Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

RFA trả tiền để họ thực hiện... “quyền tự do ngôn luận”!

Mấy năm qua, trang tiếng Việt của RFA, VOA,… xuất hiện một số blog mà các trang mạng này dành cho một số người Việt trong hoặc ngoài nước công bố các bài viết với mục đích duy nhất là vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam, đồng thời truyền bá, cổ xúy các luận điệu sai trái. Tuy nhiên, theo tiết lộ của người đã từng cộng tác với RFA, thực chất đây là việc làm nhân danh tự do ngôn luận nhưng lại có hợp đồng và được RFA trả tiền! Ngày 30-8-2015, Lê Diễn Đức - một cây bút nổi tiếng chống cộng trước đây sinh sống ở Ba Lan sau đó định cư tại Mỹ, đã viết trên facebook cá nhân dòng trạng thái (status): “Cả hàng trăm ngàn quân lính trong tay, vũ khí xềnh xàng mà còn bị bộ đội Bắc Việt đánh cho tan tành, chạy chít chết, cuối cùng phải đầu hàng, thì vài chục người đi qua rừng núi Thái-lan dựng “chiến khu” với mục đích Đông tiến, phục quốc chỉ là trò cười, ảo tưởng, chứ anh hùng cái nỗi gì. Đây đích thực là một cuộc làm chiến khu giả lừa gạt bà con hải ngoại nhẹ dạ để kiếm tiền, không hơn không kém! Niềm tin vào những anh hùng vị quốc vong thân ấy là niềm tin ngô nghê, mù quáng”. Ngay lập tức, Lê Diễn Đức đã nhận được vô số lời phê phán, chửi rủa của mấy kẻ vẫn tôn sùng “thây ma Việt Nam cộng hòa” và tổ chức khủng bố của Hoàng Cơ Minh. Cũng ngay lập tức, theo bản tin trên BBC ngày 5-9-2015 thì RFA đã “hủy hợp đồng” với Lê Diễn Đức. Trả lời phỏng vấn BBC, Lê Diễn Đức cho biết quyết định của RFA là do “bị áp lực dư luận rất nặng nề… Họ thông báo ngưng hợp đồng với tôi hôm nay và gỡ mục báo xuống”. Ngày 7-9-2015, BBC thông báo tiếp: “quản trị viên trang Facebook của RFA tiếng Việt giải thích quan điểm cá nhân của nhà báo Lê Diễn Đức không phù hợp với những tiêu chí, mục đích và nguyên tắc của hãng nên họ đã chấm dứt hợp đồng”. Về sự kiện này, trong bài "Người ngoài cuộc" nói về vụ RFA cắt hợp đồng blogger Lê Diễn Đức đã đăng trên VOA ngày 8-9-2015, có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó một blogger cho biết để có blog riêng trên RFA phải ký hợp đồng, và ý kiến của một người tên là Dominic Pham được VOA dẫn lại có lẽ hợp lý hơn cả: “Hãy coi RFA là chủ một nhà hàng; anh Lê Diễn Đức là bồi bàn cho nhà hàng; khách hàng không hài lòng với lối phục vụ, ăn nói của người bồi bàn Lê Diễn Đức; nhà hàng bị mất khách dần đi. Nếu bạn là chủ nhà hàng, thì bạn phải làm gì?”! Chuyện tưởng đã quên lãng thì mới đây, một năm sau khi bị RFA “hủy hợp đồng”, dỡ bỏ blog, ngày 2-9-2016 Lê Diễn Đức tiếp tục viết trên Facebook cá nhân cho biết trước đó, sau khi ký hợp đồng với RFA, mỗi năm Lê Diễn Đức “được trả khoảng 5 ngàn đôla tiền nhuận bút” và ông ta đã “kéo Tưởng Năng Tiến, Kami, Trần Đông Đức vào viết blog luôn cho RFA”. Lê Diễn Đức nhận định: “Sau thời gian tôi nghỉ viết, những điều tôi viết càng sáng tỏ tính chân thực của nó và chính vì sự chân thực ấy mà tôi phải ngưng viết cho RFA. Phải chăng, RFA sợ mếch lòng cộng đồng người Việt tại Mỹ mà không dám nhìn nhận sự thật? Bộ phim Terror in Little Saigon của Propublica trình chiếu vào đầu năm 2016, là dịp có nhiều người, nhiều nhân chứng đang sống (ngay tại Mỹ) công khai tố cáo sự lừa gạt, gian lận của Mặt trận Hoàng Cơ Minh”. Đồng thời, Lê Diễn Đức coi những kẻ đã “ném đá” ông ta là “chửi bới thô thiển, chụp mũ bừa bãi, công kích cá nhân rẻ tiền là chứng tỏ yếu kém về trình độ nhận thức, thiếu văn hóa, bất lực và cùng quẫn”! Lướt qua danh sách những người được RFA ưu ái lập blog và dành riêng một góc trên trang mạng của RFA để đăng tải bài vở, có thể thấy từ các tên ảo đến tên tuổi thật, như Tưởng Năng Tiến, Kami, Viết từ Sài Gòn, Võ Thị Hảo, Nguyễn Vũ Bình, Tuấn Khanh, Nguyễn Tường Thụy, JB Nguyễn Hữu Vinh, Song Chi, Cánh cò, Nguyễn Anh Tuấn,… Trên VOA thì có thể thấy Lê Anh Hùng, Phạm Chí Dũng, Cao Huy Huân, Trong lòng Hà Nội - Hoàng Giang,… Đó là mấy người mà từ góc nhìn và ngòi bút đen của họ, nhiều sự kiện, vấn đề ở Việt Nam được đưa ra bình luận chỉ để xuyên tạc, hay dựa vào đó bình luận theo xu hướng vu cáo, vu khống, hoặc đưa ra giả thuyết theo thuyết âm mưu nhằm gieo rắc vào người đọc nào còn thiếu tỉnh táo, tiếp nhận mơ hồ rồi hoang mang, sa sút niềm tin từ đó bức xúc, bất bình và a dua theo họ. Và chỉ cần nhìn vào danh sách blogger của RFA có thể thấy rõ sự thật là RFA đã và đang tạo địa chỉ tập hợp một số người có hành tung xấu như thế nào. Thí dụ: sau khi Nguyễn Vũ Bình - người chịu bản án 7 năm tù về tội danh “gián điệp”, được trả tự do thì RFA nhanh nhảu phỏng vấn và về sau dung nạp Nguyễn Vũ Bình bằng cách lập cho một blog trên RFA để người này đăng bài vở; Nguyễn Đình Ngọc - tức blogger Nguyễn Ngọc Già trên blog RFA, bị Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự và tuyên phạt bốn năm tù giam, ba năm quản chế, trong tài liệu cấu thành tội danh của Nguyễn Đình Ngọc có một số bài đã đăng trên RFA; Nguyễn Văn Đài - tức blogger Nguyễn Văn Đài trên blog RFA, cũng là trường hợp tương tự, gần đây Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an Việt Nam, đã khởi tố bị can và tạm giam Nguyễn Văn Đài vì đã có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam… Tóm lại, bất kỳ điều gì mấy người này công bố đều nhằm đạt mục đích bôi đen xã hội Việt Nam, xuyên tạc đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam; bịa đặt, đổi trắng thay đen, dựng chuyện, kết hợp với la lối, cầu cứu một số chính phủ, tổ chức quốc tế giúp đỡ, hỗ trợ… Những gì họ viết và được RFA, VOA đăng tải trên hệ thống blog của các trang mạng này thật sự đã trở thành một nguồn cung cấp bài vở cho các diễn đàn, trang mạng, blog, Facebook của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam. Đồng thời trở thành “cơ sở” để một số chính phủ, tổ chức quốc tế khai thác, dựa vào đó để đưa ra một số đánh giá tùy tiện, hoặc đưa ra yêu cầu, đòi hỏi phi lý đối với Việt Nam… Để tô vẽ cho mình, trang tiếng Việt của RFA đăng tải cái gọi là “Quy tắc đạo đức nghề nghiệp” do RFA đặt ra, trong đó khẳng định chủ trương “phổ biến tin tức chính xác, trung thực và hữu ích, không tuyên truyền, không bè phái, không đả phá một chính phủ, cá nhân hay bất kỳ quốc gia nào”. Song bài vở chính thức của RFA và bài vở trên các blog RFA dành riêng cho một số người Việt ở trong hoặc ngoài nước chưa bao giờ có một tin tức, bài vở tỏ ra thiện chí với Việt Nam, chí ít là chưa bao giờ đề cập chính xác, trung thực về những thành tựu Việt Nam đã đạt được, và dư luận thế giới đã công nhận, ca ngợi. Xưng xưng đưa ra chủ trương “không tuyên truyền, không bè phái, không đả phá một chính phủ, cá nhân hay bất kỳ quốc gia nào”, nhưng việc làm của RFA hoàn toàn trái ngược, nói cách khác, RFA có “chủ trương ngầm” đối lập với điều họ đã rêu rao. Đó là nguyên nhân lý giải tại sao khi Lê Diễn Đức đưa ra ý kiến “không phù hợp với những tiêu chí, mục đích và nguyên tắc” của RFA là lập tức bị đối xử thô bạo như hủy hợp đồng, dỡ bỏ blog. Qua sự kiện liên quan Lê Diễn Đức, RFA đã tự cho thấy đối với cơ quan truyền thông này, tự do ngôn luận chỉ là một chiêu bài để RFA nấp sau đó làm việc xằng bậy. Năm 2012, khi vụ án xét xử Tạ Phong Tần với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự được tiến hành, lời khai của người này rằng “Tính đến tháng 5-2009, tôi đã viết 864 bài trên blog Công lý - Sự thật. Viết và trả lời cho các đài phát thanh BBC, RFI, RFA trên 100 bài. Cứ mỗi bài, BBC trả tôi 28 bảng Anh (khoảng 40 USD). Tổng cộng từ năm 2007 đến nay, tôi đã nhận được gần 15.000 USD từ nhiều báo, đài như vừa kể...” đã xác nhận một sự thật: tiền mới là mục đích chủ yếu của mấy kẻ tự nhận hoặc được đồng bọn gọi là “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do”. Họ càng chửi càng nhận được nhiều tiền, như Tạ Phong Tần chẳng hạn, sau khi được đình chỉ thi hành án và đến sinh sống tại Mỹ, người này đã tự thú trên trang Facebook cá nhân: “Công nhận hồi trước mình chửi hăng máu thiệt. Bi giờ đọc lại mắc cười quá”! Với mấy người viết lách lăng nhăng trên blog, Facebook, bừa bãi trả lời phỏng vấn của BBC, RFI, RFA thì như vậy, còn với mấy người được RFA, VOA dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận” tạo cơ hội để họ viết lách trên chính trang mạng của các cơ quan truyền thông này thì sao? Đó là câu hỏi dư luận đặt ra từ lâu và điều Lê Diễn Đức đã thừa nhận mỗi năm được RFA “trả khoảng 5 ngàn đôla tiền nhuận bút” dẫu có thể chỉ liên quan ông ta thì cũng có cơ sở để đặt câu hỏi về một số người khác rằng, chẳng lẽ họ viết lách từ nhu cầu tự thân và họ sống bằng… không khí!? Theo Lê Diễn Đức, vì sống tại Mỹ nên số tiền 5.000 USD chỉ đủ để ông ta uống cà-phê một năm (ý tứ ngầm ẩn để RFA hiểu rằng 5.000 USD là bèo bọt?), song so số tiền này với thu nhập bình quân theo đầu người khoảng 2.300 USD một năm ở Việt Nam lại cao gấp hơn hai lần, vì thế trở thành miếng mồi hấp dẫn để một số người không công ăn việc làm nhưng tâm địa xấu xa lại lười lao động nên đã sẵn sàng bán rẻ danh dự bản thân, danh dự đất nước, để lên mấy trang mạng như RFA chửi bới kiếm sống. Rồi khi vì họ vi phạm pháp luật, bị cơ quan chức năng của Việt Nam điều tra, khởi tố vụ án thì RFA, VOA, BBC,… vội la lối vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do ngôn luận”! Xét đến cùng họ chỉ là quân tốt thí trong ván bài mà các trang cơ quan truyền thông như RFA bày ra là: trả tiền để họ nhân danh tự do ngôn luận mà chửi bới, tới khi họ bị xét xử thì RFA lấy đó là cớ để vu cáo Việt Nam. Rốt cuộc tất cả chỉ là mưu đồ đen tối, bày trò hề giúp mấy người nhận tiền để viết lách tùy tiện lại được ca ngợi là “dấn thân vì dân chủ, đấu tranh vì tự do ngôn luận”! Vì thế, từ sự thật trước đây Bùi Kim Thành, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ,… hung hăng như thế nào, rồi sau khi đạt được mục đích định cư ở Mỹ thì hầu như vô tăm tích, liệu đã có thể nhận diện bản chất của những người đã và đang được RFA, VOA,… o bế, dung túng?

Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. . Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước. Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) nhằm bầu ra một đại biểu (chức danh) với điều kiện phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác trong việc thành lập cơ quan nhà nước, như bổ nhiệm, chỉ định. Ngoài những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị, như các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng… Bầu cử cũng thường được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức thương mại và tư nhân, từ các câu lạc bộ cho đến các hội từ thiện và các tập đoàn,... Khác với cuộc bầu cử được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước ban hành. Thông thường, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũng được thành lập thông qua bầu cử. Bầu cử cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rõ rằng, để Nhà nước có được quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thì phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị. Cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một tổng thể gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng những quan hệ được hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử: từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử. Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử. Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt “bầu cử” với “quyền bầu cử”. Quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được Nhà nước bảo đảm tham gia vào quá trình thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương. Quyền bầu cử là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân. Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định 4 nguyên tắc bầu cử: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín. Nguyên tắc phổ thông Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: - Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; - Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); - Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; - Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. Nguyên tắc bình đẳng Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng. Nguyên tắc trực tiếp Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu. Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đoàn, sau đó tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc). Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Có nguyên tắc được quy định rõ trong một quy định, có nguyên tắc được thể hiện bằng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Tóm lại, bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong xây dựng chính quyền nhà nước. Chế độ bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Chế độ bầu cử là một trong những trụ cột trong cấu trúc dân chủ ở bất cứ nhà nước nào, bất cứ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nào. Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng. Ở đâu có bầu cử tự do và trung thực, thì ở đó một chế độ dân chủ được nảy nở và phát triển. Dân chủ có nghĩa là nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước; các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên thuộc hệ thống chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản cầm quyền. Việc thiết kế, thực thi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp, thực sự dân chủ là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ cơ quan chính quyền nhà nước, cũng như đối với tất cả các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. /.

Đừng cổ xúy bệnh háo danh

Háo danh đang là một trong những “căn bệnh” trong xã hội. Với sứ mệnh định hướng dư luận, bồi đắp giá trị chân- thiện- mỹ cho công chúng, đáng ra báo chí, truyền thông phải có trách nhiệm góp một tiếng nói để phòng ngừa, giảm thiểu “căn bệnh” này. Tuy nhiên, không hiểu vô tình hay hữu ý, một số cơ quan báo chí, truyền thông thời gian gần đây lại sử dụng từ ngữ so sánh không chuẩn mực để định vị cho một số nhân vật trong bài viết. 1. Trên một tờ báo có số lượng bạn đọc khá lớn phát hành vào những ngày cuối tháng 12-2019, có một bài báo viết về một cựu cán bộ từng có những hành động và phát ngôn gây sự chú ý của dư luận. Xin không luận bàn về tính cách của người cán bộ này, mà chỉ trao đổi đôi điều về cách dùng cụm từ “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè” khi tác giả nói về nhân vật. Từ “ngôi sao”, về nghĩa đen, là tên chung gọi các thiên thể nhìn thấy những những điểm sáng lấp lánh trên bầu trời vào ban đêm; về nghĩa bóng, “ngôi sao” thường để ví von những người đạt thành tích xuất sắc, nổi bật trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật và thể thao, được công chúng hâm mộ. Họ được ví như những vì sao sáng rực rỡ trên bầu trời. Chẳng hạn, “ngôi sao ca nhạc”, “ngôi sao điện ảnh”, “ngôi sao sân cỏ”… Còn từ “dẹp loạn” có nghĩa gốc là “làm tan rã những cuộc nổi dậy chống chính quyền”. Hiểu theo nghĩa hiện nay, “dẹp loạn” là dùng những biện pháp hành chính mạnh mẽ, cương quyết nhằm ngăn chặn, giảm thiểu một tình trạng lộn xộn nào đó trong thực tế cuộc sống, qua đó góp phần thiết lập trật tự an toàn, kỷ cương xã hội. “Dẹp loạn vỉa hè” nghĩa là sử dụng biện pháp mạnh tay để chấn chỉnh những lộn xộn, sắp xếp lại việc buôn bán, kinh doanh của người dân trên hè phố trong khu vực đô thị. Với hai từ “ngôi sao” và “dẹp loạn” không tương đồng về mặt ngữ nghĩa như vậy, việc gán ghép thành cụm từ “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè” để nói về nhân vật trong bài viết là không phù hợp, thiếu logic, chưa chuẩn mực về văn phong tiếng Việt. Việc gán ghép này không những có thể khiến người trong cuộc tự ảo tưởng về mình, mà khiến cho việc nhìn nhận của độc giả về hình ảnh nhân vật trong bài viết cũng dễ hướng lái theo một nghĩa khác. 2. Không chỉ viết “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè”, truyền thông còn gọi một nữ ca sĩ khá nổi hiện nay là “Nữ hoàng văn học dân gian”, “Nữ hoàng văn học Vpop”, vì ca sĩ này đã đưa các nhân vật văn học điển hình của một số tác giả văn học nổi tiếng và khá nhiều yếu tố dân gian vào các sản phẩm MV ca nhạc của mình. Quả thật, các MV của nữ ca sĩ được phối khí, thể hiện theo phong cách mới, trẻ trung, sôi động, vì thế có thời điểm nó trở thành “cơn sốt” của giới trẻ và thu hút hàng chục triệu lượt người xem trên Youtube. Dù không phủ nhận thông điệp khá ý nghĩa mà MV này chuyển tải tới người xem và mong muốn mọi người, nhất là giới trẻ quan tâm hơn đến các tác phẩm văn học kinh điển của nước nhà thế kỷ XX; nhưng ví nhân vật chính của MV như “Nữ hoàng văn học” là thái quá, không phù hợp với bản chất vấn đề định danh. Vì trên thực tế, nữ ca sĩ và ê kíp làm MV này chủ yếu cóp nhặt các nhân vật văn học điển hình cho vào tác phẩm MV của mình rồi để họ hội ngộ với nhau và nhảy nhót tưng bừng, chứ hoàn toàn không phải là hoạt động sáng tạo phái sinh nhằm làm mới, làm hay hơn các nhân vật điển hình nói riêng, các tác phẩm văn học kinh điển nói chung Nghĩa gốc từ “Nữ hoàng” để chỉ một người phụ nữ làm hoàng đế cai trị một đế quốc. Ở nghĩa rộng hơn, “nữ hoàng” được hiểu là người có quyền lực tối cao hay có khả năng nổi bật, năng lực xuất chúng về một lĩnh vực/một mặt nào đó. Những người được gắn, trao danh hiệu “nữ hoàng” phải thực sự tài năng, đức độ và có nhiều đóng góp, cống hiến cho xã hội, thì mới xứng đáng với danh hiệu giàu ý nghĩa này. Khi nói đến “Nữ hoàng văn học” là nói đến một tài năng đặc biệt, có sáng tạo đặc biệt, đóng góp đặc biệt trên lĩnh vực văn học và mang ý nghĩa xã hội. Ví như, phải là nữ thi sĩ nổi đình nổi đám rất đặc biệt trên văn đàn và có những bài thơ nôm bất hủ, độc đáo, vô tiền khoáng hậu như Hồ Xuân Hương mới được gọi “Bà chúa thơ Nôm”. Hay phải sáng tạo ra những bài thơ tình mới lạ, khác biệt, ấn tượng như thi sĩ Xuân Diệu thì mới được ví là “Ông hoàng thơ tình”! Nhà báo sử dụng từ ngữ ví von, so sánh, liên tưởng trong một tác phẩm báo chí cũng không ngoài mục đích làm cho vấn đề, sự kiện, nhât vật, chi tiết, thông tin trở nên phong phú, nhiều màu sắc và hấp dẫn hơn với công chúng. Điều quan trọng là sự so sánh phải hướng tới đích “lột lả” được bản chất vấn đề và tạo được sự mới mẻ, riêng biệt trong góc độ so sánh, liên tưởng mà không được phép đi quá giới hạn cho phép. Còn mọi sự khoa trương, ngoa ngôn, lộng ngữ… khi dùng hình ảnh so sánh, nhất là so sánh các nhân vật còn nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, không những dễ làm cho người trong cuộc tưởng mình “cao siêu như thần thánh”, mà còn làm cho “căn bệnh” háo danh càng có nguy cơ lan rộng ra xã hội, làm nhiễu loạn các giá trị văn hóa./.

THA HÓA QUYỀN LỰC-NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG DẪN ĐẾN THA HÓA ĐẠO ĐỨC

 


Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay - dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”, hiểu khái quát đó là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy.

Tha hóa là trở nên khác đi, biến thành cái khác…; trở thành người mất phẩm chất đạo đức, một cán bộ bị tha hóa”. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đó chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác, là hiện tượng làm biến tướng bản chất hoặc mục đích của sự vật, hiện tượng.

Tha hóa quyền lực là căn bệnh của những người có chức, có quyền, vì thế cần phải phòng và chống sự tha hóa quyền lực bằng cách: “Kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định… ; Đặt trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”. Với một chính đảng đã cầm quyền, việc thực thi quyền lực và yêu cầu phải phòng, chống sự tha hóa quyền lực đối với tổ chức đảng, nhất là đối với các cán bộ, đảng viên được trao quyền giữ các chức vụ trọng yếu trong Đảng, các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị xã hội là nhằm đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành được vận hành hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, ngăn ngừa và phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng cầm quyền ở đây hiểu theo nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước và “lãnh đạo” thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ những trọng trách trong tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị. Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng. Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến từng bước vô hiệu hóa vai trò của tổ chức, làm mất đi tính tiên phong của Đảng cách mạng. Theo đó, người được trao quyền đã vượt quá "phạm vi quyền hành và trách nhiệm" của mình; đã sử dụng quyền lực để chiếm đoạt các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội, xâm phạm tới lợi ích của các thành viên khác nhằm mưu cầu cho mình, người thân,v.v.. tha hóa quyền lực biểu hiện ở nhiều sự việc: từ sự nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh để “tham nhũng vặt” người dân; quan liêu, thờ ơ trước yêu cầu, bức xúc của nhân dân, chậm giải quyết các thủ tục hằng ngày cho người dân ở địa bàn cơ sở,v.v.. đến việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực công vụ để mưu lợi ích, tham ô, “tham nhũng lớn” cho cá nhân, nhóm lợi ích…

Ở chiều cạnh này, sự tha hóa quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đang cầm quyền. Đặc biệt quan tâm đến vấn xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh có viết trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

 

ĐƯỜNG LỐI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TRONG "CUỘC CHIẾN CHỐNG DỊCH COVID-19

     Đường lối quan điểm của Đảng hiện nay là nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Các mối đe dọa đến an nguy của đất nước, đặc biệt, vấn đề an ninh phi truyền thống có tính toàn cầu ngày càng nổi lên thách thức đến công cuộc BVTQ như sự biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, “diễn biến hòa bình”, dịch bệnh… Chúng ta càng thấm thía điều này khi mà cả nhân loại hơn 1 năm qua đang phải gồng mình chống chọi với đại dịch Covid-19.

Nhận thức rõ hiểm họa của dịch Covid-19, ngay từ đầu Đảng, Nhà nước ta đã xác định chống dịch như chống giặc. Việc xác định đó thể hiện tầm tư duy chiến lược của Đảng coi dịch Covid-19 là một thứ “giặc”. Để chiến thắng “giặc” nguy hiểm này, đòi hỏi phải có đường có phương pháp phù hợp. Và Đảng, Nhà nước ta đã vận dụng hết sức sáng tạo bằng sức mạnh đoàn kết của toàn dân vào “cuộc chiến chống đại dịch Covid-19”.

Trước hết là nhận diện Virus Corona (SARS-CoV-2) với tác hại nguy hiểm của nó chính là đối tượng cần phải tiêu diệt. Không dừng ở định vị đối tượng SARS-CoV-2, Đảng ta đồng thời xác định thông tin sai sự thật về dịch bệnh cũng là “đối tượng cần lên án”, vì nó còn nguy hiểm hơn dịch bệnh gấp nhiều lần. Việc nhận diện chính xác “đối tượng”, tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược của Đảng từ mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến phương pháp tiến hành của cuộc chiến chưa từng có tiền lệ lịch sử này.

Về tư tưởng chỉ đạo của "cuộc chiến chống dịch Covid-19". Đảng, Nhà nước ta chỉ rõ: “Chủ động ngăn ngừa; phát hiện sớm, xử lý kịp thời, hiệu quả”. Riêng đối với dịch Covid-19 cần “cách ly kịp thời, khoanh vùng gọn, dập dịch triệt để, điều trị khỏi bệnh”. Trong đó, việc phát hiện sớm, tăng cường ngăn chặn là vô cùng quan trọng. Chủ Tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ: “Nếu chúng ta chậm trễ, dịch bệnh sẽ hạ knock-out chúng ta; nếu chúng ta không kịp thời, không nhanh chóng thì dịch bệnh sẽ lây lan cấp số nhân, lũy thừa”. Đối với thông tin xuyên tạc lợi dụng tình hình dịch bệnh cần kịp thời ngăn chặn sự tán phát, xác minh, xử lý nghiêm minh đúng pháp luật.

Cùng với tinh thần chủ động chống dịch, Đảng chỉ rõ, cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, huy động tất cả lực lượng vào cuộc, hiệp đồng chặt chẽ, đặc biệt phát huy sự tham gia tích cực của nhân dân. Phó thủ tướng Vũ Đức Đam rút ra từ thực tiễn chống dịch giai đoạn 1: “Càng lúc khó khăn càng thấy sức mạnh của nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị”. Đồng thời phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, cần hợp tác chặt chẽ với các nước, triển khai đồng bộ các biện pháp để ngăn chặn nguồn dịch lây lan từ bên ngoài vào trong nước trên tinh thần vừa mềm dẻo, vừa cương quyết; sẵn sàng nhận hỗ trợ và chia sẻ về kinh nghiệm xử lý dịch, chữa trị người nhiễm với cộng đồng quốc tế. Và chống hành vi lợi dụng tình hình dịch đưa thông tin sai lệch để phá hoại đất nước.

Về tổ chức lực lượng trong "cuộc chiến chống dịch Covid-19". Đảng, Nhà nước tiến hành thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch. Tiếp đến, các cấp, ngành, địa phương thành lập ban chỉ đạo phòng, chống dịch ở cấp mình. Nhờ đó đã huy động sức mạnh của toàn dân, của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở vào cuộc. Do tính đặc thù của cuộc chiến chống “giặc” là dịch bệnh, cùng với đó là chống hành vi lợi dụng tình hình dịch đưa thông tin sai lệch chống phá đất nước nên Đảng, Nhà nước đã xác định lực lượng nòng cốt của cuộc chiến này là đội ngũ y tế, thông tin-truyền thông, quân đội, công an. Trong lực lượng công an, nhấn mạnh an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Cùng với huy động nguồn nhân lực, Đảng, Nhà nước đã huy động lực lượng vật chất cao nhất về tài chính, trang thiết bị, sản xuất đồ bảo hộ… phục vụ phòng, chống dịch với tinh thần “sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trong ngắn hạn để ngăn chặn dịch bệnh”.

Trước thảm cảnh Covid-19 đang diễn ra tại Ấn Độ với gần 350.000 ca mắc mỗi ngày, bệnh viện quá tải nâng tổng số ca mắc Covid-19 lên 17,3 triệu ca mắc, trong đó đã có hơn 195.000 người đã tử vong; Thái Lan số ca mắc Covid-19 lên tới 2.900 người mỗi ngày; Lào có khoảng gần 100 ca mỗi ngày; Campuchia có ngày ghi nhận 500 ca mắc mới. Đảng nhà Nước luôn chỉ đạo các địa phương phòng chống dịch, có các phương án hiệu quả nhất nếu dịch bệnh quay trở lại, thực hiện 5K của Bộ Y tế, quản lý tốt các khu du lịch trong đợt nghỉ lễ 30/4- 01/5 sắp tới; kiểm soát biên giới chặt chẽ đặc biệt ở những địa phương có đường biên giới. Cuộc chiến chống dịch Covid-19" luôn phức tạp lâu dài, vì vậy người dân luôn cảnh giác chống hành vi lợi dụng tình hình dịch để chống phá đất nước hiện nay. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, bảo đảm chiến thắng của cuộc chiến như Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nói: “Chúng ta đồng lòng, toàn bộ người dân Việt Nam đều đồng lòng, toàn dân chống dịch thì Việt Nam sẽ chiến thắng như dân tộc Việt Nam đã từng nhiều lần chiến thắng”.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BẢO VỆ LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

     Hiện nay trên mạng xã hội, khi bàn về mặt lý luận và thực tiễn Chủ Nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có một bộ phận lại lập luận bâng quơ dẫn dắt người đọc nhận thức sai lệch rằng, "Tư tưởng gì cũng được, miễn là làm cho xã hội trở nên hòa bình, tốt đẹp, không còn bất công, xung đột, mâu thuẫn..."

Thực ra, đây là quan điểm nhằm bài xích phủ nhận Chủ Nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mở đường cho một tư duy phản động đi tìm tư tưởng mới trong giới trẻ hiện nay. Để khẳng định và loại bỏ tư duy sai trái này chúng ta cần làm rõ mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, Đảng ta luôn khẳng định "Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên suốt, bất diệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong suốt hơn 90 năm Đảng lãnh đạo, thực tiễn cách mạng đã chứng minh điều đó.

Thứ hai, về mặt lý luận, tại sao mỗi giai đoạn lịch sử cần phải lấy lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh để kiểm chứng. Trong cuốn Đường Kách mệnh, Người từng viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Học thuyết Mác- Lênin, Học thuyết khoa học và cách mạng được Các Mác và Ăng ghen sáng lập và được phát triển, sáng tạo bởi Lênin, học trò xuất sắc của hai ông. Sau nhiều thế kỷ, Học thuyết ngày càng chứng tỏ sức sống mãnh liệt và giá trị thời đại của nó. Học thuyết Mác- Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, Thực tiễn không thể phủ nhận rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi sáng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt nhân dân ta trong suốt hơn 90 năm qua. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin và yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải học tập, tu dưỡng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cẩm nang thần kỳ”, là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam: “Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”; “Học tập chủ nghĩa Mác Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của nước ta”.

Thứ tư, Việc một số đối tượng thù địch chống phá cách mạng nước ta cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là giáo điều, xơ cứng, hoặc đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc cho rằng "Tư tưởng gì cũng được, miễn là làm cho xã hội trở nên hòa bình, tốt đẹp, không còn bất công, xung đột, mâu thuẫn..." là một thủ đoạn bài xích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin trong bối cảnh hiện nay, rất nhiều người lầm tưởng nảy sinh chủ nghĩa xét lại, là một việc hết sức sai lầm về quan điểm lịch sử và logic.

Thứ năm, Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác- Lênin là nguồn gốc lý luận, là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo, phát triển, bổ sung chủ nghĩa Mác Lênin trong thời đại mới. Sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua là minh chứng sinh động nhất cho việc vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân, về sức mạnh của đoàn kết, về xây dựng Nhà nước …đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin chính là phủ nhận nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự xuyên tạc, không có căn cứ khoa học mọi người cần cảnh giác.

Chúng ta phải luôn khẳng định, ở Việt Nam không có một học thuyết nào mang tính phổ quát cho cách mạng Việt Nam ngoài Chủ nghĩa Mác- Lênin. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, lịch sử, lý luận và thực tiẽn cách mạng đã chứng minh, bất luận kẻ nào cũng không thể xuyên tạc!

Ấn Độ, vì sao lên nỗi?

 Ấn Độ 27/4/2021, 9:44: 323144 ca mắc mới, 2771 ca tử vong.


Ấn Độ là một đất nước vĩ đại với lịch sử lâu đời, tuy nhiên tự sướng vì điều đó một cách mù quáng đã khiến cho thảm kịch xảy ra.

Trước thảm kịch này, báo chí Ấn Độ không phải mới bây giờ mà trước đây đã từng có cảnh báo một cách mạnh mẽ về những nguy cơ đến từ sự tự mãn và tinh thần tôn giáo mù quáng trong xã hội, từ các chính khách đến cộng đồng. 


Tuy nhiên tất cả bị phớt lờ và chỉ sự khó khăn về quy mô dân số cũng như sự đa dạng về văn hóa là được làm nổi bật, và cố tình lờ đi hệ thống đẳng cấp cực kì lạc hậu trong xã hội (nhưng lại là môi trường thuận lợi cho sự lây lan của virus), và chính điều đó đã dẫn đến thảm kịch. Và các bài viết trong thảm họa này là minh chứng cho hậu quả tai hại đến từ sự mù quáng tôn giáo và những vấn đề cố hữu của xã hội Ấn Độ.


Trong bài viết "The price of lowering our guard: why this Covid catastrophe is upon us, and what we need to do now" (Cái giá phải trả cho sự lơ là cảnh giác: tại sao thảm họa Covid lại xảy ra với chúng ta và chúng ta phải làm gì bây giờ) đăng trên The Times of India sáng 23/4/2021, Zarir F Udwadia chỉ ra hiện thực tàn khốc: Giường bệnh không thể cung cấp được ngay cả cho những người giàu có và quyền lực, những người kinh hoàng nhận ra rằng sự giàu có và địa vị không giúp họ tránh được virus SARS-CoV-2. Tình trạng thiếu Oxy và khẩu phần ăn, nghĩa địa tràn ngập thi thể và lò thiêu đỏ rực không chỉ là những viễn cảnh ác mộng từ tương lai sau này mà còn là hình ảnh thực tế ngay cả ở trung tâm tài chính của đất nước, Mumbai. Các loại thuốc thiết yếu (và một số loại được coi là tối cần thiết) như Remdesivir và Tocilizumab cũng không thể mua được ngay cả với giá chợ đen và số ca bệnh trên toàn quốc đã đạt mốc bi thảm ở cấp độ thế giới với 312731 ca nhiễm mới được ghi nhận chỉ trong một ngày (cứ 7 người trên toàn cầu nhiễm bệnh thì có 1 người Ấn) đưa con số ca bệnh ở Ấn Độ lên 15 triệu và 180000 người chết. Zarir cho rằng có 4 lý do liên quan nhất đến thảm họa: sự tự mãn – thay vào những tuyên bố kêu gọi cộng đồng cảnh giác, thì lại là những tuyên bố chiến thắng mang tính tự sướng của các nhà lãnh đạo trong thời điểm đẹp trời hiếm hoi trước khi bão tổ nổi lên; biến chủng mới; triển khai vaccine chậm, mặc dù Ấn Độ được ca tụng là siêu cường vaccine nhưng chỉ có 4,5% dân số Ấn Độ được tiêm vaccine tính đến ngày 20/4, nghĩa là còn 600 ngày nữa mới đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng với 70% dân số được tiêm phòng, thiếu vaccine kết hợp với việc không có khả năng giãn cách xã hội cùng với những thông tin sai lệch về vaccine khiến người dân Ấn Độ không tin tưởng vaccine; tính toán sai lầm về chính trị: việc cho phép các cuộc biểu tình, họp bầu cử lớn, lễ hội tôn giáo mà không có bất kì sự kiểm tra nào, tình cảm tôn giáo, chủ nghĩa tân tôn giáo và việc cố làm hài lòng đám đông đã lấn át các nguyên tắc cơ bản về sức khỏe cộng đồng và ý thức cộng đồng ở Ấn Độ. Tất cả những điều đó đã khiến cho lịch sử lặp lại vừa là bi kịch vừa là trò hề."


Một nguyên nhân quan trọng là những thông tin sai lệch về vaccine mà Zarir chỉ ra trong bài viết trên được Chetan Bhagat phân tích sâu thêm trong bài viết "How Pseudosience is coming in the way of India tackling the pandemic" (Giả khoa học đang tác động đến cách Ấn Độ đối phó với đại dịch như thế nào) trên The Times of India ngày 25/4/2021. Chetan là một tín đồ sùng đạo Hindu nhưng cũng chỉ ra rằng một số lượng lớn những người theo đạo Hindu từ chối khoa học đang gây hại cho cộng đồng không phải mới bây giờ mà là cả nghìn năm qua. Và chính cái cách mà cộng đồng tin tưởng mù quáng vào tôn giáo, từ chối mọi khoa học hoặc đem lắp ghép một cách khập khiễng giữa cơ sở tôn giáo với khoa học tạo ra các thông tin giả đã gây nên thảm họa.

Chetan phân tích: "mặc dù tất cả các tôn giáo đều chứa đầy những niềm tin phi khoa học. Tuy nhiên khi nói đến Ấn Độ, tôn giáo thống trị Ấn Độ là Ấn Độ giáo (tức đạo Hindu). Do đó, số phận của đất nước chúng ta bị ràng buộc trực tiếp và bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi niềm tin của người dân theo đạo Hindu… Tất nhiên, có những người theo đạo Hindu tin khoa học, và chúng tôi có nhiều người đạt giải Nobel để chứng minh điều đó. Nhưng thật không may, cũng có quá nhiều người theo đạo Hindu phi khoa học đang chi phối chính trị và dư luận của đất nước ngày nay. Tệ hơn nữa là một số người trong số họ còn trộn lẫn những thông tin giả khoa học vào niềm tin phi khoa học của họ.


Những thái độ phản khoa học hoặc giả khoa học này kết hợp với cái tôi siêu mong manh đã khiến chúng ta phải trả giá đắt. Nhưng người ta có thể hỏi một tư duy khoa học là gì. Một số thậm chí có thể trích dẫn sự vĩ đại bẩm sinh của các văn bản Hindu kết hợp khoa học bên trong chúng. Những người khác sẽ nói rằng Ấn Độ có nhiều khoa học đến nỗi chúng tôi đã phát minh ra hệ thập phân. Hoặc rằng các văn bản thần thoại của chúng ta nói về máy bay và vũ khí tối tân.


Thật không may, việc tôn vinh quá mức lịch sử và thần thoại của chúng ta, và trộn lẫn một số thuật ngữ khoa học vào đó không khiến chúng ta trở nên khoa học chút nào. Trong thực tế thì ngược lại.


Một bộ óc khoa học là sự thừa nhận rằng chúng ta không biết tất cả mọi thứ. Rằng có thể có những khám phá mới dựa trên những quan sát mới, từ đó sẽ đưa chúng ta liên tục thay đổi niềm tin của mình.

...

Ngược lại, một bộ óc phi khoa học tin rằng tất cả những kiến thức mà chúng ta cần đã được khám phá trong quá khứ vĩ đại của chúng ta. Rằng nếu chúng ta chỉ tuân theo thánh thư của mình, theo dõi lịch sử huy hoàng của chúng ta, không đặt câu hỏi về những gì mà tổ tiên vĩ đại của chúng ta đã tin và giữ vững niềm tin, chúng ta sẽ đạt được tiến bộ lớn.


Cho dù đó là chế độ ăn uống, kinh tế, thuốc men, giáo dục, cách sống hay quản trị của chúng ta, nhiều người theo đạo Hindu phi khoa học tin rằng quá khứ của chúng ta có tất cả câu trả lời. Mọi người nói rằng kinh Veda chứa đựng mọi thứ. Hoặc rằng hàng ngàn năm trước, chúng ta là nơi tiên tiến nhất trên trái đất.

Ngay cả khi người ta tin vào lời khẳng định đó, người ta vẫn cần hỏi - điều gì đã xảy ra sau đó? Làm thế nào chúng tôi đã chệch hướng? Trở thành khoa học có nghĩa là tìm ra câu trả lời mới ngày nay và thay đổi theo thời đại, không bám vào khoa học của quá khứ. Có một điều trớ trêu là trong khi chúng ta muốn con mình nghiên cứu khoa học ở trường, chúng ta lại không muốn áp dụng tư tưởng khoa học vào đời sống của mình. Chúng ta muốn sống trong vinh quang của quá khứ, ngay cả khi các quốc gia khác đã vượt qua chúng ta.


Hàng triệu người đã đến ngâm mình trong Kumbh Mela, ngay cả khi làn sóng thứ hai đã được thiết lập. Thế giới cười nhạo chúng ta, khi hình ảnh những ca bệnh kỷ lục và những bệnh viện nghẹt thở tương phản với hàng vạn người tụ tập ở bờ sông. Chúng ta đã nhanh chóng đổ lỗi cho hội nghị Tablighi, nhưng khi nào chúng ta sẽ nhìn vào bản chất vấn đề? Các trường hợp mắc bệnh đã tăng đều đặn kể từ tháng 2, nhưng chỉ đến cuối tháng 4 mới có sự nghiêm túc về kế hoạch tiêm chủng cho tất cả mọi người.


Tôi tôn trọng tôn giáo của tôi và tôn kính thánh thư. Tuy nhiên, chỉ có một loại vaccine được phát triển trong các phòng thí nghiệm khoa học mới có thể cứu nhân loại ngày nay. Điều này không làm cho khoa học vượt trội hơn tôn giáo. Tuy nhiên, nó cho bạn biết rằng đức tin và khoa học đều có vị trí của chúng. Những người khao khát và sống trong quá khứ tưởng tượng sẽ trì trệ trong khi sự tiến bộ đến với những người sống trong tương lai.


Yêu tôn giáo của bạn. Tuân theo và tôn trọng truyền thống. Tuy nhiên, hãy tỏ ra khoa học — tò mò về những khám phá mới và sẵn sàng thay đổi suy nghĩ của bạn vì nó. Đó, và chỉ điều đó, là điều sẽ khiến chúng ta tạo ra một kỷ nguyên vàng cho Ấn Độ một lần nữa."


Chính phủ và hệ thống y tế Việt Nam đã và đang làm rất tốt trong cuộc chiến chống lại đại dịch. Tuy nhiên từ "tấm gương" Ấn Độ, Việt Nam cũng cần để ý đến nhóm đối tượng rất nguy hiểm khác, thậm chí còn nguy hiểm hơn cả những đối tượng đưa người vượt biên trái phép vào Việt Nam, những đối tượng trốn cách ly và những đối tượng tung tin giả bình thường chủ yếu để thu hút sự chú ý trên mạng xã hội, đó là nhóm đối tượng chống vaccine và tuyên truyền những thông tin phản khoa học một cách có hệ thống để chống lại khoa học y tế, không chỉ hoạt động một cách có hệ thống, mà các tôn giáo một phần cũng đã bị chúng lợi dụng để thu hút và truyền bá những thứ thông tin giả khoa học, không chỉ nhằm mục đích thu hút sự chú ý mà còn phá hoại một cách có chủ ý hệ thống y tế. Nếu nhóm đối tượng này không được để ý và dẹp bỏ triệt để, hậu quả sẽ rất tai hại trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp hiện nay.

Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

XUYÊN TẠC VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC LÀ LUẬN ĐIỆU CỦA SỰ VÔ CẢM, VÔ ƠN !

         Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta dù đã trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, hy sinh nhiều của nhiều người nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất, hào hùng nhất của thế kỷ XX. Đó là chiến công chung của cả dân tộc trước giặc Mỹ xâm lược, quân đội chư hầu và tay sai, bán nước ngụy Sài gòn, sự thật lịch sử đã quá rõ ràng, ánh sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng còn che mờ cả nhật nguyệt.

Ấy thế mà những năm gần đây, người ta xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam. Tháng Tư về thì những tiếng vọng từ phía bên kia Đại Tây Dương và cả những kẻ bất mãn trở cờ trong nước, trong đó có cả một số nhà sử học, những người có chức sắc vẫn cứ tiếp tục ca bài ca muôn thủa, xuyên tạc bản chất của cuộc kháng chiến với luận điệu: “Cuộc nội chiến Nam - Bắc Mỹ diễn ra trong 4 năm nhưng sau đó nhanh chóng hòa giải, hòa hợp dân tộc; thế nhưng cuộc chiến Việt Nam đã đi qua 46 năm nhưng Cộng sản Việt Nam vẫn ăn mừng chiến thắng 30/4, huynh đệ tương tàn thì có gì phải vui mừng”.

Có thể nói rằng đây là luận điệu rất xỏ lá mà các thế lực thù địch giăng ra, hòng xóa nhòa chiến công, phủ định cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, xem đó là cuộc nội chiến hoặc là “cuộc chiến ý thức hệ cộng sản - tư bản”. Cuộc chiến ở Mỹ xảy ra từ 1861 -1865 giữa hai phe Miền Bắc và Miền Nam; đó đơn thuần chỉ là cuộc nội chiến giữa miền Bắc phát triển công nghiệp tư bản chủ nghĩa, kinh tế trại chủ nhỏ dựa trên chăn nuôi và sản xuất lúa mì và phe miền Nam phát triển kinh tế đồn điền (chủ yếu là trồng bông) dựa trên sự bóc lột lao động nô lệ (chủ yếu là người da đen).

Cuộc nội chiến chỉ diễn ra 4 năm nhưng sau chiến thắng thì phe miền Bắc đã đàn áp phe miền Nam dã man, không có chuyện nhanh chóng bắt tay nhau như các người rao giảng. Tất cả binh sỹ của quân đội miền Nam đều bị giam giữ rất lâu; lính miền Nam được trao lại quyền công dân theo đạo luật ân xá năm 1872, tuy nhiên luật ân xá này không áp dụng với 500 chỉ huy quân sự cao cấp của Hợp bang miền Nam, nghĩa là 500 tên này vẫn bị cầm tù, nhiều người bị thủ tiêu.

Các lực lượng tàn dư của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ đáp lễ, phục kích và bắn chết Tổng thống Abraham Lincoln ngày 14-4-1865. Chính phủ Mỹ thất bại trong việc trấn áp tàn dư của phe Liên minh, trong 25 năm sau đó, nhiều bang ở miền nam Mỹ đã đề ra rất nhiều các đạo luật mang nặng sự phân biệt chủng tộc, người da đen vẫn bị xem là nô lệ, phải cung phụng người da trắng. Quân đội liên bang thậm chí không thể bảo vệ người da đen trước bạo lực và đe dọa từ các nhóm người da trắng. Phải tới 100 năm sau, nước Mỹ mới chính thức bãi bỏ các điều luật mang tính phân biệt chủng tộc chống người da đen và có một tổng thống xuất thân từ miền Nam là Lyndon Johnson (nắm quyền giai đoạn 1963-1969). Vậy đấy, làm gì có chuyện nhanh chóng hòa giải như các người rêu rao.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) trước hết cần khẳng định rõ là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới.

Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến!

Sau chiến tranh, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi trả lời chất vấn trước Nghị viện Pháp vào cuối thập niên 1980 đã tuyên bố: “học tập cải tạo là một chính sách nhân đạo, bởi nếu ở những nước khác, bao gồm cả Pháp, những tù nhân này lẽ ra đã bị xử tử hàng loạt vì tội phản quốc, cộng tác với quân xâm lược nước ngoài. Những người đã phạm phải những tội ác tày trời chống lại đất nước, những người mà nếu ở những nước khác, mà chính quý vị ở đây (các nghị sỹ, nhà báo Pháp) ngay sau khi được giải phóng khỏi Đức Quốc xã, biết chuyện gì đã xảy ra (nước Pháp đã xử tử hơn 10.000 người cộng tác với Đức Quốc xã sau khi được quân Đồng Minh giải phóng năm 1945, xem Épuration légale)... Những người này được cho cơ hội trở lại làm một công dân bình thường, tham gia vào cộng đồng cả nước như bao người. Các vị còn đòi hỏi gì nữa?”. Còn chúng ta dù trải qua nhiều năm chiến tranh, đất nước tổn thất nặng nề nhưng vẫn tạo điều kiện, nhường cơm, xẻ áo cho hơn 200.000 người, những người mang nợ máu với non sông trong số 1.000.000 người ra trình diện, cho họ học tập, cải tạo và đa số họ trở thành người có ích cho xã hội, cùng nhau xây dựng đất nước sau này. Vậy Mỹ, Pháp sao có thể nói là nhân văn hơn chúng ta, sao có thể nói là hòa giải, hòa hợp dân tộc theo cách khoan hồng, độ lượng như chúng ta? Hòa hợp dân tộc là việc làm thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ sau khi Việt Nam thống nhất chứ không phải bây giờ. Tuy nhiên lịch sử phải được nhắc lại cho con cháu hiểu để thêm yêu tổ quốc, căm ghét bọn bán nước cầu vinh, giáo dục công dân Việt Nam về lòng yêu nước, trân quý giá trị hòa bình và phẩm giá của người Việt Nam; tri ân các anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của tổ quốc. Ngày 30/4 hàng năm, người Việt Nam mãi mãi tôn vinh, mãi mãi tự hào, mãi mãi nhắc tới, mãi mãi ăn mừng. Hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, cào bằng giữa ta và giặc. Đám tàn dư đừng hòng trâng tráo, đánh bùn sang ao hòng rửa tội bán nước. Một số cán bộ, đảng viên trước đây trót ăn theo, nói leo đám ba que xỏ lá thì nên suy nghĩ lại, đừng có nói với nhân dân Việt Nam về cái gọi là “30/4 không nên ăn mừng, không nên kỷ niệm”. Đó là giọng điệu của những kẻ vô cảm, vô ơn./.

LÊN ÁN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 30/4/1975

         Những ngày này, trên một số website, blog, tài khoản mạng xã hội cá nhân, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị lại điên cuồng bày ra các chiêu trò để bóp méo giá trị, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30/4/1975. Chúng ra sức nhào nặn những clip xưa cũ, cắt gọt sự thật để cố tạo ra những bài viết dối trá tung lên mạng xã hội. Chúng còn trắng trợn xuyên tạc “Chiến thắng Mùa Xuân năm 1975” thành “cuộc chiến tranh xâm lược của miền Bắc với miền Nam”, láo xược đòi đổi ngày chiến thắng, ngày thống nhất đất nước là “ngày quốc hận”; cho rằng tháng 4 lịch sử là “tháng tư đen”… Năm nay, do sự bùng phát của dịch COVID-19 trên toàn thế giới, chúng không có cơ hội thực hiện những chiêu trò kích động biểu tình trên đường phố, thì chúng ra sức kêu gọi chống phá, thậm chí còn lên kế hoạch tổ chức buổi hội luận trực tiếp trên mạng xã hội. Tất cả những “mưu hèn, kế bẩn” của chúng chỉ nhắm tới mục đích cuối cùng là kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được.

Lịch sử là thước đo của chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vậy mà vẫn còn có những luận điệu lạc lõng vẫn đang cố tình phủ nhận đi giá trị của lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến thù địch. Tìm cách đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây tội án cho dân tộc với những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Khẳng định giá trị, ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Chiến thắng 30/4/1975, chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, luôn tỉnh táo sàng lọc thông tin để không mắc bẫy theo những xúi giục, kích động của các phần tử xấu; đồng thời chúng ta cũng cần đấu tranh phê phán, bác bỏ mọi luận điệu lệch lạc, xuyên tạc sự thật lịch sử của các thế lực thù địch.

THỂ HIỆN LÒNG YÊU NƯỚC MỘT CÁCH ĐÚNG MỰC

     Thời gian qua, việc các công dân Việt Nam có bài viết, ý kiến đăng tải trên mạng xã hội phê phán luận điệu sai trái, vạch trần thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch, giúp dư luận ở trong nước và nước ngoài có cách tiếp cận khách quan về nhiều vấn đề, sự kiện, hiện tượng,… đã trở thành sinh hoạt bình thường trong cuộc sống. Ðây là một phương diện cho thấy ý thức, trách nhiệm của người dân đối với sự ổn định, phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, vì thiếu bình tĩnh, thiếu sự cẩn trọng cần thiết, có người đã vội vàng bình luận bất cẩn, thậm chí sa đà vào tranh cãi, phê phán có tính cá nhân, tạo cớ cho các đối tượng thiếu thiện chí lợi dụng, khiến việc làm này trở nên chệch hướng so với mục đích tốt đẹp và đúng đắn ban đầu. Và đó là điều rất cần điều chỉnh.

Lẽ thường trong kỷ nguyên số, trước nguồn tài liệu thông tin phong phú, đa dạng, dễ dàng kiểm chứng, các tổ chức quan sát quốc tế liên quan nhân quyền có thể tổng hợp, phân tích để đưa ra các đánh giá khách quan, đúng đắn về Việt Nam. Song từ thái độ thù địch, nhiều năm nay một số tổ chức vẫn cố tình chối bỏ sự thật, liên tục đưa ra các luận điệu có tính chất xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo để làm tổn hại hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Bằng chứng là với thủ đoạn “bản cũ soạn lại”, từ năm này sang năm khác các tổ chức này vẫn cố tình công bố các bản báo cáo với nội dung được sao chép gần như y hệt nhau. Mới đây, ngày 3-3-2021, trong báo cáo gọi là “Tự do trên thế giới năm 2021”, tổ chức Nhà tự do (FH) lại ngang ngược xếp Việt Nam vào “nhóm quốc gia không có quyền tự do”. Và nhằm minh chứng cho xếp hạng đó, FH đã sử dụng “chiếc áo khoác khảo sát độc lập”, ngụy trang cho việc khai thác dẫn chứng vốn là thông tin bịa đặt từ các tổ chức, địa chỉ báo chí vốn có thái độ thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam công bố. Cụ thể, để vu cáo Việt Nam, FH dẫn lại la liệt các báo cáo, số liệu, thông tin của cái gọi là Theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới (RSF), Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cho tới rất nhiều website, blog không rõ nguồn gốc. Ðối với các tổ chức nêu trên, nếu ai quan tâm tới Việt Nam thì đều biết, từ ngày “quan tâm” đến Việt Nam, chưa một lần HRW, AI, CPJ, RSF đưa ra một nhận xét tích cực. Chính vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi với lối tiếp cận phiến diện, ác ý, dựa trên các cứ liệu có tính bịa đặt, vu cáo, FH cùng các tổ chức đồng lõa đã đưa ra kết luận đầy thiên kiến. Ðiều đó cũng cho thấy, họ không quan tâm gì tới nhân quyền và nhân quyền chỉ là công cụ giúp họ xâm phạm thô bạo chủ quyền của quốc gia họ có thái độ thù địch. Các loại báo cáo họ công bố thực chất là tiến công Việt Nam bằng thủ đoạn khác, và được phát tán với mục đích gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, tạo cớ để đưa ra các yêu sách, đòi hỏi phi lý.

Tuy nhiên, những chiêu trò như của FH đã nhanh chóng bị nhận diện, không thể làm ảnh hưởng lòng yêu nước, niềm tin của nhân dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Ðảng, Nhà nước Việt Nam. Chưa kể, sau mỗi văn bản được đăng tải trên mạng xã hội, các tổ chức quốc tế này đã phải đối diện vô số phản ứng từ chính những người dân đang sinh sống tại Việt Nam. Thí dụ, phản ứng trước thông tin, kết luận sai sự thật trong báo cáo của FH công bố vừa qua, đã có hàng chục nghìn lượt bình luận phản đối từ Việt Nam. Trong đó có rất nhiều tài khoản bình luận rất cụ thể. Chẳng hạn: “Tôi không đến từ một đất nước Việt Nam mất tự do như phát ngôn của các vị, mà từ một quốc gia thuộc bán đảo Ðông Dương, có hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa, có 4.000 năm lịch sử. Dân tộc tôi yêu chuộng hòa bình, không thích gây chiến với các nước khác, vì vậy các vị đừng nên bịa đặt, vu khống chúng tôi như thế…”. Hoặc ngày 5-3-2021, khi RFA loan tin Liên minh báo chí tự do (OFPC) đưa Phạm Ðoan Trang (người đang bị Công an TP Hà Nội khởi tố vụ án hình sự về tội: “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Ðiều 88 Bộ luật Hình sự 1999 và “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Ðiều 117 Bộ luật Hình sự 2015) vào danh sách 10 trường hợp khẩn cấp, một trong các bình luận nhận được nhiều lượt thích (like) có nội dung như sau: “Tất cả các nước trên thế giới đều có luật cả. Mọi người đều phải tuân thủ pháp luật. Còn những trang, đài này theo những kiều bào ta ở nước ngoài nói: chỉ nói và viết bậy bạ, lừa kiều bào ta để lấy tiền tiêu xài”. Ngày 23-3-2021, trước thông tin AI bịa đặt về tình hình của Nguyễn Văn Hóa (phạm nhân đang thụ án vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”), tài khoản L.D đã phản ứng bằng ý kiến ngắn gọn nhưng đầy mỉa mai rằng: “Cho hỏi thông tin ở đâu thế? Chui gầm giường nghe lỏm à?”. Nhiều người khác còn khẳng định bản án dành cho Nguyễn Văn Hóa là quá nhẹ so với các tội danh anh ta đã vi phạm…

Trên thực tế, giờ đây, phản ứng của nhân dân trước luận điệu sai trái của các thế lực thù địch không chỉ xuất hiện trên các địa chỉ truyền thông chính thống, mà đã lan tỏa trên cả nền tảng mạng xã hội. Nhờ khả năng tương tác, chia sẻ của Facebook, YouTube,… nhiều công dân mạng đã không ngại ngần công khai bày tỏ sự phẫn nộ cũng như thái độ, quan điểm của mình trước các hiện tượng xấu, vạch mặt các tổ chức khủng bố, thù địch, phản động, đồng thời lan tỏa lòng yêu nước, nâng cao tình đoàn kết, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về tình hình thực tế tại Việt Nam. Ðó chính là sự thể hiện trách nhiệm công dân, là những tiếng nói mạnh mẽ từ lương tri của người dân trong xã hội. Không ít người nhiều lần công khai bày tỏ ý kiến của mình trên mạng xã hội để bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước cho dù trước đó phải hứng chịu nhiều thủ đoạn tiến công của kẻ xấu, như: nhục mạ bằng từ ngữ tục tĩu, tiến công bằng tin nhắn, cuộc gọi ẩn danh; chế ảnh; xâm hại thông tin đời tư… Nhiều du học sinh, người Việt Nam ở nước ngoài cũng bày tỏ thái độ không hề nao núng về việc bình luận, đăng tải bài viết, video trên Facebook, YouTube đã phải đối mặt với phần tử cực đoan trong cộng đồng gốc Việt và nạn phân biệt chủng tộc. Ðáng chú ý là những tiếng nói tích cực, lành mạnh đó ngày càng nhiều, trở nên lớn mạnh qua nhiều năm, liên kết thành các diễn đàn có ảnh hưởng trên mạng xã hội, nhất là trong giới trẻ…

Dẫu vậy, có lẽ do chủ yếu để thể hiện lòng yêu nước, còn mang tính tự phát và tức thời nên một số người thể hiện ý kiến trên mạng xã hội còn chưa chú ý tới việc nâng cao chất lượng bài viết, video, bình luận. Không ít trường hợp trong một số bối cảnh không giữ được “cái đầu lạnh” nên phát ngôn chưa chuẩn mực, có thể đẩy tới hậu quả ngoài ý muốn. Chẳng hạn, sau khi FH công bố bản báo cáo tai tiếng, một số người đã bình luận trên fanpage của FH bằng lời lẽ nặng nề, thô tục, thậm chí đe dọa thực hiện một cuộc tiến công mạng. Thái độ như vậy có thể tạo cơ hội cho các tổ chức như FH dựa vào để xếp Việt Nam trong “nhóm quốc gia ứng xử kém văn minh trên internet”. Ðó là điều rất cần cảnh tỉnh, vì trong quá khứ, một số người Việt Nam thể hiện lòng yêu nước một cách thái quá đã đưa tới một số sự cố trên internet và mạng xã hội.

Hiện tượng khác cần chú ý là: vì muốn nhanh chóng đưa ra trước pháp luật các tổ chức, cá nhân có phát ngôn, hành vi chống phá đất nước, mà một số fanpage, tài khoản cá nhân tỏ ra nóng vội khi đăng tải bài viết, video có những chi tiết, nội dung chưa thật sự chuẩn xác. Bài viết, hình ảnh tuy trước đó nhận được nhiều lượt thích, bình luận ủng hộ từ cộng đồng mạng song giá trị cảnh báo, răn đe cái xấu vì vậy đã phần nào bị suy giảm. Một vài fanpage, nhóm Facebook, trang YouTube còn đặt tên gọi và lấy biểu tượng dễ gây hiểu lầm với cơ quan chức năng như: “Ðơn vị tác chiến điện tử”, “Trung tâm chỉ huy tác chiến mạng”, “Học viện phòng chống phản động”,… tạo ra kẽ hở cho các tổ chức khủng bố, “nhóm xã hội dân sự giả danh, nhà dân chủ rởm” tiến công bằng cách: báo cáo quản trị Facebook, YouTube vu khống các nhóm yêu nước đăng nội dung có “ngôn từ gây thù hận”, “thông tin sai sự thật”, “spam” (gây phiền toái); quy chụp cộng đồng yêu nước này là do Nhà nước lập ra để “đàn áp bất đồng chính kiến”… Hậu quả là một số tài khoản, fanpage đã bị Facebook, YouTube yêu cầu phải ẩn bài viết, phải xóa trang, khóa tính năng. Không chỉ vậy, còn có hiện tượng đăng tải bài viết, video mang nội dung gây hiểu lầm trong chính cộng đồng người yêu nước trên mạng xã hội. Ðiển hình là vừa qua, khi nhà báo Nguyễn Văn Minh góp ý về bài viết, phương thức hoạt động của fanpage ARA, một bộ phận người ủng hộ trang này đã có lời lẽ thiếu chuẩn mực. Rất may, sự việc chưa đi quá xa vì quản trị của ARA nhanh chóng tiếp thu ý kiến, chấm dứt sự hiểu lầm giữa các bên để cùng “phát triển lòng yêu nước”.

Việc nhân dân tự giác, tích cực sử dụng không gian mạng trực tiếp đấu tranh với luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Ðảng, Nhà nước Việt Nam là một biểu hiện khẳng định niềm tin của nhân dân vào sự đúng đắn trong đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước hiện nay, cũng như thể hiện niềm tự hào về các thành tựu đã đạt được, niềm tin vào tương lai đất nước. Chính vì thế, việc người dân thông qua các tài khoản cá nhân, fanpage được lập ra trên mạng xã hội để lan tỏa tình yêu đất nước, bảo vệ lý tưởng, bảo vệ chế độ, bảo vệ uy tín và hình ảnh đất nước,… cần được cổ vũ, ủng hộ. Tuy vậy, trước một số bất cập như đã nêu ở trên, xã hội, cộng đồng sử dụng mạng xã hội, các cơ quan chức năng cũng cần có những giải pháp để tạo ra sự phát triển đúng hướng. Người sử dụng mạng xã hội cần hết sức tỉnh táo, cẩn trọng khi phát ngôn, bình luận, không để ý kiến chỉ ra đời từ nhận thức cảm tính, tránh rơi vào cạm bẫy của kẻ xấu, cần khảo sát kỹ lưỡng từ thông tin, tư liệu đã được kiểm chứng. Việc phản biện, phê phán rất cần dựa trên cơ sở luận chứng chặt chẽ để có sức thuyết phục, có khả năng nhận diện, vạch trần bản chất của kẻ xấu. Thể hiện đúng mực, đúng chỗ lòng yêu nước sẽ góp phần lan tỏa, nhân thêm sức mạnh dân tộc, cùng đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, và tiếp tục phát triển. Ðồng thời, cùng với việc nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đấu tranh chống các luận điệu sai trái, các cơ quan chức năng cũng cần quan tâm, có cơ chế bảo vệ các công dân yêu nước bị xúc phạm, đe dọa khi họ trực tiếp phản biện vạch mặt kẻ xấu…

Phản bác, bài trừ luận điệu xuyên tạc, phản động

 


Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Dân là gốc”. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu... Đây là sự khẳng định mang tính chân lý, thể hiện bước phát triển mới về lý luận của Đảng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những đánh giá, đúc kết bài học kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong 35 năm đổi mới của Đảng, kế thừa tinh hoa từ lịch sử dân tộc, kinh nghiệm của tổ tiên, ông cha. Quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là trung tâm” cũng chính là sự thể hiện sinh động tính hài hòa, thống nhất của giá trị văn hóa Đảng và mùa xuân dân tộc ở đất nước ta. Đây cũng là cơ sở, niềm tự hào chính đáng để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đất nước và đông đảo kiều bào yêu nước đề cao tinh thần dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại các âm mưu kiểu “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”, “ngụy phản biện”... của các thế lực thù địch, phản động.

Trước Đại hội XIII của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc về văn kiện và công tác nhân sự của Đảng. Tại Hội thảo về nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch do Học viện An ninh Nhân dân (Bộ Công an) tổ chức ngày 29-12-2020, dẫn số liệu từ Bộ Công an cho biết: Từ đầu năm 2020 đến nay, các đối tượng phản động lưu vong đã lập gần 150 hội, nhóm với hàng trăm nghìn thành viên, lập nhiều trang mạng, kênh youtube, tài khoản facebook, hơn 500 cuốn sách và khoảng 6.000 tài liệu để phát tán các thông tin xấu độc, xuyên tạc công tác chuẩn bị văn kiện và công tác nhân sự của Đại hội XIII. Việc chúng ta tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng cũng chính là bằng chứng thất bại của các thế lực thù địch. Ngay sau khi đại hội công bố kết quả bầu cử BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư..., lập tức, nhiều kênh truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại thông qua một số đối tượng được khoác cái mác “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”... đã thực hiện các hình thức “bàn tròn”, “tọa đàm”, “phỏng vấn” bình luận về “tương lai của Việt Nam sau Đại hội XIII”. Một trong những luận điệu chúng tập trung xuyên tạc là coi Đảng Cộng sản Việt Nam như một đảng phái, nhằm tách rời Đảng với dân tộc, chia tách Đảng với nhân dân Việt Nam và kiều bào yêu nước. Những luận điệu này không mới, nhưng đặt trong không khí mừng xuân, mừng Đảng đang bừng lên trong cả nước, chúng ta cần có thái độ kiên quyết phản bác, đấu tranh để bảo vệ uy tín của Đảng, bảo vệ thành quả Đại hội XIII và môi trường văn hóa của toàn Đảng, toàn dân đón chào năm mới Tân Sửu 2021 với niềm tin mới, khát vọng mới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hãy nhuộm đỏ trang cá nhân của mình bằng màu cờ Tổ quốc, màu cờ Đảng cùng sắc đào, mai rực rỡ; ngăn chặn âm mưu lôi kéo, kích động của các phần tử cực đoan, các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng lợi dụng tình hình khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của dịch Covid-19 để “ký sinh” tư tưởng cực đoan nhằm phá hoại bầu không khí ấm áp, lạc quan của mùa xuân Tân Sửu, mùa xuân dân tộc mừng Đại hội Đảng thành công, mừng đất nước đổi mới, hội nhập.

Hành trình cùng mùa xuân dân tộc, chúng ta kiên định đường lối đổi mới của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước đều cần phải nghiêm trị.

 

Không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm

 


Những ngày gần đây, trước tình hình rối loạn ở Myanmar, một số phần tử tự xưng là “nhà dân chủ” trên mạng xã hội đã tung ra nhiều thông tin lôi kéo, kích động, nhắm vào giới trẻ Việt Nam. Họ ca tụng những người trẻ tuổi xuống đường biểu tình ở Myanmar với danh xưng mỹ miều như những “anh hùng trẻ tuổi”... Tuy nhiên luận điệu tung hứng đó không lôi kéo được những người Việt Nam có nhận thức đúng đắn.

Cảm thấy việc lôi kéo đó không mấy hiệu quả, họ thay đổi “chiến thuật”, quay sang cà khịa bằng những lời lẽ châm chọc, kích động, chen ngang vào các dòng trạng thái tích cực của người dùng mạng xã hội Việt Nam với nhiều bình luận, như: Người trẻ Việt Nam thiếu trách nhiệm, thờ ơ với thế sự, đang tự bằng lòng với chính mình mà bỏ mặc những biến động của tình hình thế giới...
Trước sự "cà khịa" đó, một số người đã "sập bẫy khiêu khích" của các thế lực thù địch, sa vào tranh luận gay gắt, thậm chí sử dụng những lời lẽ có phần khiếm nhã. Chỉ chờ có thế, họ lu loa rằng, chúng ta không đủ lý lẽ biện luận, phản ứng tiêu cực, tranh luận thiếu văn hóa. Thậm chí họ còn giở trò "rạch mặt ăn vạ" quy kết người dùng mạng xã hội ở Việt Nam công kích, tấn công, trù dập tập thể... Do đó, mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu chuộng hòa bình bên cạnh một "trái tim nóng" cần phải giữ "cái đầu lạnh", tỉnh táo trước thủ đoạn của các phần tử cơ hội, chuyên đi tìm cớ nhằm xuyên tạc, kích động người khác. Khi đấu tranh với những kẻ đội lốt dân chủ phải luôn tỉnh táo, kiên quyết, sắc bén, đúng mực. Tuyệt đối không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm.


Chiêu trò xúi giục phá hoại

 


Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. 

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định.

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri.

Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước.

Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường...

Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.