Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021
Biến chủng nCoV Ấn Độ xuất hiện ở ít nhất 40 quốc gia
Xây dựng giai cấp nông dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Phát
huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh
tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây dựng giai cấp nông dân với
phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn, tạo
điều kiện để dân cư nông thôn trở thành dân cư đô thị mà không dẫn đến di cư
quy mô lớn. Có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang các ngành
phi nông nghiệp. Huy động và phát huy mọi nguồn lực từ nông dân, nông thôn cùng
với các nguồn lực khác để thực hiện thành công mô hình nông nghiệp sinh thái,
nông thôn hiện đại và nông dân văn minh.
Xây dựng giai công nhân vững chắc làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
75 năm Văn phòng Tổng cục Chính trị
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Công tác Văn phòng có tầm quan trọng đặc biệt, giúp cho cán bộ lãnh đạo nắm được tình hình…”. Ở Văn phòng Tổng cục Chính trị công tác ấy càng quan trọng hơn vì đây là văn phòng của một trong những cơ quan chiến lược, quan trọng nhất của Quân đội ta. Trải qua 75 năm xây dựng và phát triển, Văn phòng TCCT luôn làm tốt chức năng vừa giúp việc, tham mưu, vừa đôn đốc, kiểm tra; vừa là đầu mối công việc, là bộ máy tham mưu, điều hành tổng hợp, đầu mối điều phối hoạt động hiệu quả, giúp Thủ trưởng TCCT chỉ đạo Công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.
Đối với Quân đội ta, Người càng quan tâm chăm lo toàn diện. Chỉ mấy tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 34/SL ngày 25-3-1946 về tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có Chính trị Cục – Tiền thân của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay với nhiệm vụ: "Đào tạo các chính trị viên phái đi các đơn vị bộ đội để giữ vững và nâng cao tinh thần chiến đấu, tinh thần ái quốc và sự tôn trọng kỷ luật trong quân đội". Tiếp đó, ngày 11-5-1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định số 27/NĐ-QP về tổ chức Chính trị Cục, trong đó có Văn phòng Chính trị Cục – nay là Văn phòng TCCT. Từ đó, ngày 11-5 đã trở thành Ngày truyền thống của Văn phòng TCCT.
Mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Lúc
sinh thời, Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách
mạng thế giới; cách mạng Việt Nam chỉ thắng lợi một khi nó hòa chung vào làn
gió thời đại, hòa chung vào dòng chảy tiến trình phát triển của nhân loại. Cách
mạng Việt Nam phải có trách nhiệm vào bước phát triển chung của nhân loại. Muốn
góp phần vào bước tiến của cách mạng thế giới, cách mạng mỗi nước nói chung,
cách mạng Việt Nam nói riêng phải hoàn thành tốt những yêu cầu của cách mạng
nước mình.
Trong
xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế
là một tất yếu khách quan đối với nước ta. Tuy nhiên, là nước đang phát triển,
khi tham gia toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế thì nguy cơ lệ thuộc vào nước
ngoài rất lớn; mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách làm chệch hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, cần nhận thức và quán triệt sâu sắc quan điểm
đã được Đại hội XIII xác định: “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động
hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để phát triển
đất nước”.
Để
thực hiện tốt quan điểm mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế hiện nay cần giải
quyết tốt mấy vấn đề sau đây:
Thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá các quan
hệ quốc tế, hướng các quan hệ quốc tế vào việc xây dựng và phát huy sức mạnh
khối đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại để thực hiện thắng lợi các mục tiêu của cách mạng.
Giữ vững tính độc lập, tự chủ trong quá trình
hội nhập quốc tế, giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc và hội
nhập quốc tế, nhằm bảo đảm “hội nhập mà không hoà tan”.
Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Thực hiện tốt công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.
Mở rộng dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và giữ vững kỷ cương trong đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
Trước yêu cầu đổi mới,
chỉ có mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự mới có đồng thuận xã hội và
đoàn kết thực sự, bền vững. Cần thực hiện dân chủ và đoàn kết từ trong Đảng ra toàn xã hội. Muốn đoàn kết được toàn dân tộc, trước hết Đảng ta
phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, trong từng tổ chức của
Đảng, phấn đấu để từng đảng viên, từng tổ chức đảng thực sự là hạt nhân, là cơ
sở vững chắc để lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều
vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Thực hiện thật tốt Quy chế dân chủ ở
cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; kết hợp thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ
trong tổ chức Mặt trận nhằm làm phong phú thêm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta.
Các cơ quan nhà nước, các cấp chính
quyền chăm lo phát huy và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật,
tăng cường đồng thuận xã hội. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân
tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp,
đoàn kết mọi người trong một mặt trận chung.
Phát huy dân chủ, đề cao trách
nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi
vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân
dân, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức.
Quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố,
kiện toàn đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể ngang tầm với yêu cầu nhiệm
vụ. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cả về cơ
chế, chế độ, chính sách, điều kiện, phương tiện làm việc để Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát huy vai trò của mình đã được khẳng định trong các văn kiện của
Đảng, đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân
tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận của hệ thống
chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thực hiện giám sát và phản
biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của các tầng lớp nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà
nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan
trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, sớm cụ thể hóa, thể chế hóa các quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội
theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Mở rộng dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và giữ vững kỷ cương trong đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
Trước yêu cầu đổi mới,
chỉ có mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự mới có đồng thuận xã hội và
đoàn kết thực sự, bền vững. Cần thực hiện dân chủ và đoàn kết từ trong Đảng ra toàn xã hội. Muốn đoàn kết được toàn dân tộc, trước hết Đảng ta
phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, trong từng tổ chức của
Đảng, phấn đấu để từng đảng viên, từng tổ chức đảng thực sự là hạt nhân, là cơ
sở vững chắc để lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều
vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Thực hiện thật tốt Quy chế dân chủ ở
cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; kết hợp thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ
trong tổ chức Mặt trận nhằm làm phong phú thêm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta.
Các cơ quan nhà nước, các cấp chính
quyền chăm lo phát huy và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật,
tăng cường đồng thuận xã hội. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân
tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp,
đoàn kết mọi người trong một mặt trận chung.
Phát huy dân chủ, đề cao trách
nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi
vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân
dân, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức.
Quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố,
kiện toàn đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể ngang tầm với yêu cầu nhiệm
vụ. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cả về cơ
chế, chế độ, chính sách, điều kiện, phương tiện làm việc để Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam phát huy vai trò của mình đã được khẳng định trong các văn kiện của
Đảng, đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên
hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân
tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận của hệ thống
chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thực hiện giám sát và phản
biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng
của các tầng lớp nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà
nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan
trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, sớm cụ thể hóa, thể chế hóa các quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội
theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn dân, hệ thống chính về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc
Hiện nay, nhận thức và trách nhiệm
của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề đại đoàn kết toàn dân
tộc còn nhiều hạn chế, dẫn đến chưa quan tâm đúng mức đến việc chăm lo khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
nhận thức, ý thức trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân trước vận mệnh đất
nước.
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh mới.
Phải
coi đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong
lúc này là vấn đề sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Làm cho mọi người
dân đất Việt nhận thức rõ tư tưởng của Bác Hồ kính yêu: Đất nước Việt Nam, giang
sơn Việt Nam cùng mọi thành quả của nền văn hóa Việt Nam không phải là của
riêng ai, của một giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người
Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, mọi người Việt Nam đều có trách
nhiệm và có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu
thêm và đẹp thêm cho nền văn hóa đó. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấy được thời cơ cũng như thách thức của
cách mạng hiện nay; thấy được nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn phức tạp bao
nhiêu càng đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng khối
đoàn kết dân tộc. Từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, đường lối,
chủ trương của Đảng trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân
tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức.
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước càng đi vào chiều sâu, nhiệm vụ càng khó
khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Điều đó, đã và đang đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn
diện của Đảng, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác xây dựng và phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Giữ
vững tính định hướng chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để xây dựng và phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết dân tộc.
Tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để đề ra được nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp
đối với Mặt trận hiện nay, Đảng cần nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc và phương thức lãnh đạo của Đảng; nắm
được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của mỗi tổ chức trong Mặt
trận; nắm được thực tiễn và quan hệ giữa Đảng với Mặt trận. Đảng tuyệt đối
không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng, khoán trắng, khắc phục tình trạng can
thiệp một cách chủ quan, tùy tiện, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của Mặt
trận.
Vấn
đề cốt lõi trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là định hướng về chính
trị, tổ chức, cán bộ và hoạt động của Mặt trận. Trước hết, Đảng định hướng về chính trị, tư tưởng cho Mặt trận. Đó
là định hướng về mục tiêu, phương hướng phát triển lâu dài và trước mắt của Mặt
trận; về xây dựng Điều lệ; về phương hướng hoạt động trong từng thời kỳ. Đảng
định hướng chính trị, tư tưởng cho Mặt trận bằng các phương thức chủ yếu: thông
qua việc xây dựng chỉ thị, nghị quyết của Đảng về Mặt trận. Chỉ thị, nghị quyết
phải thể hiện được: trách nhiệm của Đảng và cơ quan nhà nước đối với Mặt trận,
nhiệm vụ phải thi hành của cán bộ, đảng viên; trách nhiệm của bản thân Mặt trận
trong việc xây dựng tổ chức, xây dựng phong trào hành động cách mạng của nhân
dân. Thứ hai, Đảng định hướng về tổ chức và cán bộ. Nguyên tắc chung
của Đảng là, thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ của Mặt trận, đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo và trách
nhiệm của tổ chức trong việc xây dựng, đổi mới tổ chức và cán bộ cho phù hợp
với tình hình nhiệm vụ mới. Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng việc kiểm
tra, giám sát hoạt động của Mặt trận thông qua Đảng đoàn, Mặt trận và
thông qua các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan của Mặt trận;
qua đó trao đổi, bàn bạc với Mặt trận cùng nhau giải quyết. Để thực hiện
tốt nội dung trên đây, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng về các mặt; coi
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng.
Nâng cao
vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc.
Đẩy
mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng
thành những chính sách, pháp luật, quy định cụ thể về đại đoàn kết toàn dân tộc
và về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là những chính sách, pháp luật, quy định
liên quan đến từng giai cấp, tầng lớp, đặc biệt là đối với giai cấp công nhân,
giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo và người
Việt Nam ở nước ngoài… Nhà nước có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm
về hoạt động kinh tế, tài chính đối với mỗi tổ chức của mặt trận.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp
thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn
trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân
thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể; thực hiện tốt vai
trò Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt
tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực
hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước
trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các
tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Những nội dung cốt lõi trong Quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta
Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của
Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động
lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan
điểm trên khẳng định sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng
và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu và động lực
của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Đại
hội XI tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa
quyết định thắng lợi của cách mạng và sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Đồng thời,
phản ánh nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò của các giai tầng trong
xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức. Trong cương lĩnh 1991, lần đầu tiên Đảng
ta nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông - trí làm nền tảng cho
khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai
trò, của các giai tầng trong xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trong điều kiện
cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai
trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất.
Khẳng
định nguồn sức mạnh và động lực to lớn nhất của đại đoàn kết toàn dân tộc trong
tiến trình của cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, so với các
động lực khác (vấn đề lợi ích và dân chủ xã hội...), đại đoàn kết toàn dân tộc
là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng có nêu lên 5 bài học lớn, trong có
bài học: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn
kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và
là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”. Đại hội XIII của Đảng xác
định: “Mọi hoạt động của hệ thống
chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của
nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân”.
Thứ hai, đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc,
của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực
hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp
Xác
định chủ thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể dân tộc, bao
gồm mỗi người dân, mỗi cộng đồng, cả hệ thống chính trị. Đây không phải là
nhiệm vụ của riêng bất cứ giai cấp nào, càng không phải là việc riêng của Đảng,
Nhà nước.
Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, cơ sở vững
chắc để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi
vì, Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Đường
lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức
mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của
Đảng để Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính
trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ
phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với nhân dân là việc làm có ý nghĩa
sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội
XIII của Đảng xác định: “Nâng cao năng
lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố tăng cường niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.”2.
Đoàn
kết trong Đảng, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương phải xứng đáng là
tấm gương sáng, làm hạt nhân lãnh đạo, làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Mỗi đảng viên, cán bộ công chức phải thực sự là công bộc của dân,
gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, năng lực; đi đầu trong mọi việc là tấm gương
cho nhân dân, lôi cuốn, tập hợp, giáo dục nhân dân trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, Đảng Cộng sản phải thực sự trí tuệ, trong sạch,
vững mạnh, đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo; đoàn kết vững chắc làm gương cho nhân
dân. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải đáp ứng nhu cầu, nguyện
vọng, lợi ích của nhân dân và yêu cầu của cách mạng. Đảng cần đổi mới phương
thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội; cần có cơ chế, quy chế phối hợp công tác giữa các bộ phận cấu
thành hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương của quần
chúng về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm; thực sự là công bộc của nhân dân.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm
của Nhà nước. Vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, người tổ chức thực
hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Đảng, Nhà
nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết các
khó khăn, vướng mắc của nhân dân.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm
của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận có vai trò rất
quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt
mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận
cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia
xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân
dân.
Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết
toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi người dân, của cả
dân tộc.
Đại
đoàn kết toàn dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức phù
hợp, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có
ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Tùy
từng lực lượng khác nhau trong xã hội mà có biện pháp, hình thức tập hợp lực
lượng khác nhau. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối,
chính sách và liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng đổi mới tổ
chức, bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính; chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí; xây dựng đội ngũ công chức liêm chính, tôn trọng dân, gắn bó với nhân dân,
phục vụ nhân dân..., đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là nơi tập hợp, quy tụ, giáo dục nhân dân; đại diện cho lợi ích chính đáng,
hợp pháp của nhân dân, cho trí tuệ, nguyện vọng của nhân dân. Mặt trận và các
đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, lề
lối, tác phong công tác để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc.
Thứ ba, lấy mục
tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn
giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Lấy
mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng
để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong
nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết
dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây
dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi
người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và
bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong
mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi
chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”[1].
Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc
trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một
nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần
xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].
Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành
phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của
dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung..., để
tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.
Nước
ta là nước có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và có một bộ phận không
nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhân dân ta đã từng trải qua hơn một
phần ba thế kỷ buộc phải cầm súng chống thực dân, đế quốc. Đất nước cũng đã từng
tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Tuy đất nước đã thống nhất được hơn ba
mươi năm, nhưng những mặc cảm, những khoảng cách còn lại ở nơi này, nơi khác
thậm chí trong một số gia đình, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong một bộ phận
đồng bào có đạo và đồng bào ta định cư ở nước ngoài vẫn còn tồn tại với những
mức độ khác nhau. Mặt khác, chấp nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chấp nhận thu
nhập khác nhau, mức sống, lối sống không như nhau và chấp nhận sự tồn tại những
lợi ích khác nhau giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc
phải dưạ trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên
trong xã hội.
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Đại hội XIII của Đảng nêu lên quan điểm chung là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí
tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng
sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút,
trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và
công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”
Học viện Quốc phòng bế giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh khóa 81
Sáng 12-5, tại Hà Nội, Học viện Quốc phòng tổ chức Lễ bế giảng lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh (QPAN) khóa 81.
Tới dự buổi lễ có đồng chí PGS, TS Vũ Thanh Sơn, Cục trưởng Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Ban tổ chức Trung ương; Trung tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng dự và phát biểu tại buổi lễ.
Qua khóa học, 62 học viên đã được nghiên cứu những nội dung cơ bản về chiến lược QPAN của một số nước liên quan đến Việt Nam; chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; về bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia; bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam; phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình”.
![]() |
| Trung tướng Trần Việt Khoa phát biểu tại buổi lễ. |
Đặc biệt, học viên được nghiên cứu sâu hơn về tác chiến phòng thủ quân khu; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; chuyển cơ quan, tổ chức, địa phương vào các trạng thái quốc phòng; kinh nghiệm và cách xử lý các tình huống biểu tình, bạo loạn lật đổ; luyện tập về vận hành cơ chế trong tác chiến khu vực phòng thủ tỉnh; việc kết hợp phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường củng cố QPAN; nhất là cập nhật những điểm mới về phát triển kinh tế, xã hội, QPAN trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng …
![]() |
| Các đại biểu dự lễ bế giảng. |
Qua đó, khóa học giúp các học viên nâng cao nhận thức, tư duy dự báo chiến lược, năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh; nhận định, đánh giá tình hình và giải quyết tốt những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra trên từng lĩnh vực, nội dung công tác.
Thông qua học tập kết hợp với trao đổi, thảo luận, nghiên cứu thực tế tại một số địa phương, đơn vị và viết thu hoạch cuối khóa, nhiều đồng chí đã đưa ra những giải pháp thiết thực về phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường, củng cố QPAN góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết quả viết thu hoạch đạt 100% khá, giỏi.
Phát biểu tại lễ bế giảng, Trung tướng Trần Việt Khoa mong muốn các học viên sau khi kết thúc khóa học có thể vận dụng sáng tạo những kiến thức đã được nghiên cứu, học tập tại học viện để triển khai nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Những thành tựu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay
Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Đã ban hành
và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền hạn làm chủ của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và
phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và hệ thống chính
trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong trong kháng chiến chống Mỹ
Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức tranh
đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết thành một
khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng vũ trang
và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin vào dân,
dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân ra trận,
tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được sức
mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta
chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam -
tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền với
những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách
mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng
Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp,
động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu
nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng
hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã
khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có cội
nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua mấy
ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, tiến hành đồng
thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và
cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết
hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của
dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế,
tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân xâm
lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân, phát
huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực hiện
kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược đó,
Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước đánh
giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là
huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ
người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai
có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải
ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là
lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội,
các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức
của cho kháng chiến.
Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng
chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất đất
nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản
nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân,
toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm
lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được
xây dựng và củng cố.
Quan điểm xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”
Từ khi có Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc được xây
dựng ngày càng rộng rãi, bền vững, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường
lối chiến lược của Đảng, một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng việc xây dựng
và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhất là trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
Trong
“Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”
Trong
“Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn kết rộng rãi
các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã chỉ đạo tổ
chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với mục tiêu
đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự do cho
dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn thể dân
tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ nghĩa
thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó, keo sơn
Trải
qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển cao, nước ta vẫn luôn là một nước đất không rộng, người không
đông, tiềm lực kinh tế, quốc phòng có hạn. Trong khi đó, bên cạnh chúng ta là
một nước có nền văn minh phát triển sớm, một nước mạnh với tư tưởng đại bá.
Việt Nam luôn là trọng điểm của tư tưởng bành trướng của các vương triều phong
kiến phương Bắc. Có thể nói rằng, trong
lịch sử thế giới hiếm có dân tộc nào như Việt Nam, trong mấy ngàn năm
lịch sử đã có hơn ngàn năm phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Trong cuộc vận lộn
không cân sức ấy, dựng nước và giữ nước trở thành quy luật xuyên suốt của dân
tộc . Điều đó, khiến cho nhân dân Việt Nam sớm có lòng yêu nước nồng nàn và ý
thức đoàn kết, cố kết cộng đồng. Trở thành truyền thống bền vững, thấm sâu vào
tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh
vô địch của cả một dân tộc để chiến thắng thiên tai, địch hoạ, bảo đảm cho sự
trường tồn của dân tộc.
Điều
đó xuất phát từ những tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người
trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình cảm đó đã trở thành một triết lý
nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non; ba cây chụm lại thành hòn núi cao”; và
trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: Tình làng, nghĩa nước; nước mất nhà
tan; giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.
Những
tình cảm đó đã trở thành tư tưởng của các bậc minh quân, các bậc hiền tài của
dân tộc: “trên dưới một lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”,
“khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
Trong tác phẩm Nên học sử ta, viết vào đầu năm 1942, Bác đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào nhân dân ta đoàn kết muôn người như một thì đất nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào nhân dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi...”. Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chân lý đó.
Một số quán bia vẫn tấp nập khách sau lệnh cấm của Hà Nội
Ngày 11/5, trước diễn biến khó lường và phức tạp của dịch Covid-19, UBND TP Hà Nội đã quyết định tạm dừng hoạt động các quán bia cho đến khi có chỉ đạo mới. Thực tế, chiều 11/5 cơ bản các quán bia, bia hơi đóng cửa, chấp hành nghiêm chỉ đạo. Nhưng trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, cụ thể là phố Tăng Bạt Hổ, một số quán bia vẫn sáng đèn, lác đác có vài bàn khách vẫn được phục vụ. Quán bia trên phố Ngô Thì Nhậm vẫn tấp nập thực khách ra vào chiều 11/5. Có điều khác biệt so với ngày thường là cho nhân viên bảo vệ đóng cổng, treo biển chỉ bán mang về. Nhưng khi khách có nhu cầu, nhà hàng vẫn mở để khách uống bia như mọi ngày. Vẫn có đến hơn một trăm khách đang ngồi nhậu tại quán như mọi ngày.
Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân
Hồ
Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế
giới, cách mạng Việt Nam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ
với phong trào cách mạng thế giới.
Trong những năm chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam, Người đã nêu rõ: “Phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức
dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”[1].
Tư tưởng của Người về đoàn kết quốc tế ngày càng phát triển trong thực tiễn
cách mạng nước ta. Người đặc biệt coi trọng xây dựng khối đoàn kết Việt - Miên - Lào.
Trong
hai cuộc kháng chiến, tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba
tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết toàn dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt -
Miên - Lào; Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm
lược.
Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận xây dựng khối đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.
Đảng ta vừa là Đảng của giai cấp công nhân vừa là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc, vì Đảng ra đời trong lòng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết. Trong cuộc đấu tranh đó, quần chúng nhân dân là người quyết định, Đảng là một thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất nhưng lại là người lãnh đạo Mặt trận và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng vững mạnh.
Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức
Đại
đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, lời kêu gọi, mà
phải trở thành một chiến lược cách mạng. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành
lực lượng vật chất có tổ chức để tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng đến
thắng lợi. Để đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ phải có nhiều hình thức, biện pháp
và tổ chức, trong đó “Mặt trận dân tộc thống nhất” là một trong những tổ chức
cơ bản, quan trọng để tập hợp mọi lực lượng trong xã hội.
Theo
Hồ Chí Minh, cả dân tộc hay toàn dân chỉ trở thành lực lượng to lớn, trở thành sức
mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức thành
một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu
không thế, quần chúng dù có đông đến hàng triệu cũng chỉ là số đông không có
sức mạnh.
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con dân nước
việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi, dân tộc,
tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”.
Như vậy, dân hay nhân dân vừa là
đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là đại
đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp trên cơ sở liên minh giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Ngay từ năm 1941, trong
bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần
một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao
hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu quốc là việc chung. Ai là người
Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm...”[1].
Do
đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại. Người dùng
khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Đoàn kết là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Theo
Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt
Nam.
Người
nói, “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là “đoàn kết
toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Nói về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Người xác định:
“Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất
nước nhà”.
Người
còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ
hàng đầu của Đảng, mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân
tộc. Nghĩa là đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân
quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là sự nghiệp của
quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng.
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là tư
tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đại
đoàn kết dân tộc là chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm
hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân
tộc và giai cấp.
Đại
đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách
mạng, mặc dù trong từng thời kỳ của cách mạng, có thể và cần thiết phải điều
chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác
nhau. Hồ Chí minh đã rút ra những luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết là sức
mạnh của chúng ta”[1];
“Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”;
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”
[2].
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đoàn kết dân tộc- cơ sở, nền tảng thực hiện đại đoàn kết dân tộc ở Việt nam
Chủ
nghĩa Mác - Lênin khẳng định, cách mạng muốn thành công thì đoàn kết dân tộc là
nhân tố cực kỳ quan trọng, là vấn đề sinh tử của cách mạng. Bởi lẽ, cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng; quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.
Giai cấp vô sản muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì trước hết phải tự
mình trở thành dân tộc. Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to
lớn của cách mạng.
Lênin
cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh công nông là hết sức cần
thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Nếu không có sự đồng tình
ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó - tức giai
cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Đoàn
kết toàn dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở lý tưởng, mục
tiêu cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản đồng thời
thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại khỏi
mọi ách áp bức, bóc lột. Do đó, xét về cơ bản lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và lợi ích của dân tộc là thống nhất với nhau. Sự thống nhất
về những lợi ích cơ bản đó là điều kiện, cơ sở xây dựng và phát huy đoàn kết
dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đảng
Cộng sản là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân tộc. Đảng Cộng sản mỗi nước
trước hết phải xây dựng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và các tầng lớp lao động khác làm cơ sở, nền tảng của khối đoàn kết toàn dân
tộc.




