong manh, chính là chỗ yếu kém của sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Năm vừa qua đã làm thay đổi giả định đó. Rất nhiều quốc gia giàu có đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi COVID-19, mặc dù có điểm cao trong các chỉ số hàng đầu về mức độ sẵn sàng cho sức khỏe cộng đồng, buộc họ phải thừa nhận những thiếu sót của mình.
Những hậu quả này đặc biệt nặng nề đối với nước Mỹ - quốc gia có số người tử vong vì dịch COVID-19 nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, khoảng 544.000 người tính đến ngày 23/3, bất chấp niềm tự hào sở hữu các cơ sở y tế và công nghệ hiện đại. Để khắc phục sự mong manh tiềm ẩn đó, Mỹ phải có những nỗ lực hết mình và cần phải củng cố tuyến đầu của hệ thống chăm sóc sức khỏe; xác định và bảo vệ các quần thể và cộng đồng có nguy cơ rủi ro; làm rõ trách nhiệm đối phó với đại dịch giữa chính quyền liên bang với chính quyền các tiểu bang và địa phương; xây dựng chiến lược quốc gia về xét nghiệm và truy tìm tiếp xúc; và duy trì các kho dự trữ có nguồn lực tốt và chuỗi cung ứng đa dạng các vật tư y tế quan trọng.
Đại dịch đã đem tới cho chúng ta nhiều bài học khắc nghiệt. Trong đó quan trọng nhất là dịch tễ học và sinh thái học gắn liền với nhau; theo đó sức khỏe cộng đồng toàn cầu không thể "miễn dịch" khỏi các yếu tố địa chính trị, và nếu các quốc gia chỉ bảo vệ chủ quyền của họ trước các tổ chức toàn cầu thì ngay cả những quốc gia rõ ràng là mạnh nhất cũng có thể thất bại./.