Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021

 Bài viết của Tổng Bí thư về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh(19/5/1890 – 19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhândân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 (ngày 23/5/2021), GS-TS Nguyễn Phú Trọng, TổngBí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam có Bài viết quan trọngvới nhan đề: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Dưới đây là toàn văn bài viết.

🌼Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học.

Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tuỳ theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác – Lênin trong thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam?

Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ hoạ với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?

Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học – công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước.

Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008 – 2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới.

Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc.

Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế – tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.

Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn.

Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất.

Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm.

Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hoà với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và huỷ hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi.

Như chúng ta đều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản…

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.

Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao.

Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hoá, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.

Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hoá v.v…, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá v.v… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong 35 năm qua. Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam.

Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hoá nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ.

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.

Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.

Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020.

Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hoá cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hoá phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hoá các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.

Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”. Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.

Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới.

Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 25 – 26).

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đảng ta nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội (Văn kiện Đại hội XIII, tập 2, trang 337 – 338).

Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công íchkhác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân vàtoàn quân đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xâydựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.

Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hoá như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia – dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.

Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin – học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống./.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 

Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản

Thủ đoạn “đục nước béo cò” phá hoại cuộc bầu cử

 

Càng gần đến ngày bầu cử, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị càng ra sức chống phá, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta. Không còn cơ hội “tự ứng cử” vào Quốc hội và HĐND các cấp, chúng bèn tung trên mạng xã hội, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, tán phát cái gọi là “thư ngỏ”, “thư kiến nghị”, “góp ý”, “lời tâm huyết”... với mục đích làm "đục nước béo cò”. Những luận điệu này được che đậy dưới những thủ đoạn tinh vi. Nếu ai mất cảnh giác, có thể lầm tưởng, thậm chí bị dẫn dắt và tin theo.

Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động phá hoại bầu cử

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu vẫn đang tiếp tục các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Sự thật lịch sử phải được tôn trọng và bảo vệ

 

Vạch trần và bác bỏ những âm mưu xuyên tạc tính dân chủ, công bằng trong bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp; phủ nhận ý nghĩa lịch sử của Ngày Chiến thắng phát-xít; kiên quyết xử lý những đối tượng sử dụng mạng xã hội để lừa đảo, bôi nhọ cơ quan, tổ chức… là những nội dung chính của Bản tin 35 Online tuần này.

NGƯỜI, THƠ VÀ ĐẤT NƯỚC

Không biết ngày năm tháng

Người gắn với hồn thơ

Từ bao đời đất Việt

Đến thời đại bây giờ


Thơ thì nhiều thể loại

Từ những bài đồng dao...

 Trường ca về đất nước...

 Bình Ngô cáo tự hào...


Truyện Kiều trong câu hát

Ru trẻ lúc à ơi

Trăm năm và trăm cõi

Mua vui hết canh rồi...


Xoay vần thơ cách mạng...

Bác Tố Hữu tuyệt vời

Từ Ấy tim soi sáng

Tạm Biệt vẫn sáng ngời


Về thăm thôn Vĩ Dạ

Hàn Mặc Tử nhớ không

Xuân Diệu dòng thơ mới

Yêu hoá những nụ hồng


Và nhiều nhà thơ nữa...

Đóng góp dựng xây đời

Dựng niềm tin lý tưởng

Xây yêu người với người


Có người cũng được học

Để thành một nhà thơ

Và gần đây biểu hiện

Thành một kẻ trở cờ


“Con chẳng chê cha khó

Chó chẳng chê chủ nghèo”

Khi nước mẹ khốn khổ

Chẳng để con gày nheo


Giờ con theo trường phái

Của những kẻ vong ơn

Khi bạn bè cùng tuổi

Chiến đấu với căm hờn


Và còn nhiều người nữa...

Nhà thơ lẫn nhà văn

Nhà báo lẫn nghệ sỹ

Theo gót kẻ thù hằn...


Người và thơ gắn bó

Cái tôi và cái ta

Xã hội là giám khảo

Giết chết hoặc đẩy xa


Người Việt mình vẫn thế

Luôn yêu nước thương nòi

Và bỏ qua tội lỗi

Cho đứa con lạc đời


Thơ,văn nên góp sức

Xây xã hội thắm tươi

Mang nụ cười trong sáng

Mang hạnh phúc cho đời.


Vài vần thơ nhắn gửi

Những người nghĩ khác người

Suy nghĩ và tìm hiểu

Đừng để đời xét soi.


Yêu nước ST.

Đừng thờ ơ với những sự kiện lớn của đất nước


 

Vừa qua trên mạng xã hội xuất hiện một số bài viết luận bàn về bộ phim “Chuyện thật trưa 30.4.1975” phát trên kênh truyền hình VTC1 mới đây. Theo các bài viết thì hai nội dung chính mà bộ phim đề cập là chuyện về chiếc xe tăng 834 hay chiếc xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập và ai là người thảo lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh. Là thế hệ hậu sinh cũng đã nghe nhiều về việc này và nay lại đọc trên mạng xã hội, tôi thực sự băn khoăn, suy nghĩ nhiều. Nhưng có hai điều tôi muốn nói trong bài viết này là:

Tập trung bảo đảm và tổ chức thành công cuộc bầu cử




Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp.

CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHO CÔNG TÁC BẦU CỬ

Tại buổi phỏng vấn, đồng chí Bùi Văn Cường nhấn mạnh, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (cuộc bầu cử) được tổ chức cùng một ngày trên phạm vi cả nước - Chủ nhật, ngày 23/5/2021; diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta sau hơn 35 năm đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động, ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19. Cuộc bầu cử là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, gắn liền với công tác cán bộ, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông tin về công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử, đồng chí Bùi Văn Cường cho biết, trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW, các cơ quan có thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương đã ban hành văn bản hướng dẫn công tác bầu cử. Nội dung văn bản ban hành quy định về thành phần, số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; về hướng dẫn nghiệp vụ; bảo đảm công tác thông tin, tuyên truyền, an ninh trật tự, y tế cho cuộc bầu cử. Tính đến thời điểm hiện tại, công tác bầu cử đã trải qua 3 vòng hiệp thương và đã xác định được danh sách chính thức những người đủ điều kiện, tiêu chuẩn để tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Sau Hội nghị hiệp thương lần 3, Hội đồng bầu cử quốc gia đã gửi danh sách người ứng cử do Trung ương giới thiệu về các địa phương để Ủy ban bầu cử cấp tỉnh niêm yết danh sách người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử. Để giám sát việc chuẩn bị công tác bầu cử tại các địa phương đảm bảo theo đúng các quy định của pháp luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành kế hoạch về việc kiểm tra, giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội Khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026. Theo đó, các đợt giám sát tập trung từ tháng 3/2021 đến trước ngày diễn ra bầu cử 23/5/2021. Nội dung giám sát chủ yếu tập trung về tiến trình bầu cử bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm. Đến thời điểm hiện nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia đã tổ chức 14 đoàn giám sát tại 40 địa phương. Trong đầu tháng 5/2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ tiến hành giám sát đợt ba với mục tiêu giám sát đủ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hoàn thành trước ngày 20/5. Theo đồng chí Bùi Văn Cường, thời gian tới, cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác bầu cử, đó là: kế hoạch giám sát cuộc bầu cử; xây dựng phương án giải quyết những tình huống có thể phát sinh; phối hợp với các Tiểu ban chuyên môn của Hội đồng bầu cử quốc gia hướng dẫn các địa phương về các vướng mắc cụ thể trong công tác bầu cử; tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng cho các ứng cử viên để xây dựng chương trình hành động khi tiếp xúc cử tri; xác nhận tư cách đại biểu sau khi trúng cử; hoạt động tổng kết công tác bầu cử Quốc hội trình tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV. Tất cả các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị bầu cử đều được Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, thảo luận theo đúng nguyên tắc hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Tính từ khi bắt đầu triển khai công tác bầu cử đến nay, Hội đồng bầu cử quốc gia đã tiến hành 05 phiên họp toàn thể với nhiều nội dung quan trọng.

TIẾP TỤC TẠO SỨC LAN TỎA MẠNH MẼ VỀ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, Ý NGHĨA CỦA CUỘC BẦU CỬ

Phát biểu đề dẫn buổi phỏng vấn, TS. Trần Doãn Tiến, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước ta. Để sự kiện chính trị quan trọng này thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, việc tuyên truyền để các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, từ đó có ý thức, trách nhiệm tham gia bầu cử. Đó cũng là bổn phận, trách nhiệm tuyên truyền của các cơ quan báo chí, trong đó có Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện Hướng dẫn số 169 - HD/BTGTW về tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026, ngay từ đầu tháng 3/2021, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở chuyên trang “Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp”. Từ khi chuyên mục ra đời đến nay, báo đã có hàng nghìn tin, bài tuyên truyền, hỏi - đáp về bầu cử, về các văn bản quan trọng của Đảng, của Chính phủ, của Quốc hội như: Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 14/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ về “Tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 -2026”. Đặc biệt là nhiều tin, bài giới thiệu những điểm mới của cuộc bầu cử lần này, nhất là cập nhật liên tục công tác chuẩn bị bầu cử ở các địa phương trong cả nước dưới dạng đa nền tảng như inphographichs, mega story, video, audio… Cuộc phỏng vấn trực tuyến ngày hôm nay tiếp tục tạo sức lan tỏa mạnh mẽ về mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của cuộc bầu cử đến đông đảo các tầng lớp nhân dân. Thông qua đó, góp phần làm cho nhân dân nhận thức sâu sắc hơn về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ nhiệt tình, nêu cao tinh thần làm chủ, ý thức tự giác tham gia bầu cử để lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân tham gia vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Cuộc phỏng vấn trực tuyến với độc giả của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức vào thời điểm cận kề ngày bầu cử cũng nhằm hướng tới mục tiêu làm cho mọi cử tri cả nước nắm vững được những nội dung chủ yếu của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu HĐND, nhất là các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong bầu cử; các quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, giúp cử tri có cơ sở lựa chọn và bầu được những người có đủ tiêu chuẩn tham gia vào Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp. Đặc biệt, thông qua cuộc phỏng vấn trực tuyến nêu bật được sự hưởng ứng, ủng hộ của các bộ, ngành, địa phương và mọi tầng lớp nhân dân trong việc tích cực chuẩn bị hướng tới ngày bầu cử 23/5; giới thiệu với nhân dân trên thế giới biết được không khí dân chủ trong quá trình bầu cử; góp phần đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, xuyên tạc phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử để kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước...

Nâng cao “sức đề kháng” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

Một trong những giải pháp để nâng cao “sức đề kháng” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng là phát huy vai trò định hướng thông tin chính thống của hệ thống báo chí cách mạng và mạng xã hội của Việt Nam. ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG NGÀY CÀNG KHỐC LIỆT Trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng luôn chú trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi hoàn cảnh và tình huống, điều đó cho thấy rất rõ quyết tâm và bản lĩnh của Đảng. Những thành quả quan trọng và kinh nghiệm của Đảng trong công tác này đã góp phần quan trọng củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường Đảng đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, kiên định đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường xuất bản, tán phát nhiều loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của một số tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt;... Đặc biệt, các đối tượng này đã lập hàng nghìn trang web, blog, các ứng dụng mạng xã hội (facebook, zalo,…); hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Nội dung chính trong các hoạt động tuyên truyền này nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ vừa mang tính thường xuyên, vừa mang tính cấp bách cần quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc, chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Một trong những trọng tâm đấu tranh là trên không gian mạng, tuy diễn ra thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, xuyên tác trên mạng xã hội là quá trình lâu dài, phức tạp. Bởi vậy, mỗi công dân cần có thái độ khách quan, nhìn nhận trách nhiệm này theo hướng chủ động, tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại, ảnh hưởng tiêu cực chứ không thể tiêu diệt nó một cách triệt để. Chỉ khi nhận thức được như vậy, sẽ có được thái độ và hành vi ứng xử phù hợp trong môi trường thông tin số, thích ứng với nó và có giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài. Để nâng cao “sức đề kháng” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên trọng tâm đấu tranh không gian mạng, một trong những liều “vắc-xin” là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống để nâng cao nhận thức, tri thức cho thanh niên. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp mỗi cá nhân đủ sức nhận thức, phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, tốt - xấu, từ đó, tạo nên “sức đề kháng”, dần dần hình thành cơ chế “tự miễn dịch” trước những thông tin xấu độc, những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Đây là chìa khóa căn cơ lâu dài để tăng “sức đề kháng” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. ĐỀ CAO VAI TRÒ ĐỊNH HƯỚNG Làm thế nào để nâng cao “sức đề kháng”, “tự miễn dịch” nhằm đẩy lùi, giảm thiểu tác hại từ các quan điểm sai trái, thông tin xấu? Trong khuôn khổ bài viết này, một số giải pháp bước đầu được nêu ra: Thứ nhất, các cơ quan chức năng cần ban hành hệ thống văn bản có tính pháp quy, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí, các trang mạng xã hội tham gia đấu tranh, phòng chống quan điểm sai trái, thù địch. Hiện nay, hiệu quả cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch còn không ít hạn chế, yếu kém. Chủ yếu mới là lực lượng chuyên trách tham gia đấu tranh. Tình trạng “nói chưa đi đôi với làm”, thờ ơ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên mạng còn diễn ra khá phổ biến. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh này là “thuốc” đặc hiệu, là cơ sở quan trọng để lấy lại niềm tin của cộng đồng mạng. Từ niềm tin đó sẽ tạo “sức đề kháng” cho mỗi công dân mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch. Mặt khác, để đẩy lùi, giảm thiểu tối đa tác động từ các thông tin sai trái, thù địch, rất cần đổi mới, mở rộng các hình thức, phương tiện đấu tranh. Các cơ quan báo chí có lượng người đọc lớn, có tác động, chi phối thông tin trên mạng cần mạnh dạn tạo các diễn đàn mở để trao đổi trực tuyến các ý kiến, quan điểm khác biệt. Từ đó, triển khai tranh luận, giải thích với những người có ý kiến, quan điểm khác biệt, hoặc phản bác những quan điểm thù địch, chống đối chế độ. Đây cũng là diễn đàn để một mặt tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhưng mặt khác, nhân dân có thể tham gia trao đổi - tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với hệ thống báo điện tử. Sớm khắc phục tình trạng sai tôn chỉ mục đích, đưa quá nhiều mảng tối của đời sống chính trị, tạo “mảnh đất” để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị dễ dàng lợi dụng, khai thác thông tin, nói xấu chế độ. Các báo điện tử, trang tin điện tử chú trọng đổi mới, xây dựng giao diện app mobile cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập Internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống. Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp mỗi công dân nhận diện rõ bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ quan trọng của báo chí chính thống, đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời cung cấp những thông tin chính xác, làm cho mỗi công dân mạng có thể nhận thức, nhận diện đúng đâu là thông tin xấu, thông tin độc, hiểu rõ thế nào là quan điểm sai trái, thế nào là quan điểm thù địch. Từ đó, sẽ định hình cho mình những suy nghĩ, hành động đấu tranh thích hợp. Để làm tốt nhiệm vụ cung cấp chính xác, kịp thời thông tin, các cơ quan báo chí phải chủ động phân tích, làm rõ nội hàm, bản chất quan điểm sai trái, quan điểm thù địch ở từng cấp độ thông tin khác nhau. Có những hệ thống thông tin ở mức độ tổng quan, phân tích bài bản âm mưu, thủ đoạn khái quát từ hệ thống các quan điểm sai trái, thù địch. Có những thông tin phân tích trực diện, cụ thể, kịp thời đối với từng loại thông tin sai trái, thù địch. Báo chí chính thống cần trang bị tri thức cho cộng đồng mạng nhận diện rõ mục tiêu của các thế lực phản động là nhằm làm tan rã niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta, kích động nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng chuyển hóa chế độ. Làm rõ phương thức, thủ đoạn mới nhất hiện nay của chúng. Đó là triệt để lợi dụng những “khuyết tật”, yếu kém, tham nhũng, tiêu cực, nhất là các vụ đại án lớn hiện nay để xuyên tạc, nói xấu Đảng, chế độ ta. Thủ đoạn của chúng là viện cớ những yếu kém, tiêu cực đó để “bình luận”, tham chiếu, coi đó là nguyên nhân, hệ lụy của việc níu kéo, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời, lạc hậu vào con đường phát triển của Việt Nam. Cũng từ đó, các tổ chức phản động ở nước ngoài tung hứng, ra yêu sách đòi Đảng từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi đa nguyên, đa đảng. Cần tăng cường ứng dụng các công nghệ hiện đại, đổi mới, sáng tạo cách thức tuyên truyền, học tập, triển khai các nghị quyết của Đảng, của Đoàn. Đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đoàn các cấp. Hằng năm, triển khai hiệu quả học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức diễn đàn đối thoại “Đảng với thanh niên, thanh niên với Đảng”; các hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng cho đoàn viên, thanh niên tham gia, như: thi tìm hiểu về truyền thống vẻ vang của Đảng, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử cách mạng, thăm các địa chỉ đỏ… Thứ ba, phát huy vai trò định hướng thông tin của hệ thống báo chí cách mạng và mạng xã hội của Việt Nam để cộng đồng mạng nâng cao nhận thức, đủ “sức đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch. Hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam cần tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và hệ thống chính trị vào cuộc để thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết 35 NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã chỉ ra. Đó là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền về những tiến bộ, thành tựu toàn diện của đất nước; tăng cường tuyên truyền những thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức và niềm tin cho mỗi công dân mạng về sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh; việc xử lý các tội phạm trong các vụ đại án tham nhũng thể hiện rõ chủ trương chống tham nhũng không có vùng cấm, bất kỳ người đó là ai. Hệ thống mạng xã hội của Việt Nam tuy mới ra đời nhưng đã có sự ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng mạng. Vì vậy, cần có định hướng rõ ràng để các mạng xã hội có thế mạnh vào cuộc, tham gia một cách chủ động trong gợi mở, định hướng, dẫn dắt và chi phối thông tin tích cực trên mạng xã hội. Ngoài mạng xã hội VCNet, Mocha, các cơ quan chức năng cần có cơ chế, quy định rõ các chủ thể của các mạng xã hội như Zing.me, Lotus, Nhaccuatui… có trách nhiệm trong thông tin mặt tích cực của đời sống xã hội. Đây là cách tốt nhất để thực hiện phương châm “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là chính, nhằm nhân cái đẹp, dẹp cái xấu, lấy thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin tiêu cực, xấu độc, sai trái, thù địch. Phát huy tính tích cực, năng động, có trách nhiệm của mỗi đoàn viên thanh niên – những công dân trẻ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ tư, cần sớm có chủ trương, giao các cấp ủy đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ban hành quy tắc tham gia mạng xã hội. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế khen thưởng, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên… khi tham gia mạng xã hội. Quy định rõ nhiệm vụ của đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, thù địch. Ban hành nghị định với các chế tài cụ thể đối với các hành vi đồng phạm, chủ động phát tán, a dua nói xấu Đảng, bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Mặt khác, toàn bộ hệ thống chính trị cần vào cuộc để thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nêu cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, toàn thể cán bộ, đảng viên, công dân tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Đồng thời tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các tầng lớp nhân dân chủ động tiến công, tự giác đấu tranh, phản bác đối với các thông tin xấu độc, sai trái, thù địch phát tán trên mạng. Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể; giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trong cuộc đấu tranh chống các hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống quan điểm sai trái. Chú trọng việc tổ chức để các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp… tham gia đấu tranh trên mạng Internet đối với những quan điểm và hành động sai trái của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch. Phối hợp có hiệu quả giữa các lực lượng, binh chủng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị, đặc biệt là về tư tưởng chính trị trên mạng Internet. Thứ năm, để khuyến khích tinh thần yêu nước, dũng cảm tham gia đấu tranh trên không gian mạng,các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, tạo cơ chế, khuyến khích việc thành lập các tổ chức dưới dạng tự nguyện xung kích. Nếu các tổ chức tình nguyện tham gia đấu tranh trên mạng xã hội xuất hiện càng nhiều, chúng ta càng có lực lượng lớn đủ sức đẩy lùi các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc. Chính vì vậy, cần nghiên cứu, có cơ chế khen thưởng để cổ vũ, động viên, tập hợp đoàn kết các công dân mạng tích cực tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng xã hội. Thứ sáu, phát huy tính tích cực, năng động, có trách nhiệm của mỗi đoàn viên thanh niên – những công dân trẻ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Với giải pháp này, đòi hỏi mỗi tổ chức Đoàn, căn cứ vào đặc thù nhiệm vụ công tác và đối tượng đoàn viên trong đơn vị mình để lựa chọn những hình thức, giải pháp phù hợp. Có thể thông qua các hoạt động hội thảo, tọa đàm, tuyên truyền phát động đoàn viên tham gia viết bài trên báo, các trang điện tử, đăng các bình luận trên các trang mạng xã hội facebook, zalo của tổ chức đoàn,… Trong các hoạt động này, đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm và tinh thần nêu gương của người đứng đầu - những thủ lĩnh đoàn. Nâng cao trách nhiệm cán bộ Đoàn trong nắm bắt, định hướng dư luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TWĐ của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về “Tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ đoàn” nhằm xây dựng hình ảnh người cán bộ đoàn, không suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, xứng đáng là đội hậu bị thực sự tin cậy của Đảng. Đối với mỗi đoàn viên thanh niên cần xác định trách nhiệm, ý thức với Tổ quốc, với Đảng trong mỗi phát ngôn, mỗi hành động trên mạng xã hội của mình nhằm tham gia có hiệu quả, thiết thức vào hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đồng thời, căn cứ vào thế mạnh của mình, mỗi đoàn viên lựa chọn những hành động phù hợp, có thể tham gia viết bài, tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến hoặc đơn giản là những hành động chia sẻ những bài viết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các trang mạng chính thống…

1 Phê phán các quan điểm sai trái về bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Cũng như các kỳ Đại hội và bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm chống phá, như: “Đảng lãnh đạo bầu cử là không dân chủ”, “Bầu cử Quốc hội ở Việt Nam là hình thức”; “Đảng cử - dân bầu”; “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”; “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”; “Cuộc bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe cánh” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia””, v.v... Bài viết xin nêu những luận cứ phê phán các quan điểm sai trái trên. 1. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CUỘC BẦU CỬ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Để cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. 2. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIỚI THIỆU NHỮNG NGƯỜI ĐỂ BẦU LÀM ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP LÀ ĐÚNG THẨM QUYỀN Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội, trong đó có lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”[2]. Các nước tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v... Tại sao lại cho rằng ở Việt Nam lại “Đảng cử - dân bầu”? Trên thế giới đều “đảng cử - dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai. Những người có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản khác, như Nghị quyết số 1186/2021/UBTVQH14 về Quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở xã, ở thôn, tổ dân phố; việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, lập danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong bầu cử bổ sung; Nghị quyết số 1187/NQ/UBTVQH14 về Hướng dẫn việc xác định cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Nghị quyết số 41/NQ-HĐBCQG về việc hướng dẫn mẫu hồ sơ ứng cứ, mẫu phiếu bầu cử, nội dung phòng bỏ phiếu và các mẫu văn bản sử dụng trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đều thể hiện rõ những vấn đề cơ bản nhất: Một là, xác định rõ tiêu chuẩn đối với ứng viên: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục đích dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cậy quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ học vấn, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, v.v... Hai là, thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch. 3. MỌI CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỀU CÓ QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Trên thực tế, kể từ khi tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (06/01/1946) đến nay, mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có quyền bầu cử và ứng cử và thực hiện dân hiện dân chủ thật sự, không có chuyện “hình thức” như một số người lu loa. Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”. 4. BẢO ĐẢM QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP CÓ CƠ CẤU HỢP LÝ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ CỦA NƯỚC TA BẢO ĐẢM Ý CHÍ CỦA NHÂN DÂN VÀ PHÙ HỢP VỚI XU HƯỚNG TIẾN BỘ XÃ HỘI Họ cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng. Thậm chí, có đối tượng còn đói xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản chủ nghĩa. Bản chất Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta khác với các nước tư bản chủ nghĩa. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”. Chính vì thế trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có cơ cấu hợp lý, đại diện cho các giai tầng trong xã hội, có ­người ngoài Đảng, nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được đặt ra từ các cuộc bầu cử trước đây và cố gắng phấn đấu đạt tỷ lệ ấy. Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Sao còn rắp tâm phá hoại?

Cùng với toàn Đảng, toàn dân, đồng bào có đạo trên khắp mọi miền Tổ quốc đang tích cực, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Thế nhưng ở một vài nơi, kẻ xấu và một số vị linh mục chẳng những không đồng hành với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương mà còn rắp tâm phá hoại. KHÔNG PHỦ NHẬN SỰ ĐỒNG HÀNH CỦA CÁC TÔN GIÁO Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là sự kiện quan trọng, là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ sâu rộng trong toàn xã hội, là dịp để nhân dân cả nước phát huy quyền làm chủ, sáng suốt lựa chọn và bầu ra những người đủ tâm, đủ tầm, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Từ nhiều tháng qua, Bộ Chính trị; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác bầu cử theo đúng pháp luật và tiến độ. Cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong cả nước quán triệt sâu kỹ các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của trên và gắn vào thực tế tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở tích cực, khẩn trương triển khai thực hiện các khâu, các bước theo quy trình công tác bầu cử. Cho đến nay, việc triển khai các bước chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 diễn ra theo đúng quy trình, tiến độ và đã cơ bản hoàn thành. Kết quả chung ấy được tạo bởi sự nỗ lực, cố gắng chung tay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó sự đóng góp của đồng bào các tôn giáo là rất quan trọng. Thực hiện phương châm gắn đạo với đời, các tổ chức, chức sắc tôn giáo trên địa bàn cả nước đã tích cực tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, nhắc nhở các tín đồ thực hiện nghiêm pháp luật và các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Lồng ghép trong các hoạt động tôn giáo, đồng bào có đạo được tuyên truyền về quyền bầu cử, ứng cử và ý nghĩa, trách nhiệm công dân với ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Trong công tác hiệp thương giới thiệu nhân sự ở nhiều nơi các tổ chức tôn giáo, chức sắc tôn giáo đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương để lựa chọn, giới thiệu những người có đạo, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ra ứng cử đảm bảo có tỷ lệ phù hợp với quy định. Tại các hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đồng bào có đạo tham gia tích cực và bày tỏ sự tín nhiệm cao với các nhân sự được giới thiệu ứng cử. Hầu hết các ứng cử viên là chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo đều đạt tín nhiệm cao. Cử tri cũng như đồng bào có đạo bày tỏ sự tin tưởng cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ diễn ra thành công tốt đẹp. Các ứng cử viên là chức sắc, đồng bào có đạo nếu trúng cử vào đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp sẽ phát huy tốt vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. LẠI GIỞ TRÒ LỢI DỤNG TÔN GIÁO Nhưng thật đáng buồn, giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực, cố gắng để ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân thì một số linh mục lại cố tình tìm cách tuyên truyền xuyên tạc, kích động giáo dân tẩy chay cuộc bầu cử với luận điệu “không biết, không bầu”; kêu gọi ủng hộ người ngoài Đảng ứng cử tự do, tẩy chay người do Đảng giới thiệu... Tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Cả hệ thống chính trị, ngành y tế, các lực lượng Quân đội, Công an và toàn thể nhân dân đã và đang vào cuộc một cách quyết liệt, đồng bộ với phương châm “chống dịch như chống giặc” nhằm phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Nhưng đi ngược với tinh thần ấy, một số linh mục phớt lờ, bất chấp các chỉ thị, quy định của Thủ tướng Chính phủ, của chính quyền địa phương và khuyến cáo của cơ quan chuyên môn vẫn tổ chức cầu nguyện đông người, không chấp hành nghiêm các quy trình về phòng, chống dịch của Bộ Y tế và Chính phủ... Không chỉ cầu nguyện, giảng đạo, một số linh mục còn lồng ghép tuyên truyền xuyên tạc, kích động, kêu gọi giáo dân không tham gia bầu cử, nếu có đi bầu cử thì gạch tên các ứng cử viên là cán bộ, đảng viên do Đảng giới thiệu, ủng hộ người ngoài Đảng và những người tự ứng cử. Thậm chí có nơi linh mục quản xứ còn lợi dụng thời điểm cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bầu cử và phòng, chống dịch bệnh Covid-19 để kích động giáo dân tụ tập khiếu kiện đông người đưa ra những đòi hỏi vô lý, không chính đáng, trái pháp luật hòng gây khó khăn cho công tác bảo đảm an ninh, quốc phòng và sự an toàn của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. TRÁI PHÁP LÝ, NGƯỢC ĐẠO LÝ Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân. Điều 27 Hiến pháp 2013 nêu rõ: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định". Điều 95, Chương X, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định: "Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử... thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự". Việc xử lý các hành vi vi phạm nói trên, Điều 160, Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định: “1. Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử hoặc quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 02 năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.” Tương tự hành vi phớt lờ các chỉ thị, quy định của Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phương và khuyến cáo của cơ quan chuyên môn, chấp hành không nghiêm quy trình về phòng, chống dịch Covid-19 cũng là vi phạm pháp luật. Điều 8 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm. Theo đó nghiêm cấm các hành vi như sau: “Cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; Người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang mầm bệnh truyền nhiễm làm các công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật; Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; Phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm; Không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này; Không chấp hành các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.” Rõ ràng những hành vi như đã nêu của một số linh mục là vi phạm pháp luật. Không chỉ trái pháp lý, hành vi của một số linh mục còn trái cả đạo lý. Đường hướng phát triển của Giáo hội là “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, theo tinh thần “Kính Chúa yêu nước”. Với tư cách là công dân và trọng trách quản xứ, đáng lẽ ra các linh mục phải thể hiện rõ trách nhiệm của mình, thực sự là người gương mẫu đi đầu trong tuyên truyền, vận động bà con giáo dân tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đằng này họ lại cố tình đi ngược với đường hướng Giáo hội và lời răn của Chúa. Giữa lúc dịch Covid-19 hoành hành khắp thế giới và trong nước, một số linh mục bất chấp các quy định vẫn tổ chức hành lễ, cầu nguyện... thì đó là hành vi coi thường tính mạng, sức khỏe của giáo dân. Điều này không chỉ gây nên những băn khoăn, lo lắng trong nhân dân ở các địa phương mà ngay chính bà con giáo dân cũng không yên tâm bởi trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp thì nguy cơ lây lan từ những buổi tập trung hành lễ, cầu nguyện là rất lớn. Rõ ràng hành vi thờ ơ, vô trách nhiệm với bà con giáo dân của một số linh mục là không thể chấp nhận. Đức ái là cốt lõi của lề luật và đời sống linh mục. Theo đường hướng của Giáo hội, lời răn của Chúa và Đức ái thì những hành vi của một số linh mục như đã nêu là không thể tồn tại. GẮN VIỆC ĐẨY MẠNH TUYÊN TRUYỀN VỚI XỬ LÝ NGHIÊM CÁC SAI PHẠM Thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục tập trung cao độ cho công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 diễn ra chặt chẽ, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thành công tốt đẹp. Song hành với đó toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vào cuộc một cách quyết liệt nhằm phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh Covid-19 vừa phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện “mục tiêu kép”. Trong bối cảnh ấy, một mặt chúng ta phải kiên quyết xử lý nghiêm minh những kẻ xấu, linh mục cố tình vi phạm pháp luật về bầu cử và về phòng, chống dịch bệnh hòng tiếp tay cho các thế lực thù địch. Mặt khác, chúng ta cũng phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền để toàn dân nói chung, bà con giáo dân nói riêng nhất là các chức sắc có tiếng nói trong cộng đồng được hiểu rõ Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng tiếng nói của đồng bào có đạo trên khắp mọi miền Tổ quốc, và là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tham gia bầu cử là thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân đối với đất nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn bỏ phiếu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình để thay mặt mình tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước để tổ chức, quản lý và điều hành mọi hoạt động xã hội. Đồng thời thông qua đẩy mạnh tuyên truyền, kịp thời cung cấp thông tin về tính chất phức tạp, nguy hiểm và yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống dịch Covid-19 từ đó nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm tham gia phòng, chống dịch cho nhân dân nói chung và bà con giáo dân nói riêng. Mặt khác cần giúp cho bà con nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc bầu cử và công tác phòng, chống dịch để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chỉ có nhận thức rõ những điều ấy nhân dân nói chung, bà con giáo dân nói riêng mới nâng cao “sức đề kháng” không hùa theo và chủ động đấu tranh với những luận điệu sai trái, những hành vi kích động, gây rối rắp tâm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.

Hà Nội thêm 3 người dương tính nCoV, có 1 F1 ca ở Center Point

Sáng 16/5, Hà Nội ghi nhận thêm 3 ca dương tính SARS-CoV-2, trong đó có 1 trường hợp là F1 của bệnh nhân sống tại Center Point. Một bệnh nhân Covid-19 nguy kịch được chuyển lên TP.HCM Kỷ lục 165 ca Covid-19 trong nước một ngày, chiều 15/5 thêm 129 bệnh nhân F1 ở Nghệ An tử vong khi chưa kịp lấy mẫu xét nghiệm Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội cho biết, tính đến 8h sáng nay có thêm 3 ca dương tính SARS-CoV-2 ngoài cộng đồng. Trường hợp đầu tiên là V.M.T., 43 tuổi, là nhân viên văn phòng tại địa chỉ tại số 17 ngõ 19/15/2 Liễu Giai, Ba Đình. Bệnh nhân là F1 của bệnh nhân 3634, sống tại chung cư Center Point, 27 Lê Văn Lương, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Anh T. được lấy mẫu xét nghiệm và chuyển cách ly tập trung tại Trường Quân sự Bộ Tư Lệnh Thủ đô, Sơn Tây ngày 12/5. Kết quả xét nghiệm lần 1 âm tính. Đến ngày 15/5, bệnh nhân xuất hiện sốt nhẹ, đau họng, mệt mỏi được lấy mẫu xét nghiệm lần 2 dương tính. Đến nay đã có 7 trường là F1, F2 liên quan đến vợ chồng sống tại chung cư Center Point (bệnh nhân 3663, 3664) dương tính SARS-CoV-2. Trường hợp thứ hai là L.Đ.L., 60 tuổi, địa chỉ 17 Tổ 14, Yên Nghĩa, Hà Đông. Bệnh nhân là F1 của ca bệnh 3433 ở Hoà Bình, liên quan Bệnh viện K Tân Triều, tiếp xúc ngày 7/5. Ngày 10/5, ông L. được lấy mẫu xét nghiệm và chuyển cách ly tập trung tại Trường Cao đẳng nghề công nghệ cao Nam Từ Liêm. Kết quả xét nghiệm lần 1 âm tính, lần 2 ngày 15/5 dương tính. Trường hợp thứ ba là Đ.T.L., 58 tuổi, địa chỉ ở Dân, Việt Trì, Phú Thọ, là bệnh nhân điều trị tại khoa Ngoại Quán sứ, sau đó chuyển khoa Xạ 3, Bệnh viện K Tân Triều từ ngày 26/4. Ngày 11/5, bệnh nhân được chuyển cách ly tập trung tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao, Nam Từ Liêm. Ngày 15/5, có triệu chứng sốt 38 độ C được TTYT Nam Từ Liêm lấy mẫu xét nghiệm và có kết quả dương tính.

Trưa 16/5, Việt Nam công bố thêm 6 ca Covid-19 lây nhiễm trong nước tại Bệnh viện K và Hưng Yên.

Hà Nam ghi nhận ca F2 dương tính dù F1 âm tính 2 lần Liên quan giám đốc Hacinco bị cách chức, 477 người Đà Nẵng phải xét nghiệm nCoV Ổ dịch Bắc Giang lây lan nhanh, Bộ Y tế chi viện khẩn Trưa 16/5, Bộ Y tế cho biết, trong 6 ca mắc mới có 5 ca ghi nhận tại Bệnh viện K, 1 ca ở Hưng Yên. Cụ thể: 5 bệnh nhân ở Bệnh viện K gồm 4113-4115, 4117-4118 là các F1 đã được cách ly trong bệnh viện từ trước. Hưng Yênghi nhận ca bệnh 4116 là nữ, 37 tuổi, địa chỉ tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, là F1 của bệnh nhân 3123 liên quan đến ổ dịch tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương. Trường hợp này đã được cách ly từ trước. Kết quả xét nghiệm ngày 16/5, bệnh nhân dương tính với SARS-CoV-2. Hiện bệnh nhân đang được cách ly, điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh. Bản tin trưa 16/5, Bệnh viện K và Hưng Yên ghi nhận 6 ca mắc Covid-19 mới Như vậy đến trưa 16/5, Việt Nam 4.118 ca mắc Covid-19, trong đó có 2.655 ca ghi nhận trong nước. Riêng từ ngày 27/4 đến nay, 26 tỉnh thành ghi nhận 1.085 ca mắc, nhiều nhất là Bắc Giang 314 ca, Bắc Ninh 217, Hà Nội 218 (riêng trong Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương 89 ca), Đà Nẵng 123, Vĩnh Phúc 83, Hưng Yên 27, Hà Nam 19, Lạng Sơn 16, Thái Bình 15, Điện Biên 10, Hải Dương 7… Từ ngày 29/4 đến nay, cả nước đã lấy gần 483.000 mẫu xét nghiệm, đặc biệt tại Bắc Giang và Hà Nội đang thần tốc lấy mẫu.

khu chung cư bị phong toả

Theo bà Phạm Thị Hoà - Phó Chủ tịch UBND quận Hà Đông, chủ trương của quận là sẽ truy vết khẩn trương, lấy mẫu và xét nghiệm toàn bộ người dân trong những khu chung cư bị phong toả trên địa bàn bởi bất cứ khu vực nào cũng tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm COVID-19 (đặc biệt là trong thang máy, hầm để xe).

Tin nóng: Thông tin mới nhất về ổ dịch COVID-19 Công ty Hosiden, Bắc Giang

Thông tin mới nhất COVID-19 ngày 16.5, hiện Bắc Giang có 3 vùng dịch. Tuy nhiên, vùng dịch ở công ty Hosiden Việt Nam, huyện Việt Yên đang phức tạp nhất. Đây được nhận định là ổ dịch có tốc độ lây lan nhanh, phức tạp do làm việc trong phòng lạnh, khép kín.