Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

Những nội dung cốt lõi trong Quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta

 


Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm trên khẳng định sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu và động lực của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đại hội XI tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng và sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Đồng thời, phản ánh nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức. Trong cương lĩnh 1991, lần đầu tiên Đảng ta nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò, của các giai tầng trong xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất.

Khẳng định nguồn sức mạnh và động lực to lớn nhất của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình của cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, so với các động lực khác (vấn đề lợi ích và dân chủ xã hội...), đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng có nêu lên 5 bài học lớn, trong có bài học: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”. Đại hội XIII của Đảng xác định:     “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.

Thứ hai, đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp

Xác định chủ thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể dân tộc, bao gồm mỗi người dân, mỗi cộng đồng, cả hệ thống chính trị. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng bất cứ giai cấp nào, càng không phải là việc riêng của Đảng, Nhà nước.

 Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, cơ sở vững chắc để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi vì, Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng để Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với nhân dân là việc làm có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.”2.

Đoàn kết trong Đảng, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương phải xứng đáng là tấm gương sáng, làm hạt nhân lãnh đạo, làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi đảng viên, cán bộ công chức phải thực sự là công bộc của dân, gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, năng lực; đi đầu trong mọi việc là tấm gương cho nhân dân, lôi cuốn, tập hợp, giáo dục nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, Đảng Cộng sản phải thực sự trí tuệ, trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo; đoàn kết vững chắc làm gương cho nhân dân. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và yêu cầu của cách mạng. Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; cần có cơ chế, quy chế phối hợp công tác giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương của quần chúng về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm; thực sự là công bộc của nhân dân.

 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước. Vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Đảng, Nhà nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân.

 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân.

 Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi người dân, của cả dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức phù hợp, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Tùy từng lực lượng khác nhau trong xã hội mà có biện pháp, hình thức tập hợp lực lượng khác nhau. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối, chính sách và liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng đổi mới tổ chức, bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng đội ngũ công chức liêm chính, tôn trọng dân, gắn bó với nhân dân, phục vụ nhân dân..., đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là nơi tập hợp, quy tụ, giáo dục  nhân dân; đại diện cho lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, cho trí tuệ, nguyện vọng của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, lề lối, tác phong công tác để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ  ba, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

 Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].

 Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung..., để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Nước ta là nước có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và có một bộ phận không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhân dân ta đã từng trải qua hơn một phần ba thế kỷ buộc phải cầm súng chống thực dân, đế quốc. Đất nước cũng đã từng tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Tuy đất  nước đã thống nhất được hơn ba mươi năm, nhưng những mặc cảm, những khoảng cách còn lại ở nơi này, nơi khác thậm chí trong một số gia đình, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong một bộ phận đồng bào có đạo và đồng bào ta định cư ở nước ngoài vẫn còn tồn tại với những mức độ khác nhau. Mặt khác, chấp nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chấp nhận thu nhập khác nhau, mức sống, lối sống không như nhau và chấp nhận sự tồn tại những lợi ích khác nhau giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc phải dưạ trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG 2002, tập 4, tr 161

[2] Sđd: Tập 12, tr 512

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét