Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

Liêm Sỉ và Quốc Sỉ!

Xem khắp trong lịch sử từ cổ tới kim, dù bất cứ ở đâu, dẫu bất kể thời nào, cổ nhân ta cũng coi trọng, biểu dương, nêu cao và giữ gìn Liêm, Sỉ! Vì đặng làm một người chân chính thì dù là ai, cũng không thể xa rời Liêm, Sỉ! Ấy là cái Hồn để chăm cho cho cái Căn bản con người xứng đáng là Con người, cái Cốt để vun cho cái Gốc thể chế vững mạnh. Vì muốn xứng đáng một quốc gia thì cần phải có Quốc Sỉ, Quốc thể. Liêm Sỉ và Quốc Sỉ là những giềng mối căn bản làm nên địa vị, tiếng tăm, sức mạnh một con người; vị thế, sức mạnh và thanh danh Đất nước! Thanh sạch, liêm khiết ấy chính là Liêm vậy. Người liêm khiết thì bất luận gặp hoàn cảnh nào cũng không động lòng tham cầu, cũng chẳng muốn ham hố vật chất. Hơn nữa, chính là tinh thần chí công vô tư, “dĩ công vi thượng” và biết quên mình mà làm chuyện ích lợi chung. Người liêm khiết thì luôn giữ cho nhân cách mình được vẹn toàn, thanh danh mình được thơm tho, không lợi dụng địa vị mình để chiếm công vi tư, để nhũng nhiễu, bóc lột đồng loại. Một công bộc quốc gia liêm chính phải: có đức, tài, biết kính trọng nghề nghiệp, vui vẻ với mọi người, công chính vô tư, biết lễ biết phép, biết hay dở phải trái... Chung quy, một người liêm chính là người tài đức xứng với danh vị của mình, với chức tước, phận vị của mình. Liêm cũng lại là thấy của người, của quốc gia mà lòng không ham chiếm đoạt một cách phi pháp. Tức là biết xét nét đâu là giới hạn giữa công và tư, rồi không dám làm điều xấu, điều trái với quốc pháp và đạo lý luân thường. Nhất là không che đậy điều xấu, nghĩa là đức hạnh vẹn toàn. Nếu không Liêm thì của gì cũng cả gan lấy, không Sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế, thì không chỉ rước họa thân bại danh liệt, và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi lại là kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn làm, thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được! Sỉ là biết xấu hổ, tức là biết hổ thẹn. Gặp chuyện gì không hợp đạo lý, đi ngược lại với lương tâm của mình thì tuyệt đối chẳng làm. Sẽ là mang tiếng xấu hổ vì khi không làm tròn phận sự mình, vì những điều xằng bậy mình đã trót nhúng chàm. Càng là xấu hổ vì mình đã không theo được lý tưởng mình đã vạch ra. Xấu hổ là lúc trong lòng thời gian ác, xấu xa mà bên ngoài mặt thời dùng lời nói hay, bộ tịch khéo léo, lịch sự để che đậy. Xấu hổ là khi bề trong thì oán ghét người, mà bên ngoài lại giả tảng thân thiết với người. Xấu hổ là khi trong nước còn nghèo, Nhân dân thiếu thốn, mà mình dùng những phương tiện bất chính để trở nên “giàu có bất thường”, dư dật kệch cỡm. Xấu hổ là lúc nào cũng bo bo nghĩ đến lợi lộc, áo cơm vị kỷ, còn gia phong, vận nước thì mặc cho gió cuốn nổi trôi. Người xưa nói, xấu hổ khi tài đức không xứng với chức vị, khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách, để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ; khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố... vô hình trung đã vứt bỏ mất tấc lòng hổ thẹn của mình rồi. Vì thế, Liêm Sỉ là tính rất hay của loài người. Cổ nhân nói: Khi đã không còn có Liêm, Sỉ như mọi người, thì làm sao mà còn là giống người được nữa! Nó là cái đại tiết để giúp con người nên Người. Vì, người mà không Liêm thì cái gì cũng mưu đoạt lấy, không Sỉ thì việc gì cũng rắp tâm làm. Nhưng, khi mắc tội lại tỏ ra hèn hát, quỵ lụy, van lơn, tự hạ nhục mình! Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất là những bậc đứng chủ trương việc nhà, chủ trì việc công mà vô Liêm, vô Sỉ thì thân khoác ươn hèn, nhà phải suy bại, nước phải nguy vong! Cùng với Lễ, Nghĩa, thì Liêm, Sỉ hợp thành bốn đầu dây của một quốc gia. Một đầu dây đứt thì nước phải nghiêng. Hai đầu dây đứt thì nước phải nguy. Ba đầu dây đứt thì nước phải đổ. Bốn đầu dây đứt thì nước phải diệt.Nếu nghiêng thì còn làm cho ngay lại được; nếu nguy có thể làm cho yên được; nếu đổ thì có thể nâng lên được; nếu diệt vong thì không thể nào gây dựng lại được nữa. Thế mà từ bấy lâu nay, nhất là mấy năm nay, thử ngó trông mấy người đứng ra “giải trình” mà như là lấp liếm, cả tiếng “minh bạch hóa” nhưng lại tự chuốc tối tăm cho mình về sự phất lên chóng mặt đến mức bất thường của những khối tài sản to sụ của họ (cố bằng mọi cách để cướp đoạt): những “biệt phủ”, những “của nả như núi”, bào chữa cho “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, thậm chí nhen nhóm cả những “sứ quân”... mà thấy sự Liêm thời nay bị họ xúc phạm, chà đạp, bị làm cho tổn thương, thậm chí bị làm cho... bị xỉ nhục đau đớn! Lại đoái nhìn những bản “tự kiểm điểm”, “rút kinh nghiệm” chốn công vụ của những “bộ mặt mo” tới mức quẩn quanh, dối trá mưu toan che đậy những mánh lới, thớ lợ của âm mưu “lẻn” vào chốn quan trường, rắp “cả họ làm quan”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ...” mà không ai không... khinh bỉ. Rồi những thói lươn lẹo, cong queo, xảo trá, khuất tất nơi chính trường, trái với nghĩa chính trị là sự ngay thẳng (“chính giả chính dã”) khiến ai ai cũng... nổi giận! Vì chữ Sỉ bị chà đạp! Tệ hơn, cả thói quan chức “giả trang” thỏa chí “xuất ngoại chui”, rồi thói “táy máy” ti tiện, hành xử xa lạ với thứ văn hóa làm người ở nước ngoài, bất chấp thanh danh người Việt, thậm chí đây đó cả sự ươn hèn, hổ nhục trong bang giao quốc tế làm phương hại thể diện người nước Nam ta... mà dù ai trông thấy cũng phải bất bình, bỉ mặt! Họ có biết Quốc Sỉ bị tổn thương không? Gớm ghiếc thay, lắm người rình rập “cuỗm lấy” cả trăm, nghìn tỷ đồng trong quốc khố, giở trò “đạo vị” bất chấp Liêm, Sỉ ở chốn công đường mà làm ngơ quốc nhục, thậm chí cả mưu mô “ăn cắp, buôn bán niềm tin” của Nhân dân, nhắm mắt cố tình xúc phạm quốc an mà không biết sợ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”..., lại còn lên mặt rao giảng nghĩa khí, càng thấy điều Sỉ ở thời nay bị họ làm cho bại hoại, bất chấp cả đạo lý, luân thường. Họ có thấu đấy là xương máu, lòng tin ký thác của đồng bào gom góp lại không? Và, sự hành Sỉ bị họ bôi nhọ, bẻ cong, chặt cụt, báng bổ cả đạo lý ở đời, chỉ thoáng thấy thôi, nhưng cũng đủ khiến bất cứ ai ai, dù hiền từ nhất, cũng không thể không bị xúc phạm và nổi giận, mà họ vẫn cứ nhởn nhơ không sợ quả báo sao! Tham nhũng không chỉ táng thất Liêm Sỉ cá nhân mà còn làm nhục Quốc thể trong các mối quan hệ bang giao quốc tế. Họ có biết, ấy là sự tự sát không? Liêm, Sỉ là nền tảng của đạo làm người. Chính những người ấy, chứ không phải ai khác, là hiện thân của thói ô nhục làm cho nhân tình đảo ngược, làm cho phong tục suy đồi, khiến cho chính thể tổn thương, niềm tin nơi Nhân dân bị xâm hại. Những ai chỉ biết chăm chăm xu thời nịnh đời, vơ vét, biển thủ tài sản quốc dân,... nếu thử nghĩ lại, thì chẳng đáng cả thẹn lắm sao, chẳng đáng phải tự mình phải lấy đó làm run sợ, kinh hãi lắm sao! Nếu cho Liêm, Sỉ là sự xấu hổ chung cho cả nước, mà họ “nhân danh” mọi thứ hành xử như thế, dù trong bờ cõi hay ngoài cương thổ, thì Quốc sỉ bị tổn thương, Quốc thể bị vấy bẩn, âu cũng không phải là sự nói ngoa. Ở đời, những công bộc giữ Sỉ thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm kia sẽ còn; chứ khi Liêm, Sỉ đã mất, nhất là Sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý ở đời, ai còn mong, còn tin cậy vào chính nghĩa quang minh nơi đâu được nữa? Nhất là những người giữ trọng trách, dù ở cấp nào, mà Liêm bị khinh, Sỉ bị hạ, thì danh dự nước nhà như “trứng để đầu đẳng”, thì Đảng và Nhân Dân biết trông đợi và dựa vào ai chính đại và lỗi lạc được nữa? Lúc ấy, thì vận nước nguy nan như “Gươm treo chỉ mành” kia hoặc họa quốc vong như “Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, vòng Dân tộc bị nô lệ ắt sẽ cận kề, thì còn ai, còn đâu mà nói về Liêm, về Sỉ, mà luận về Quốc sỉ hay Quốc thể được nữa! Vì thế, dù cho thế nào, đã bao thời qua và nay muôn dân đã xác quyết: Ai đó có thể bị nghiêng, ai đó có thể tự diệt, vì không Liêm, Sỉ, chứ quyết không thể để Nước nghiêng, bị diệt hay tự diệt. Thế nên, thiển nghĩ, cùng với Lễ, Nghĩa thì Liêm, Sỉ nhất định phải được gìn giữ vẹn toàn, để mỗi người trở thành Người, để Quốc gia vững bền, Dân tộc cường thịnh! Liêm Sỉ được tôn vinh, Quốc Sỉ, do đó, mà ngày càng cẩn trọng làm cho sạch sẽ tinh tươm (“tuyết Quốc sỉ”), Quốc thể theo đó mà ngày càng vững vàng, tỏa sáng! Càng trông, càng ngẫm những chuyện như thế, nhỏ thì thử hỏi ai mà không lo cho Liêm, Sỉ, đạo lý ở đời bị nhiễu loạn; lớn thì không thể không tự vấn rằng, mọi cấp, mọi ngành, nơi đâu không canh cánh lo âu về trách nhiệm rửa sạch Quốc sỉ nước nhà, địa vị và uy tín cao thấp của Quốc thể giang san xã tắc nước Nam ta trên cõi hoàn cầu!? Đến đây, nhớ câu chuyện kể hơn 88 năm trước, khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được giới thiệu gia nhập Trung ương Đảng lâm thời, đã từ chối và đề cử đồng chí Trần Văn Lan thay mình, mà xiết bao cảm phục trước một nhân cách lớn, có thể là nói tấm gương vô song mang tầm vóc một lãnh tụ. Và nay, trước nghĩa cử “treo ấn từ quan”, “cởi áo”, “trả lại chức vụ” khi việc công được hứa trước Dân mà không thành do lẻ loi, do bị vô vàn “lực cản” hữu hình và vô hình ngáng trở; lại có người xin “về nghỉ sớm” mấy năm, để nhường vị trí lãnh đạo của mình đang nắm giữ cho lớp trẻ... càng bỗng vui rằng cái Liêm, Sỉ về sự “tri túc, tri chỉ” (biết đủ, biết dừng) hẵng còn vằng vặc sáng trong đời này! Nhưng, lo ngại rằng, mấy vị ấy chỉ là “quan nho nhỏ”, lại rất thưa thớt, còn bao “ông cả, bà nhớn” kia lại vốn gây bao nhời ong tiếng ve làm u ám Dân tâm, hoen ố thiên hạ, há đã mấy ai dám làm theo Liêm, Sỉ trên đời, và há mong gì ở họ về Quốc sỉ hay là Quốc thể nữa? Vì thế, hiện thời, chẳng thể lùi bước và quyết không thể không làm: Khi Đạo lý chưa đủ răn, Liêm Sỉ chưa đủ thức, Đạo đức chưa đủ chuyển, Trách nhiệm chưa đủ buộc, Hậu họa chưa đủ sợ, Tự thân chưa quyết sửa, chưa biết tự xử (tối thiểu là từ chức, là “tam ban triều điển” xưa)... thì Pháp lý phải được toàn dụng, Dư luận kiểm soát phải được tôn vinh, với tinh thần Dân chủ, muôn người Bình đẳng, với phương châm “Quốc pháp vô thân”! Không trừ một ai, không ngoại lệ một cấp nào, không bỏ sót một nơi đâu!

"Cầu thủ đa năng"

Trong trào lưu bóng đá hiện đại, bóng đá tổng lực, các huấn luyện viên, tuyển trách viên thường coi trọng xu hướng đào tạo, sử dụng các cầu thủ “đa năng” có thể chơi được ở mọi vị trí. Tuy vậy, họ không bao giờ tuyệt đối hóa điều đó. Tài năng của mỗi cầu thủ ở những vị trí chuyên biệt vẫn là tiêu chí hàng đầu trong lựa chọn cầu thủ cho đội bóng của ban huấn luyện. Đa năng hóa cầu thủ vẫn chỉ là một chiến thuật mà thôi. Nhưng đó là câu chuyện của bóng đá. Trong làm ăn kinh tế, người Việt ta có lời khuyên rất ý nhị: “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết” với hàm ý mỗi người hãy cố học lấy một nghề thật giỏi, thật “tinh” phù hợp với bản thân mình để mà kiếm sống, lập thân, lập nghiệp. Nhưng đó cũng chỉ là chuyện của “cái đời” dân dã. Bởi nếu có thua thiệt, thất bại thì cái hại mới chỉ liên quan đến một hay một nhóm ít người mà thôi. Trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý, vai trò người đứng đầu liên quan không chỉ đến số phận hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu con người mà còn đến sự phát triển hoặc trì trệ của cả xã hội, bởi vậy người đứng đầu ngoài đủ đức thì còn phải có chuyên môn sâu. Không thể “đa năng hóa cán bộ” như kiểu cầu thủ bóng đá đa năng trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ. Anh bạn tôi là một trường hợp thú vị của việc “đa năng hóa cán bộ” đó. Khi còn ở trường đại học, học lực của anh thuộc loại trung bình. Tốt nghiệp đại học, anh không được giữ lại ngạch cán bộ giảng dạy của trường. Song, do ở anh có những ưu thế: đã trải qua quân đội, là đảng viên, tính tình cởi mở, và đặc biệt là lý lịch của anh thuộc diện “thành phần cơ bản”, nên anh được nhận làm giáo vụ của trường. Sau đó, nhờ mối quen biết, anh được nhận về làm công tác nghiên cứu khoa học ở một viện nghiên cứu. Qua hai năm, anh không tỏ ra có năng lực nghiên cứu khoa học, nên lãnh đạo viện buộc phải chuyển anh sang làm trợ lý đào tạo của một đơn vị khác, phụ trách về hồ sơ, giấy tờ, thực chất công việc anh làm như một nhân viên văn thư lưu trữ. Rồi anh trúng vào cấp ủy của chi bộ. Còn trẻ, lại hiền lành, việc chuyên môn cũng ít, nên anh được giao “trọng trách” làm bí thư chi bộ. Rồi lại vì “cơ cấu”, anh trúng cử vào đảng ủy cơ quan. Và thế là, “do yêu cầu nhiệm vụ chính trị phải gắn với thực tiễn công tác”, anh được đề bạt làm phó ban đào tạo. Cũng vẫn phụ trách hồ sơ lưu trữ, nhưng nay đã là phó ban, anh có thêm chút quyền - quyền khen, quyền chê. Hai năm sau, đồng chí trưởng ban đến tuổi nghỉ hưu. Anh trở thành trưởng ban. Rồi một năm sau nữa, do yêu cầu khách quan và để tiện giao dịch, làm việc với các cơ quan bên ngoài được thuận lợi hơn, cái ban bé xíu của anh được nâng cấp thành vụ. Và anh trở thành vụ trưởng. Giờ thì anh nắm trong tay quyền khen, quyền chê, đánh giá năng lực, trình độ, khả năng phát triển của hàng trăm cán bộ khoa học đủ cỡ từ các giáo sư, tiến sĩ đến các nhà khoa học trẻ; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các đề tài nghiên cứu của họ; “ban phát” các chuyến xuất ngoại cho ai đó theo nguyên tắc “có trời mới biết được”. Và anh đang chuẩn bị để bảo vệ “đặc cách” luận án tiến sĩ chuyên ngành. Có lẽ cũng phải thế thôi, vì không lẽ người phụ trách việc đào tạo, phát hiện, nâng đỡ các nhà khoa học, tài năng khoa học của một cơ quan khoa học tầm cỡ mà lại không có một học vị khả kính nào! Chỉ có điều đáng nói ở đây là, chính vì anh không giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, nên vừa bị cấp dưới không phục, thậm chí lợi dụng để làm ăn phi pháp và tiến thân, vừa gây nên phản ứng, sự trì trệ, chồng chéo công việc trong vụ. Mặc mọi người, anh vẫn “yên bề tại ngoại”, vẫn ngồi “vững như bàn thạch” trên cái ghế của anh. Cứ cái đà này, và với kiểu bố trí cán bộ như vậy, thì rồi một ngày nào đó, nếu anh chuyển công tác thì tất nhiên anh cũng sẽ lại làm vụ trưởng hoặc được “thăng” cao hơn. Đã có cấp vụ trưởng rồi, ở đâu mà chẳng làm vụ trưởng được! Trong tình hình hiện nay, khi chúng ta đang nói nhiều, bàn luận nhiều về công tác cán bộ, về năng lực, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ cùng với việc tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn “thà ít mà tốt”, thì vấn đề đặt ra là phải căn cứ vào phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn và tính chất, yêu cầu công việc cụ thể để bố trí, tuyển chọn một cách cẩn trọng, khoa học và khách quan nhất, nhằm phát hiện những người có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để lãnh đạo công việc đó. Nhưng xem ra, từ chỉ thị, nghị quyết, chính sách đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách quá xa. Ngạn ngữ Việt Nam có câu “người cứ như con dao pha”. Đó là lời khen cho những ai có khả năng làm được nhiều loại việc của đời thường. Thế nhưng, trong cái ngạch tổ chức cán bộ nếu chỉ dùng cán bộ như “con dao pha” hay như kiểu “cầu thủ đa năng” trong bóng đá, như trường hợp anh bạn tôi ở trên (mà trong xã hội ta hiện nay không thiếu), thì xem ra không ổn. V. I. Lê-nin đã nói: ở trong quần chúng nhân dân có rất nhiều tài năng, cần phải phát hiện và sử dụng họ vào cuộc kiến thiết xã hội mới. Nhưng vấn đề quan trọng là phát hiện ai và phát hiện như thế nào, với biện pháp nào và sử dụng ra sao, chứ nếu cứ như “sự phát hiện” ra người như anh bạn tôi thì không phải là phát hiện mà là phát… họa. Còn bao nhiêu “vị thủ trưởng” như anh bạn tôi đang yên bề tại ngoại trong các ngành, các địa phương?./.

MẢNH ĐẤT THIÊNG LIÊNG!

 


Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa

Mảnh đất thiêng liêng của nước nhà

Luật biển, năm châu - đều xác nhận

Cội nguồn, lịch sử - thuộc về ta.

Bao đời con cháu lo gìn giữ

Mấy thuở ông cha đã dựng cờ

Đất trời, biển đảo, biên cương đó

Da, thịt, xương ta - máu lệ nhoà.


Rủa nguyền bè lũ quân bành trướng

Luật lệ coi thường gây nhiễu nhương

Lợi dụng chiến tranh rồi chiếm đoạt

Hoàng Sa yêu quí mãi kiên cường.

Toàn dân kiên quyết cùng chung sức

Cả nước đồng lòng với bốn phương

Bền bỉ đấu tranh đòi chính nghĩa

Chủ quyền biển đảo của Quê hương.


(sưu tầm)

“Văn hóa diễn”

Sau Tết Nguyên đán được mấy ngày, Ủy ban nhân dân phường nơi tôi cư trú tổ chức Tết trồng cây. Đến giờ hiệp đồng, khi thành viên câu lạc bộ “tình nguyện xanh” đã tập hợp đông đủ tại thực địa thì cũng là lúc chị Hạnh, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quận ủy đi xe tới nơi. Xuống xe, chị Hạnh nhanh nhẹn khoác chiếc áo lao động bên ngoài, đi đôi găng tay gai đã cũ và không quên lấy xẻng trong cốp xe rồi bắt tay ngay vào việc đào hố trồng cây như những người bình thường khác. Vừa làm chị vừa nói cười vui vẻ, động viên mọi người lao động mà không có khoảng cách. Điều này khác quá xa với những hình ảnh khá phổ biến trên truyền hình khi đưa tin về Tết trồng cây hoặc cán bộ, quan chức các cấp trồng cây lưu niệm khi đến thăm một cơ quan, đơn vị nào đó. Tại những sự kiện ấy, hình ảnh quen thuộc là các quan chức, lãnh đạo sang trọng trong những bộ véc; họ đội mũ bảo hiểm, đeo găng tay trắng muốt và cầm xẻng cán thắt nơ lụa rực rỡ hất tượng trưng tí cát, tí đất vào một gốc cây đã trồng từ trước rồi cầm cái roa nhỏ đã có sẵn nước ở bên cạnh tưới cây. Xung quanh “nhân vật trung tâm” là rất đông quan chức, lãnh đạo cấp dưới và cả phóng viên chứng kiến. Việc này chẳng có gì để nói nếu những hình ảnh như thế không lặp đi lặp lại giống một nghi thức đã quy định trong văn bản Nhà nước, được nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện rất giống nhau. Và dư luận gọi chung đó là “văn hóa diễn”. Chẳng thế mà trong phiên họp đầu xuân về tình hình và kết quả thực hiện Chỉ thị số 16 của Ban Bí thư về tổ chức Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, khi nói về chuyện trồng cây dịp Tết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận xét: "Hôm trước chúng tôi nêu cái ý định là năm nay làm một cái Tết trồng cây bảo vệ rừng vì cái nạn phá rừng nhiều quá mà. Làm sao cho nó thiết thực, cứ cầm cái xẻng nghêu ngao, cầm ra lút cán, trông là người ta biết ông này không phải là trồng cây. Gẩy gẩy mấy tí đất, chân thì đi giày, xong lại đưa cái khăn với chậu nước, nó phản cảm quá”. Hiện nay, “văn hóa diễn” mà thực chất là sự phát triển cao độ của bệnh hình thức đã được Bác Hồ chỉ ra từ những năm 1947 trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” không bị loại trừ mà ngược lại ngày càng ăn sâu bám rễ vào rất nhiều hoạt động của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Thứ văn hóa này như vi-rút độc hại không chỉ có ở các lễ kỷ niệm truyền thống, khánh thành, động thổ, đón phần thưởng... mà nó ăn vào cả trong công tác tổ chức của Đảng, nơi vốn được xem là có kỷ luật nghiêm minh và tính tư tưởng cao nhất. Điển hình là việc nhiều chi bộ không tổ chức sinh hoạt để ra nghị quyết định kỳ, không tiến hành kiểm tra Đảng theo đúng quy định của Điều lệ hiện hành mà “chống đối” bằng cách hợp thức văn bản. Hoặc ngay cả công tác tổ chức thi tuyển nhân sự cũng làm hình thức theo đúng quy trình, nhưng kết quả thì người tài, người giỏi không được chọn mà “trúng tuyển” lại là những “nhân vật” thuộc nhóm 5C (con cháu các cụ cả), trong đó có cả những “nhân vật” học các trường đại học chuyên ngành khác với chuyên môn và học lực thuộc diện “đứng thứ nhất” tính từ dưới lên. “Văn hóa diễn” còn hiện diện cả trong công tác kiểm tra. Khá phổ biến là khi có kế hoạch kiểm tra của cấp trên thì lãnh đạo đầu tư thời gian, nhân lực để củng cố môi trường, cảnh quan, sổ sách, văn bản sao cho đúng với quy định, để kịp báo cáo theo kiểu “nín thở qua sông”. “Văn hóa diễn” cũng được “bệnh thành tích” dung dưỡng để “có đất” phát triển, sống khỏe. Điển hình là việc các địa phương, cơ quan, đơn vị cố “vẽ” thành tích trên giấy sao cho đúng tiêu chí và thật kêu để đạt mục tiêu thi đua rồi liên hệ với cơ quan truyền thông phô diễn kết quả, nhằm để “vua biết mặt, chúa biết tên”. “Văn hóa diễn” về thực chất là chỉ nhằm đánh bóng tên tuổi, lấy lòng cấp trên và để đạt mục đích cá nhân, khoe mẽ, “quảng cáo” thành tích theo kiểu “nhờ bóng quan nhớn”. Hậu quả của “văn hóa diễn” là gì? Việc nhìn rõ nhất là lãng phí về vật chất, tiền của, thời gian và nhân lực. Bởi kết quả mang lại chỉ giải quyết được lợi ích trước mắt là khoe mẽ./.

Đi tìm hình bóng người thầy

“Tôn sư trọng đạo” vốn là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Xưa đã vậy, nay có khác. Sứ mệnh giống nhau, mục tiêu không thay đổi, nhưng góc nhìn và khoảng cách thầy - trò, nhà trường - phụ huynh, nền giáo dục - xã hội đang có những chiều không thuần nhất. Tín hiệu vui cũng có, nhưng những chuyện buồn không hiếm. Bệnh thành tích, thiếu lộ trình trong cải cách thi cử rồi bạo lực học đường đã và đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Liên tiếp những hành vi không đẹp diễn ra trong một thời gian ngắn đủ để người ta đặt ra câu hỏi: Đâu rồi hình bóng người thầy trong một môi trường mô phạm? Sự phát triển của xã hội cùng với sự du nhập của văn hóa ngoại lai đang làm nên một thứ “dân chủ quá trớn” trong trường học. Sự thân thiện thoái quá dễ trở thành thầy trò như thể ngang trang, ngang lứa với nhau từ kiểu cách xưng hô đến áo quần, giày dép. Lấy trò làm trung tâm, vì thế, vô tình học sinh và phụ huynh coi mình là số một. Nhất cử, nhất động của giáo viên được cập nhật lên mạng xã hội. Không học bài bị cô la, phạt (dù dưới hình thức nhắc nhở hay cảnh cáo) cũng là đề tài để có hẳn một cộng đồng mạng phán xét, truy kết. Để yên thân, thầy cô chọn “im lặng là vàng”. Nhưng “vàng” rồi lại biến thành “tro” khi vô hình chung lại là điều không thuận. Không nói đồng nghĩa là không có sự tương tác qua lại, không có sự gắn kết giữa thầy và trò. Đừng nói đến kiến thức mà tình cảm cô trò còn xa hơn khoảng cách giữa bục giảng và lớp học. “Thôi thì mặc kệ, chúng ưa học gì thì học”, không ít thầy cô chặc lưỡi trước sự nhếch nhác, lười biếng của không ít học sinh. Khi người học không chú trọng mục đích học tập, coi đến trường với tinh thần “vui là chính”, còn thách thức cả thầy cô cho chúng ở lại lớp, thì vị trí của người giáo viên là gì khi xung quanh trường giăng giăng những câu khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Sự bất lực hay tâm lý lo sợ đã ngấm ngầm ăn mòn nhuệ khí, nhiệt huyết của những người truyền lửa. Một thực tế không thể phủ nhận khi ở đâu đó, trình độ nhận thức và phẩm chất đạo đức của một bộ phận giáo viên chưa đạt chuẩn. Khi thầy cô đứng lớp, một tay cầm phấn, tay kia lướt điện thoại. Hay cô giáo mặc quần đáy ngắn, tóc nhuộm nâu vàng đủ kiểu, thầy hút thuốc lá phì phèo, lên lớp còn thoang thoảng mùi men. Nhìn qua những hình ảnh ấy, dù tân thời nhưng đã làm méo mó phần nào sự chỉn chu, nghiêm túc về mẫu hình sư phạm trong mắt trò, phụ huynh và xã hội. Đó là chưa kể sự non yếu trong giáo dục học sinh về tri thức và nhân cách. “Nhất quỷ nhì ma”, học trò thời nào cũng vậy, hiếu động và nghịch ngợm. Nhưng nếu để so sánh “trò xưa” với “trò nay” thì sự khác nhau dễ nhận thấy nhất, đó là: xưa ngoan ngoãn, nay nhạy bén. Sự “nhạy” từ việc tiếp nhận tri thức đến cách nhìn nhận cuộc sống. Do vậy, “dạy” gắn liền với “dỗ”, uốn nắn kịp thời. “Nhu” quá không được, nhưng “cương” quá không xong, thế nhưng không phải người cầm phấn nào cũng ý thức được điều đó. Họ tự cho mình quyền được bắt ép, dọa nạt, sỉ nhục với lập luận “thương cho roi cho vọt”. Thế nhưng, sự quá tay, quá miệng… lại trở nên phản tác dụng, phản đạo đức và đi ngược lại mục đích giáo dục con người. Ấy là họa, là mảng màu xám giữa một bức tranh tổng thể còn rất nhiều màu xáo trộn của giáo dục nước nhà. Khi cơ chế thị trường phát triển, giá trị vật chất được đề cao, ngày lễ tết của các thầy cô lại trở thành chủ đề của các phụ huynh hơn là học sinh. “Đi bì thư cho khỏe”! Mặt trái của vấn đề “nhạy cảm, tế nhị” này đã nhuốm vào đầu óc non trẻ của học sinh về mối quan hệ cô - trò, giáo viên - phụ huynh trong sự gọn nhẹ nhưng thờ ơ, vô cảm! Đời sống giáo viên vẫn mãi là bài ca muôn thuở khi chưa đến tháng đã hết lương, nghề tay trái của thầy cô trong thời đại công nghệ 4.0 không gì nhiều bằng bán hàng qua mạng, tiếp thị bảo hiểm… Chuyện bi hài là không hiếm học sinh, phụ huynh lại trở thành bạn hàng, khách hàng, đối tác của cô, thầy. Vì vậy, khó để có khoảng cách chừng mực cần thiết giữa người dạy và người học, cũng như sự toàn tâm của thầy cô. Đi tìm hình bóng thầy giáo già, áo dài quần nải, tay mang sách thánh hiền như những bậc hiền triết của một thời đã xa, giờ chỉ là dĩ vãng. Nhưng nhân cách của các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đồ Chiểu… mãi là những bức tượng đài trong nền tảng đạo đức - tri thức - cách mạng của giáo dục nước nhà. Hôm qua vẻ vang, hôm nay vẫn thế, còn có rất nhiều những chiến sĩ vô danh không tên, không tuổi ngày đêm vượt hàng nghìn ki-lô-mét đưa con chữ đến với những em nhỏ nơi địa đầu Tổ quốc hay hải đảo xa xôi. Đẹp thay là hình ảnh bà giáo già Hồ Hương Nam, ở cái tuổi 83 vẫn miệt mài dạy chữ bên những đứa trẻ bệnh tật, hay thầy Đặng Văn Cương tự tay chăm cậu học trò tí hon Đinh Văn K’Rể khôn lớn từng ngày. Còn nhiều, nhiều nữa những tấm gương nhà giáo chưa được biết tới, chưa được vinh danh, nhưng cái đích của họ chỉ là đơn giản với hai chữ “trồng người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “nghề nhà giáo không chỉ trau dồi về kiến thức phổ thông mà cần trau dồi đạo đức cách mạng”. Cái đẹp và cái chưa đẹp vẫn còn đan xen nhau, nhưng để phân biệt được cái nên học và điều nên tránh là trách nhiệm của những thầy. Tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, không ngừng trau dồi tâm lý sư phạm và phương pháp giáo dục hiệu quả, đó vẫn còn là con đường học hỏi không ngừng. Thế nhưng, để phân định chính xác vị trí của người thầy trong nhà trường và xã hội cần có sự chung tay. Thầy không thể tròn vai nếu người học không hợp tác, quan hệ nhà trường và phụ huynh sẽ rời rạc bất nhất nếu như cha mẹ ỷ thác toàn bộ nhận thức và lối sống lên thầy cô, xã hội thích phán xét hơn là khách quan và bình tâm, dễ dãi đầu vào rồi lại chật vật, sấp ngửa tìm kiếm đầu ra cho ngành sư phạm, lương sao cho giáo viên toàn tâm hơn để họ chân thấp, chân cao với nghề tay trái. Robot có thể làm hộ con người nhiều thứ trong cuộc sống sinh hoạt, nhưng người thầy trên bục giảng thì không có gì có thể thay thế được. Vị trí cao cả nhưng không kém phần vất vả, gian nan khi xã hội trao cho họ trọng trách đối với thế hệ tương lai của đất nước. Tự mình phải xây dựng hình ảnh và tạo nên thương hiệu “người giáo viên nhân dân” là một trọng trách và vinh dự của những ai đã, đang và sẽ trở thành những thầy, cô giáo./.

“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”

Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân. Đến hẹn lại lên, cứ cuối năm là các cơ quan, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả công tác của năm, đề ra phương hướng, kế hoạch cho năm tiếp theo. Bao giờ cũng vậy, phần không thể thiếu và được mọi người háo hức mong chờ là tôn vinh các danh hiệu thi đua. Đi kèm với bằng khen, giấy khen là chút phần thưởng, động viên, khuyến khích vật chất. Thi đua, khen thưởng là nhằm tạo động lực lôi cuốn, khuyến khích mọi người vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có sự kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích vật chất. Danh hiệu thi đua là hình thức ghi nhận, biểu dương, tôn vinh cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào, hơn thế nữa, còn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ… Tuy nhiên, tổng kết cuối năm ở không ít cơ quan, khi danh sách các cá nhân được xướng lên thường nổi lên những tiếng xì xào: “toàn thấy lãnh đạo nhỉ? nhân viên sao ít thế?”. Trên bục vinh danh đa số là lãnh đạo, tìm mãi mới thấy nhân viên… “Đúng là danh hiệu thì từ trên xuống, cuốc xẻng thì từ dưới lên”, “Lãnh đạo toàn xuất sắc thế thì từ năm sau để lãnh đạo làm hết một thể, lĩnh thưởng luôn, cần gì anh em nữa” - lại có những tiếng xì xào. Nghe xong những câu này, nhiều người giật mình, không khỏi e ngại. Đành rằng vai trò lãnh đạo là rất quan trọng, nhưng nếu chỉ có toàn lãnh đạo nhận khen thưởng thì đúng là anh em thực sự ngậm ngùi và chưa “tâm phục, khẩu phục”, bởi lãnh đạo hưởng đãi ngộ cao thì đòi hỏi phải cao, thành tích phải thực sự xứng đáng và thuyết phục. Người lãnh đạo, cùng trách nhiệm với công việc thì cũng đã có những đãi ngộ vượt trội, đòi hỏi phải có đóng góp tương xứng. Còn với người lao động, những lời khen và danh hiệu thi đua là nguồn động viên rất lớn, ghi nhận những nỗ lực mà họ phấn đấu trong suốt một năm trời. Đó cũng là sự nhìn nhận, đánh giá của lãnh đạo và tôn vinh của đồng nghiệp đối với họ. Hiện tượng “thành tích thì lãnh đạo hưởng, khuyết điểm thì tại nhân viên” ngày càng trở nên phổ biến, và có phần không bình thường, bởi trong số những lãnh đạo đó không phải ai cũng xứng đáng. Bởi lẽ, nếu lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngoài thành tích chung thì đơn vị còn phải đoàn kết, không để xảy ra tình trạng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ hay công tác luân chuyển, lựa chọn, cất nhắc cán bộ phải đúng người, đúng việc... Sự vinh danh không thuyết phục chính là một trong những nguyên nhân làm giảm đi tâm huyết, sự cố gắng phấn đấu và năng lực làm việc của cán bộ, nhân viên. Lại có ý kiến cho rằng tất cả đều đúng với “quy trình”, “quy định”, rằng lãnh đạo cũng được anh em bầu bán từ cơ sở, không có ý kiến phản đối?. Thực tế, đâu có đơn giản thế!!! Nhiều lãnh đạo chỉ lo vun vén bản thân, “trang bị” đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện để nhận danh hiệu mà quên đi những nhân viên dưới quyền; khi bầu chọn đã có sự “định hướng”, “gà bài” thậm chí là xin xỏ… để cuối cùng có người giới thiệu để đưa ra bầu với lý do rất thuyết phục “lãnh đạo là bộ mặt” của đơn vị!!! Nếu lãnh đạo không có danh hiệu thi đua thì người ta đánh giá thế nào về đơn vị!? Thôi thì muôn vàn lý do rất chi là xác đáng!!! Cán bộ dưới quyền thì e ngại, thấy sai, thấy chưa thuyết phục cũng không dám đấu tranh vì sợ bị “trù”, chọn dĩ hòa vi quý, ậm ừ cho qua chuyện. Tưởng như mọi chuyện êm đẹp, câu chuyện danh hiệu thi đua cứ thế trôi đi. Tuy nhiên, dần dà, một tâm trạng bất mãn, tư tưởng làm cho xong, tội gì phấn đấu, có cố gắng cũng chỉ đến thế thôi, bắt đầu len lỏi, ăn sâu bám rễ vào một số người. Nhìn qua thì thấy bình an, nội bộ đoàn kết, không có vấn đề gì, nhưng thực chất một “làn sóng ngầm” đã xuất hiện, lan dần và có nguy cơ trồi lên lúc nào không biết. Câu chuyện thi đua tưởng chừng nho nhỏ vậy thôi nhưng nếu cứ tiếp diễn từ năm này sang năm khác thì e rằng sẽ không hề nhỏ chút nào. Đành rằng, ai chẳng thích được khen, được hưởng danh lợi, là lãnh đạo ai cũng muốn được cấp dưới tôn vinh, ngưỡng mộ… Nhưng mọi danh hiệu đều phải xuất phát từ kết quả lao động, từ sự cống hiến xứng đáng, được những người xung quanh đánh giá, nhìn nhận và tôn vinh. Còn nếu chỉ là danh hiệu “hờ” do mình tự “giành lấy” mà không được quần chúng chấp nhận, nể phục, tôn vinh, thì đó chỉ là thứ trang trí phù phiếm mà thôi! Là người lãnh đạo, nếu không tỉnh táo, không kiềm chế được cái tôi bản thân, không biết nhìn ra xung quanh mà chỉ lo vun vén cho cá nhân, thì sớm hay muộn, uy tín cũng sẽ bị giảm sút. Và điều gì đến rồi cũng sẽ phải đến. Người xưa đã có câu “tức nước vỡ bờ”, những bức xúc, tâm tư dồn nén, tích tụ cũng đến lúc bùng phát, gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức, đến công việc chung. Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải biết thấm nhuần lời dạy của Bác, phải chí công vô tư, "khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Đối với công tác thi đua khen thưởng, để có cơ sở chặt chẽ trong công tác bình bầu danh hiệu cuối năm, thiết nghĩ cần có sự tính toán lại quy chế thi đua cho phù hợp hơn. Ví dụ: cần phân định rõ giành bao nhiêu phần trăm cho các vị trí lãnh đạo, bao nhiêu phần trăm cho cán bộ, nhân viên. Có như vậy mới động viên, khuyến khích và phát huy tối đa tinh thần làm việc hăng say, sáng tạo và thi đua của quần chúng. Và những người được tôn vinh cũng cảm thấy tự hào, hãnh diện ngẩng cao đầu trước anh em, đồng nghiệp. Hội đồng Thi đua khen thưởng mỗi cơ quan, đơn vị cũng cần có sự nhìn nhận đánh giá đúng người, đúng việc, bởi trong thực tế có những người âm thầm làm việc, cống hiến, không màng danh lợi, hoặc như đã nói ở trên, để “giữ bộ mặt cơ quan” nên “nhường” cho lãnh đạo, thì cũng nên có sự ghi nhận, động viên xứng đáng, qua đó bảo đảm mục tiêu động viên, khuyến khích của thi đua. Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân./.

Nhập nhằng... trách nhiệm

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi. Theo Từ điển tiếng Việt, “Trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Còn “quyền lực” được hiểu là “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”(1). Mỗi chức danh cán bộ đều có quyền lực, quyền uy nhất định do Nhà nước, tập thể ủy quyền, giao cho. Nhưng nhiều người cứ ảo tưởng đó là quyền của riêng mình, thế nên lúc nào cũng nghĩ mình như “ông vua con”, tự tạo cho mình “lãnh địa riêng, tài sản riêng” theo kiểu “anh hùng nhất khoảnh”, rồi tự do tự tung, tự tác, thậm chí “tác oai, tác quái”, làm biến dạng, méo mó quyền lực công. Làm người lãnh đạo ai chẳng hiểu rõ nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, tập thể ở đây là ban thường vụ và cấp ủy. Trên thực tế, “ông thường vụ” có quyền hành to lắm. “Ông” có quyền chỉ đạo, cho ý kiến và nhiều khi quyết định những vấn đề hệ trọng, như nhân sự, tài chính, dự án đầu tư kinh tế... của cơ quan, địa phương mình. Ấy nhưng đó không phải chuyện để bàn cãi. Dư luận chỉ bức xúc với trường hợp khi những chủ trương, quyết sách đúng đắn, phù hợp, mang lại hiệu quả thì “ông” nhận; còn khi những quyết sách đó có bất cập, sai sót, kém hiệu quả thì lỗi thường bị “quy”... là do tập thể lãnh đạo, chứ đâu phải lỗi của cá nhân ông?!. Cái thứ quy “trách nhiệm chung chung”, đổ lỗi cho “cả làng” như thế cũng chỉ tại thái độ đùn đẩy trách nhiệm của người lãnh đạo! Tương tự, quy trình bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng nhân sự do ban thường vụ, cấp ủy cho ý kiến thông qua, nhưng ký quyết định bổ nhiệm lại là cá nhân người đứng đầu. Nếu cán bộ được bổ nhiệm bảo đảm đủ điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, kinh nghiệm, tuổi tác và được dư luận “khẩu phục, tâm phục” thì công là của “ông”. Còn nếu cán bộ chưa đủ độ chín; tuổi tác, kinh nghiệm và năng lực chưa tương xứng với vị trí được giao, lại bị dư luận phê phán và sau đó bị cơ quan chức năng cấp trên bãi bỏ quyết định bổ nhiệm trước đó, thì người đứng đầu lại “lý sự” rằng: quyết định nhân sự đúng sai đều do thường vụ thông qua, chứ bản thân “ông” cũng chỉ góp một lá phiếu mà thôi?! Cái sự “đổ vấy” trách nhiệm cho tập thể thực chất là biểu hiện thoái thác trách nhiệm cá nhân của người “đứng mũi chịu sào”! Theo nguyên tắc lãnh đạo, những vấn đề quan trọng, chính yếu bao giờ cũng phải được thường vụ, cấp ủy thông qua. Nhưng một khi người đứng đầu có tư tưởng, tác phong gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ thì nhiều khi thường vụ, cấp ủy chỉ là “tấm bình phong” để che đậy “ý chí hóa” cá nhân thủ trưởng. Có người đứng đầu miệng hay “thao thao bất tuyệt” là phải tôn trọng và phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng trong lòng khi thì khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo nương theo ý kiến cá nhân; lúc lại lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy. Cái sự bám dựa, vin vào “trách nhiệm tập thể” này cũng là một dạng trốn tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có chuyện tiêu cực xảy ra! Tình trạng đưa “con ông cháu cha” vào bộ máy công quyền; đua nhau “chạy” những dự án kinh tế “béo bở” để rồi gây thất thoát nhiều tỷ đồng của Nhà nước; vấn nạn “chạy chức, chạy quyền” và mối quan hệ “đi đêm” quan chức - doanh nghiệp thiếu lành mạnh... nổi cộm thời gian gần đây bị dư luận lên án, là sự tích hợp từ nhiều lý do, nhưng có một lý do không thể xem thường là ở nhiều nơi, nhiều chỗ trách nhiệm giám sát, kiểm soát quyền lực của tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu đã bị lơ là, buông lỏng. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi. Gương tày liếp còn đang sờ sờ trước mắt của nhiều cán bộ lãnh đạo, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, quyền lực “nổi đình nổi đám” một thời nay đã bị “đứt gánh giữa đường” và sa vào vòng lao lý, hẳn ít nhiều sẽ thức tỉnh những ai đang tự nhập nhằng, bào mòn, mọt ruỗng trách nhiệm chân chính của người cộng sản!./.

Người “xớ rớ” trong tổ chức

Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đề ra yêu cầu phải “cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”, “tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”. Trong tinh giản biên chế, cần đặc biệt chú ý đến nhóm những cán bộ “xớ rớ”. Hiện nay, nhìn chung, phần lớn cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đã có bước trưởng thành, đủ sức đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo, điều hành sự nghiệp đổi mới, chấn hưng đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có một thực tế không thể phủ nhận là trong hệ thống chính trị vẫn còn tồn tại một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đang trong trạng thái người thừa, người “xớ rớ”, chưa toàn tâm, toàn ý thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. “Xớ rớ” là một từ rặt Nam Bộ ý chỉ một người nào đó thường chỉ làm việc chiếu lệ, không tích cực trong công việc, đợi người khác yêu cầu mới làm và hiệu quả công việc thường rất thấp. Bản chất của những người xơ rớ thường là bị động, đầu óc rỗng tuếch, lười nhác, ít nghĩ ra việc gì để làm. Biểu hiện của những cán bộ, công chức, viên chức “xớ rớ” có thể khái quát ở những nét cơ bản sau: Họ là người luôn lăng xăng nhưng không làm việc gì ra hồn; tự họ không tìm ra được việc để làm, chỉ chờ đợi lãnh đạo, cấp trên giao việc. Khi nhận việc thì những cán bộ, công chức, viên chức dạng này chỉ cốt làm cho xong chứ không chú ý đến chất lượng, hiệu quả công việc. Đáng lo ngại hơn, họ thường thích nói hơn làm; hay khoe khoang, phô trương trình độ, bằng cấp, kiến thức, hiểu biết nhưng ít khi làm tốt những yêu cầu chuyên môn cụ thể. Họ thường hay “đạo văn”, “đạo lời” của người khác để tự tô điểm cho vẻ học thức bên ngoài của mình; thiếu bản lĩnh chính trị, ngại va chạm, thường có biểu hiện a dua, ba phải, thích nịnh hót, “chỉ tay năm ngón”, kéo bè, kéo cánh, xây dựng nhóm lợi ích,… để mưu lợi cá nhân. Tác hại của những cán bộ, công chức, viên chức “xớ rớ” không hề nhỏ. Họ trở thành chướng ngại vật, gây trở ngại cho sự phát triển của tập thể, tổ chức, đơn vị, địa phương, đất nước. Chất lượng, hiệu quả công việc không được bao nhiêu nhưng họ lại chiếm dụng, gây lãng phí thiết bị, tài sản phục vụ cho công việc trong cơ quan, đơn vị. Vì “xớ rớ” trong công việc, không có chính kiến rõ ràng, có xu hướng ba phải, xu nịnh nên họ dễ gây nên tình trạng chia bè, kéo cánh, mất đoàn kết nội bộ. Đặc biệt, nếu họ là người có “thân, thế” thì dễ dàng lũng đoạn tổ chức, làm tha hóa những thành viên khác cơ quan, đơn vị. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cán bộ, công chức, viên chức “xớ rớ” có nhiều, cả khách quan lẫn chủ quan. Trong đó, đáng lưu ý là một số nguyên nhân cơ bản sau: Do tâm lý chạy theo bằng cấp, không chú trọng chất lượng, hiệu quả công tác; do việc thực hiện nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” chưa nghiêm; do môi trường làm việc chưa khoa học, thiếu chặt chẽ, để tồn tại chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, có tình trạng bao che, bợ đỡ, dung túng trong công tác cán bộ; do sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và mỗi đảng viên chưa cao, công tác tự phê bình và phê bình chưa đến nơi đến chốn, có tình trạng thờ ơ, nể nang, “mặc kệ” trước những người “xớ rớ”; do bản thân cán bộ, công chức, viên chức lười học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, chưa thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng,... Những cán bộ, công chức, viên chức một khi để mình trở thành người “xớ rớ” trong tổ chức cũng có thể xem họ đã suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong bản thân mình. Nếu không khắc phục, sửa đổi, sớm muộn gì thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tổ chức cũng sẽ diễn ra. Do vậy, để ngăn chặn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức trở thành người “xớ rớ”, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thiển nghĩ chúng ta cần chú trọng thực hiện các giải pháp sau: Một là, tổ chức phải thực hiện nghiêm nguyên tắc đánh giá năng lực công tác của cán bộ, công chức, viên chức thông qua hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự cống hiến cụ thể của từng cá nhân, tránh đánh giá theo kiểu bổ đồng, cào bằng, thiên vị. Hai là, tổ chức và mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tạo lập được môi trường làm việc khoa học, tập trung, dân chủ, đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau giữa cán bộ, công chức, viên chức; tránh kéo bè kết cánh, lợi ích nhóm. Ba là, tổ chức và những người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải giữ vững nguyên tắc toàn diện, khách quan, phát triển trong quy hoạch, đánh giá, tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, bố trí cán bộ, công chức, viên chức; tránh tư tưởng vị nể, thân quen hay vì những lợi ích riêng tư khác mà dung túng, đề bạt, bố trí những cán bộ, công chức, viên chức “xớ rớ” lên vị trí cao hơn. Bốn là, mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình; cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm minh trong kiểm tra, giám sát để kịp thời động viên, khen thưởng cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như xử lý kịp thời những cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời tạo cơ chế khuyến khích sử dụng, đãi ngộ những cán bộ, công chức, viên chức đủ đức, đủ tài. Năm là, cán bộ, công chức, viên chức phải thường xuyên học tập, trau dồi trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; chấp hành tốt quy định của tổ chức; tích cực rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, thể hiện phẩm chất tiên phong, gương mẫu trong đời sống và công tác. Sáu là, cán bộ, công chức, viên chức phải tâm huyết, lăn xả, nhiệt thành nhận trách nhiệm, nhiệm vụ và phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ; phải tự tin, chủ động tìm việc mà làm, tìm đúng mà theo, thấy sai mà tránh. Bảy là, cán bộ, công chức, viên chức phải bản lĩnh, kiên quyết và khôn khéo trong đấu tranh ngăn chặn, phòng, tránh và chống những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhân dân ta luôn mong muốn và cần có ngày càng nhiều cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn thuần thục, có phẩm chất đạo đức gương mẫu, có tinh thần tiên phong xây dựng và phát triển đất nước, có tác phong làm việc khoa học, tiến bộ, hiệu quả. Khi đáp ứng những yêu cầu thiết yếu đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức sẽ trở thành “tế bào” khỏe mạnh trong hệ thống chính trị, đóng góp xứng đáng cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Và như thế, trong hệ thống chính trị của chúng ta sẽ giảm đi những cán bộ, công chức, viên chức “xớ rớ”./.

Làm giàu - thêm một lời bàn

Người chiến sĩ tôi gặp vào những năm chiến tranh giờ là bí thư chi bộ ở một khu dân cư trong thành phố. Chuyện để nói với nhau mở đầu thường là những hồi ức tình đồng đội ở chiến trường. Loanh quanh chuyện dẫn sang đề tài của ngày hôm nay, theo dòng thời sự, sự kiện mới làm chìm lấp sự kiện có khi chỉ xảy ra cách mấy ngày. Nhưng có những sự kiện, những câu chuyện “sống” dai dẳng như câu chuyện về cách làm giàu. Người ta làm gì mà giàu thế? Xe hơi, nhà lầu chuyện như xưa cũ, lạc hậu quá rồi. Có người buông câu nói vài trăm triệu, vài chục tỷ đồng không hề tỏ ngạc nhiên hay xuýt xoa như trước nữa. Đã nói là phải nói vài nghìn tỷ mới đáng luận, đáng bàn. Chao ôi, thời của nền công nghệ tiến bộ, hiện đại sản sinh ra biết bao nhiêu những nhân vật nổi tiếng về cách làm giàu, nhưng lại có những con người, con đường tiến đến giàu sang cứ như gà mắc tóc không sao vượt thoát. Đặt câu hỏi và tự trả lời câu hỏi cho nhau, song không phải câu hỏi nào cũng trả lời được. Có câu hỏi phải qua kiểm chứng, qua thực tế mới dần sáng rõ, ông tổng giám đốc cai quản cơ ngơi hàng ngàn cán bộ công chức lại nhận toàn những dự án lớn, “ăn” những khoản tỷ lệ, phần trăm theo hợp đồng dài hạn, nhận tiền tỷ là “lẽ đương nhiên”, bà chủ tịch hội đồng quản trị có trong tay dự án bất động sản khắp trong Nam ngoài Bắc, lại có tài “phù phép” biến đất cằn thành vàng mười, hỏi không giàu có, thì ai giàu có đây. Nghìn lẻ câu chuyện về cách làm giàu, nói ra e có người bĩu môi: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”! Nhưng không thể không nói! Vì cách làm giàu nó mang nhiều “dáng vẻ” lắm. Có cách làm giàu bằng thủ đoạn lập lờ, ma trơi, tranh tối, tranh sáng, lợi dụng sự sơ hở của luật định để “lách”. Cách làm giàu nhờ quyền lực “hô mưa, gọi gió” mọi việc, mọi người phải dạ vâng phục vụ theo mệnh lệnh để mang lại hiệu quả cho một nhóm người giàu sang. Nhưng cũng không ít cách làm giàu bằng trí tuệ, sáng tạo, năng động, biết cách dịch chuyển, tuy nhiên nước mắt, mồ hôi đổ ra không ít. Những nhân vật này cũng gọi là giàu nhưng là cách làm giàu được cộng đồng xã hội khâm phục, tôn vinh. Tôn vinh còn bởi họ có tấm lòng biết sẻ chia đồng loại, những hoàn cảnh khó khăn do bão lũ, thiên tai, bệnh tật... Luận rồi bình cách làm giàu thời hiện đại, người đồng đội gặp thuở xa xưa nơi chiến trường ác liệt, có lúc như muốn chùng xuống: Hãy bằng lòng vậy, điều quan trọng là phải giữ được niềm tin yêu được “nuôi dưỡng” từ thời trai trẻ: “một lòng, một dạ con đường, sự nghiệp đã chọn”! Ông thấy đấy - Người bạn tôi lại tiếp: kẻ giàu sang nhờ vô vàn chiêu quái lừa đảo, đã bị lật tẩy, kẻ hầu tòa, kẻ lẩn trốn chui lủi, thân bại danh liệt. Vinh quang tột đỉnh đi liền tới đáy đắng cay, rơi vào cảnh: “Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường” (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Đến đây hai người chúng tôi cùng chung cái gật đầu rằng: Dù cho ai có ngả nghiêng, hãy bằng lòng với cuộc sống mình cho là đủ, sống trong tình cảm cộng đồng bền vững là “lành” hơn cả. Tham vọng làm giàu không chính đáng, bài học đắt giá để đời, thấm thía, đã cho người đời lời cảnh báo hữu ích./.

Lời hứa nghị trường

Hơn 15 giờ, dứt cơn mưa rào không lâu, ông Thường, tổ trưởng tổ dân phố số 7 cầm cây thước bằng gỗ, cái giẻ lau và vài viên phấn màu được gói cẩn thận trong túi ni lông đi ra bảng tin. Ông hỳ hục kẻ, rồi cẩn trọng viết nắn nót từng chữ lên chiếc bảng đen dòng thông báo ngay ngắn “kính mời các hộ gia đình đi họp tiếp xúc cử tri tại nhà văn hóa vào tối thứ hai...” Bỗng tiếng còi xe bim, bim, bim... vội vã, kéo tràng dài chưa dứt thì chiếc xe máy đã vòng vào ngõ với tốc độ khá cao lao tới, khiến nước đọng trên mặt đường, phía sau ông Thường bắn tung tóe, tạo thành vệt lem nhem bám trên bảng tin. Ông lắc đầu, miệng lụng bụng nói với theo tiếng xe máy: “Đồ vô ý thức”. Phải mất tới hơn 30 phút sau, ông Thường mới viết lại xong những dòng chữ thông báo trên bảng tin. Dĩ nhiên là nó không thể đẹp bằng “tác phẩm” ông thực hiện ban đầu. Ông đang ngắm nghía tác phẩm của mình thì chiếc xe máy lúc nãy đi ra. Anh Hùng xuống xe, vừa cười ngượng vừa lý nhí nói lời xin lỗi. Anh bảo, do vội đi nhanh nên không để ý, đã làm nước bẩn bắn tung tóe, hỏng cả “tác phẩm” của ông Thường. Ông Thường cười cho qua và bảo anh Hùng chở ông về hàng bia hơi ở đầu phố. Đến nơi, ông Thường tuyên bố phạt anh Hùng một cốc bia cho nhớ vì cái tội không chấp hành luật giao thông, ảnh hưởng đến người khác khi thi hành công vụ. Ông Thường thông báo, nếu tiếp xúc cử tri lần này anh Hùng không có mặt sẽ không đưa vào bình xét danh hiệu “gia đình văn hóa” năm 2018. Nghe thế, anh Hùng xổ một tràng dài, đến là khó nghe. - Nhà cháu bận lắm chẳng đi được bác ạ. Với lại, nhà cháu có gì đề đạt cơ chứ. Đấy bác xem, trong họp Quốc hội, các “ông nghị, bà nghị” đầu toàn kiến thức cao siêu, hoạt ngôn, đặt vấn đề khúc triết, gai góc, đưa ý kiến của cử tri chất vấn các bộ, ngành và chính phủ gai cả người còn chẳng giải quyết được gì nữa là chúng cháu. - Anh nói lạ thật, họp Quốc hội để quyết những vấn đề lớn, lâu dài của quốc gia, dân tộc. Làm cái gì thì cũng phải có thời gian, có lộ trình thì mới mang lại kết quả chứ. Cứ như nhà anh, nước múc, gạo xúc, quanh năm chỉ biết kiếm cơm qua cái cửa hàng đầu phố thì làm sao nắm được chủ trương, chính sách để mà thực hiện. - Ối giờ, bác nói hay cứ như đài ấy. Chúng cháu là dân, kiếm miếng cơm, miếng cháo nuôi con học hành tử tế, không vi phạm pháp luật và nếu có tý tiền dự phòng khi ốm đau, rủi do là mãn nguyện rồi. Mà bác không thấy dư luận đồn thổi đấy à? Quốc hội họp, đấu tranh quyết liệt đến mấy thì kết quả dân ta vẫn chậm phát triển, thu nhập vẫn thấp. Thế nên từ “lời hứa nghị trường” đến thực tế còn đợi lâu lắm. - Anh “nổ như tên lửa” chung chung thế, không có bằng chứng xác đáng thì làm sao có thể thuyết phục được ông già này? - Bác cần chứng cứ gì, cháu có ngay. Này nhé, ở bình diện lớn thì xem truyền hình bác thấy, gần một tháng qua, tai nạn đường sắt xảy ra liên miên. Sáu năm trước, Quốc hội đã bàn và quyết định xây dựng dự án đường sắt Bắc - Nam, nhưng bộ chủ quản có triển khai đâu, Chính phủ cũng có đốc thúc đâu? Các kỳ đại hội, đại biểu đều chất vấn cả đấy nhưng vẫn chỉ là “hứa treo” rồi “dậm chân tại chỗ” thôi bác ạ. Theo cháu nghĩ, ở ta quen làm đường bộ rồi, làm đường bộ lợi nhiều hơn nên không có doanh nghiệp nào lao vào làm đường sắt cả. Trong khi đó, cả thế giới đều công nhận, đường sắt thì lợi hơn đường bộ cả về sản lượng vận chuyển, tính an toàn, tốc độ và giá thành. Vậy, nguyên nhân sâu xa là ở đâu? - Đó là việc lớn, miễn bàn. Anh là cử tri, anh có quyền được tiếp xúc với đại biểu hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội khi mặt trận tổ chức. Tại cuộc tiếp xúc ấy, anh được đề đạt ý kiến của mình về các vấn đề mà anh thấy còn bất cập hoặc cần phải cải tiến theo hướng mới, nhằm đem lại hiệu quả, lợi ích cho người dân, địa phương, đất nước. Nếu ai cũng nghĩ như anh mà không đi tiếp xúc cử tri, không nghe chủ trương thì tức là sẽ thủ tiêu dân chủ, thủ tiêu đấu tranh, thủ tiêu cả trí tuệ của nhân dân à? - Ấy, sao bác nặng lời với nhà cháu thế. Cháu cũng muốn nắm chủ trương, chính sách lắm chứ, nhưng nó có tác dụng gì nhiều đâu cơ chứ. Mấy lần trước, cháu nghe nói dân mình chẳng ý kiến mạnh mẽ về con kênh ô nhiễm cạnh trục đường của phường ta là gì. Đấy, 4 năm nay, ô nhiễm của nó ngày càng nặng hơn. Có “ông nghị, bà nghị” nào để ý đến việc cỏn con ấy đâu cơ chứ. Hằng ngày, người dân chịu cả. Chúng cháu phân tích rồi, thực tế là, muốn làm cái gì theo chính sách của Nhà nước bây giờ cũng phải có tiền, có vai, có vế, có mối quan hệ... Không có những thứ ấy, đố bác làm được. Cháu thêm một ví dụ nữa nhé. Đấy, như cậu em cháu ở quê thôi, chỉ thuê đất dôi dư sau dồn điền đổi thửa để làm dự án phát triển nông nghiệp sạch mà cũng mướt mồ hôi hột, đánh vật với đủ loại giấy tờ, phương án và nhiều vấn đề không có tên khác rất nhiêu khê. Bác thấy đấy, cơ hội làm giàu có nhiều đâu. Mất thời gian là mất cơ hội. Thế nên, dân ta mãi nghèo là phải bác ạ. - Thôi, tôi chẳng nói chuyện với nhà anh nữa. Anh không đi, tôi có biện pháp để phạt. Phạt cho bằng đi thì thôi. Nếu cần, tôi cho anh ra khỏi họ ấy chứ? - Ấy, bác đã nói thế thì cháu sẽ thu xếp thời gian để đến họp tiếp xúc cử tri cho đàng hoàng. Bác vui lòng chưa ạ? - Được, tôi tạm tin lời anh. Anh nhìn tôi mà xem, gần 70 tuổi mà vẫn vác việc phố với ít tiền phụ cấp chưa đủ ăn sáng trong cả tháng. Đấy, vết bẩn trên người tôi do anh “cho” vẫn còn đây mà có dám kêu đâu. Nói thật với anh, phố mình cũng còn nhiều người lười giống anh lắm. Họ viện dẫn đủ lý do để không tham gia sinh hoạt chung nên sau đó chẳng nắm được gì. Nói gì cũng là ú ớ vịt bầu. Chỉ đến khi liên quan đến quyền lợi cá nhân thì mới ba chân bốn cẳng tìm hết chỗ này với chỗ khác để được nhờ vả, giúp đỡ. Anh Hùng cúi đầu lý nhí: Thực ra thì chúng cháu không tham gia sinh hoạt chung ở địa phương cũng có lỗi, trong đó lỗi lớn nhất là chưa có ý thức xây dựng cộng đồng. Tối nay, về nhà cháu sẽ truyền đến tai vợ cháu mệnh lệnh của bác tổ trưởng tổ dân phố, để cô ấy sắp lịch cho cháu tham gia. Anh Hùng nổ xe máy và vù khỏi quán bia đầu phố bỏ lại cụm khói mong manh phía sau và tan dần vào không khí. Còn lại một mình, ông Thương trầm ngâm nâng cốc bia nghĩ ngợi về lời của Hùng đã nói. Đúng là trong thời gian qua, mặc dù là các cấp chính quyền đã hết sức cố gắng để nâng cao dân trí, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng những bất cập trong cách tổ chức quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội chưa tiến được bao nhiêu. Điều này đã gây ra không ít vướng mắc cho những người “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng” như ông. Giá kể những “lời hứa nghị trường” ở các cấp đều được quan tâm, triển khai đầy đủ và đồng bộ thì chắc hẳn dân ta sẽ đồng thuận cao hơn, kinh tế phát triển nhanh hơn và xã hội ta cũng sẽ dân chủ, văn minh hơn. Ông uống cạn cốc bia và tính tiền ra về. Dòng phương tiện giao thông sau giờ tan tầm trên con phố dẫn đến ngã tư, cách quán bia ông ngồi không xa vẫn tiếp tục di chuyển với tốc độ nhỏ hơn rùa bò. Ông mỉm cười và vẩn vơ hy vọng: Rồi đây, khi “lời hứa nghị trường” được thực hiện triệt để, ít nhất cảnh ùn tắc giao thông ở con phố này sẽ không còn nữa./.

“Trì quốc” và lòng dân, vận nước

Trì quốc là giữ nước, là việc không chỉ của một số ít người nắm quyền bính, mà còn là của chính trăm họ, của muôn dân. Thời nào đất nước phú cường, vua sáng, cơ nghiệp vững như bàn thạch thì đều do triều đình biết tựa vào lòng dân mà giữ nước. Lòng dân yên thì vận nước mới lên. Ngược lại, khi lòng dân oán thán, thì mạt lộ không xa. Cứ đem lòng dân mà đo vận nước thì luôn chính xác. Nếu số ít những người cầm quyền chỉ lo giành giật điều có lợi cho riêng mình, mà gây thiệt hại cho quảng đại dân chúng, thì đấy sẽ là đầu mối của sự loạn lạc. Trì quốc là lòng dân tự phục, quy về một mối, trọng dân, dân là chủ thể. Trì quốc là để nước thịnh, lấy chính sức dân, trí dân mà làm giàu cho dân, cho nước. Khi binh biến, để chống giặc ngoại xâm, sức mạnh vô địch của muôn dân luôn được phát huy. Thời bình, lại càng phải dựa vào sức mạnh của trăm họ để bồi đắp nguyên khí, nội lực quốc gia; dựa vào tai mắt của dân để chống “giặc nội xâm” tham ô, biển thủ công quỹ, tham nhũng... Những giai đoạn thịnh trị đều có những hình luật hết sức nghiêm khắc xử lý hành vi tham ô, tham nhũng, biển thủ công quỹ, bởi những hành vi đó đều bị coi là trọng tội. Phàm kẻ mắc các trọng tội này, án tử treo trước mặt! Người xưa cũng áp dụng tiền dưỡng liêm để người làm quan không tơ hào của công, không làm việc khuất tất, tự gột rửa lòng mình, giữ thân liêm khiết, gắng gỏi việc công, yêu thương và giúp dân yên nghiệp... Công cuộc phòng, chống tham nhũng đang được Đảng ta đẩy mạnh hiện nay cũng là một nhiệm vụ trì quốc, đang được toàn dân đồng tình và tích cực tham gia. Lòng dân tiếp tục quy tụ bên Đảng, đó là chỉ báo về thế nước đang lên! Trì quốc thì trước hết phải giữ nghiêm kỷ cương trong Đảng. Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật thép”, cán bộ, đảng viên bất kể ở cương vị nào, nếu phạm tội, nhất là tội tham ô, tham nhũng đều phải bị xử lý theo pháp luật. Giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng thì mới giữ vững kỷ cương trong xã hội. Kỷ luật đảng vừa thể hiện tính nghiêm minh, tinh thần tự giác cao độ, vừa mang tính dân chủ, nhân đạo sâu sắc. Những ai “trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác tự gột rửa”, như lời cảnh tỉnh của Tổng Bí thư tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta ngày càng tăng cường hơn với những giải pháp căn cơ, sâu xa mang tính phòng ngừa, như minh bạch hóa nền kinh tế bằng quy định dần thanh toán mọi giao dịch qua ngân hàng, tiến tới loại bỏ nền kinh tế tiền mặt; thực hiện cải cách tiền lương để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sống được bằng chính sức lao động chính đáng của mình, hạn chế những phát sinh tiêu cực... Vừa tròn 5 năm Đảng ta sơ kết Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, càng thấy, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử và thời kỳ nào của cách mạng, công tác dân vận cũng có tầm quan trọng chiến lược. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Lòng dân chính là hàn thử biểu, là thước đo uy tín của Đảng. Nhưng dân vận không phải là những lời nói suông, dân vận là hành động, là “miệng nói - tay làm”, “làm nhiều hơn nói”. Những kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng và những chuyển biến tích cực của nền kinh tế đất nước hiện nay chính là những minh chứng sống động và thuyết phục hơn cả đối với người dân cả nước về việc trì quốc của Đảng ta. Người dân tin tưởng, trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, Đảng ta ngày càng bền gan vững chí, chân cứng đá mềm! Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng khi toàn dân đồng lòng bên Đảng, “ý Đảng lòng dân” là một, thì không một khó khăn nào có thể cản nổi thế đi lên và tiền đồ tươi sáng của đất nước./.

“Mưu sự tại nhân, thành sự tại…” ai!?

Từ xưa cho tới tận giờ, khắp cõi nhân gian Việt Nam ta, không ai không biết, không nói: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, khi chiêm nghiệm nỗi thăng trầm cuộc đời, cuộc nổi chìm nhân thế, tấn bi thương lịch sử! Bởi sự tôn kính Giời! Vị đứng đầu khai sáng trong lối nghĩ, quan niệm về “tam tài giả” có tự cổ xưa, tức ba lực lượng: siêu nhiên, tự nhiên và con người! Bởi sự mong muốn tương hợp, hài hòa thiên - địa - nhân! Triết lý “tam tài nhất thể” - Giời - Đất - Người ấy thấm đẫm, hòa quyện, dẫn dắt nhân sinh, thế cuộc, lịch sử không thể chia cắt, không thể cô lập hay trọng, khinh một phía nào! Bởi khát vọng hành động hợp nhẽ thiên thời - địa lợi - nhân hòa trong cuộc sống mỗi cuộc đời người, xa và cao hơn là trong sự thuận lý, hợp “đạo” trong sự vận hành của lịch sử, mà coi đó là nguồn gốc, là sức đẩy để quốc gia, dân tộc tồn tại và phát triển: Thời - Thế - Người! Ấy là nhẽ thường thấy, thường trải đã suốt mấy ngàn đời nay. Nhưng, thái quá thì thường bất cập! Cái nhẽ tưởng như thường ấy, như tự nhiên nhi nhiên ấy lại lắm khi, dù ông cha ta nối đời tận thấu, tận cảm, tận hành, vẫn thảng hoặc vô tình lại buông tay “phó mặc mệnh Giời”, hay vô ý thúc thủ nệ vào “tiên thiên”, phó theo “nghiệp chướng”, do chưa tin vào mình và chưa thể vượt qua... chính mình. Rồi bất động. Rồi xuôi theo định mệnh, cái số Giời do mình tưởng tượng ra! V.v... Mà đáng nhẽ ra, phải làm ngược lại. Thế rồi thất bại, rồi chìm đắm, dù... nằm ngoài mong đợi! Và, thế rồi nuối tiếc muôn trùng:“Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên thân” (Một bước sa chân hận thành muôn thuở. Ngoái đầu nhìn lại thân đã trăm năm). Thì đã muộn lắm rồi! Vì, “Giời không chiều lòng người”, “Giời nỡ phụ người”! Thế là, dù rằng ngửa cổ, nắm tay, hướng lên chín tầng cao mà than vãn với Giời, giậm chân lún ba tấc Đất ôm hận, song vẫn chỉ là vẹn nguyên... những khúc bi tráng mà thôi! Bởi chưng, tất cả hình như chưa tin vào chính... mình, thậm chí quên mất cả... chính nhân quần! Và, ở đâu, thời nào cũng thảng hoặc thấy như thế, làm như thế và lịch sử đã nhuốm những khúc bi hùng như thế! Thăng trầm, thành bại dù gửi, dù tin “tại thiên”, lại hóa ra sự thất thường, bất thường là vậy và do vậy! Nhớ năm 938. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc, thiên thời, địa lợi, thậm chí không hơn trước đó, vì giặc dữ lại cả gan xâm lấn, nhưng bởi nhân hòa, với những đứa con sinh từ một bọc trứng Mẹ Âu Cơ, đã làm nên một trận Bạch Đằng giang đỏ ngầu máu giặc, mở ra thời kỳ độc lập nước Nam ta! Năm 1076, cũng thế, một trận huyết chiến bên sông Như Nguyệt, bằng thế trận lòng dân của đồng bào, cha con nước Việt, đã bất khuất bố cáo khắp trong gầm Giời: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”! Mỗi Con Người, cả cộng đồng thức dậy, toàn Dân tộc vùng lên! Người định thiên hạ chứ đâu có nệ “Mưu sự tại nhân” mà ngóng trông “Thành sự tại thiên”! Sức Dân đấy chứ! Lại nhớ năm 1945. Chỉ với 20 triệu đồng bào, “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, chỉ 16 ngày, Dân tộc đã làm một cuộc bẻ gãy xích xiềng nghìn năm phong kiến, cắt phăng vòng nô lệ thực dân quàng cổ Dân ta ngót 80 năm. Mưu người tính, sức người bình định giang san xã tắc, xây lại nền độc lập, chứ đâu trông đợi “Thành sự tại thiên”! Lòng Dân như Sóng cuộn đấy chứ! Rồi năm 1946. Mở đầu chín năm Dân tộc kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ hai, thiên cũng chưa thời (đất nước bị bao vây, lại bốn bề giặc dữ lăm le), địa càng chưa lợi (một mảnh đất ATK nhỏ bé làm đất đứng chân), nhưng chung cuộc kháng chiến thành công! Bởi sáu chữ, mà hai chữ đầu tiên không phải là bất cứ điều gì khác mà là: Toàn Dân rồi mới tới Toàn diện, Trường kỳ! Nhiều chữ Người viết hoa hợp lại thành Quần chúng và gọi Nhân Dân! “Chúng chí thành thành” vô địch! Ý Dân, Lòng Dân, Sức Dân như bức tường thành đấy chứ! Xem thế, đủ thấy, cái nhẽ thường cổ xưa: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” mà ông cha ta di duệ, Dân tộc vượt lên theo mỗi thời gian, khi tiến khi thoái, biến thời thành thế, nhân lên sức mạnh..., mà vượt qua cái chết, tồn tại và phát triển. Do thế, mà lịch sử đã hun đúc và kết thành chân lý: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân chăng? Đúng vậy! Thiên ở trong Lòng Dân! Địa ở nơi Dân đứng! Kính Giời chính là kính Dân! Vì, Ý Dân, Lòng Dân chính là Ý Giời, Lòng Giời vậy! Quốc bảo Lòng Dân! Đó chính là Bảo vật Quốc gia - cái tôn quý nhất trong Giời Đất! Đoái xem lịch sử, ai đánh mất Quốc bảo ấy, là chuốc lấy tội sát thân, họa mất nước, thể chế tan tành. Nhà Hồ (1400 - 1407) phạm điều cấm kỵ ấy nên đã tự trói mình nộp giặc trước khi đất nước bị giặc Minh xâm chiếm và vương triều Hồ sụp đổ. Mất Dân thì mất nước. Giời thì ở xa, Dân thì vạn đại! Quốc gia thịnh suy, đất nước còn mất ở khắp mọi thời, há chẳng phải do Dân định đoạt đó sao? Đó cũng là Ý Giời hợp Lòng Dân! Ngẫm thế, thiển nghĩ và cẩn bút, kính chép ra đây: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân! Chẳng thế, sao Cụ Phan Sào Nam từng nâng niu: “Nghìn muôn ức triệu người trong nước Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà Người, Dân ta, của, Dân ta Dân là Dân nước, nước là Nước Dân... Sông phía Bắc, bể phương Đông Nếu không Dân cũng là không có gì”. Nhìn trong công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ của chúng ta, chân lý đó đang vằng vặc tỏa sáng, ai mà cản nổi, sao chẳng tất thành! Bởi chưng “Dân là gốc”, “Dân làm Chủ”, và nguyện sao cho xứng đáng: “Đảng ta là đứa con nòi của Nhân Dân”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh...” (Hồ Chí Minh). Nhưng, tôi lại mài mực, kính cẩn biên lại nhời dặn về Quốc bảo ấy, từ gần tám trăm năm trước, của Cụ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Khoan thư sức Dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Và như ngỡ mới hôm qua, nhời tụng Dân này từng đau đáu tâm khảm của Cụ Ức Trai, dù cách nay ngót sáu trăm bốn chục năm, từ sự chiêm nghiệm thành bại của lịch sử với sức mạnh Lòng Dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Làm lật thuyền mới biết sức Dân mạnh như nước); “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Dân”. Rằng: “Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách Chăn Dân mã nỡ mất Lòng Dân”./.

“Lịch sử để lại” hay chuyện “bắn” vào quá khứ

Lâu nay, trong nhiều trường hợp, không ít những người đứng đầu của cơ quan, đơn vị thường dùng cụm từ “lịch sử để lại” để nói về những việc đã có trong quá khứ, do người tiền nhiệm của họ quyết định, thực hiện, nhưng hệ lụy của chúng vẫn tồn tại đến bây giờ và bản thân họ phải gánh chịu. Cùng câu nói ấy, cùng hoàn cảnh ấy, nhưng cách ứng xử với thực tế công việc thì có nhiều dạng: người có ý thức trách nhiệm thì thể hiện ý thức công vụ, trách nhiệm người đảm nhận trọng trách để giải quyết hậu quả đó, nhưng cũng có người tặc lưỡi “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”; “cả làng mắt toét đâu chừa mình em”... Sau đây xin kể 3 câu chuyện có liên quan đến nội dung này. Chuyện “1 cõng 3” hay chuyện “con kiến mà leo cành đa”... Đã lâu không gặp nhau, hôm qua tôi gặp lại anh bạn đang là trưởng phòng của một cơ quan bộ. Sau vài câu hàn huyên, anh thổ lộ về tình hình công việc thời gian gần đây của mình. Số là sau khi được bổ nhiệm trưởng phòng, với năng lực và trách nhiệm bản thân, anh hăng hái, nhiệt tình công tác, có nhiều đóng góp cho công việc chung và nhận được sự đánh giá cao của tập thể cũng như người quản lý trực tiếp. Thời gian gần đây, phòng anh được bổ sung thêm mấy nhân sự mới vừa có bằng cấp chuyên môn phù hợp, vừa trẻ trung, nhiều hứa hẹn..., vì thế khối lượng công việc được giao cho phòng anh cũng tăng thêm. Thế nhưng, sau một thời gian anh phát hiện, thì ra những công việc tăng thêm đó đều chỉ giao cho anh trực tiếp thực hiện, với yêu cầu “nhanh, bảo đảm chất lượng”. Và tất nhiên là anh phải “cày ngày, cày đêm” cho kịp yêu cầu về chất lượng và tiến độ. Những nhân sự mới với đầy đủ bằng cấp cần thiết đó lại chỉ xuất hiện khi lãnh đạo quản lý trực tiếp phòng anh đến cơ quan, còn hằng ngày họ đều có những lý do và công việc rất chính đáng để vắng mặt, không tham gia công việc chung của phòng. Những lý do “tế nhị” và hoàn toàn “chính đáng” của họ khiến anh không thể phân công công việc, điều hành họ được, dù đó chính là quyền hạn, trách nhiệm của anh. Hỏi ra mới biết, cậu A là cháu đồng chí X, cô B là em họ đồng chí Y, anh C là em rể của đồng chí Z; mà các đồng chí X, Y, Z thì đều là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cơ quan. Từ câu chuyện này, nhớ lại sự ước lượng của nhiều người có trách nhiệm về tỷ lệ cán bộ, công chức đang được trả lương thật sự làm việc, có khả năng làm việc, chỉ là 30% trên tổng số. Cuối câu chuyện, anh ướm hỏi ý tôi về việc chuyển công tác sang cơ quan tôi, bởi qua ai đó giới thiệu, anh đã lọt vào “mắt xanh” của một số lãnh đạo cơ quan tôi. Tất nhiên, tôi chỉ có thể khuyên anh cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định, bởi tuổi tác của anh cũng tương đối cao, không phù hợp cho sự dịch chuyển lần nữa nếu không được như ý muốn. Nhưng điều tôi không thể nói với anh chính là, ở cơ quan tôi xem ra cũng có tình trạng như vậy. Chuyện “bố nó là ai?” Ở câu chuyện khác, tình huống của người trong cuộc còn khiến những ai chứng kiến phải thông cảm với nhân vật chính hơn nữa. Làm lãnh đạo, quản lý mà không phân biệt được “chỗ dựa” hay “sức mạnh tiềm tàng” của những cá nhân có liên quan, thì nguy cơ lâm vào cảnh “chết mà không biết nguyên nhân vì sao?” hoàn toàn có thể xảy ra. Nhân vật chính trong câu chuyện này là trưởng phòng biên tập của một tờ báo nọ. Một hôm, khi có sự kiện liên quan trực tiếp đến công việc của phòng, đến giờ chót anh “tá hỏa” khi phát hiện không có tin về hoạt động của đồng chí lãnh đạo cao cấp, lý do bởi cậu phóng viên được giao nhiệm vụ theo dõi, đưa tin lại là con trai của đồng chí lãnh đạo bộ - cơ quan chủ quản của đơn vị anh, có “việc gia đình đột xuất” và đã không báo cáo với anh để cử người thay thế. Rất may, anh được đồng nghiệp ở cơ quan báo chí khác “giải cứu” trong gang tấc, khi cung cấp đầy đủ hình ảnh và thông tin chi tiết về hoạt động của đồng chí lãnh đạo. Xong việc, anh ngậm ngùi tâm sự với người đồng nghiệp rằng, phải cắn răng mà làm thôi, bởi nếu không thì, “việc của nó” không hoàn thành, nhưng “trách nhiệm là của mình”; “mình phê bình nó thì bố nó ký quyết định cho mình đi làm công việc hành chính ngay tức thì”. Từ câu chuyện này và câu chuyện trên, có thể thấy ở một số cơ quan, đơn vị, không hiếm tình trạng các nhân viên có mối quan hệ thân thiết, khăng khít với lãnh đạo, được gửi gắm, nhờ cậy, được nhận vào cơ quan để chiếm một chỗ, chờ cơ hội thăng tiến, khi hoàn cảnh không thuận lợi lại tìm chỗ khác, hoặc nếu không thì làm việc theo kiểu “được chăng hay chớ”, gây khó khăn cho những người có liên quan cũng như ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của cơ quan, đơn vị. Chuyện “tạo ra lịch sử mới” Tiếp tục câu nói “lịch sử để lại” đã dẫn ở phần mở đầu, có đồng chí lãnh đạo cơ quan nọ phát biểu như vậy về tình trạng thừa biên chế trong đội ngũ lao động cơ quan khi mới nhậm chức. Mặc dù vậy, trong quá trình lãnh đạo của mình, đồng chí đã bổ nhiệm, cất nhắc một số trường hợp, mà người có thông tin đều biết đó là sự trả ơn với người này vì đã giúp việc nào đó, ban ơn cho người kia vì một lý do khó nói. Dư luận trong đơn vị bình luận về phát ngôn trước đấy của đồng chí này và hành động trong thực tế của đồng chí rằng: Đổ lỗi cho lịch sử nhưng bản thân cũng tự tạo ra lịch sử mới của riêng mình; hoặc đã viết một bộ sử mới cho riêng bản thân mình... Trên thực tế, đây chính là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” mà gần đây Đảng ta đang quyết tâm đấu tranh phòng, chống. Nước láng giềng của Việt Nam có một kinh nghiệm rất hay, đáng để tham khảo trong bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị là: khi được bổ nhiệm, phải sử dụng mọi nguồn lực hiện có để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, không được phép thay đổi chức năng, nhiệm vụ theo hướng bỏ bớt, không được xin thêm nguồn lực theo hướng “vay của tương lai để tiêu cho hiện tại, trả nợ cho quá khứ”. Nếu ai không làm được, lập tức thay thế; ngược lại, nếu cá nhân nào hoàn thành nhiệm vụ với những điều kiện đó sẽ được đánh giá cao, thậm chí là điểm cộng trong hồ sơ cán bộ, thuận lợi cho sự thăng tiến trong tương lai. Ngạn ngữ phương Tây có câu khi anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ đáp trả anh bằng đại bác. Câu ngạn ngữ đó áp dụng vào trường hợp này có thể hiểu, khi đổ lỗi cho lịch sử, có nghĩa thể hiện mình không có trách nhiệm với hoàn cảnh hiện tại có những yếu tố của lịch sử, đồng thời người cán bộ đó cũng bộc lộ sự không đáng tin trong hiện tại và tương lai. Khi người đứng đầu không chịu trách nhiệm tương xứng với vị trí, chức trách của mình, thì hậu quả do những hành động vô trách nhiệm của cá nhân đó sẽ vô cùng thảm khốc, lâu dài cho tổ chức mà cá nhân đó là lãnh đạo. Và như vậy, họ không xứng đáng được giao phó trọng trách./.

Dùng khéo và dùng đúng cán bộ

Từ lâu, chúng ta đều biết, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; sử dụng cán bộ thì cần phải “khéo dùng” và “dùng đúng”... Việc xem xét, đánh giá cán bộ cũng như sử dụng cán bộ phải khách quan, toàn diện, đúng người, đúng việc, đúng năng lực thực sự. Nếu dùng người mà chỉ thiên về “quan hệ khéo”, cơ hội thì rất tai hại cho sự phát triển chung, nhất là đối với những cán bộ chủ trì. Quan niệm và sử dụng cán bộ như thế ở một số cơ sở đã và đang bị phê phán, đẩy lùi, ngăn chặn. Trong một lần tham dự lớp tập huấn công tác cán bộ do đảng ủy cấp trên tổ chức, sau phần nghe truyền đạt nội dung ở hội trường là thời gian trao đổi ở tổ để học viên nắm chắc kiến thức và đúc rút thêm kinh nghiệm. Rất hay là ở tổ chúng tôi có một anh hiện là bí thư đảng ủy tại một địa phương đã nhiều khóa nên có những kinh nghiệm, bài học quý trong thực tiễn lãnh đạo công tác cán bộ ở đó. Anh trao đổi: công tác cán bộ rất khó, trước hết là đánh giá cán bộ thế nào cho đúng để bố trí, sử dụng đúng thì mới phát huy được năng lực, trách nhiệm của cán bộ. Rồi kể một câu chuyện như là một đề dẫn để chúng tôi bàn luận. Chuyện rằng, có lần cấp trên gặp và “dạo” trước với anh là tìm cho một cán bộ đủ trình độ, năng lực để điều lên cơ quan huyện làm công tác kế hoạch tổng hợp. Anh liền giới thiệu đồng chí A là cán bộ trẻ nhưng đã qua công tác thực tiễn ở cơ sở mấy năm rồi và lại được đào tạo cơ bản. Không đắn đo, “sếp” gật đầu ngay. Nhưng sau ít ngày, một vị cán bộ tổ chức của huyện lại gọi điện cho anh nhờ tìm chọn người khác, vì anh A hơi “cứng”. Ngụ ý phương pháp, tác phong hơi “rắn”, thẳng thắn quá. Nghe vậy, anh hỏi: “Cán bộ “cứng” thì càng tốt chứ sao, anh?”. Vị cán bộ tổ chức cười, giọng nhỏ nhẹ: “Công việc trên này cần phải khéo, nhất là việc tổng hợp báo cáo với trên càng phải “linh hoạt”, chứ cứ “thẳng như ruột ngựa”,... báo cáo mà có sao nói vậy là không được đâu...”. Nghe chuyện anh bí thư đảng ủy kể, chúng tôi bàn luận khá sôi nổi, song mọi người gần như đều đồng tình với ý kiến nên chọn anh A. Bởi hiển nhiên, công việc tổng hợp báo cáo cùng với sự đòi hỏi về trình độ kiến thức, năng lực tổng hợp,... còn cần sự trung thực trong báo cáo phản ánh, đánh giá đúng kết quả thực hiện công việc. Có học viên trong tổ còn bày tỏ ý kiến phê phán gay gắt kiểu chọn cán bộ “mềm”, không phải vì chất lượng, hiệu quả công việc mà chỉ vì cán bộ đó biết “nghe nhạc hiệu đoán chương trình” hoặc “trên bảo sao nghe vậy”, chẳng có chính kiến gì mà chỉ làm mất uy tín của cơ quan, đơn vị trước cấp trên. Nói lại câu chuyện đó, tôi thấy ở cơ sở nơi mình công tác cũng có không ít những trường hợp tương tự. Có cán bộ được tập thể đánh giá tốt nhưng không được sử dụng đúng việc, đúng chỗ. Thậm chí, đôi khi nhiều đồng nghiệp còn cho rằng, năng lực, trình độ của một cán bộ ra sao chỉ phụ thuộc vào... “lăng kính” của người đứng đầu, nhưng nhiều “sếp” có cách nhìn nhận và sử dụng mang tính chủ quan lắm(!). Như ở cơ sở tôi, có trường hợp một cán bộ cứ bị “sếp” chê yếu nhưng khi “sếp” nghỉ hưu, “sếp” mới về thay thì năng lực của chính người cán bộ đó lại được phát huy rất tốt, được tập thể thừa nhận và còn được tín nhiệm giao cho những nhiệm vụ quan trọng hơn... Từ lâu, chúng ta đều biết, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; sử dụng cán bộ thì cần phải “khéo dùng” và “dùng đúng”... Việc xem xét, đánh giá cán bộ cũng như sử dụng cán bộ phải khách quan, toàn diện, đúng người, đúng việc, đúng năng lực thực sự. Nếu dùng người mà chỉ thiên về “quan hệ khéo”, cơ hội thì rất tai hại cho sự phát triển chung, nhất là đối với những cán bộ chủ trì. Quan niệm và sử dụng cán bộ như thế ở một số cơ sở đã và đang bị phê phán, đẩy lùi, ngăn chặn. Hơn bao giờ hết, nhân dân mong mỏi Đảng cần phải “nghiêm túc, kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu” trong thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 23-5-2018, về công tác cán bộ, như lời đồng chí Tổng Bí thư của Đảng ta phát biểu tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XII./.

Biết thế... liệu có đúng?

Một tháng sau ngày nghỉ hưu, ông Hùng quyết định rũ bỏ cái sự “buồn đầu, buồn chân, buồn tay” bằng quyết định về quê nghỉ ngơi, củng cố lại sức khỏe, hâm lại các mối quan hệ với anh em dòng tộc và bạn bè thời niên thiếu. Hôm ấy, sau bữa cơm thân mật với bạn bè gọi là mừng ngày “hồi hương bền vững”, khi mọi người đã về hết, ông Hương ngỏ ý mời ông Hùng cùng đi làm vườn cho khuây khỏa. Ông Hương và ông Hùng vốn là bạn nối khố thời niên thiếu, cùng chăn trâu, cắt cỏ ngày xưa và cùng nhập ngũ một ngày nên có nhiều kỷ niệm gắn bó. Hết chiến tranh, ông Hương không chọn con đường đi học mà ra quân và về quê quyết theo đuổi cơ đồ, làm bạn với cái cày, cái cuốc mà các cụ bao đời để lại. Ông đôn đáo, năng động và xây dựng được gần 1.000m2 trồng ổi, lê và cam sạch theo mô hình VietGap nên cho thu nhập kha khá. Không giống ông Hương, sau chiến tranh ông Hùng đi học bổ túc văn hóa, rồi học đại học. Ra công tác, ông Hùng miệt mài phấn đấu và làm đến chức cục trưởng thuộc một bộ có nhiều quyền uy trong xuất khẩu hàng hóa. Mấy năm trước, khi cậu con trai lớn của ông Hương đã học xong đại học và chờ xin việc thì được ông Hùng ra tay giúp đỡ, xin vào làm ở cơ quan trên Hà Nội. Ông Hương phấn khởi lắm và coi ông Hùng như ân nhân. Thế nên, ngoài tình bạn thủa hàn vi, giữa hai ông còn có một sợi dây khác níu kéo vô hình nhưng bền chặt. Ngày ông Hùng còn đương chức, mỗi khi lên thành phố có việc là kiểu gì ông Hương cũng phải rẽ qua thăm gia đình bạn. Sau mấy ngày “đội nắng, đội mưa” theo ông Hương lăn lộn ngoài vườn xới gốc, nhổ cỏ cho cam, cho ổi, khuôn mặt trắng hồng vì ngồi trong phòng lạnh điều hòa của ông Hùng đã dần xạm nắng. Lòng bàn tay cầm cuốc có vài nốt phồng rộp, những ngón mũi mĩm vốn đỏ hồng cầm bút ký xưa kia cũng bắt đầu nhiễm tia cực tím. Hôm ấy, dù cho công việc dang dở, nhưng ông Hương kiên quyết không cho ông Hùng làm nữa. Ông thông báo, đứa con trai mà ông Hùng xin việc cho đã vào biên chế chính thức sau hơn 3 năm tập sự. Ông vui ra mặt và cười nói râm ran. Ông bảo, cái thằng nông dân muôn đời cày cuốc như ông chẳng mơ có ngày con được làm trong cơ quan nhà nước ở Hà Nội. Nay thì ước mơ ấy đã thành sự thật. Quả là mở mày mở mặt với hàng xóm và thiên hạ. Nghe thế, khuôn mặt ông Hùng thoáng buồn. Ông bảo, đó là may mắn và cháu nó cũng là người có năng lực, ham học hỏi và có chí hướng. Nhưng ông biết không, để lo được cho cháu nó vào cơ quan ấy tôi bị mang tiếng cả đời đấy! - Ô hay, ông vừa khen con tôi có chí, năng lực thế thì tại sao lại phải mang tiếng? Ông không biết đấy thôi, để lo cho cháu vào cơ quan bên ấy tôi phải nhờ người có chức quyền ở bên đó với điều kiện là tôi phải nhận con anh ta về làm việc. Nói cụ thể là đổi đi đổi lại mới xong chuyện. Nhưng điều quan trọng là, khi về cơ quan, con anh ta được cán bộ, nhân viên gọi với cái tên là “vô tích sự”. Công việc chính mà anh ta làm được ông có biết là gì không? Ông không thể tưởng tượng nổi một thạc sĩ mà chỉ thay mọi người làm vệ sinh, đánh rửa ấm chén, lau nhà và đi lĩnh văn phòng phẩm cùng các việc vặt khác. Việc chuyên môn thì anh ta thuộc diện “gà mờ”. Cũng vì chuyện này mà tôi xấu hổ và quyết định nghỉ hưu trước một năm đấy. Đỡ phải nghe lời ra tiếng vào của cấp dưới và đồng nghiệp. - Trời, tôi không nghĩ chuyện nhà nước mà các ông gánh vác nó lại phức tạp đến vậy cơ chứ? Thế ra, bấy lâu nay, con đường tôi chọn làm anh nông dân chuyên nghiệp thay vì đi học như ông sau xuất ngũ lại là đúng. Đỡ lo nghĩ việc công, không tranh đoạt chức quyền, địa vị với mọi người sống khỏe. Vợ chồng tôi sống thanh thản, an nhàn, mỗi năm thu nhập hơn 200 triệu từ sản phẩm nông nghiệp sạch một cách bền vững và đủ nuôi con ăn học thành người lại là sự thịnh vượng. - Ông nghĩ cũng có cái phải, nhưng nhiều người trong xã hội hiện nay không nghĩ thế đâu. Với họ, quyền và tiền che lấp cả lòng tự trọng và bản năng xấu hổ. Họ làm mọi thứ miễn là có lợi. - Thế ông có khẳng định chắc chắn rằng, quyết định về nghỉ hưu trước tuổi của ông là đúng đắn chứ? Ông Hương đột ngột hỏi bạn. - Dĩ nhiên, tôi cho đó là quyết định đúng. Bao năm lăn lộn ở chiến trường, cái chết nó chừa mình là may mắn hơn nhiều đồng đội còn đang nằm lại ở những cánh rừng già đại ngàn Trường Sơn, hay bên đất của nước bạn Lào. Giờ về nghỉ là để dưỡng sức, dưỡng tâm và hưởng an nhàn thì có gì vui hơn. Ông ạ, tôi nói thật, thời bình, càng làm to thì càng nhiều mối quan hệ và cũng càng lắm nguy cơ. Bởi khi có chức có quyền thì đồng nghĩa với có bổng lộc và cũng nhiều cạm bẫy xung quanh. Khi đã vào guồng máy ấy, khi chủ nghĩa cá nhân rình dập và phát tác thì những người có chức vụ, quyền hạn như tôi khó có thể chối bỏ được những “viên đạn bọc đường” nếu không có sự tỉnh táo cần thiết. Tôi không hổ thẹn với lương tâm vì không bao giờ để “tay nhúng chàm” và làm việc gì đó mà phải hối tiếc. Bà vợ tôi thì nói rằng, anh là con người cổ lỗ sĩ. Người ta thế, anh đứng ngoài cuộc của những “chiêu trò” mà người ta thực hiện thì anh chỉ có thiệt, mà thiệt nhiều nhất vẫn là vợ con, người nhà và bạn bè thân thiết của anh. Giờ ngẫm lại, việc vợ tôi nói cũng có lý. Giá thời còn đương chức tôi bỏ qua những suy nghĩ cao siêu, bớt xấu hổ thì cô ấy và các con tôi đỡ long đong phần nào. Ông Hương cảm thông với nỗi lòng của bạn và truyền lệnh cho bà xã làm thịt con gà mái tơ chuẩn bị nhảy ồ để liên hoan, gọi là mừng cho sự thanh liêm của bạn. Ông Hùng cảm kích tấm lòng của cố nhân và uống một trận say quắc cần câu. Những tưởng việc bàn luận về sự thanh liêm của hai ông đã dừng ở đây. Những tưởng việc ông Hương “hạ cánh an toàn” đã là an toàn thì mới đây ông lại được mời đến cơ quan để thanh tra về một số việc trong thời gian giữ chức. Tất nhiên, đó không phải là vấn đề nhân sự mà là những việc khác liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ông phụ trách. Rất may, trong những việc ấy ông chỉ bị trách nhiệm liên đới, nên không ảnh hưởng nhiều đến thanh danh. Xong việc trở về quê, gặp ông Hương. Nghe chuyện, ông Hương bảo: “Nếu ông đi quá giới hạn thì chắc gì đã có cơ hội làm dân muôn đời như tôi. Cái thanh liêm của ông mới là tài sản quý giá nhất. Tôi nghĩ, công danh, tiền bạc không thể coi là những số hạng làm nên danh dự của một con người. Ông như vậy mới xứng đáng là bạn tôi”. Câu chuyện của ông Hùng và ông Hương, hai người ở hai lĩnh vực cuộc sống khác nhau, thậm chí giữa họ còn có nhiều điểm khác trong suy nghĩ, nhưng tựu chung lại ở họ là thấu hiểu giá trị của sự thanh liêm. Đó là điều mà nhiều cán bộ ở các lĩnh vực trong bộ máy cơ quan công quyền nhà nước hiện nay cần suy ngẫm./.

“Cán bộ nào phong trào ấy”

Nói về mối liên hệ giữa đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung, người đứng đầu nói riêng với chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị, có câu “cán bộ nào phong trào ấy”. Bởi, người đứng đầu là người cao nhất trực tiếp đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Qua hoạt động của họ có thể thấy rõ nhất, nổi bật nhất mối liên hệ cán bộ - phong trào. Nhìn chung, những người được cất nhắc vào vị trí lãnh đạo đều là những cán bộ có phẩm chất, năng lực nhất định, thể hiện tốt ở cương vị lãnh đạo trong một quá trình. Họ có thể phát huy tác dụng tốt nhất khi được đặt đúng vị trí phù hợp năng lực sở trường, vào đúng thời điểm phù hợp nhất. Nếu không được như vậy, họ không thể phát huy tốt nhất những mặt mạnh của mình vào bất kỳ vị trí, cương vị được trao. Vì vậy, đã ảnh hưởng nhất định tới chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị như trong các câu chuyện dưới đây về một vài “mẫu hình” người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị với những “ứng xử... điển hình”. Thứ nhất, “thủ trưởng cuối mùa”. Đây là những cán bộ được bổ nhiệm khi thời gian giữ chức vụ chỉ còn vừa đủ một nhiệm kỳ trước lúc về hưu; hoặc chỉ còn thời gian không dài trước khi nghỉ quản lý. Trong số đó, có người đã sớm tỏ ra “buông xuôi” trách nhiệm được trao, buông quyền cho cấp dưới can dự vào những quyết định của người đứng đầu... Nếu đội ngũ trợ thủ hiểu việc, mẫn cán, trách nhiệm và không màng danh lợi... thì hoạt động của cơ quan còn giữ được ổn định, ít phạm sai lầm... Ngược lại, nếu đội ngũ trợ thủ thiếu hiểu biết việc, thiếu trách nhiệm, kèn cựa nhau,... thì chắc chắn hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ không tránh khỏi mất ổn định. Có “thủ trưởng cuối mùa” chỉ nghĩ đến việc “hạ cánh an toàn”, không muốn cơ quan, đơn vị có bất cứ một sự xáo động nào, cứ thực hiện công việc một cách làng nhàng... mà không biết hoặc cố tình không biết điều đó sẽ làm hạn chế sự nhiệt tình chung tay góp sức của bộ máy giúp việc, dẫn tới tâm lý thờ ơ, cuối cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Trong số “thủ trưởng cuối mùa” đó, còn có người dần buông lỏng ý thức đạo đức đảng viên, cộng thêm sự a dua của một số cấp dưới, đã tranh thủ “kiếm chác” cho bản thân mình, “ban phát” cho một số “cánh hẩu” về quyền lợi vật chất cũng như quyền lợi chính trị... Điều này thấy rõ ở không ít cơ quan, đơn vị, khi chuẩn bị nghỉ hưu, người lãnh đạo đã bổ nhiệm, tuyển dụng hàng loạt nhân sự, mà sau đó qua thanh tra, kiểm tra nhiều sai phạm trong các quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm đó đã được phanh phui. Thứ hai, lãnh đạo “đầu tắt mặt tối”. Đặc điểm của người lãnh đạo kiểu này là không phân biệt được giữa sâu sát cấp dưới với cái nhìn tổng thể, toàn diện và việc bao biện, lấn quyền cấp dưới. Vì thế, thay vì sử dụng các trợ thủ, tổ chức bộ máy để lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ, thì mẫu lãnh đạo này lại trực tiếp “xắn tay” làm thay việc của cấp dưới. Điều này dẫn tới, nhiều khi “lực bất tòng tâm” bởi sức người có hạn nên không thể quán xuyến hết công việc của cơ quan, đơn vị; nhiều nhiệm vụ đề ra do vậy không tránh khỏi tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”. Và còn dẫn tới tình trạng cấp dưới sẽ nảy sinh tâm lý ỷ lại, rồi thờ ơ với công việc, thậm chí xảy ra va chạm giữa cán bộ và nhân viên dưới quyền trong quan hệ hằng ngày vì những căng thẳng không đáng có - điều hoàn toàn có thể tránh khỏi, hay có thể hạn chế đến mức thấp nhất, nếu xác định đúng cương vị của mình - người tổ chức và kiểm tra, giám sát chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới, mà không phải người “xắn tay làm hộ”. Thứ ba, lãnh đạo của “dấu ấn điển hình”. Người lãnh đạo kiểu này thường chọn một số trong tổng số những nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị để thực hiện sao cho phù hợp với sở trường của mình, với việc tập trung đa số nguồn lực và nhân lực tốt nhất của cơ quan, đơn vị; thậm chí có khi đó không phải là chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan, đơn vị. Điều này dễ đem lại thành công nhất định trong thời gian ngắn, ít nhất là trong nhiệm kỳ của lãnh đạo đó. Tuy nhiên mặt trái là không chú trọng những nhiệm vụ còn lại của cơ quan, đơn vị; đồng thời, nhân sự và tổ chức, bộ máy của cơ quan, đơn vị cũng bị thay đổi, do đó về lâu dài không tránh khỏi có những lệch lạc, mất cân đối, rời xa nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, gây khó khăn cho người kế nhiệm trong triển khai công việc ở nhiệm kỳ tiếp theo. Điều tất yếu là ở nhiệm kỳ kế tiếp, cơ quan, đơn vị lại phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với yêu cầu mới, vì thế sẽ gây lãng phí về tài lực, vật lực, nhân lực và ngân sách chung. Qua những câu chuyện trên có thể thấy, để cán bộ lãnh đạo phát huy tốt vai trò trong việc lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, cấp trên trực tiếp cần bố trí đúng người lãnh đạo; đồng thời cần đánh giá người lãnh đạo đó không chỉ trong công tác lãnh đạo chuyên môn mà cả về thái độ và phương pháp thực hiện chức trách, nhiệm vụ được trao./.

Nghịch lý của “số đông”?

Theo cách hiểu thông thường, dân chủ là quyền lực thuộc về số đông, đối lập với phi dân chủ là quyền lực thuộc về số ít. Trong điều kiện số đông hội tụ được các yếu tố cần và đủ cho thực hành dân chủ, nhất là trình độ dân trí và thông tin hoàn hảo, thì quyết định của số đông bao giờ cũng sáng suốt hơn quyết định của số ít. Nhưng không phải lúc nào quyết định của số đông cũng mang ý nghĩa dân chủ thực chất, mà trong không ít trường hợp rơi vào “dân chủ hình thức” hay tình trạng “áp đặt của số đông thiển cận”. Có thể thấy mấy nghịch lý sau đây khi quyết định của “số đông” không mang ý nghĩa dân chủ thực chất: Quyết định của số đông khi họ không có đầy đủ thông tin, hoặc bị nhiễu loạn thông tin. Đây là biểu hiện rõ nhất của dân chủ hình thức, khi những người chủ trì lấy ý kiến của số đông, nhưng không đi kèm với công khai, minh bạch đầy đủ thông tin, buộc số đông quyết định trong tình huống không chắc chắn, do cảm tính chi phối. Thiếu thông tin là môi trường thuận lợi cho thiểu số vụ lợi thao túng, gây nhiễu loạn và hướng lái dư luận khiến số đông nhiều khi không tự chủ được ý chí và hành vi của mình khi đưa ra các quyết định. Quyết định của số đông thụ động trong “hiệu ứng đám đông” có tính nhất thời. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp hành động của số đông bị cuốn theo hiệu ứng “tâm lý đám đông” với sự lan truyền nhanh chóng mà người trong cuộc không đủ tỉnh táo để chẩn đoán tình hình và điều chỉnh hành vi của chính mình. Chỉ đến khi phải hứng chịu hậu quả của sai lầm thì người ta mới phản tỉnh, nhưng thường đã quá muộn, bởi “hiệu ứng đám đông” đã qua đi. “Hiệu ứng đám đông” thường thấy trong mua hay bán tháo chứng khoán, bất động sản, tụ tập đông người rồi phản ứng bột phát thiếu lý tính, thậm chí vi phạm pháp luật,... khi bị kích động từ một tác nhân nào đó mà không lường hết hậu quả phải trả giá. Quyết định của số đông ở những cơ cấu mà quy mô không đủ lớn, dễ bị cá nhân lợi dụng để thao túng, tạo bình phong ban hành quyết định sai trái, buộc số đông phải miễn cưỡng phục tùng. Tình trạng này thường xuất hiện ở các cơ cấu đại diện quy mô quá nhỏ, số lượng ít, nguyên tắc vận hành của tổ chức thiếu khoa học, không có khả năng phát huy dân chủ thực chất và thiếu cơ chế bảo vệ quan điểm, ý kiến của người đấu tranh trước các quyết định sai lầm, buộc số đông phải “mũ ni che tai” và tập thể bị biến thành bình phong cho việc hợp thức hóa ý chí cá nhân. Quyết định của số đông khi họ bị tư lợi chi phối. Không phải lúc nào số đông cũng vô tư, nhất là trong các hoàn cảnh số đông quy mô nhỏ, bị lợi ích cục bộ chi phối. Nhiều vụ xung đột đất đai ở địa bàn nông thôn cho thấy, không ít cán bộ cấp cơ sở khi vi phạm pháp luật thường tìm cách lôi kéo toàn thể dân làng vào thế đối đấu với chính quyền, đan cài hành vi sai trái của mình trong lợi ích cục bộ cả làng, biến cái sai của mình thành cái sai của cả dân làng, nhân danh “dân làng” để tập hợp lực lượng tạo áp lực với chính quyền khi thương lượng, mặc cả, còn khi bị xử lý theo pháp luật thì được giảm nhẹ mức độ trừng phạt. Hoặc trong bầu cử ở quy mô nhỏ hẹp, số đông có khi chỉ vì tư lợi mà khuất phục trước các hành vi “mua phiếu”, khước từ bỏ phiếu cho người xứng đáng và ủng hộ người không xứng đáng. Hãy thận trọng và cảnh giác với các quyết định của số đông mà không mang ý nghĩa dân chủ thực chất! Hãy tỉnh táo phân biệt “dân chủ thực chất” với “số đông thiển cận” hay “hiệu ứng đám đông”! Phải đấu tranh kiên quyết với các hành vi lợi dụng tình trạng dân trí kém hiểu biết, thiếu thông tin để kích động “tâm lý đám đông”, gây tổn hại cho các lợi ích công cộng, trong đó có quyền lợi của những người tham gia không ý thức được đầy đủ hành vi của chính mình! Phát huy dân chủ thực chất, thực hành dân chủ rộng rãi cả trong Đảng và ngoài xã hội là một quan điểm nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để có dân chủ thực chất phải đấu tranh loại bỏ căn bệnh dân chủ hình thức và các biểu hiện mang màu sắc dân túy, phải tạo lập các điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ. Phải thực hiện chế độ thông tin công khai, minh bạch để số đông có cơ sở chắc chắn khi đưa ra quyết định; không ngừng nâng cao vốn hiểu biết và rèn luyện năng lực thực hành dân chủ trong Đảng và toàn xã hội, phòng ngừa “hội chứng đám đông” và biểu hiện “dân túy”; hoàn thiện các thể chế, quy định phát huy vai trò dẫn dắt, trách nhiệm gương mẫu của người đứng đầu trước tập thể và phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện “số đông tư lợi”; có cơ chế bảo vệ cá nhân bày tỏ chính kiến đúng đắn, mang tính chiến đấu, trước các hành vi sai trái. Trong các tình huống xuất hiện “hội chứng đám đông” tạo nên “điểm nóng”, phải cô lập, bóc tách những “kẻ đứng hậu trường” đẩy số đông làm bình phong, che chắn cho các hành vi đen tối./.

Năm “đạo” băng hoại nhân quần

Muôn vật trong vũ trụ, muôn người giữa thế gian đều có đạo, đều mang trong mình cái đạo. Đạo, ấy là con đường của sự đắp đổi một cách tự nhiên của vũ trụ; cũng là phương hướng, đường lối hợp nhẽ nhân quần dẫn dắt con người đi trên cõi đời. Đạo là vô hình nhưng lại hiện hữu, vô biên. Đó chính là đạo của vũ trụ, của Người, của nhân thế trên đời. Muôn vật đi chệch cái đạo Giời thành ra bất thường, trái quy luật tự nhiên... và tự diệt một cách tự nhiên nhi nhiên. Con người đi ngược cái đạo Người, đạo nhân thế cũng sẽ lâm vào vòng suy vong, tự diệt, khó cưỡng lại được, cũng một cách tự nhiên nhi nhiên. Đạo Giời và đạo Người ở trong nhau, khó mà cắt chia, khó mà tách bạch! Không phải thế, thì sao Thiên - Địa - Nhân xưa nay há chẳng phải chính là chuyện tự nhiên nhi nhiên “tam tài giả”, “tam vị nhất thể” đó sao!? Có thể nói không ngoa: Đó là minh đạo. Muôn vật trong vũ trụ vận hành trái nhẽ tự nhiên là phi đạo Giời! Con người làm trái minh đạo Người, tôi gọi là hắc đạo! Trong số những hắc đạo mà con người đi, có một thứ đạo - đó là sự trộm cắp. Nhớ tháng 6-1949, chả thế mà trong bài “Cần Kiệm Liêm Chính”, Cụ Hồ nói: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”. Như thế, đạo là trộm cắp. Nó như thế nào? Có thể gọi ra: Đạo chích, đó là thói ăn cắp vặt, kẻ trộm trong làng xã, cơ quan, cộng đồng. Hở ra là trộm, từ chổi cùn cho tới rế rách, “thó” bất kể con cá lá rau, ở nơi thôn dã, phố phường hay vật dụng ở chốn công đường,... Nó làm cho cộng đồng bất an, cơ quan nặng nề, đơn vị u uất... vì bực mình, rồi nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau. Đạo danh, đó là nạn biển thủ tên tuổi, công trình của người khác làm của mình: đạo văn, đạo nhạc... Rồi tệ mua bán điểm giả, bằng cấp, học vị, học hàm... Rộng ra là ăn cắp tri thức, danh tiếng... để chui sâu vào bộ máy, leo cao những phẩm trật quan trường một cách ô nhục. Lúc sự dối trá, giả hiệu lộng hành thì là khắc sự trung thực, ngay ngắn bị tiêu diệt! Nó làm cho thật giả hỗn mang, trắng đen lẫn lộn, nhân phẩm suy đồi, lòng tin bại hoại. Đạo vật chính là tệ trộm cắp, tham nhũng vật chất, tiền bạc.... Nó đục khoét của công, biển thủ quốc khố, bòn rút mồ hôi, xương máu Nhân dân để bỏ túi cá nhân, rắp vinh thân phì gia, bành trướng dòng họ, khiến muôn dân bị xâm hại, quốc gia khánh kiệt, quốc thể chênh vênh, xã hội rối ren, thể chế nguy cơ tan tành. Chả thế, mà cách nay 250 năm Cụ Lê Quý Đôn từng răn rằng, trong năm nguy cơ làm mất nước, thì nguy cơ “tham nhũng tràn lan” kia, không thể không đứng hàng thứ tư đó sao! Quan lại càng giàu nhanh một cách khuất tất, trăm họ càng mau lầm than, rên xiết, đất nước càng chóng suy mạt, bại vong. Nó nguy hiểm hơn cả nạn giặc giã, giặc ngoại xâm. Đạo vị, đây là sự trộm cắp chức vụ trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Nhân dân và chúng ta thì gọi là, tham nhũng quyền lực. Từ “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” tới các thủ đoạn tham nhũng tuổi tác, bằng cấp để “lẻn” vào chốn quan trường, rồi mua phiếu bán danh, trộm cắp chức vụ bằng mọi quỷ kế. Khi các “chính trị gia” bắt tay một cách tăm tối với các doanh nhân thì nền chính trị không hủ bại, chính trường không bị “dắt mũi” mới là chuyện lạ! Từ dùng tiền để “cuỗm” quyền lực chính trị, rồi dùng chính trị để “cướp” lấy quyền lực kinh tế, lại dùng kinh tế để chui sâu leo cao vào chính trường, rắp đoạt lấy quyền lực chính trị cao hơn. Thì không nghi ngờ gì nữa, nó tác họa muôn dân, băm nhỏ lợi ích quốc gia, trộm cắp từng mảnh chính trị, kinh tế đất nước và lũng đoạn thể chế quốc gia. Nó làm cho nhân quần ly tán, nền chính trị rối loạn, thể chế suy đồi, quốc gia hỗn mang, đất nước tan vỡ, thậm chí diệt vong hoặc làm nô lệ cho giặc ngoại bang. Mua quan bán tước, buôn bán quyền lực dẫn tới nạn hoặc nhỏ thì “anh hùng nhất khoảnh”, lớn thì “sứ quân”, “dòng họ cát cứ”, thậm chí cả sự ô nhục bán nước cầu vinh chỉ là bước “tự chuyển hóa” rất ngắn, thậm chí trong chớp mắt mà thôi! Lịch sử đã cho thấy không ít sự nhãn tiền sinh tử ấy. Đạo tâm, đó chính là nạn ăn cắp lòng tin. Nói mà không làm, làm ngược nhời nói. Trên diễn đàn thì, rao giảng đạo lý, dạy dỗ chính liêm, nơi chính sự thì ức vạn tối tăm, phè phỡn phù hoa, xa xỉ... Cụ Trang Tử bảo: Người không biết xấu hổ thì không ra giống người! Nó khiến muôn dân ai còn dám tin cậy được nữa! Nếu không nói nó khiến trăm họ oán thán, nổi giận! “Khẩu Phật tâm xà”, “Miệng rao đạo lý, tay che đạo vị, tay lấp đạo tặc” thì sự còn, mất muôn dân, thật cũng... thôi rồi! Nhẫn tâm! Thế là đạo đức giả lộng hành! Thử hỏi, lúc ấy, bách tính còn dám hy vọng gì ở họ về liêm sỉ, về quốc sỉ hay quốc thể được nữa? Ông cha ta bảo: Mất niềm tin là mất hết! Nếu lòng tin nơi muôn dân bị đánh cắp, thật không còn gì nguy hiểm hơn, sinh tử hơn... để mà bàn nữa! Ngay cả tội đạo quốc, tức là ăn cắp quốc gia kia (như thoán đoạt vương triều, quốc gia cho dòng họ mình hoặc “dâng” xã tắc cho ngoại bang), thì so với thứ đạo tâm này, ắt hẳn còn thua! Vì, nếu mất nước, Dân ta có thể lấy lại được, nhưng Lòng tin của Nhân dân với thể chế bị đánh cắp, thì nhãn tiền quả báo, và dẫu Giời xanh kia cũng khó cứu nổi họa đối với quốc gia đâu! Còn thứ đạo gì tăm tối nữa trong hắc đạo không? Suy xét rộng và xa hơn, những thứ của hắc đạo ấy do nhiều nhẽ, nhưng một phần căn bản do bất liêm mà ra. Cụ Hồ nói: “Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”. Trở lại với minh đạo nơi nhân thế. Muốn nhìn thấy nó thì phải tu luyện và phải dụng công tích đức thì mới đắc đạo. Đạo không phải chỉ nơi lời nói, mà ở kết quả của việc mình làm. Lại chẳng phải chỉ nơi câu kinh câu kệ mà cốt yếu là buộc ở nơi hành xử của người tầm đạo. Cái khó khăn của nó chẳng phải tại nơi giảng dạy mà cốt ở chốn thực hành. Càng chẳng phải tất cả tại nơi yếu lý của đạo, mà ở hành động sống của kẻ giáo truyền và người mong hành đạo. Đó là một phương châm dẫn lối muôn người ra khỏi hắc đạo, tự mình tỉnh ngộ, đặng trở về với minh đạo trên đời. Đức Phật chẳng đã từng dạy: Kẻ thù lớn nhất của đời người chính là mình, đó sao! Hẳn ai cũng thấu rằng, (bất liêm sinh ra) trộm cắp là điều thậm xấu hổ, là mắc tội với Dân, với Nước, báng bổ nòi giống tổ tiên ta! Và, nói như Cụ Khổng Tử: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Nhưng họ làm như thế mà không sợ đạo Giời có mắt, Đất dày linh thiêng, không sợ đạo Người trừng phạt, không sợ quả báo đời sau, không sợ mình tự mình gieo họa và tự chính mình chuốc lấy cái vạ quả báo tự diệt hay sao!? Cái liêm, cái sỉ ở họ liệu có còn không? Và, Nhân dân cần được và phải biết đâu là quyền hạn của mình, phải được bảo vệ, để cùng Đảng và Nhà nước kiểm soát nhằm dẫn những người lâm vào những nẻo đường hắc đạo tăm tối ấy tự đối diện với mình, với nhân quần, tự gột rửa mình sạch sẽ; quyết bài trừ hắc đạo ấy trong xã hội. Nhưng, nếu sự răn dạy của đạo lý chưa đủ thấu, sự tỉnh ngộ của bản thân chưa đủ độ, tai mắt của Nhân dân chưa đủ rộng, sâu, thì quốc pháp bất vị thân phải kiềm tỏa. Nghĩa là, phải lấy đạo Người “thẳng tay trừng trị” những kẻ trộm cắp ấy, “bất kể kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì... từ trên xuống, từ dưới lên trên”, như Cụ Hồ nói! Chửa thấy những con đường tự giáo hóa, tự phòng ngừa, cũng chửa thấy phương cách ngăn chặn, gột rửa và tẩy trừ nào khác tất dụng hơn! Tại lúc này đây! Và, thử hẵng trông lên, còn đạo Giời lồng lộng chín tầng cao kia nhưng ứng nghiệm... vô cương, cũng đang soi rọi đạo Người chốn nhân gian kia nữa! Thấu chăng?./.

Tượng đài và tượng… tâm!

Làng tôi là làng khoa bảng! Thuở bé, lúc chửa biết chữ, tôi học lịch sử bằng... bia đá, qua ông nội. Bao nhiêu ông nghè, ông cử của làng, tôi ngắm bia đá, trên đó dày đặc những chữ nho, ghi tên những bậc khoa bảng. Tôi học bằng miệng. Và, thuộc lòng, tất tật các vị khoa bảng của làng! Bẵng đi, bia đá cũng rêu phủ. Trí nhớ cũng mòn theo. Tôi không còn đọc thuộc nguyên vẹn nữa! Trăm năm bia đá thì mòn... Huyện tôi là huyện của những anh hùng và danh nhân! Nhớn lên chút nữa, cha tôi dạy tôi lịch sử bằng những tượng đài. Nhìn tượng nhớ người! Và, tôi cũng thuộc lòng lịch sử qua những pho tượng sừng sững, đứng trên cả mấy sào đất! Tôi học bằng mắt! Lâu dần, tượng mòn đi bởi nắng đốt gió cào, rêu phong, chẳng thể nhận ra thuở ban đầu. Cứ lần theo thời gian, nhiều pho trông mòn hẳn, lại mốc mác, thậm chí nhếch nhác, lòng tôi thành ra bập bõm! Chưa kể, cũng một người, mà mỗi nơi tạc một dạng. Thành thử, đem một vị ra đối sánh mấy pho tượng, rồi mấy pho tượng đối sánh với nhau. Đến cha tôi nhìn, cũng lúc nhớ, khi quên, thậm chí cũng chẳng nhận ra là tượng ai nữa! Hình như, quê tôi không có tượng đài, người ta như sợ bị nhiễm... bệnh không lớn được, vì thiếu oai phong! Nhớn hẳn lên, tôi ra ngang dọc thiên hạ. Lúc mỏi mệt, quay về làng. Khi rỗi rãi, mẹ tôi thường kể sử, bằng cách nói những đền thờ, những miếu thờ trong xứ. Những ai mở đất xứ ta, những ai lập ấp khẩn hoang làng tôi, những ai có công đánh giặc giữ nước, những ai chia gạo nhà mình cho dân mỗi đận tháng tám ngày ba hồi cải cách... Tôi lớn, mẹ tôi dạy tôi học bằng tự cảm! Trăm năm, ngàn năm chỉ còn truyền lại bằng những miếu, qua những ban thờ, tịnh không ảnh vẻ, càng tịnh không một bóng tượng đài. Mẹ tôi nhắc những nhời của Bà Đoàng cứu tế cho làng, lúc tản cư lánh giặc, khi giáp hạt, rằng “Một nắm khi đói hơn một gói khi no”! Mẹ tôi dạy nhắc tôi nhớ màu của củ khoai lang Ông Đùng cứu cả họ buổi tháng tám, khi đói quắt quay do vỡ đê Văn Giang 18 năm liền thời vua Tự Đức... Rồi nhời của những hạt lúa làng ăn mang dáng hình của những giọt mồ hôi tiền nhân mở đất lúc hoang sơ, cũng giống như hình giọt máu giữ đất mùa giặc giã mà các ông bà ấy quẩy theo lúc lũ lụt, khi tản cư lánh giặc! Miếu thôn Thượng, đền làng Hạ khắp xứ tôi, do các làng lập ra để thờ các vị ấy. Bé xíu... Rêu phong... Trầm mặc... Đứng nép trong hơi ấm lũy tre làng... mà bốn mùa nghi ngút khói hương. Mẹ tôi chậc lưỡi, nhẹ như gió thoảng, và đăm chiêu: - Ai thương Dân, Dân lập ban thờ! Bây giờ, thì đường xa chân mỏi. Một đời ngang dọc sơn hà. Lại về quê. Ngoại tôi móm mém: - Giờ, rỗi rồi, chả còn ỷ bận công nước việc non, con năng sang thắp hương cho ông giáo Thức hơn nhá! Ông ngoại con nên ông nghè, ông trạng, là ngày xưa bà gửi gắm cả vào cửa nhà ông giáo cả! Nhân bất học bất tri lý! Xứ này, mấy ông nghè ông trạng đều bước từ cửa mấy đời nhà ông giáo mà ra đới! Chợt ngoại tôi chỏ ra cây đa đầu xứ đã tỏa rợp bóng cả đường làng, rồi bảo: -Tượng Cụ Trạng đấy! Cả xứ bảo thế! Cây đa Cụ Trạng! Cụ Trạng trồng trước khi về với ông bà ông vải: - Để lấy bóng mát cho lũ trẻ đi học trường đồng bãi nắng nôi về nghỉ chân đấy! Ai cũng chăm. Thảo nào, xứ tôi có đến dăm cây đa, nhưng tuổi dễ đến cả mấy trăm năm như thế! Mỗi gốc đa ở đó là một miếu thờ một ông thần treo ấn từ quan, về xứ mở trường. Đi xa về, ngóng làng, chả thấy gì, trong tầm nhìn mút mắt, chỉ thấy những đa làng, mà ở đó ngự những vị đã thành những ông thần lòng Dân! Tôi lặng đi! Giời bỗng im đất cũng chợt ắng! Bà ngoại tôi móm mém, bàn tay hơn trăm năm gội nắng gió, quệt ngang khóe môi tràu đỏ, bỏm bẻm mấy câu của ai đó... rất xa xăm. Nhẹ hơn lời gió! Rằng: Đất nước trải mấy ngàn năm lịch sử Đã bao bận thiếu vua nhưng không thể thiếu Thày Tượng đài vua, ai dựng trên lối cũ Tượng đài Thày, Dân tạc ở trong tim! ./.

Những chàng trai xung phong vào tâm dịch

Gửi 100 triệu đồng nhưng thấy "vẫn chưa đủ", Trung Hiếu từ Đà Lạt đi ra Bắc Giang. Trong khi Minh Trí cũng chạy xe cấp cứu từ Quảng Bình ra, tình nguyện chống dịch. Ngay từ lúc Tỉnh đoàn Bắc Giang ra thư ngỏ kêu gọi thanh niên xung phong tình nguyện tham gia chống dịch, ngày 16/5, Nguyễn Vũ Trung Hiếu ở phường 5, TP Đà Lạt đã gửi đơn đăng ký. Người phụ trách chiến dịch bày tỏ lo ngại anh Hiếu ở xa, đi lại sẽ không đảm bảo an toàn, người đàn ông nói "vậy mình sẽ ủng hộ bằng tiền". Chị Phạm Thị Thủy, trưởng ban tuyên giáo Tỉnh đoàn Bắc Giang kể: "Anh ấy bảo sẽ tặng cho 50 triệu đồng chống dịch, nhưng lúc đến ngân hàng chuyển tiền, anh Hiếu lại gửi 100 triệu đồng. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy ảnh chụp giấy chuyển tiền đặt trên một yên xe máy cũ". Cũng lúc đó anh Hiếu thông báo đã đặt vé máy bay ra Bắc, kèm lời nhắn: "Giúp xong Bắc Giang mình định lên xóa mấy điểm trường tranh tre trên Điện Biên". Chị Thủy hẹn sẽ đón anh ở sân bay. Nhưng 7h tối ngày 19/5, anh Hiếu thông báo đã đặt chân đến Bắc Giang. "Trước lúc gặp, tôi nghĩ chắc anh ấy phải nhiều tiền, hoặc một chủ doanh nghiệp nào đó, nhưng thực tế ngoài đời anh ấy là một người lao động bình thường", chị Thủy kể thêm. Trung Hiếu được sắp xếp ở tạm một khách sạn trong thời gian chờ xét nghiệm Covid-19. Hai ngày nhốt mình trong bốn bức tường, người đàn ông tứ tuần đứng ngồi không yên. "Mình là người lao động, giờ ăn không ngồi rồi rất cuồng chân, cuồng tay", anh Hiếu nói với hy vọng "sớm được tham gia chiến đấu". Tối 21/5, nhận kết quả xét nghiệm âm tính, anh Hiếu vô cùng vui mừng và nhắn Thủy: "Anh đã ra đây thì không sợ dịch hay nề hà việc gì. Mọi tình nguyện viên sao anh vậy. Ăn ở làm việc như nhau. Mọi người đồng lòng". Bắt đầu từ sáng ngày 22, công dân Đà Lạt này tham gia vào đội vận chuyển quà tặng các nhà tài trợ đến điểm tập kết và hỗ trợ vận chuyển trên xe. Anh được sắp xếp ăn ngủ cùng đội tình nguyện viên đang hỗ trợ cho đoàn y tế trường Đại học Y Hải Dương. Qua những câu chuyện lúc chờ xe, mọi người mới biết anh Hiếu chỉ là một công nhân nhôm kính ở Đà Lạt và số tiền 100 triệu ủng hộ là khoản tiết kiệm của anh. "Hầu hết các bạn tình nguyện viên đều là thanh niên to khỏe, chỉ riêng anh Hiếu nhỏ con nhất, nhưng bền sức nhất. Một thùng hàng cần hai người vác thì một mình anh ấy cũng xong. Xe hàng chưa dừng, các bạn khác vẫn đang ngồi nghỉ mà anh ấy đã đứng dậy sẵn sàng", anh Khâu Văn Đức (Tỉnh đoàn Bắc Giang) chia sẻ. Sau 20 ngày bùng dịch, Bắc Giang ghi nhận hơn 1.000 ca dương tính. Người dân cả nước đang hướng về chia sẻ khó khăn với vùng đất vải thiều. Đặng Minh Trí, 24 tuổi, đã lái một chiếc xe cấp cứu từ quê Đồng Hới, Quảng Bình đến đây chống dịch. Kết thúc công việc lúc 21h ngày 23/5, Trí mệt tới mức không còn sức nên chỉ nói chuyện qua loa với người nhà để đi ngủ. Từ 7h sáng tới tối muộn, chàng thanh niên tham gia bốc hàng và lái 8 chuyến xe. "Tôi không hình dung nổi công việc chống dịch lại vất vả tới như vậy", Minh Trí nói về ngày đầu tiên chống dịch tại Bắc Giang. Trước đó chỉ hơn một ngày, Trí xem được thông tin tuyển tình nguyện viên của tỉnh đoàn. Chàng trai trẻ hình dung được cuộc chiến cam go đang diễn ra ở vùng đất cách mình hơn 500 km. "Mình còn trẻ, mình có sức khỏe, mình đã lái xe cấp cứu 6 năm, sẽ có ích cho tâm dịch", Trí nảy ra ý định tối 21/5. Cậu gọi cho cấp trên trình bày nguyện vọng. "Có thật sự em muốn đi không?", sếp hỏi lại. "Vâng, Bắc Giang đang cần và em giúp được", Trí quả quyết. Công ty điều cho Trí một chiếc xe, cũng như trang bị bảo hộ, găng tay đủ cho 30 ngày. Bố mẹ Trí lúc đầu cũng không đồng ý, nhưng khi biết con sẽ vào tâm dịch để góp sức thì họ ủng hộ. 3h sáng hôm sau, Đặng Minh Trí một mình lên đường, chỉ với 3 bộ quần áo. Chạy xe tới thành phố Vinh, cậu dừng lại bảo dưỡng xe cẩn thận, trước khi tiếp tục hành trình đến thành phố Bắc Giang, lúc 16h30. Cảm động trước hành động của Trí, ông Nguyễn Xuân Tình, Chánh văn phòng Sở Y tế đã gặp gỡ, cảm ơn và điều Trí vào đội vận chuyển vật tư y tế của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC). Một công ty trên địa bàn đã tài trợ một phòng khách sạn để chàng trai Quảng Bình yên tâm đồng hành cùng nhân dân Bắc Giang. Hôm đầu tiên chống dịch Minh Trí chưa quen với guồng công việc cao. Cậu cùng với các chị em tại kho vật tư của CDC bốc hàng lên xuống. Được vài lượt, cậu mệt. Ngược lại các chị vẫn rất dai sức. "Mình ấn tượng trước sức bốc vác của các chị ấy. Đang từ những nhân viên văn phòng, nhưng khi có dịch các chị ấy nhanh chóng làm quen, trở thành những 'cửu vạn' hết cả", Trí nói. Chị Phạm Thị Duyên, phó phòng vật tư y tế của CDC Bắc Giang cho biết, ngay ngày đầu đến, Trí đã xông pha cùng cả nhóm từ sáng tới đêm. Sang ngày thứ hai, Trí bắt đầu làm việc từ 4h sáng, chở thiết bị xét nghiệm và vật tư đến khu công nghiệp Vân Trung. Cậu khoe "sau một giấc ngủ đã hồi lại sức chiến đấu tiếp". Trước diễn biến dịch bệnh phức tạp, phòng vật tư của chị luôn trong tình trạng thiếu nhân lực và xe cộ. "Thật là may mắn và thấy biết ơn khi có bạn Trí đến đồng hành cùng chúng tôi cho tới ngày khải hoàn", chị Duyên nói. Từ khi tỉnh đoàn kêu gọi chi viện đến nay đã có hơn 2.000 lá đơn từ khắp mọi miền gửi về. Bước đầu, 50 người sẽ được chọn về tham gia chống dịch trong vài ngày tới. Anh Khâu Văn Đức cho biết, tỉnh đoàn sẽ thành lập 10 đội, dự kiến mỗi đội khoảng 100 người. Hiện tại đã có 7 đội đi vào hoạt động, số lượng thành viên cũng mới chỉ từ 10 tới vài chục người, đa số là người trong tỉnh. Khi anh Nguyễn Vũ Trung Hiếu được một số tình nguyện viên cho xem bài viết về mình trên mạng xã hội, anh nói: "Mình không quan tâm ai nói gì. Mình chỉ làm việc của mình thôi". Tương tự, chàng trai trẻ Đặng Minh Trí cũng chỉ nói một câu đơn giản: "Lúc nào Bắc Giang hết dịch em mới về".

Tiếp tục cảnh giác với âm mưu kích động của các phần tử chống đối, phản động



Đất nước vừa bước vào năm mới 2021 với nhiều khí thế và lòng tin mới về những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được trong năm 2020. Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định “Cơ đồ đất nước ta chưa bao giờ có được như ngày hôm nay”. Đó là nền tảng tạo nên niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quan lý của Nhà nước và điều hành của Chính phủ Việt Nam.