Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

PHÙNG CHÍ KIÊN – NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC, NHÀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ SONG TOÀN

             Đồng chí Phùng Chí Kiên tên thật là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18/5/1901 trong một gia đình nông dân ở làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) một quê hương giàu truyền thống cách mạng.

1. Người cộng sản mẫu mực

Cuộc đời, sự nghiệp của đồng chí Phùng Chí Kiên để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một gương sáng mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trên nhiều phương diện.

Đó là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, giữ vững ý chí chiến đấu đến cùng

Những năm tháng đồng chí Phùng Chí Kiên hoạt động ở nước ngoài (Trung Quốc và Liên Xô) là lúc phong trào cách mạng Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn, đây là giai đoạn Đồng chí hoạt động trên nhiều phương diện khác nhau, như: học tập, nghiên cứu lý luận, khảo sát và hoạt động thực tiễn, đặc biệt chuẩn bị những nội dung cho Đại hội Đảng lần thứ I, một đại hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo bước ngoặt, đánh dấu sự phục hồi của phong trào cách mạng. Cùng với đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Phùng Chí Kiên đã làm hết sức mình, tổ chức tốt Đại hội Đảng, góp phần khôi phục tổ chức của Đảng, đưa phong trào cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới.

        Những năm tháng được hoạt động bên cạnh Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với nhiều trọng trách khác nhau (huấn luyện, đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bảo vệ, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Bắc Sơn - Võ Nhai...), đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều đóng góp tích cực, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đồng chí đã giữ vững khí tiết cách mạng, nguyện hy sinh đến hơi thở cuối cùng để bảo toàn lực lượng cho cuộc chiến đấu lâu dài mà Đảng và dân tộc sẽ phải trải qua.

Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân, giữ vững ý thức tổ chức kỷ luật và ý chí chiến đấu, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nghị quyết của Đảng

        Là một nhà chính trị, quân sự song toàn, được đào tạo cơ bản, có thể làm việc và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đồng chí Phùng Chí Kiên luôn chấp hành sự phân công của Đảng. Sau Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (tháng 7/1936) dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, đồng chí Phùng Chí Kiên cùng một số đồng chí khác trong Ban Chấp hành Trung ương được cử về nước hoạt động và được phân công phụ trách công tác quân sự.

          Những năm tháng hoạt động cách mạng, Đồng chí Phùng Chí Kiên luôn chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên và tổ chức, trên mọi công việc được phân công, Đồng chí luôn nỗ lực hoàn thành với chất lượng và hiệu quả cao. Đồng chí luôn nhận thức đúng đắn và rõ ràng bất cứ việc gì có lợi cho dân, cho nước, cho Đảng thì sẵn sàng nhận và hoàn thành với chất lượng tốt nhất.

Gương mẫu trong công tác, giản dị trong lối sống, gần gũi, hòa mình với đồng bào, đồng chí

        Ở tuổi thiếu niên, Phùng Chí Kiên đã có một lối sống hòa đồng, gần gũi, chan hòa với bạn bè. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhân cách của Đồng chí được khắc họa rõ nét; đặc biệt những tố chất về chính trị và quân sự của Đồng chí đều được thể hiện qua phong cách, phương pháp cụ thể. Đó là: tác phong làm việc khoa học, sâu sắc, luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát phong trào quần chúng; thái độ làm việc nhiệt tình, năng nổ, không ngại khó khăn, gian khổ, việc nào cũng làm hết lòng hết sức. Đồng chí Phùng Chí Kiên là người mà lời nói luôn đi đôi với việc làm, luôn nêu cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự cách mạng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân “Đồng chí là một cán bộ có đức độ và tài năng cả chính trị và quân sự, được đào tạo cơ bản, nhạy bén phát hiện tình hình, sống gần gũi, hòa mình với đồng chí, đồng bào, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Bác và Trung ương”.

2. Nhà quân sự tài ba, lỗi lạc

Lòng yêu nước, chí căm thù đế quốc xâm lược, khát khao thực hiện giải phóng dân tộc của đồng chí Phùng Chí Kiên đã gây được những ấn tượng mạnh mẽ đối với Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tố chất thông minh, nhạy cảm trong học tập tiếp thu khoa học quân sự của Đồng chí đã được Trường Quân sự Hoàng Phố, nơi Phùng Chí Kiên theo học khóa V nhận xét “rất nghiêm chỉnh, cần cù lao động, dốc hết sức để học tập, bởi vì họ biết rằng để giành chính quyền về tay công nông, phải cầm lấy vũ khí chiến đấu và chỉ có tri thức quân sự mới giúp họ bảo vệ cách mạng khỏi thù trong, giặc ngoài”; Trường Đại học Phương Đông và cố vấn quân sự Liên Xô nhận xét: “Qua học tập và rèn luyện, đồng chí Phùng Chí Kiên tỏ rõ là người có năng lực về quân sự”; được đánh giá “là một thanh niên có đầu óc quân sự và kỹ thuật... , có khả năng lớn về công tác năng động

Trong thời gian học tập ở Trường Quân sự Hoàng Phố, đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều đóng góp cho Đảng Cộng sản và Hồng quân Trung Quốc; Đồng chí tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong tổ chức xây dựng đơn vị quân đội, chỉ huy các trận đánh và các chiến thuật tác chiến. Trong thời gian học tập ở Trường Đại học Phương Đông, đồng chí Phùng Chí Kiên được đào tạo một khóa đặc biệt về mật mã quân sự và sử dụng vô tuyến điện, sau khi tốt nghiệp, Đồng chí về Thượng Hải hoạt động trong Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và được bố trí vào công tác chuyên môn này.

Tài năng quân sự của đồng chí Phùng Chí Kiên được bộc lộ rõ nhất trong thời kỳ hoạt động ở Pắc Bó, Cao Bằng. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ do Tổng Bí thư Trường Chinh giao, đồng chí Phùng Chí Kiên bắt tay ngay vào việc củng cố, xây dựng các cơ sở cách mạng, tổ chức đảng, đoàn thể. Một trong những bài học lớn nhất và có giá trị nhất được Đồng chí vận dụng một cách sáng tạo vào công việc lúc bấy giờ trên cương vị Chỉ huy trưởng Đội Cứu quốc quân  là dựa vào dân, bám trụ vào dân, có dân là có tất cả. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phùng Chí Kiên, Đội Cứu quốc quân đã bảo vệ an toàn Khu căn cứ Bắc Sơn, giúp xây dựng và phát triển các đội tự vệ, du kích tại các địa phương khác; bảo vệ an toàn cho các đồng chí cán bộ Trung ương Đảng về quán triệt Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII; tổ chức đánh các đồn lẻ của địch, thu vũ khí.

Từ kinh nghiệm thực tiễn của mình, Đồng chí còn truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự, nhất là chiến thuật du kích cho các cán bộ về dự Hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII, để khi trở về địa phương họ sẽ phổ biến cho tự vệ và quần chúng cách mạng; Đồng chí cùng toàn Đội tổ chức họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, củng cố khu căn cứ; đề ra phương hướng, nhiệm vụ hoạt động, củng cố lực lượng, phát triển phong trào cách mạng, sẵn sàng chống địch khủng bố.

           Kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa còn đang dang dở thì thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, tập trung bủa vây hòng tiêu diệt lực lượng cán bộ nòng cốt của ta ở Khu căn cứ. Trước tình hình đó, Đồng chí đã vận dụng nhuần nhuyễn những quan điểm cơ bản về kháng chiến toàn dân, kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nguyên tắc tác chiến du kích để bảo vệ an toàn cho cán bộ về dự Hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII; đồng thời, đưa các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng về dưới xuôi an toàn. Với quan điểm phải bảo vệ “vốn liếng” quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này, Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri chủ trương rút quân ra khỏi vòng vây của địch, chỉ để lại một tiểu đội bí mật hoạt động. Tháng 8/1941, Cứu quốc quân chia làm hai cánh rút về phía Cao Bằng và Lạng Sơn. Cánh quân rút về phía Lạng Sơn do đồng chí Hoàng Văn Thái và Đặng Văn Cáp chỉ huy từ Khuổi Nọi sang huyện Bình Gia lên Văn Mịch, Thất Khê, sau đó sang biên giới Việt – Trung an toàn. Cánh quân rút về phía Cao Bằng, khi qua vùng Na Rì (Bắc Cạn), bị địch phục kích, Đồng chí kiên cường chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và đã anh dũng hy sinh vào ngày 22/8/1941, khi mới 40 tuổi đời, trong lúc tài năng đang nở rộ.

Mai Năm Mới (ST)


TP HCM cách ly tập trung người đến từ 2 huyện ở Bắc Giang, Bắc Ninh

    Trung Tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM (HCDC)chiều 25/5 thông báo cách ly tập trung đối với người từ huyện Yên Phong, Bắc Ninh và huyện Yên Thế, Bắc Giang khi đến TP HCM.

    Theo HCDC, người ở/đến huyện Yên Phong, Bắc Ninh từ ngày 15/5 và người ở/đến huyện Yên Thế, Bắc Giang từ ngày 3/5, khi đến TP HCM phải cách ly tập trung 21 ngày và lấy mẫu xét nghiệm giám sát Covid-19.

    Trong sáng 25/5, tỉnh Bắc Giang ghi nhận 132 ca Covid-19, cao nhất từ trước tới nay tính theo địa phương và tính theo ngày. Hầu hết ca nhiễm liên quan dịch tễ đến khu công nghiệp Quang Châu, Vân Trung, Đình Trám ở huyện Việt Yên, Bắc Giang. Đến chiều 25/5 tỉnh này ghi nhận thêm hơn 300 trường hợp dương tính với nCoV.

    Tại tỉnh Bắc Ninh, tính từ ngày 5/5 đến nay, tỉnh này ghi nhận 536 ca dương tính, trong đó 29 ca chưa được Bộ Y tế định mã bệnh nhân, tiếp tục là điểm nóng dịch bệnh trên cả nước, sau Bắc Giang. Trong danh sách giám sát HCDC bổ sung địa điểm Big C Thăng Long, Cầu Giấy, Hà Nội trong thời gian từ 15h đến 17h30 ngày 22/5, vào danh sách giám sát cách ly tại nhà khi đến TP HCM.

Bắc Giang yêu cầu người dân không ra khỏi nhà

     Người dân các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động và TP Bắc Giang được yêu cầu không ra khỏi nhà từ hôm nay.

    UBND tỉnh Bắc Giang sáng 25/5 có công văn hỏa tốc yêu cầu người dân 5 huyện và một thành phố chưa cách ly xã hội theo chỉ thị 16 ở yên trong nhà. Tổng cộng khoảng một triệu cư dân. Lệnh trên không áp dụng với người làm công vụ, công nhân đi làm, đưa người đi cấp cứu, thành viên tổ Covid cộng đồng kiểm tra, giám sát.

    "Dù chưa chính thức cách ly xã hội nhưng toàn tỉnh thực hiện các biện pháp như cách ly xã hội", ông Lê Ánh Dương, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, nói về quyết định trên. Ông nhấn mạnh "đợt dịch này đặc biệt nguy hiểm, thời gian còn kéo dài, nên cần sự vào cuộc của toàn thể người dân và chính quyền địa phương".

TP Bắc Giang giãn cách xã hội từ hôm 19/5 và người dân được yêu cầu không ra khỏi nhà từ hôm nay, 25/5. Ảnh: VGP

TP Bắc Giang giãn cách xã hội từ hôm 19/5 và người dân được yêu cầu không ra khỏi nhà từ hôm nay

Thành công của cuộc bầu cử khẳng định sức mạnh từ lòng dân

Ngày 23/5/2021 ghi một dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Hơn 69 triệu cử tri đã thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, bỏ phiếu bầu những người đại diện cho mình tại Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Được xác định là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, sự kiện trọng đại của đất nước trong năm 2021, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 diễn ra sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thành công tốt đẹp và được tổ chức trong bối cảnh đặc biệt khi đại dịch COVID-19 đang có những diễn biến phức tạp, bùng phát đợt thứ tư.

Tuy nhiên, theo số liệu tổng hợp nhanh từ Bộ Nội vụ, tính đến 19 giờ ngày 23/5, cả nước có 99,16% cử tri đi bầu cử, trong đó nhiều địa phương có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao, đạt 99,98% như Lào Cai, Lạng Sơn, Trà Vinh... Những con số cử tri đi bầu cử là minh chứng cho một cuộc bầu cử thành công toàn diện, đảm bảo dân chủ, bình đẳng, an toàn, đúng quy định và đúng pháp luật. Không khí Ngày Bầu cử thực sự là ngày hội lớn của toàn dân.

Kết quả đáng tự hào này chính là minh chứng sống động, một lần nữa khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các phần tử cơ hội chính trị, thù địch, phản động rắp tâm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phá hoại cuộc bầu cử.

Những chiêu trò xưa cũ được làm mới bằng thủ đoạn lợi dụng sự phát triển của công nghệ, Internet. Chúng tìm mọi cách, tung lên các trang mạng xã hội đủ loại thông tin sai lệch, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của chế độ ta, Đảng ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; bịa đặt, tung tin sai sự thật về công tác bầu cử để gây nhiễu loạn, hoang mang, hoài nghi trong nhân dân; kích động, kêu gọi người dân không tham gia bầu cử; lợi dụng quyền tự ứng cử đại biểu Quốc hội để gây rối...

Các chiêu trò, thủ đoạn khác nhau để hướng tới mục tiêu phá hoại cuộc bầu cử, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã hoàn toàn thất bại trước lòng dân tin Đảng, hướng về Đảng.

Trong Ngày hội non sông (23/5/2021), đông đảo cử tri trên mọi miền Tổ quốc đã thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài, tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước. Thông qua những đại biểu đại diện của mình, người dân có thể tham gia vào quá trình xây dựng luật pháp, chính sách, triển khai và giám sát quá trình thực hiện, cũng như trực tiếp hưởng lợi từ các chủ trương, chính sách đó.

Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực như ngày hôm nay. Kết quả ấy có được là sự nỗ lực, cố gắng của cả dân tộc. Những đại biểu cho người dân tham gia vào Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 có một trọng trách rất quan trọng để góp phần hiện thực hóa khát vọng bứt phá vươn lên của cả dân tộc, đưa Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

Thành công của cuộc bầu cử thể hiện niềm tin và sự mong đợi mà cử tri gửi trọn vào những đại biểu của mình. Và chắc chắn rằng, những đại biểu trúng cử sẽ nhận thức rõ và không ngừng nỗ lực hoàn thành tốt trọng trách trước cử tri, nhân dân, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn mới phát triển mạnh mẽ hơn nữa./.

Mai Năm Mới 

Chùm ca bệnh tại Times City và Công ty T&T phức tạp, chưa rõ nguồn lây

    Theo báo cáo của Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội Hoàng Đức Hạnh nêu ra tại cuộc họp Ban Chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Covid-19 chiều 24/5, chùm ca bệnh xảy ra tại Công ty T&T và tòa nhà Park 11 - Khu đô thị Times City rất phức tạp và chưa rõ nguồn lây.
    Ông Hạnh nhận định đây là chùm ca bệnh có nhiều ca mắc liên quan tới các địa điểm có nhiều người làm việc, sinh sống. Việc quản lý các chung cư, các tổ hợp văn phòng chưa chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện các trường hợp có yếu tố dịch tễ. 
    Trong thời gian tới, Hà Nội có thể sẽ tiếp tục ghi nhận thêm các ca mắc mới ngoài cộng đồng vì thời gian các ca bệnh ở ngoài cộng đồng dài, đã di chuyển đến nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người.

Nhiều khu vực bị phong tỏa/tạm đóng cửa

    Liên quan đến chùm ca bệnh tại Times City và Công ty T&T, đã có nhiều khu vực tạm thời bị phong tỏa để phòng chống dịch Covid-19.
    Ngay trong sáng 23/5, sau khi phát hiện gia đình tại Park11 dương tính SARS-CoV-2, UBND phường Mai Động (quận Hoàng Mai, Hà Nội) đã yêu cầu toàn thể cư dân tòa chung cư Park 11 - Park Hill - không rời khỏi tòa nhà kể từ 1h30 ngày 23/5 cho đến khi có thông báo mới. Riêng cư dân tầng 15 tòa Park 11 phải ở trong nhà, không rời khỏi tầng này để đợi lấy mẫu xét nghiệm.
    Trước đó, tòa Park 9 của khu đô thị này cũng đã bị phong tỏa để khoanh vùng, dập dịch do liên quan đến 2 bệnh nhân người Ấn Độ dương tính SARS-CoV-2.
    Chiều cùng ngày, Công ty T&T, số 2A Phạm Sư Mạnh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm cũng đã được phong tỏa để thực hiện phun khử khuẩn.
    Lực lượng chức năng cũng đã lập hàng rào phong tỏa trước sảnh tòa nhà H2, khu đô thị Việt Hưng, ngay sau khi em trai của nam học sinh tại Park 11, đang ở tại đây cùng ông bà ngoại, có kết quả dương tính SARS-CoV-2.
    Ngày 24/5, Hà Nội tiếp tục phong tỏa 4 chung cư có liên quan đến chùm ca bệnh tại Times City và Công ty T&T. Cụ thể, phong tỏa "mềm" 3 tòa nhà ở Goldmark City, Bắc Từ Liêm;  phong tỏa tạm thời tòa nhà 17T4 Khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính, từ tầng 1 đến tầng 17 với 123 căn hộ; phong tỏa, phun khử khuẩn toàn bộ đơn nguyên 2 của tòa nhà CT1, chung cư Gelexia Riverside, 885 Tam Trinh; phong tỏa tạm thời tại tòa A, phân khu The Zen ở Khu đô thị Gamuda Gardens (phường Trần Phú, quận Hoàng Mai).
    Tối 24/5, Siêu thị Big C cũng được tạm thời đóng cửa để tiến hành phun khử khuẩn và truy vết các trường hợp có tiếp xúc với ca bệnh tại Công ty T&T có đến siêu thị này vào ngày 22/5.Sáng 25/5, quận Hà Đông đã lập rào chắn, cử lực lượng chức năng túc trực tại chợ Xanh Văn Quán (phường Phúc La) để phòng, chống dịch Covid-19. Động thái này được thực hiện sau khi UBND quận Hà Đông xác định có ca nghi mắc Covid-19, làm việc tại Công ty T&T, từng đến chợ xanh Văn Quán mua đồ.

Hà Nội: Chùm ca bệnh Times City bùng phát và lan 10 quận huyện như thế nào?

    Từ "đốm lửa" đầu tiên là gia đình sống tại Park 11, Times City dương tính SARS-CoV-2, đến nay đã có 10 quận huyện ghi nhận bệnh nhân có liên quan đến chùm ca bệnh rất phức tạp này.
    Ngày 23/5, Hà Nội phát hiện một học sinh lớp 5 có địa chỉ tại tầng 15, Park 11, Park Hill, Times City (Mai Động, Hoàng Mai) dương tính SARS-CoV-2 (BN5224). Cùng ngày, cả 3 thành viên còn lại trong gia đình là em ruột (BN5237), bố (BN5242) và mẹ (BN5243) cũng đều có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính do CDC Hà Nội thực hiện. Đến nay, chỉ sau 2 ngày, liên quan đến chùm ca bệnh này đã ghi nhận tổng cộng 26 ca dương tính SARS-CoV-2, trải rộng trên 10 quận huyện.
    Ca bệnh đầu tiên được phát hiện là bé trai N.V.C. là học sinh của Trường VinSchool.Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, TTYT quận Hoàng Mai và TTYT quận Long Biên đã lấy tổng cộng 5 mẫu F1 của cháu C. là bố, mẹ, em trai và ông bà ngoại để chuyển lên CDC Hà Nội xét nghiệm. Trong ngày, bố, mẹ và em trai bệnh nhân C. có kết quả dương tính SARS-CoV-2.
    Sau khi ghi nhận chùm ca bệnh này, lực lượng chức năng đã ngay lập tức truy vết và tiến hành xét nghiệm các trường hợp liên quan. Từ đó, liên tiếp phát hiện các ca dương tính SARS-CoV-2 mới, đặc biệt là tại Công ty T&T, nơi làm việc của BN5243 (người mẹ).
    Trong ngày 24/5, Hà Nội ghi nhận liên tiếp 14 ca Covid-19 có liên quan đến chùm ca bệnh tại Times City, trong đó tại Công ty T&T có đến 12 F1 của BN5243 và 1 F1 của BN5316 (BN5316 là F1 của BN5243) dương tính SARS-CoV-2.
    Như vậy, tính đến thời điểm này, chùm ca bệnh tại khu đô thị Times City và Công ty T&T đã có 26 bệnh nhân, trong đó riêng tại Công ty T&T đã phát hiện 20 ca bệnh. Đáng chú ý, các ca bệnh tại Công ty T&T có cả những nhân viên làm khác tầng với BN5243.
    Theo thống kê, 26 bệnh nhân này phân bố rải rác ở 10 quận huyện, bao gồm: Hoàng Mai (8), Thanh Xuân (5), Hai Bà Trưng (2), Đống Đa (4), Long Biên (2), Gia Lâm (1), Thanh Trì (1), Bắc Từ Liêm (1), Hà Đông (1), Cầu Giấy (1).

Còn hơn 50 nghìn mẫu nguy cơ cao

    Theo báo cáo của tỉnh Bắc Giang, số bệnh nhân chắc chắn sẽ còn tăng lên, bởi hiện tại còn hơn 50 nghìn mẫu nguy cơ cao chưa xét nghiệm. Với hơn 50 nghìn mẫu này, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long chỉ đạo không tiến hành xét nghiệm gộp nữa, mà phải lấy xét nghiệm ngay tại chỗ, lập 100-200 điểm lấy mẫu để test nhanh.
    TS Trần Như Dương cho biết, ngay từ đầu đã nhận định lây nhiễm xảy ra ở khu công nghiệp rất phức tạp, lây nhiễm công nhân với nhau rất cao, qua thời gian chín ủ bệnh là "nở" ra nên lượng ca dương tính rất lớn.
    Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang đã phong tỏa các khu công nhân lưu trú, thuê trọ với 1000-2000 công nhân ngay tại một khu, cách ly ngay tại chỗ. Bên cạnh đó, giám sát cộng đồng, phát hiện ở hiệu thuốc trường hợp nào ho, sốt là test, xét nghiệm ngay để kịp thời khoanh vùng, truy vết.
    Trước diễn biến dịch phức tạp tại Bắc Giang, Bộ Y tế yêu cầu bộ phận công tác đặc biệt của Bộ đang chỉ đạo chống dịch tại tỉnh Bắc Giang ngay lập tức "đóng băng" tất cả các khu nhà ở của công nhân; Đảm bảo cách ly nghiêm ngặt, nhất là các khu nhà cao tầng nơi có đông công nhân sinh sống; Áp dụng thiết chế về cách ly tập trung tại các khu vực này- coi như là nơi cách ly tập trung. Tuyệt đối không cho người ở ra khỏi nhà, phòng ở và tiến hành xét nghiệm định kỳ, liên tục để làm sạch những khu vực có công nhân lưu trú.
    Bộ trưởng Y tế nhấn mạnh biến chủng virus lần này có khả năng nhân lên, phát tán, phát tán trong không khí, chính điều này làm cho cụm khu công nghiệp trở nên phức tạp.

Trước cấp trên và trước cấp dưới

Họ tuyệt chiêu giỏi ngón nghề này. Với bề trên thì nó giót mật ong vào lỗ nhĩ, với cấp dưới thì “ngậm máu phun người”(!). Tới mức, nếu sự xấu hổ có thể làm chết con người, thì họ đáng phải chết cả... nghìn, triệu lần. Thượng đội trên, hạ đạp dưới... là họ. Nịnh nọt bề trên, nạt nộ cấp dưới... cũng là họ. Lạy lục, hầu hạ bề trên, bòn rút, đe nẹt cấp dưới... càng là họ. Có người bảo: Nếu con thò lò như người, chắc nó phải xấu hổ trước sự vô sỉ, ô nhục của một số trong cái giống người quay quắt hơn cả chính nó!

Hơn 300 công nhân ở Bắc Giang dương tính SARS-CoV-2

    15h ngày 25/5, Bộ trưởng Y tế đã họp khẩn với Bắc Giang, sau khi Bộ phận công tác đặc biệt của Bộ Y tế báo cáo hơn 300 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 được ghi nhận tại đây. Bộ phận công tác đặc biệt của Bộ Y tế tại Bắc Giang báo cáo, đến đầu giờ chiều ngày 25/5 tại Bắc Giang đã ghi nhận thêm hơn 300 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2. 

    Số lượng các ca dương tính này được phát hiện nhờ tổng lực tăng tốc xét nghiệm trong 3 ngày qua mà Bộ Y tế phối hợp với tỉnh Bắc Giang và các lực lượng y tế đã triển khai tại tất cả các khu công nghiệp, các nhà máy và khu lưu trú của công nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Tất cả các công nhân dương tính này đều đang lưu trú tại khu vực giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 và đang được kiểm soát.

    TS Trần Như Dương - Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, nhận định sơ bộ nguồn lây là tại các khu vực nhà máy trong khu công nghiệp, và/ hoặc trong khu nhà ở, lưu trú của công nhân vì đây là nơi có mật độ làm việc, lưu trú đông, trong khi đó chủng virus này lây lan nhanh, mạnh và phát tán rộng trong môi trường không khí.

    Từ đầu cầu Bắc Giang, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn từ Bắc Giang báo cáo, con số đến thời điểm này là 375 ca dương tính SARS-CoV-2 được ghi nhận. Đây chủ yếu là các trường hợp F1 đang được cách ly, trước đó có những trường hợp xét nghiệm âm tính, nay xét nghiệm lại dương tính. Theo đánh giá của Thứ trưởng, số bệnh nhân dương tính vẫn sẽ gia tăng do đang tổng lực tiến hành xét nghiệm. Bắc Giang hiện vẫn đảm bảo điều kiện thu dung cách ly các trường hợp F1, F0.

Trong cuộc họp và ngoài hành lang

Đây là hạng người “tiền hậu bất nhất”, lật lường, tráo trở. Họ hành xử như hai chiếc giày, một chiếc trong cuộc họp và một chiếc ngoài hành lang, của một đôi giày dối trá. Họ nói hai nửa sự thật ở hai nơi và như thế, cả hai đều là giả dối. Bác Hồ nói: Trước mặt thì nói tốt, ra ngoài thì thấm thúi, thậm thụt sau lưng. Trong cuộc họp, họ khen anh ríu rít, y như con oanh học nói, con vẹt học thưa. Nhưng, bước ra hành lang, họ “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, coi chị như rác, nói anh chỉ như bùn, thậm chí như đồ bỏ đi(!). Trong cuộc bầu cử, trước mặt anh, họ nói ủng hộ như “dao chém đá”. Nhưng, họ lén lút “đâm bị thóc, chọc bị gạo” và thẳng thừng gạch phắt tên anh. Và, lại là người chen bật mọi người, vồ lấy tay anh, chúc mừng như đòi “tâng công” sớm nhất, khi anh đắc cử. Thật là thừa, khi nói gì thêm, dù chỉ nửa câu, về mặt này của một số người như kiểu con thò lò vậy!

Trên diễn đàn và dưới diễn đàn

Đó là kiểu sống phân thân, hành xử đa nhân tính. Trên diễn đàn thì họ chém gió rao giảng đạo đức, ra khỏi diễn đàn thì tráo trở làm càn làm bậy, thậm chí vô đạo đức. Trên diễn đàn thì họ huênh hoang “lá mặt”, bước khỏi diễn đàn thì làm những việc “lá trái”, đổi trắng thay đen. Họ nói tốt làm xấu, nói xuôi làm ngược. Họ dối trá người nghe, dối trá cả chính họ. Và khi có họa, “đồng đổ cho cốt, cốt đổ cho đồng”, họ “tranh công đổ lỗi”, “tẩu vi thượng sách”(!). Chỉ bấy nhiêu thôi, thừa đủ nói rằng, hạng này là những kẻ đạo tâm (ăn cắp lòng tin). Ai bị đánh cắp? Người nghe họ rao giảng. Mà một khi đã mất lòng tin, với họ, hẳn là mất hết!?

Đạo lý cho người và đạo lý cho ta(!)

Đã gọi là đạo lý, thì xưa nay, chỉ có một trên đời! Ai ai cũng nghĩ và có bổn phận hành xử theo đó, mới thành xã hội. Một con người tốt là sống theo đạo lý xã hội, muôn người như thế ắt làm nên một xã hội tốt. Nhưng, họ thì phân chia đạo lý xã hội ấy thành hai thứ: “đạo lý cho ta” và “đạo lý cho người”(!). Rằng, người này thì: “Của mình thì giữ bo bo. Của người thì thả cho bò nó ăn”. Rằng, kẻ kia thì: “Của riêng phải giữ đến cùng. Của chung quyết khéo vẫy vùng thành... riêng”(!)... Thế là sinh ra xiết bao thói tệ: “Sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”, “Của anh anh mang, của nàng nàng xách”, “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”... Nhưng, nguy hiểm nhất là nạn đạo chích làm nhiễu loạn kỷ cương xã hội, khiến lòng người xao xuyến, phẫn nộ, phỉ nhổ: ăn cắp của công, ăn trộm chức vụ. Loại sau cùng này, Bác Hồ gọi đích danh chúng là “giặc nội xâm”, là “đạo vị”, ta gọi là tham nhũng chính trị, tham nhũng quyền lực.

Một giọt máu đào và ao nước lã

Trọng huyết thống là việc thiêng liêng, là đáng quý lắm thay: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”! Ông cha ta xưa nay vẫn bảo thế kia mà! Đằng này, theo đó, người ta hô hào ai ai cũng phải có bổn phận dốc lòng vì việc chung! Đúng quá. Song việc chung là để cho “ao nước lã”, cho mọi người làm? Còn khi hưởng thụ, thì lại là việc riêng của họ, của phe nhóm họ, nhăm nhe riêng dành cho những “giọt máu đào”. Lúc chia bổng lộc, địa vị, lợi quyền... tịnh chả thấy tăm hơi những “ao nước lã”! Đằng kia, cũng theo thế, tự cho mình “vì sự cao quý” của “giọt máu đào”(!), họ luồn lựa “đúng quy trình”, ủ mưu kéo bè kéo mảng, tâng cả họ cả hàng rồng rắn... làm quan! Anh em chú bác làm quan thì... con cháu chút chít họ... cũng phải làm quan! Y kiểu “gia đình trị”. Y tuồng xứ quân. Giỏi giang, đức độ thì một chuyện, đằng này bất kể tài hèn đức mọn, bất kể ngô ngọng dở hơi! Quan kiểu đi tắt, quan kiểu nhảy cóc, quan đi rút ngắn, quan đi đường vòng... Như là hôi của trên... muôn nẻo đường quan như một đặc quyền(!?). Những sứ quân “giọt máu đào” nảy nòi tứ tán. Lợi ích nhóm và nhóm lợi ích, phường hội, sứ quân của những “giọt máu đào” mọc ra như nấm sau mưa. Còn “ao nước lã”, dù giỏi mấy mươi, dù đức cao vọng trọng tới mấy mươi... chả nói, ai ai cũng biết, rằng “giọt máu đào” coi họ ở hàng “bét trí tuệ(!).

Những con thò lò... sáu mặt

Ai cũng biết, thò lò là con quay hình lăng trụ có sáu mặt, xoay quanh một trục đứng, xuyên qua tâm nó. Ở mỗi mặt, người ta ghi chấm tròn từ 1 tới 6, thành sáu mặt số. Nó là vật dụng để người ta chơi trò đánh bạc, có từ thời xa xưa. Người thạo nghề cờ bạc tới mức thành tinh, thì họ như làm xiếc... với con thò lò và trở thành kẻ cờ gian bạc bịp, cự phách giang hồ. Họ làm cho những người trong cuộc cờ bạc lắm kẻ khuynh gia bại sản, thậm chí là thân bại danh liệt... Đến lượt họ, vào một ngày vận xúi, ắt rũ tù mọt gông. Vật nào do người làm ra chả mang dấu người. Con thò lò dù là gỗ, đá vô tri, nhưng lâu mãi cũng... ám thị cả tính người. Vì thế, khi xem chuyện thế sự ở đời, nhắc tới nó, người ta nghĩ ngay tới những loại người hoạt đầu, gian giảo, điêu ngoa, quay quắt, tráo trở, lật lường... vậy! Mãi rồi cũng dần thành chuyện nhân gian, rằng những người mang bản tính con thò lò, đến mức chính nó cũng... chẳng thể sánh tày.

Miệng nam mô và bụng một bồ dao găm

Cả gan một tay vuốt ve nhân nghĩa nhưng tay kia họ rắp mưu “gươm giấu tay áo”(!). Táo tợn hơn, họ “mài dao đợi hội” nhưng miệng kia rổn rảng ca: phúc dài đức rộng. “Bề ngoài thơn thớt nói cười. Bên trong nham hiểm giết người không dao” là họ. Các cụ nói: “Xảo ngôn lệnh sắc, tiên hĩ nhân” cũng là loại người ấy vậy. Cũng là loại người “Khẩu Phật tâm xà”, “Nói đông chết tây”, “Nói dây chết củ”... Miệng nói lời nhân nghĩa nhưng bụng chứa toàn... rắn rết. Họ xảo trá, giảo hoạt, lật lường, thậm chí cả vu oan giá họa, “gắp lửa bỏ tay người”, hãm hại lẫn nhau... Sự làm xiếc với nhân thế, thậm chí ma mãnh, biến ảo, gian giảo, thâm độc, họ đạt tới mức thượng thừa. Thôi rồi nhân thế! Ấy chỉ là sáu mặt con thò lò ứng với sáu hạng người trong canh bạc nhân gian, khi nó nằm im trong chiếu bạc. Đã thật là đáng sợ! Nhưng, người mang tính nó, còn giảo hoạt không nhời nào tả xiết. Hậu họa cho nhân thế, theo đó, cũng khôn lường muôn dạng, khôn đo muôn mức. Người dùng con thò lò đánh bạc, lắm kẻ đã rũ tù mọt gông! Còn trong nhân thế, những người mang bản tính thò lò,họ chơi canh bạc cuộc đời, thì ai mà định tính, định lượng, định hình, định danh và định hậu họa sao cho xiết? Những chuyện thế này, người kể ít nhiều tận thấy, từng tận nếm trải, dù rất lâu rồi... Giờ, còn sót trong sự nhớ, xin lược biên lại, ngõ hầu để cùng ngẫm nghĩ và đồng lòng xác quyết: Phải tẩy chúng đi ./.

“Chạy”... nhiệm vụ

Anh Hùng, công chức làm việc trong viện nghiên cứu trực thuộc một bộ lớn kể với tôi câu chuyện khá trăn trở. Số là vào cuối buổi thông tin thời sự, báo cáo viên mạnh dạn nêu một số vấn đề về thực trạng trong xã hội ta hiện nay. Người này cho rằng, trong những vấn đề “nóng” đang tồn tại, có vấn đề mà hệ lụy của nó thì rất nguy hại và lâu dài. Đó là “chạy”... nhiệm vụ. Hùng kể, người báo cáo viên phân tích, thực thi tốt công vụ, đem lại lợi ích cho nhà nước, nhân dân là mục đích xưa nay. Công chức, cơ quan có chức năng tham mưu càng năng động, càng triển khai nhiều nhiệm vụ kết quả tốt thì rõ ràng là càng góp phần quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, việc năng động này lại là “điểm tựa” để nhiều cá nhân thực hiện những ý định riêng, có lợi cho các mối quan hệ và nhằm thu vén lợi ích cá nhân. Trăn trở là ở chỗ, người báo cáo viên đó chỉ nêu vấn đề để các cán bộ trong hội nghị nghiên cứu, tìm lời giải và hứa sẽ trả lời vào lần sau. Mang băn khoăn này về nhà bày tỏ với tôi, anh Hùng khẩn khoản: “Bác xem, mệnh đề trên có lý không?” - Việc này không ai, không cơ quan chức năng nào của ta đưa ra con số thống kê chính xác, nhưng rõ ràng biểu hiện của nó thì hiển hiện ở nhiều nơi lắm. - Đúng đấy bác ạ! Em thấy cái món “chạy”... nhiệm vụ này khá phổ biến và ẩn dưới các hình thức khác nhau. Nhỏ thì tham mưu cho thủ trưởng cơ quan mua sắm A, B, C... để có tý chênh lệch hóa đơn gọi là làm lộ phí xăng, dầu, nước uống. Lớn tý nữa thì xin “làm kế hoạch 3”, đơn giản như cho thuê mặt bằng, tăng nguồn phúc lợi cơ quan, nhưng chi thì “tù mù” và “tít mù” không dấu vết. Dừng một lát, Hùng lên giọng: To nhất là cái “chạy” dự án. Món này thông tin đại chúng chỉ ra nhiều rồi. Khi lập báo cáo khả thi họ vẽ ra đủ mọi thứ về lợi ích kinh tế, xã hội. Nhưng dự án thực hiện xong, nghiệm thu đưa vào sử dụng thì không hiệu quả, dân kêu lãng phí. Ví dụ của ông chưa lột tả hết nội hàm của cái “chạy”... nhiệm vụ mà ông cáo viên nêu ra đâu. Tôi phê phán. - Bác chứng minh xem nào? - Này nhé, nhiệm vụ của một cơ quan thường căn cứ vào chức năng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nhưng ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ khiến nhiều vấn đề, nhiệm vụ cần triển khai của các cơ quan công quyền cũng phát triển. Trước yêu cầu mới thì cái gì cũng cần thiết, cái gì cũng ý nghĩa và phải triển khai ngay, không thì muộn. Thế nên, theo chức năng, các cơ quan thi nhau tham mưu xây dựng đề án, để cấp trên phê duyệt, triển khai mở rộng. Họ tìm mọi cách để thuyết trình, thuyết minh bảo vệ tính đúng đắn. Cá biệt, để “thuận buồm xuôi gió”, họ tổ chức hội thảo, gây dư luận, gặp lãnh đạo để “vận động hành lang”, xin ủng hộ... Nhưng cái chính là, khi triển khai những nhiệm vụ ấy thì sẽ kéo theo nhiều vấn đề khác cần giải quyết, nổi bật là vấn đề nhân lực. - Nhân lực thì có liên quan gì đến việc “chạy”... nhiệm vụ hả bác? - Sao lại không liên quan? Này nhé, muốn thực hiện nhiệm vụ thì phải có nhân lực. Thường là, khi một cơ quan nào đó có thêm nhiệm vụ mới thì người ta vừa tăng cường nhân lực trong nội bộ vừa tuyển thêm. Đây là dịp, là cơ hội để tăng biên chế, để trả nghĩa các mỗi quan hệ hoặc là để tăng vị thế và mở rộng ngoại giao theo hướng có lợi. Chẳng thế mà, hầu như các cơ quan có thêm nhiệm vụ thì biên chế cũng đội cao hơn dự kiến và định biên phình ra. Tôi nghĩ, người báo cáo viên kia muốn nói đến điều này. - Bác thông thái thật, phân tích này rất có lý! Nói rồi Hùng kể lại câu chuyện mới xảy ra để minh họa thêm: Mấy tháng trước, Hùng được một người bạn cùng học phổ thông báo tin rằng, con anh ấy mới tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế, nhưng lại đi làm ở một lĩnh vực khác trong cơ quan nhà nước với nhiệm vụ chẳng liên quan đến chuyên ngành đào tạo, thậm chí còn khác biệt tới một trăm phần trăm. Vì quen biết nên khi rõ thông tin cơ quan X cần tuyển nhân sự cho nhiệm vụ mới anh đã cậy cục để đưa cháu vào đó công tác. Hùng tiếp tục kể, anh bạn thổ lộ chân tình rằng, cháu học không tốt, sợ không làm được ở doanh nghiệp bên ngoài; sợ cháu vất vả nên xin một chân “túc tắc”, để các bác, các chú, các anh quen biết “bồi dưỡng” thành người. Để sau này có cơ hội sẽ chuyển công chức, có việc làm, lương nuôi sống bản thân. Hùng kết thúc câu chuyện: Vừa rồi anh bạn lại khoe, cháu đã vào biên chế. Và lạ hơn là, cơ quan còn khuyến khích cháu đi học văn bằng 2, đúng chuyên ngành đang công tác, để sau này phát triển nghề nghiệp tốt hơn. - Và đương nhiên là rất đúng "quy trình" chứ gì? Tôi hỏi. - Vâng! Tôi phân tích. - Vấn đề đó được núp trong nhiệm vụ, trong những vấn đề “nóng” một cách rất hợp lý. Hệ lụy của nó là, cơ quan công quyền không kiếm tìm được người giỏi, người tài hoạt động đúng chuyên môn yêu thích được đào tạo. Việc “học văn bằng 2” là cái bình phong “hợp lý hóa vấn đề nhân sự”. Thế nên, tình trạng trên cứ hô hào tinh giản biên chế, dưới thì quyết liệt thực thi nhưng hiệu quả thì chẳng là bao. Biên chế cơ quan của nhà nước, địa phương liên tục phình ra mà hướng giải quyết vẫn còn là chủ trương thì “bầu sữa” ngân sách sẽ tiếp tục cạn kiệt là điều dễ hiểu. Và rõ ràng là, khi đã làm trái ngành thì sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đề khó giải quyết, thậm chí còn phải đi giải quyết hậu quả, sửa sai. Tóm lại là, cách làm ấy gây hại cho đất nước lâu dài, kéo lùi sự phát triển của xã hội. Câu chuyện giữa tôi và Hùng diễn ra cách đây không lâu, nhưng có một điều tôi còn chưa phân tích với Hùng rộng hơn. Đó là, khi có nhiệm vụ thì hằng năm cấp trên phải rót thêm kinh phí và các điều kiện vật chất khác đi kèm. Ở ta có thông lệ, khi đánh giá, tổng kết nhiệm vụ gì thì thành tích cũng nhiều và được khen thưởng rất trọng thị. Nhưng những vấn đề tồn đọng, yếu kém thì ít đề cập, ít phân tích, ít quy trách nhiệm. Hơn nữa, ngay cả những kết quả nêu trong báo cáo cũng chưa hẳn đã là chính xác vì thời gian đâu mà cấp trên kiểm tra, lôi ra ánh sáng những việc không cần “đi tới cùng của sự thật”. Thế nên, tác hại của “chạy”... nhiệm vụ như báo cáo viên kia đề cập là có lý và tác hại rất lớn. Đó là cách làm cần phải được loại bỏ, được xử lý, điều chỉnh dứt điểm bằng chế tài pháp lý, bằng sự sáng suốt của những cán bộ có tâm, có tầm và bản lĩnh trước tương lai đất nước, dân tộc./.

Vãi chài… khen… chê(!)

Chuyện khen chê là chuyện của muôn đời, muôn thời và vốn cũ rích, xưa như... quả đất, ngay từ khắc nó mới sinh ra! Cổ nhân cũng nói: Người khen ta đúng chỉ là bạn ta, người chê ta đúng mới thực là thày ta! Ai cũng thuộc. Nên từ rất lâu rồi, chẳng ai muốn nhắc lại làm gì cho rặm chuyện, thậm chí cho nhiễu sự! Nhưng, khen là để thưởng, chê là để phạt! Bởi chưng như thế, nên muôn đời sự khen chê lại càng không cũ, chuyện thưởng phạt lại càng như sự canh tân, thậm chí “nhật tân hựu nhật tân tân”! Vì thế, suốt bấy năm nay, chung quanh chuyện khen chê, thưởng phạt nảy nòi muôn điều ái, ố, hỉ, nộ... Theo đó, vô hình trung, lại đang là chuyện cửa miệng đàm tiếu không chỉ nơi nhân gian rộng nhớn mà còn biến thành bao việc xót xa đến... cười chảy ra nước mắt, làm cho nhiễu loạn... cả những chốn công đường!

Khen kiểu... hội làng!

Ấy là kiểu khen hờ khen hững. Đãi bôi. Tùy tiện. Mặc sức ký khen, đẹp lòng tất cả. Thậm chí cả bình bầu danh hiệu khen thưởng bằng... vỗ tay(!). Cả làng đều vui! Thế mới có chuyện ngực ai ai cũng treo đầy danh hiệu nhưng làng thì... nát như tương Bần, đơn vị thì rối như... canh hẹ! Chuyện khen chê như thế và đại loại như thế, kể sao cho xiết. Thảo nào, chủ nghĩa thành tích ngày một lan rộng. Nhưng nguy cơ nảy nòi thứ chủ nghĩa thành tích mới, còn nguy hại hơn! Một người nói dối để được khen đã là xấu hổ chỉ riêng họ và những ai khen! Nhưng, một tổ chức dối trá để được khen và những ai giúp sức để khen thì nguy cơ tan vỡ cả một tổ chức là nhãn tiền; và cả những người khen tự làm mất mặt mình! Vì thế, cổ nhân nói: Khen tùy tiện, phạt lung tung, tất là gieo... loạn! Mà loạn nhân tâm mới là đại họa; mà vãi chài... khen... chê thực là một trong những thứ đáng sợ bậc nhất trên đời!

Khen để... đắp tội, chạy tội!

Đó là trò công khai đánh cắp... danh hiệu. Loại này sử dụng danh hiệu như bùa hộ mệnh, để giảm tội, chạy tội khi bị xử phạt vì mắc tội. Nên họ chạy danh hiệu, thậm chí mua cả... danh hiệu. Vài năm trước, thậm chí năm trước nhận danh hiệu, năm sau bị khởi tố. Xưng xưng mọc mọc để... khen. Ai mua, ai “bán” danh hiệu? Chả cần nói thêm, cũng rõ! Cả hai tất rước họa vào mình!

Khen hất... xuống, phạt... thăng lên!

Đây là thứ khen hiểm! Khen để kiếm cớ đẩy họ đi, để rộng chỗ, thế người cùng cánh vế thế vào. Khen để điều động người được khen vào chỗ khó, để thách đố, để trừng phạt... Muôn vạn trò khen để hất đi, hất xuống. Ngược lại, chê để... đưa hất lên! Đây là thứ chê... để thưởng. Ai ai cũng thấy, giao việc gì của chuyên viên, anh ta làm cũng hỏng, ai cũng chê, thì tốt nhất cho làm... phụ trách. Không ít nơi, người không thạo việc gì thì cho làm... “lãnh đạo”! Thế là trắng đen lẫn lộn, phải trái đảo chiều, chả ai muốn hăng say làm tốt, chả ai nỗ lực để giỏi giang nữa! Thế là kỷ cương rối loạn, phép công như bùn, hậu họa khôn lường!

Giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng

 

Là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam có vinh dự và trách nhiệm vô cùng lớn lao. Vinh dự và trách nhiệm đó không tự nhiên mà có, không do sự áp đặt chủ quan của một lực lượng nào mà trước hết là do Đảng đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự phát triển và được quần chúng nhân dân tin tưởng, ủng hộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được vị trí lãnh đạo”

Như người sáng lập và lãnh đạo Đảng đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”, nghĩa là phải qua hành động, việc làm ích nước lợi dân, bằng phẩm chất đạo đức và năng lực của mỗi người thì chúng ta mới được quần chúng tin yêu và mến phục. Ngay từ khi chuẩn bị những điều kiện thành lập Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Đảng cần có đội ngũ đảng viên tốt, đáp ứng yêu cầu của người “cầm lái”. Khi đất nước mới khai sinh, trong hoàn cảnh phải chống thù trong giặc ngoài, cùng với việc đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm, tăng cường sức mạnh kháng chiến, Người yêu cầu “trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng”. Có Đảng trong sạch, vững mạnh thì mới đủ sức lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người nhận thấy Đảng phải thật mạnh, thật trong sạch mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ: “Muốn lãnh đạo vững thì trước hết cán bộ và đảng viên phải có tư tưởng và lập trường vững chắc để lãnh đạo, để xung phong làm gương mẫu. Vì vậy, chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”, hơn 90 năm qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trong công cuộc đổi mới, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta thu được nhiều thành tựu to lớn: đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, cơ đồ và vị thế của đất nước ngày càng được khẳng định. Niềm tin của dân với Đảng tiếp tục được chứng minh qua công cuộc phòng chống đại dịch Covid - 19 và phòng chống bão lũ ở miền Trung vừa qua. Toàn dân tộc đã chung sức, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng để cùng vượt qua khó khăn, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, được nhân dân đồng tình ủng hộ và bạn bè quốc tế ghi nhận. 

Trong bối cảnh hiện nay, để củng cố, giữ vững được niềm tin của nhân dân với Đảng, cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ nhận thức, trước hết là trình độ lý luận chính trị để có hiểu biết sâu sắc về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để tuyên truyền và tổ chức thực hiện trong Nhân dân.

Hai là, cần tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đó là các nguyên tắc: tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng và củng cố quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân.

Ba là, xây dựng và rèn luyện đội ngũ đảng viên có đủ đức, tài. Muốn hoàn thành tốt công việc mà Đảng giao phó thì cần phải có cán bộ tốt. Muốn có thế hệ kế tiếp giỏi giang, trung thành, tận tụy, cần phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trong cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung”

Dưới ánh sáng của Đại hội XIII của Đảng, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được đội ngũ đảng viên nhận thức và tự giác chấp hành để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của mình, giữ vững niềm tin của nhân dân với Đảng. 

Mai Năm Mới (ST)

Khen thưởng trong... chum!

Ấy là kiểu khen dấm khen dúi, khen... vụng, khen vịu! Khen là do suy tôn mà có. Nhưng, người trình khen thì... liều lĩnh ký trình! Người ký khen thì quan liêu, tắc trách... liều lĩnh “ký đại”(?). Người được khen thì giấu nhẹm giấy khen, bằng khen tận đáy... hòm, chỉ lén “ghi thầm” cái gọi là thành tích, công lao, cống hiến được khen trong lý lịch! Chả dám công khai. Như là... đánh quả! Như buôn bạc giả vậy! Thế thì còn gì là khen, nếu không nói là phản khen? Thế là không ít nơi có những loại danh hiệu... tăm tối!

Khen từ trên xuống...!

Xưa các cụ bảo: Hình pháp không chừa khanh tướng, khen thưởng không sót thứ dân. Hồ dễ thời nay chả mấy ai thuộc mà làm. Mà họ có thuộc thì cũng làm... ngơ! Dân gian lưu truyền: Cuốc xẻng phân từ dưới phân lên, đường sữa phân từ trên phân xuống. Chuyện khen ở đây cũng thế! Khen theo phẩm trật, chứ chẳng vị công lao hay cống hiến nhỏ to. Cấp to khen to, cấp bé khen nhỏ, không cấp không khen! Thế mới có chuyện, một người cởi trần, thầm lặng dời cả quả núi, mà suốt đời không một lời đếm xỉa, đến mức chả thể sánh tày mười anh huân chương đầy ngực xúm xít chỉ khênh một cái... kim. Sự khen đã tự... làm nhục mình!

Khen... huếnh!

Ấy là kiểu khen “vẽ rắn thêm chân”, “khen phò mã tốt áo”... Nói như dân gian là: có một khen mười, khen để bốc thơm(!). Đó là sự điêu toa, thậm chí là giả dối và lừa phỉnh. Huếnh để khoe mẽ, để đánh bóng mình và đánh bóng nhau, để lừa lọc! Khen huếnh để trát phấn, bôi vôi, tô vẽ, phường tuồng cũng thua, để rắp mưu lên chức, đoạt quyền. Làm thì chơi khen thì thật, chả làm cũng vẽ ra khen. Cái được gọi là thành tích, công huân... chỉ do khen huếnh, chỉ là con diều bằng giấy, chẳng mưa cũng tan, chửa đốt đã cháy, làm hại tất cả. Thế mới có chuyện: Mười người ngực đeo đầy huân chương lại bề bề chức nọ quyền kia, nhưng chỉ khênh... một cái kim(!), đầy hài hước! Chẳng ai tin sự khen nữa. Khi mất hết lòng tin ở chuyện khen thưởng, thì người tốt thượng sách là... buông xuôi, người dở thì mặc sức tô trát huân, huy chương đầy ngực phù phiếm! Thế là giết chết sự khen chân chính!

Trên khen dưới... thưởng(!)

Ấy là kiểu khen nịnh, mà lại là... nịnh ngược(!). Cấp trên nịnh cấp dưới, tạm gọi là nịnh ngược. Mà nịnh ngược theo mùa: mùa bầu cử, mùa đại hội... Cấp trên ra sức khen... cấp dưới, tới mức không tiếc giấy, chẳng hẹp nhời bao giờ. Trình là khen, gợi ý... khen, thậm chí là chỉ tiêu... khen! Phần thưởng thì dưới... chủ động lo, thậm chí cả việc xã hội hóa mà lo thưởng. Mùa khen vãn, người khen đắc chí trúng cử, trúng bầu... thì khen kia cũng tàn, theo... gió mà bay đi! Và khen kia lại đợi đến... mùa nịnh ngược năm sau, nhiệm kỳ sau!

Nhìn lên? Nhìn... xuống?

Tôi đã tận thấy một con đường “cong... mềm mại” (nhại cách nói của một vị chức sắc ở Thủ đô Hà Nội) đến quyến rũ càng như tôn lên cái dáng vẻ oai phong nhưng thật la đà của một cây cổ thụ ở Thái Lan, vào năm 2005! Tôi chưa thể hiểu được điều “kỳ quặc” ấy, nếu đem cái nhẽ thông thường ở xứ mình ra mà suy. Tôi cũng tận thấy một con đường sắt còn “mềm mại... cong cong” hơn nhiều lần con đường bộ của xứ Thái Chùa Vàng, như quyết tâm phải... tránh một ngôi làng cổ (nhưng về tuổi có lẽ chửa đáng hạng chút chít làng Đường Lâm xứ Đoài mây trắng cả ngàn năm của ta) ở tít tận xứ sở khai sinh giải Nô-ben lừng lẫy thế giới, lại mới cách nay vừa 17 năm. Kỳ thực, tôi lại càng không hiểu được điều “trên Giời” của dân xứ Bắc Âu xa xôi ấy, nếu theo cái nhẽ của xứ mình, lại nom bằng “con mắt hạt đậu” của riêng tôi! Thì ra, các xứ dù ở rất gần ta hay rất xa ta, họ đều có chung một kiểu nghĩ nhưng lại rất khác xứ ta. Hay là ta “độc đáo”, ta “bản sắc”? “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”? Hay là “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”? “Duy ngã độc tôn”? V.v.. Có lẽ cái nhẽ của xứ ta hay chăng thường thế và... chỉ có thế? Chả thế mà bỗng dưng hàng ngàn cây xanh đã bảy, tám chục mùa Xuân đùng đùng ban ngày, lặng lẽ ban đêm bị... đốn hạ! Nắn một cái vỉa hè, lề đường thôi, mà tận một cái huyện vùng bán sơn địa xa lắc lơ kia, cũng triệt hạ cả một hàng cây xanh sừng sững suốt cả bốn, năm chục tiết Đông, cốt cho thẳng thớm chỉ mỗi cái... vỉa hè! Chả thế mà bỗng dưng bao ngôi đình chùa bị phá, làng cổ bị gặm nhấm bởi mấy cái “dự án treo ngược... chân mây”; mồ mả tổ tông bao gia đình bị di dời mà chả một ai ký lệnh mảy may rơi... nước mắt! Nhưng, nom sang xứ người, tôi đồ rằng, xứ ta chả phải thứ bỗng dưng! Nếu bỗng dưng, thì họa chăng chỉ có người rỗi hơi hay những kẻ loạn trí, mới bỗng dưng thế! Họ tự tô trát, đánh bóng mình? Họ ra oai với hàng tổng. Họ muốn tâng công với cấp trên? Chỉ là một nhẽ bé! To hơn, là họ hóng để thậm thụt cái “chân giò”? Họ đợi chấm mút cái “nậm rượu”? Họ thỉn thò cái thứ “của đồng chia ba, của nhà chia đôi”, đục đẽo, chia chác từ các dự án “nửa đực nửa cái”? Họ ngó, họ hóng... kiếm “màu” lúc xã tát ao? Dân ta vốn hiền như hòn đất vẫn râm ran thế! Và, tôi cũng nom và nghĩ thế! Chả có thứ... bỗng dưng nào cả! Chả thế, thảo nào dân ta chả chịu nổi mấy thứ... bỗng dưng ấy. Đơn kêu cứu chạy khắp nơi. Thư tố cáo tá lả ngược xuôi, đôn đáo ở mọi cấp. Có vụ, việc lê thê tới cả vài mươi năm. Thậm chí cả thôn làng, cả xã chả ai thèm hề hấn mà tiếc cái thân mình, nhất tề nhào ra cản bánh những xe ủi những toan đè nát rau màu... Để làm gì? Rồi thì bà già, con trẻ lăn xả với những người “thực thi công vụ” nai nịt trăm thứ đầy mình, xăm xăm dỡ đình chùa đã trăm năm của làng... Phỏng lợi lộc gì? Đâm ra lắm nơi tình hình cứ rối beng lên như canh hẹ! Đâm ra lắm cấp kỷ luật cán bộ dễ đến cả... xâu, thậm chí nhắm mắt mà khua cũng không oan những sự “chả bỗng dưng”! Tôi đem những sự đường bộ tránh cây, đường sắt tránh làng ở xứ Chùa Vàng, ở xứ Nô-ben (tất cả họ làm mà cứ “nhẹ tựa lông hồng”) hầu chuyện một cụ già ngót cả chín chục tuổi Giời ở làng! Cụ hỏi lại tôi: Chắc chính phủ họ hỏi ý dân? Tôi thưa, vâng! Cụ im lặng rất lâu, và thủng thẳng kể: Vào độ dững năm năm mươi, năm mốt, đây vẫn là làng tề. Pháp càn vào làng, đốt cháy vài chục nóc nhà. Trong cái hỏa hoạn, súng nổ tứ bề, thì một cán bộ Việt Minh bị thương ở chân gặp cụ. Anh ấy quỳ xuống, xin cụ giấu! Cụ bảo: Chú đứng dậy, và xốc nách anh ấy, giấu sau bờ đìa, thì giặc Pháp ập tới! Thoát chết! Sau này, anh ấy làm tới tận Chủ tịch tỉnh. To lắm. Nhưng, vẫn thường về thăm và vẫn giữ lễ quỳ xuống nhìn lên cụ, y hệt cái đận ấy. Cụ bảo: Nay, thì cán bộ xã này có tí chức tí quyền dân bầu cho, mà chỉ biết “vác mặt” lên, đứng trên bục cao, trên đủ thứ... cứ nhầm tưởng là “mục hạ vô nhân”(!). Rồi, nhìn xuống... mà phán bảo, mà ra lệnh(!). Chả thèm đoái hoài bụng dân nghĩ gì. Hay vì ngại “dân thì vốn gian”, lại không “sáng suốt”? Đâm ra cái làng này mới sinh “loạn” to, từ cái độ giải tỏa mặt bằng cho mấy ông doanh nghiệp, dễ cả năm giời, tới tận hôm rồi, chửa dứt! Không có ai nghe phán, thì mấy ông xã làm “quan” với ai? Chả nhẽ với... các em “quan” bé: tỉ như trưởng thôn, trưởng xóm? Hay vì chưa thấy “quan... tài”, quyết chưa... rỏ lệ? Tôi thưa với cụ: Nhìn lên thì lễ nghĩa, đáng phục; nhìn xuống thì vô sỉ, đáng khinh! Cụ thì bảo, cụ chả thiết kiểu nhìn lên, muốn quẳng đi lối nhìn xuống! Cụ duy chỉ cần mỗi điều to bằng... hạt gạo. Rằng, cán bộ xã này, huyện này cố mà nhìn... ngang, nom thẳng vào cái bụng dân, rồi biết nghĩ bụng, mà biết điều biết nẻo, bụng ta bụng người... Được thế, thì mọi sự dù rối rắm, thậm chí là vỡ đê, “cháy nhà chết người”, giặc giã hung hãn, đạo chích quấy nhiễu đến mấy như xưa kia, dân làng chỉ khua tay nhẹ, đã tan. Làng này xưa vốn thế, nay vẫn thế! Tỷ như tháng trước, cái ông chủ tịch xã bị bọn côn đồ lùa khắp xóm, vì tội cầm tiền rồi quỵt việc bao che cho chúng làm càn làm rỡ. Tưởng chết. Dân làng thương tình, lại vì thể diện xã, mới chỉ dùng đến mấy ngón tay thôi, lũ côn đồ nhung nhúc kia, bỗng như bèo... gặp bão. Việc “nhất sinh vạn tử” ấy, dân làng nhón tay làm phúc, lại hóa bé tẻo teo. Giỏi lắm, may ra cũng chỉ nhỉnh hơn nửa cái... móng tay này. Và, cụ giơ choạc ngón tay cái, móng đã mòn vẹt, vì công việc cấy cày đồng áng. Cụ bảo: Khó không làm nổi, thì chịu khó mà... hỏi dân. Hay nghĩ vì mình sáng suốt, không cần hỏi? Hay nghĩ vì sợ mình “hạ cố”(!), mà mất mặt với dân? Khi dân còn vì “máu chảy ruột mềm”, mà thiết tha mở miệng, là còn thương đấy. Để dân ngoảnh đi, coi như người dưng nước lã, chả ai buồn nhếch mép, chả ai thèm động thủ, kệ thây, thì đến cái ngày, chỉ còn mỗi một nước, là... hết! Chuyện cũ rích rác, đã đôi mươi năm trước. Giờ, vắn tắt xin biên lại vài nhời. Ngõ hầu may ra động nhĩ, cốt để mong sao lắm người chỉ những quen... nhìn xuống, thử nghĩ và thử tự hỏi mình!./.

Lộc giời?

Từ hơn ba năm trước, Thông chỉ là một nông dân trồng ổi. Giống ổi cao sản du nhập vào địa phương cũng giúp vợ chồng Thông có thu nhập ổn định. Những năm ổi được giá, thu nhập cao hơn tý chút thì gia đình vui lắm. Ấy nhưng, những năm giá ổi xuống thấp, tiền chi mua phân bón và công chăm sóc tăng, vợ chồng buồn chẳng muốn hái ổi, thậm chí cả buổi chẳng thèm nói với nhau câu nào. Bây giờ thì Thông không phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, xới, chăm bón, lo tỉa hoa cắt cành cho từng gốc ổi như trước đây nữa. Nói chính xác, Thông đã tạm biệt hơn một nghìn mét vuông đất trồng ổi chỉ để rong ruổi, hưởng “lộc giời”. Người đời truyền nhau câu nghèo lâu, giàu mấy quả không sai. Thông là trường hợp điển hình. Đang phát ngán vì giá ổi xuống thấp thì ông anh họ bên nhà vợ đến ép vợ chồng Thông phải làm ông chủ bãi tha ma. Thoạt nghe tưởng chuyện lạ xưa nay, nhưng là có thật. Từ ấy, lộc giời rơi vào đầu Thông như là một lẽ đương nhiên của cuộc sống. Này nhé, mỗi gia đình ở địa phương cần cải táng hoặc hỏa táng đem hài cốt, tro cốt về chôn cất là Thông có tiền triệu trong tay. Nào là tiền đất, tiền xây, tiền hoàn thiện công trình, đến chăm sóc phần mộ... Đấy là chưa tính những dự án xây dựng trên diện tích đất thuộc những nghĩa địa khác có nhu cầu chuyển đến. Mỗi năm, ước ra Thông thu lời mấy trăm triệu. Trồng ổi mười năm chắc cũng chẳng được như thế. Mỗi khi vi vu trên xe hơi hiệu Forcus bóng lộn, êm du mới sắm, Thông lại mỉm cười một mình. Thông nhớ lại chuyện gần 3 năm trước. Độ ấy, vào đúng dịp tháng bảy, mùa thu hoạch ổi thời tiết nóng như đổ lửa thì ông anh họ đằng vợ bất ngờ xuất hiện như ông bụt trong chuyện cổ tích. Ông anh chui ngay vào cái lều trồng ổi chật chội ẩm mốc và bảo vợ chồng Thông ký vào một loạt các giấy tờ gì đó đã làm sẵn để có thu nhập hơn trồng ổi, có của ăn của để và nhanh giàu. Làm sao mà Thông dám từ chối, dám hỏi han nguyên nhân, lý do cho được cơ chứ khi ông anh làm việc ở cơ quan tài chính của quận nhiều năm, thông thạo pháp luật lại có tiếng nói, uy tín cao trong gia đình, dòng họ. Hơn nữa, Thông trộm nghĩ, anh em trong nhà, chắc chẳng bắt nhau đi tù vì chữ ký. Thời gian ngắn sau, ông anh đằng vợ gọi Thông sang nhà. Ông anh ngọt nhạt, tỷ tê, rỉ tai với Thông kế hoạch tuyệt mật. Số là, miếng đất mà người dân gọi là “đuôi lươn” của phường vốn bị bỏ hoang hóa từ lâu chẳng ai ngó ngàng tới nay được xếp vào quy hoạch, trở thành khu công viên vĩnh hằng. Nói thế cho oai chứ thực chất là nơi an táng, an nghỉ của những người quá cố. Theo lệ xưa thì, đất công của làng nào, phố nào do người dân ở đấy được quyền sử dụng và quyết định. Nay đã thành đô thị, đất thuộc quyền quản lý, định đoạt của quận, của thành phố. Để thực hiện dự án thì phải tổ chức đấu thầu mới đúng quy định địa phương và đúng pháp luật hiện hành. Vấn đề làm thế nào để trúng thầu mới là câu hỏi hóc búa. Một nông dân thứ thiệt học chưa hết cấp 3 như Thông thì quả là khó. Nhưng được cái bố mẹ đặt tên là Thông cũng không thừa. Thông cho rằng, từ khi sinh ra và lớn lên, cái tên Thông với hy vọng là thông thái, thông tuệ, hiểu người, hiểu đời hôm ấy mới được phát huy tác dụng. Thông ngọt nhạt với ông anh rằng, em nông dân chân chất, ít học, ít va chạm, biết gì, bác thuộc tuýp người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người. Việc lo, việc nghĩ đâu đến phần em. Em cứ thực hiện theo lệnh của bác. Bác bảo em chặt to, em chặt to, bác bảo em bổ nhỏ thì em bổ nhỏ. Đấy, bác nói thế nào em làm đúng như vậy. - Được. Nhưng cấm chú tiết lộ thông tin đấy nhé. - Vâng. Thời nay, thông tin là vàng là bạc. Đấy, như cái món trồng ổi của em đấy thôi. Chỉ cần lộ thông tin phun thuốc sâu sát thời điểm hái quả thì ổi có ngọt và ngon cỡ mấy cũng chẳng có khách tới mua. Thậm chí cho người ta cũng không lấy chứ nói gì đến bán rẻ. - Chú nghĩ thế là phải. Giờ thì nghe này. Hôm tổ chức đấu thầu thì cậu cứ đến, cứ ngồi im, bảo gì làm lấy. Tôi nhắn vào điện thoại số bao nhiêu thì ghi đúng số đấy. Bây giờ tập nhé. Ông anh lấy tờ lịch cũ và đưa cho Thông chiếc bút bi. - Xong chưa, nhìn vào máy điện thoại và đợi tin nhắn. - Vâng. Sau tiếng báo tin nhắn kêu bít, Thông mở máy và đọc to: Ba trăm sáu mươi triệu. - Chết, ngu ơi là ngu! - Sao vậy anh, cái này em học từ bé, đơn giản mà. Em đọc đúng hàng triệu, trăm, nghìn và đơn vị đấy thây. - Mày ngu lắm em ạ. Khi đấu thầu, mỗi người đều có một con số để ghi vào. Ai bỏ thầu giá cao sẽ trúng. Chú đọc to thế, nhỡ người ta nghe được, cho thêm số 1 vào thì chú có trúng thầu được không? - À ra vậy. Em hiểu rồi. - Ừ, chú nhẩm ở trong đầu thôi, sau đó ghi ra giấy nhé. - Vâng. - Nào, ta làm lại. Ngay hôm sau, buổi đấu thầu diễn ra như kế hoạch và Thông cũng làm đúng như những gì mà ông anh bên nhà vợ đã tập huấn. Mãi sau này Thông mới biết, người ngoài khó mà có thể chen chân được miếng ngon như vậy. Bởi như sau này ông anh chia sẻ, nếu người địa phương trúng thầu sẽ dễ quản lý hơn, tránh được sự va chạm với người khác khi sử dụng dịch vụ. Thế nên, Thông là nhân vật số 1 mà ông anh chọn. Trong buổi đấu thầu ấy, ngoài Thông thì chẳng có ma nào ở phường biết được thông tin này. Bởi như Thông suy đoán, ai mà rỗi hơi tìm hiểu mấy cái thông tin kia. Với lại, đặc nông dân, biết gì mà làm giấy tờ, biết gì mà làm hồ sơ dự thầu cơ chứ? Đời người có số. Và Thông là một minh chứng. Chỉ một con số chẳng có nghĩa gì Thông đã đổi đời. Từ nông dân xịn trở thành ông chủ công viên vĩnh hằng. Tuy nhỏ, nhưng ý nghĩa lắm. Cũng may nhờ ông anh quan hệ rộng, nhiều quyền uy hơn người, chỉ đạo quân xanh bỏ thầu thấp nên Thông mới được như ngày hôm nay. Thời buổi đất chật người đông, của ít nên cái gì cũng phải mưu mẹo, khôn ranh và lanh lợi. Thông đang dự định bàn với ông anh đằng vợ, xây thêm nhà để tro cốt người quá cố. Mục đích là tạo ra các ô ngăn như ở Đài Loan hoặc Hồng Công, vừa đẹp vừa lịch sự lại tiện lợi, văn minh. Sau này, các chung cư mọc lên, người đến ở đông hơn, nhu cầu lắm chắc chắn sẽ hốt bạc. Đấy, số đỏ là đấy chứ đâu. Ấy nhưng, để việc này được thông đồng bén giọt, Thông cũng phải chi ra tấm ra món. Buôn có bạn, bán có phường. Lộc giời mà hưởng tất đâu được. Từ ngày lên ông chủ, Thông hiểu ra, có tiền, có quan hệ, được các quan bao bọc và bật đèn xanh, nắm chắc thông tin, xử lý chính xác thì chẳng sợ nghèo./. Đức Tâm

Trăm năm, chuyện... tưởng cũ càng!

Năm 1928, bàn về bệnh “Bệnh giả dối quá nặng”, Cụ Phan Bội Châu viết: “Tục ngữ có câu nói rằng “Trăm voi không được một bát xáo”; lại có câu rằng “mười thóc không được một gạo”. Xem đó mới biết tính chất người nước ta chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng. Sĩ (từ đây trở xuống, điểm qua sĩ nông công thương là bốn loại người trong xã hội) hay giả dối thì tìm tòi đạo lý không cậy óc mà cậy tai (ý nói chỉ nghe hóng mà không chịu suy nghĩ); Nông hay giả dối thì cày cấy ruộng trưa (mãi trưa mới ra ruộng), không cậy người mà cậy đất (dựa vào đất đai màu mỡ chứ không dựa vào lao động chăm chỉ); Công hay giả dối thì phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng; Thương hay giả dối thì đua nhau bòn vặt mà mất cả lợi to, thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà trát vàng ở ngoài mặt, mướn nhân nghĩa làm mồi cầu lợi mà xức mật ở đầu môi. Chẳng những ngoài đối với xã hội trên đối với quốc gia, gốc cây trăm năm đủ bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn dặm đã bị con mối giả dối kia xoi (làm cho thủng) tan; mà lại trong đối với một nhà, dưới đối với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đo đục thấu cao hoang (chỗ trọng yếu trong con người), khoét vào cốt tủy; tay dối lòng, miệng dối dạ; ăn bánh vẽ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy mà đi với ma, kết quả không việc gì là việc thật...”. Ngược lên 20 năm trước Cụ Phan, vào năm 1908, cách nay cả 109 năm, Cụ Trần Chánh Chiếu, khi luận về chữ Tín, viết trên Lục tỉnh tân văn, rằng: “Không giữ chữ tín thì anh lừa tôi, tôi lừa anh, trăm chuyện sẽ nát, tinh thần xã hội tan rã (...). Bất tín lớn nhất: một là dối trá. Nhiều người nước ta vụng trong đường mưu sinh (kiếm sống) nhưng lại giỏi dối trá giả mạo. Hai là bội ước các quy chế, chương trình, mà lại làm ra vẻ tuân hành. Nói mười không giữ được hai, ba. Ngay khi ký quy ước đã không có ý thực hiện, cứ ký bừa, bất kể sau này ra sao. Cho nên quy ước chưa ráo mực mà như đã bỏ đi. Còn như ước miệng (thỏa thuận miệng) thì chỉ là “nói láo mà chơi nghe láo chơi” (câu thơ cổ Trung Hoa, được dẫn trong lời mở đầu truyện Liêu trai). Những thói xấu ấy đầy rẫy mà cứ điềm nhiên không cho là quái gở”. Năm 1914, chung quanh chuyện kiêu ngạo, hợm hĩnh, theo đuổi những cái hão huyền, dưới nhan đề: “Gõ đầu trẻ”, Cụ Nguyễn Đỗ Mục viết trên tờ Đông dương tạp chí: “Kiêu ngạo lộ ra ngoài mặt là những kẻ làm bộ làm tịch, ta đây kẻ giờ (một thứ “anh hùng thời đại”), khinh người bằng nửa con mắt. Lại có thứ kiêu ngạo kín ở trong bụng, nghe điều trái tai không cãi, thấy điều chướng mắt không chê, chỉ nói mát một câu hay cười nhạt một tiếng. Có kẻ bụng dạ nhỏ nhen thì sinh ra kiêu ngạo, hơi một tí đã có tính hợm. Vậy nên đấng nghiêng trời lệch đất không kiêu ngạo bằng những kẻ đội lốt sư tử, tiền rừng bạc bể không kiêu ngạo bằng những kẻ mầu mỡ riêu cua. Có kẻ tư tưởng sai lầm thì sinh ra kiêu ngạo. Ăn tàn phá hại lại tự cho là sang trọng vào nhòng, lừa dưới dối trên lại tự cho là khôn ngoan chẻ vỏ (Vào nhòng chẻ vỏ là gì, chúng tôi chưa chú giải được). Kiêu ngạo lại thường là một người ngu, ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, vịt lội dưới ao chê sấm là nhỏ. Kiêu ngạo không chỉ là cái cớ riêng của đám người không có giáo dục mà còn tại tập tục và trình độ cả đám đông xã hội”. Dưới nhan đề “Tiếng gọi đàn”, để nhận diện thói đảo lộn các giá trị, năm 1925, Cụ Dương Bá Trạc viết: “Danh dự là có tài có đức có công nghiệp (cũng tức là sự nghiệp) có khí tiết thật, còn kẻ chạy theo hư vinh chỉ lo đâm đầu đâm đuôi chạy xuôi chạy ngược để cầu cạnh chen chúc, làm sao cho có được cái mã ngoài ấy thì tất là lộn sòng với cái chân giá trị. Nào trong xã hội mấy ai là người biết cân nhắc so sánh cái chân giá trị của người ta, mà vẫn thường lầm cái hư vinh là cái danh dự thực! Hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai; hỏi quý ai, tất là ông cả bà lớn; hỏi cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc; hỏi cái gì là sướng, tất là ăn trên ngồi trốc, nhận lễ thu tiền. Rồi xu phụ khéo luồn lọt bợm để cầu vinh, ấy là người giỏi; giết người tợn tâng công khỏe để cầu vinh, ấy là người tài; lắm quan thày tốt, thần thế lo gì cũng xong xin gì cũng được, ấy là anh hùng; nạt con em ức hiếp hàng xóm, anh làm ông nọ, em làm ông kia, ấy là nhà có phúc; khao phẩm hàm, vọng ngôi thứ (nộp tiền hay lễ vật cho làng để có ngôi thứ), ấy là vẻ vang; cổ kim khánh, ngực mề đay ấy là danh giá. Một người như thế, trăm người đều như thế, đời trước như thế mà đời sau cũng như thế nốt!”. V.v... Xin được lạm bàn: Từ rất lâu rồi, khảo tầm, đọc đi đọc lại cổ thư, cứ lần lữa mãi, chửa dám chép ra. Vì, lòng vẫn ái ngại, sợ kiến văn chưa đủ rộng, e bỏ sót; ngại sở học chưa đủ sâu, khơi lại cái nọc xấu xí của... thời xưa, người xưa cả hàng trăm năm trước, e thất lễ với cổ nhân. Nhưng, càng nghĩ càng buồn và xót xa thay! Vì, chính những thói ấy, một nguyên do căn bản, đã làm cho người nước Nam ta tự cùm trói mình, tự làm mình yếu hèn đi, tự mình làm nô lệ cho... chính mình, khó ngóc đầu lên đặng. Cộng thêm với họa lúc bấy giờ, nhân quần bị đọa đầy trong vòng vong quốc nô, dân tộc rên xiết dưới gót sắt thực dân, bị trói buộc bởi vòng vây phong kiến, nên nhân sinh, dân tộc lại càng thêm thê thảm, đằng đẵng ngót cả trăm năm giời, mù mờ đi giữa đêm đen. May mà Ất Dậu 45 tới, dưới ngọn cờ của Đảng, phải mất 15 năm toàn dân tranh đấu, mới thoát ra được vòng nô lệ, để dân tộc tới bờ độc lập, nhân dân cập bến tự do! Thói ấy trong nhân sinh, tưởng những theo đó mà... tan! Nhưng sau ngoài 70 năm, giờ trông lên, rồi nhìn sang, khi xem lại cổ thư, dẫu là những chuyện đã rêu phong, lại vẫn buộc phải tự vấn: Thời nay, ai người dám quả quyết rằng, những thói ấy chỉ của thời xưa, của người xưa, mà ở thời nay, người nay đã tẩy sạch? Nếu xem và đối sánh với 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong Đảng hiện thời, vẫn thấy những thói xưa cũ ấy đang... thập thò ở đảng viên này hoặc ẩn hiện trong tổ chức đảng kia: háo danh, phô trương, đánh bóng tên tuổi, “chạy” thành tích, giả dối, hư vinh... Và, nhãn tiền có thể, nếu không tỉnh táo tẩy trừ, âu sẽ lại mỗi người tự mình làm mình bạc nhược, yếu hèn, tự mình cùm trói mình, tha hóa, thoái hóa! Thì thật đắc tội với sự cảnh báo của các bậc tiền nhân lắm thay! Nhưng, mối nguy to nhất, nếu các chứng cũ ấy lây lan rộng khắp, lại ăn vào tận cốt tủy người đứng đầu tổ chức, mà không quyết sửa chữa, sẽ lâm cảnh “vạ trong tường vách”, thậm chí là chuốc lấy cả họa “sát thân”, khôn mà lượng trước! Con mối ấy đục ruỗng ngôi nhà, tổ kiến hổng ấy xoi tan đê vỡ... sẽ làm cho Đảng yếu đi, khó lòng “là đạo đức, là văn minh”, khó lòng tiếp tục xứng đáng là “đứa con nòi” của dân tộc, và càng khó là và làm “người đày tớ thật trung thành của nhân dân”! Lúc ấy, hối thì đã muộn! Bởi chưng nhẽ đó, xin chép nguyên lại và cẩn tắc chú giải ở đây, chỉ mong để cùng nhau nhớ, nghĩ, rồi nghiêm nhặt tự xét soi mình. Và nếu mắc, cần kíp tự chỉnh đốn mình, khi còn chửa muộn! ./.

Quyền thật và quyền ảo

Mới đây, trong một lần đến thăm ông bác họ là cán bộ cao cấp trong quân đội đã nghỉ hưu, tôi được chứng kiến nỗi lòng của những “người đồng chí già” về sự lạm quyền của một số cán bộ biến chất, mang nặng chủ nghĩa cá nhân thời nay thông qua câu chuyện giữa bác tôi và ông bí thư chi bộ tổ dân phố nơi gia đình cư trú. Có lẽ, những băn khoăn ấy của hai ông cũng là tiếng lòng chung của nhiều đảng viên với Đảng. Mở đầu câu chuyện, ông bí thư chi bộ đã hơn 70 tuổi thở dài đánh thượt, thổ lộ rằng, rất buồn vì nhiều cán bộ trẻ làm lãnh đạo thời nay bản lĩnh thì chỉ ở cấp “tiểu học”. - Bác nói hàn lâm thế thì sao hiểu được. Đã là cán bộ dù to, dù nhỏ cũng có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị tương xứng. Bởi, trước khi đề bạt, bổ nhiệm, tổ chức cân nhắc, đánh giá, thẩm định và thử thách chán. Làm gì có chuyện bản lĩnh chỉ ở cấp “tiểu học” mà được làm lãnh đạo đâu? Bác tôi phản pháo. - Anh đúng là “ếch ngồi đáy giếng”. Vụ “ông bí thư trẻ” ở Thành ủy Đà Nẵng vừa bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương lôi ra ánh sáng là thế nào? Hay như vụ nguyên Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Công thương chẳng hạn. Đặc biệt, vụ việc ở Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nữa. Có phải do bản lĩnh kém nên mới bị ăn “đạn bọc đường” và “ngã ngựa” không? Theo tôi, đấy là những trường hợp “say mồi”, bị đồng tiền làm mờ mắt nên thiếu bản lĩnh, lạm quyền, trở thành có hại cho Đảng, cho dân. - Vâng, bác nói đúng rồi! - Chuyện, tôi làm công tác tổ chức cán bộ bao nhiêu năm, kinh nghiệm không ít. Này, tôi trách họ là chính, nhưng cũng phải trách tổ chức Đảng của mình còn kém trong vấn đề kiểm soát quyền lực. - Vậy yếu ở chỗ nào trong vấn đề kiểm soát quyền lực hả bác? Ngẫm nghĩ một hồi, ông bí thư chi bộ tổ dân phố lý giải: Đảng ta lấy nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức lãnh đạo cao nhất. Nếu soi vào nguyên tắc này thì ông bí thư dù ở cấp nào đi chăng nữa thì cũng chỉ có cái quyền về tập hợp tổ chức, định hướng vấn đề để cấp ủy, chi bộ quyết định phương án giải quyết. Có nghĩa là, mọi việc dù to, dù nhỏ trong tổ chức đều phải đưa ra tập thể cấp ủy bàn bạc, thống nhất và quyết định. Các cấp ủy viên cần phát huy tốt vai trò và trách nhiệm của mình để kiểm soát quyền lực, các tổ chức cơ sở đảng được thành lập ủy ban kiểm tra. Dừng lời, ông ví dụ, trong công tác cán bộ chẳng hạn, khi trên có chủ trương cho phép luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thì tổ chức đảng cấp dưới phải làm theo quy trình. Để bổ nhiệm vào chức danh lãnh đạo nào đó, đúng ra, họ thường đưa ra 2 đến 3 nhân sự có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh như nhau để cấp ủy so sánh, đối chiếu, cân nhắc, lựa chọn. Thế nhưng, thường các tổ chức đảng đưa ra những cán bộ có chất lượng không ngang bằng nhau để so sánh, lựa chọn nên mới có hiện tượng con quan trẻ tuổi đã lọt vào các vị trí lãnh đạo mà vẫn đúng quy trình, nhưng chất lượng thì thấp, đặc biệt là bản lĩnh chính trị chỉ ở bậc “tiểu học”. - Bác phân tích cũng phải, nhưng theo em, cũng vì cái uy giả, cái quyền ảo ấy mà nhiều cấp ủy viên của ta chỉ biết lẳng lặng giơ tay biểu quyết, bằng mặt mà không bằng lòng. Họ sợ gió, sợ mưa, sợ mất miếng cơm manh áo, sợ mất ghế, mất quyền nên không dám đấu tranh thẳng thắn, không dám phân tích điều hơn lẽ thiệt. Tóm lại, họ không làm tròn cái chức ủy viên đã được các đảng viên tin tưởng bỏ phiếu tín nhiệm trong đại hội. - Chà, trí não của cán bộ cao cấp về hưu đã được huy động rồi đấy. Tôi vẫn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nhưng chỉ mong Đảng ta có cách thức để kiểm soát quyền lực của cán bộ các cấp sao cho kịp thời ngăn chặn những vi phạm, nhất là những hiện tượng lạm quyền trong tổ chức mà thôi. Nói rồi, ông bí thư chi bộ chào ra về để kịp giờ đón cháu. Ông bảo, “nghị quyết” của gia đình đã thông qua, tôi phải đón cháu còn việc tắm, cơm nước là của bà ấy. Dân chủ thế mà vẫn có lúc hai ông bà mất đoàn kết đấy. Tôi sợ bị bà ấy phê bình lắm. Khi ông bí thư chi bộ đã ra về, ông bác tôi mới phân trần: Làm cán bộ thời nay quả khó hơn ngày xưa nhiều. Khó vì bản lĩnh luôn bị nhiều đối tượng tấn công từ các phía bằng lợi ích vật chất. Nếu không tỉnh táo, không cương quyết sẽ gục ngã. Ông bác tôi kết luận, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng có lẽ cũng từ ấy mà ra./.

Bôi mỡ để kiến đốt

Trên chuyến xe buýt từ thị trấn Xuân Mai về Hà Đông (Hà Nội) cùng với anh bạn, chúng tôi nghe được hai nữ phụ huynh ngồi cạnh nhau ở hàng ghế trên trò chuyện rôm rả về giáo dục. Họ tâm đắc với những phân tích và phản ứng về hiện tượng lạm thu các khoản xã hội hóa đầu năm học mới. Cái lý của họ khiến tôi và anh bạn đi cùng, nguyên là một hiệu trưởng một trường THCS đã chuyển ngành, lặng người. Phụ huynh thứ nhất ước chừng chưa đến 40 tuổi mở đầu câu chuyện bằng câu nói hết sức băn khoăn. Chị mệt mỏi với các chi phí cho việc học tập của các con. Đầu năm học mới đã phải chi tới gần 15 triệu đồng để mua sách vở, đồ dùng học tập, đồng phục và đóng học phí rồi các khoản thu cho hai cháu. Chị than thở, sự học ngày nay tốn kém quá mà chưa biết các con có làm lên cơm cháo gì trong tương lai không? Phụ huynh thứ hai già hơn một chút cũng chia sẻ: “Dư luận phản ánh, lạm thu trong giáo dục chẳng khác nào việc đi mua chữ. Nếu được nói, được đề xuất, tôi sẽ đề xuất bỏ đào tạo ngành tài chính, ngân hàng ở bậc đại học và lấy giáo viên các cấp về làm thay thì có lẽ lại đỡ tốn kém, có lợi hơn”. Chắc vì hai vị “hàng xóm” bất đắc dĩ động đến tự trọng nghề nghiệp, nên anh bạn tôi vội rướn cổ lên phía trước góp chuyện bằng cách phản đối: - Các bà này hay thật, sư phạm là nghề cao quý, là nghề dạy học làm người sao lại chuyển họ đi làm ngành tài chính, ngân hàng? Chị phụ huynh vừa nói quay xuống rỉ rả, trông bác ăn vận đẹp đẽ, khuôn mặt sáng sủa chắc phải là trí thức. Vậy, em phân tích mà có gì không phải thì mong bác bỏ quá cho nhé. Bác thấy đấy, giáo dục của ta thừa giáo viên. Sinh viên tốt nghiệp ngành giáo dục của ta không có việc làm, phải đi làm công nhân có khổ không? Nói xong, chị ta lôi ra một chiếc điện thoại. Sau khi khởi động máy, chị lại quay xuống, mặt hướng về phía anh bạn tôi tiếp tục giải trình. - Bác xem này, Quyết định số 732/QĐ- TTg ngày 29-04-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”, nêu rõ, từ năm 2016 đến năm 2020, chỉ tiêu đào tạo toàn ngành giáo dục là 190.000 giáo viên. Trong khi đó, từ năm 2014 đến 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đào tạo 267.000 người, vượt so với đề án tới 77.000 người. Vậy từ năm 2019 đến 2025, ngành giáo dục có đào tạo thêm giáo viên nữa không? Nếu đào tạo thì số thừa sẽ chuyển đi đâu, làm việc gì? Xin thưa với bác, nguồn tin trên là chính thống đấy chứ không phải tin từ báo lá cải đâu. - Thế thì có liên quan gì đến việc chuyển giáo viên sang ngành tài chính, kế toán. Chị phụ huynh thứ hai cười đắc ý và nói với chị kia: “Chắc bác này không có con cháu đi học nên không hiểu”. Dừng một lúc chị ta quay xuống ông bạn tôi tiếp lời: - Bác không thấy đấy à, học sinh đi học phải cõng đủ các loại phí được bóc tách từ nhiều việc khác nhau. Nào là quỹ đội, nào là quỹ xây dựng, tiền nước, vệ sinh, tiền mô hình học 2 buổi trên ngày, tiền chăm sóc bán trú... Chỉ đơn cử như tiền phí dịch vụ sổ liên lạc điện tử thôi đã nhiều giá khác nhau. Trường thì thu 135.000 đồng/năm học, trường thì thu 180.000 đồng/năm học. Chị dẫn chứng, với giá 180.000 đồng, riêng một trường tiểu học ở phường của chị có hơn 1.000 học sinh thì số tiền ấy đã hơn 180 triệu đồng. Tính ra, nếu giáo viên gửi trung bình 2 tin nhắn/tuần thì mỗi tin ước tốn khoảng 3.000 đồng. Đấy, bác xem, dịch vụ ấy đắt gấp 6 lần tin nhắn dịch vụ điện thoại mà các nhà mạng cung cấp trên thị trường trong khi bản chất của 2 cái này có khác nhau đâu? Thử hỏi, giá trị của sổ liên lạc điện tử có tương xứng với tiền phụ huynh bỏ ra không? Vậy, giáo viên đào tạo thừa không xin được việc làm sẽ chuyển đi đâu cho hợp lý? Nên chị bạn tôi nói cho họ đi làm tài chính, kế toán là lợi nhất. Đó là ý tưởng tuyệt vời đấy bác ạ! Thấy khuôn mặt anh bạn tôi ngơ ngác, chị phụ huynh lại bồi thêm. - Bác chưa tin à? Em ví dụ thêm cho bác thấy nhé. Đơn cử như cái việc ăn bán trú của các con ở trường cũng là một vấn đề khiến nhiều phụ huynh lo lắng. Chị dẫn chứng, cả 5 năm con chị theo học ở trường tiểu học và qua tới 5 cô giáo chủ nhiệm, nhưng chẳng bao giờ chị được nghe các giáo viên phổ biến chi tiết về cách tổ chức ăn bán trú thế nào, nhà cung cấp dịch vụ ở đâu, chất lượng ra sao, có bảo đảm an toàn thực phẩm hay không? Chị phân trần, giá kể điều kiện công việc, gia đình cho phép, chị sẽ đưa đón con cả buổi trưa để cho con được ăn cơm ở nhà mới yên tâm. Câu chuyện của hai phụ huynh trên chuyến xe buýt này khiến tôi không thể không phân vân về ngành giáo dục hiện nay, nhất là cách làm việc tại các trường học bậc tiểu học, THCS và THPT. Thiết nghĩ, hằng năm các trường đều được cấp kinh phí hoạt động, trong đó có cả kinh phí sửa chữa công trình xây dựng, kinh phí xây mới và mua sắm thiết bị đồ dùng học tập cũng như nhiều loại kinh phí khác. Nếu các trường cứ bóc tách, tự vẽ và tự đẻ ra các loại kinh phí khác nhau thì người khổ nhất chính là các phụ huynh. Rõ ràng là, nền giáo dục công lập với những ưu việt từ sự đầu tư của nhà nước đang bị bóp méo, bị lợi dụng để trở thành nơi thu tiền. Quả thật, nếu nói như hai chị phụ huynh kia thì cũng có lý, cho con đi học chẳng khác nào đi mua chữ. Trên đường trở về nhà, anh bạn tôi ngao ngán, giá kể bây giờ mà còn làm hiệu trưởng thì cũng xin nghỉ hưu sớm vì không chịu được sức ép dư luận. Bạn tôi bảo, cách làm ở các trường hiện nay là dân chủ nửa vời, dân chủ chưa tới nơi và cần phải xem xét lại. Anh phân tích, dân chủ ở các trường không phải chỉ là việc thông báo đến phụ huynh nội dung về khoản thu nào đó để ký vào biên bản rồi nộp tiền là xong. Nếu xét dưới khía cạnh cung cấp dịch vụ thì rõ ràng sự phân tích của hai phụ huynh nói ở trên là hoàn toàn có lý. Thiết nghĩ, cha mẹ vốn là người đại diện hợp pháp cho học sinh trước pháp luật. Họ có nghĩa vụ, trách nhiệm lo cho con cái được hưởng những gì tốt nhất trong điều kiện và khả năng có thể. Trong những năm qua, rất hoan nghênh các trường học đã có nhiều cải tiến, chăm lo cho học sinh để có các điều kiện học tập, rèn luyện, phát triển trí tuệ, nhân cách tốt hơn, trở thành công dân có ích trong tương lai. Tuy nhiên, quá trình thực hiện, nhất là trong các khoản thu xã hội hóa, các trường cũng cần triệt để thực hiện dân chủ, đưa ra nhiều thông tin trung thực để định hướng, thuyết phục phụ huynh, tạo điều kiện để phụ huynh được kiểm tra, giám sát cho thỏa đáng. Xin đừng giấu phụ huynh thông tin, bởi đó chính là việc làm tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt./.

"Nỗi niềm"... trí tuệ!

Không ngẫu nhiên mà trong thành phần “tứ dân” cơ bản (sĩ, nông, công, thương) ở xã hội phong kiến thời xưa, sĩ luôn được xếp ở vị trí hàng đầu. “Sĩ” là từ để chỉ tầng lớp trí thức, những người có học, có hiểu biết về chữ nghĩa nên luôn được xã hội trọng vọng. Qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta dẫu có lúc thăng trầm, thịnh suy, nhưng hầu hết các vương triều, các bậc minh quân đều xem trọng tri thức, đề cao sĩ phu, ngưỡng mộ những người văn võ song toàn, kinh bang tế thế. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Câu nói bất tử của danh sĩ Thân Nhân Trung (1419 - 1499) được khắc ghi trang trọng trên bia đá ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), không chỉ hàm ý tôn vinh, khẳng định sức mạnh to lớn của tri thức, trí tuệ, mà còn thể hiện một khát vọng về cách ứng xử, đối đãi đúng mực của thể chế chính trị đối với những nhân tài của đất nước. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã tổng kết và đề ra bốn nguyên lý trị nước: “Phi nông bất ổn/ Phi công bất phú /Phi thương bất hoạt/ Phi trí bất hưng”. Nhấn mạnh hơn tầm quan trọng đặc biệt của nguyên lý thứ tư, vị danh nho kiệt xuất này còn khẳng định thêm: “Phi trí tắc vong”. Điều đó có nghĩa là, quốc gia mà không có trí thức, không trọng kẻ sĩ hay không biết sử dụng trí thức, hiền tài, thì đất nước chẳng những không hưng thịnh (bất hưng), mà còn có thể bị diệt vong. Vậy mà, ngày nay cứ tưởng câu “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” chỉ là sự râm ran trong dư luận hay xì xào to nhỏ khi “trà dư tửu hậu”, nhưng đó lại là nỗi trăn trở, đau lòng của người đứng đầu Đảng ta khi chỉ ra “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt câu hỏi: “Trong công tác cán bộ thì: “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”(1) khiến bất cứ ai nặng lòng với dân, với nước cũng không khỏi một nỗi niềm trăn trở, đau lòng. Không trăn trở, đau lòng sao được khi một tiêu chí đáng lẽ phải được đặt lên vị trí hàng đầu trong công tác cán bộ, nhưng ở không ít nơi, nó lại bị đẩy xuống sau cùng? Vẫn biết “hậu duệ” cũng có dăm bảy hạng người, có bậc tài ba xuất chúng xứng đáng nối tiếp dòng dõi “thế phiệt trâm anh”, nhưng lại có những kẻ “tài hèn đức mọn” mà vẫn được xếp vào hàng “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ, thì làm sao dư luận nguôi ngoai nỗi lòng? “Tiền tệ” cũng đáng quý, đáng trọng, nhưng chỉ là phương tiện thanh toán, trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, sản phẩm thông thường, lẽ nào lại để nó len lỏi, “tranh giành” lên vị trí thứ hai và biến thành “vật đấu giá” trong công tác cán bộ? “Quan hệ” cũng rất cần thiết, nhưng liệu nó có thể thay thế được “chất xám” của con người chăng? Cổ kim đông tây từng đúc kết: Một dân tộc giàu trí tuệ là một dân tộc có phúc. Một quốc gia giàu tri thức là một quốc gia may mắn. Một thể chế chính trị biết chiêu hiền đãi sĩ, xem trọng những người giàu kiến thức và năng lực là một thể chế chính trị tiến bộ, văn minh. Từ đó có thể nói rằng, một tổ chức đề cao tiêu chuẩn “trí tuệ” trong việc đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là một tổ chức lành mạnh, minh bạch, nhân văn. Ngược lại, tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó vẫn còn để cho “tiền tệ” lên ngôi, “quan hệ” lộng hành, “hậu duệ” chi phối trong công tác cán bộ sẽ làm nảy sinh tình trạng nội bộ lục đục, trên dưới bất hòa, lòng người bất an. Nếu không kiên tâm, kiên quyết ngăn ngừa, hạn chế, đẩy lùi được vấn nạn này, thì mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đủ cả đức - tài, trung thành, mẫn cán, vì dân, vì nước... xem chừng còn nhiều gian nan lắm!./.

Mong sao cuộc họp thứ...

Họp là việc bình thường và cần thiết của bất cứ tổ chức, cơ quan hay quốc gia dân tộc nào. Nhưng, sẽ là bất bất bình thường và thậm chí vô lối, về sự họp ở không ít cơ quan, ngay tại xứ ta. Lật thử xem trang báo, trong 11 tin đưa, có 7 tin về họp hành, hội thảo. Ấy là ở tỉnh! Ngó thử coi lịch làm việc treo trên bảng, trong 5 ngày làm việc, tổng cộng có tới 30 cuộc họp cho Bí thư. Đó là ở xã! Thì ra, từ tỉnh tới xã, đâu cũng họp... rất nhiều! Cái gì cũng... họp lu bu. Đoàn thể nào cũng... họp triền miên. Cấp nào cũng họp... vô tiền khoáng hậu. Hay chăng, đất nước ta bình quân mỗi ngày có 22 lễ hội, và hằng năm có tới 8000 lễ hội, nên nhiễm cả vào các cơ quan công quyền và nhiễm tận trong... máu mỗi người cái “đức... tụ vạ”, “thói... bàn suông”? Hay chăng, vì để chữa bệnh sợ trách nhiệm cá nhân kinh niên xưa nay... nên cần họp để trốn vào cái lồng “lãnh đạo tập thể”, khi mắc lỗi thì “cả làng cùng chịu” theo kiểu: “Toét mắt bởi tại hướng đình. Cả làng cùng toét chứ mình gì ta”, nên xểnh ra... là họp? Hay chăng, họp là có tiền, có đánh chén, nên... “đâu có họp là ta cứ đi”, “khua mõ ắt có gõ thớt” (!)? Hay chăng, họp là để... thay làm, kiểu như “mồm miệng đỡ chân tay”, “ngồi trong màn trướng định việc ngàn dặm”? Hay chăng để “đánh bóng” tên tuổi mình, để truyền hình, báo chí đưa tin, trương ảnh cho... oách, cốt: “Vua biết mặt, chúa rõ tên” rồi sau đó “Đi nhẹ, nói khẽ hay cười. Việc đâu bỏ đấy là người phiếu cao”? Vô vàn kiểu họp. Chả thế có người bảo: “Bé thì đi học, nhớn thì đi họp, già thì đi hội” (!), chả thế có người nói (đùa mà là thật, đầy “kiêu hãnh”): “Nghề nghiệp: Họp hành; thành phần: Theo vợ”, nên hở ra là...họp! V.v... Có nhẽ vì thế, nên cứ thế, ai ai, đâu đâu... cũng đua nhau bày ra các cuộc họp! Tất nhiên, ấy chỉ là chuyện họp ở công sở, họp về việc công! Nhân gian nom thấy, bèn gọi toẹt ra là... loạn họp, cuồng họp! Gọi thế có oan?! Chả nói ra, thì ai cũng thấy, họp hành kiểu ấy thì xiết bao tốn kém: thì giờ, tiền bạc, phiền phức, mà tất cả đều là thuế của nhân dân. Nhưng, điều đáng sợ hơn cả là, táng thất niềm tin: Họp lắm nát chuyện, đâm ra: “Nói dài nói dai hóa nói dại”, “Đâm bị thóc, chọc bị gạo”, thế là mất đoàn kết nảy nòi; thậm chí cả “họp vụng” kiểu bè nhóm, thế là nát bét mọi sự; nghiện họp rồi hóa “Lưỡi dài hơn tay”, đẻ ra thói “Nói nhiều làm ít”, “Nói đâu việc bỏ đó”, nói nhưng không làm, tệ lười biếng hoành hành; họp vô tích sự thành ra họp suông... thậm chí vừa nhàm vừa nhảm, làm công việc thì bê trễ, cơ quan thì lộn xộn, tổ chức thì rối beng! Họp thế đâu còn thì giờ để làm, để nghe dân, để đi cơ sở!? Tôi chưa có thì giờ và kiên nhẫn để thống kê toàn quốc mỗi năm có bao nhiêu cuộc họp và bao nhiêu thì giờ dành cho họp, từ thôn làng cho đến Trung ương!? Có nhẽ, nếu giao việc này cho những người nghiện họp, phải cần ít nhất tới... mươi cuộc họp để luận cứ, luận chứng cuộc thống kê cỏn con về sự họp này! Mà có khi lại thành một đề án khoa học hẳn hoi, tiêu tốn vài ba trăm triệu đồng thuế của nhân dân! Đang lay hoay nghĩ về sự họp, thì hôm 20-8-2017 mới đây, trên VTV đưa tin: Ở Thành phố H, bình quân mỗi năm trưởng ngành phải họp tới... 2000 cuộc! Tôi buột thành tiếng cười: Sao không dẹp bớt? Cô cháu ngoại tôi mới học lớp mẫu giáo bé, thấy tôi cười, liền bập bẹ hỏi: Thế để làm gì hả... ông!? Tôi im lặng... và quyết biên ra đây nhời khuyến nghị: Cần kíp thành phố ấy nên tổ chức cuộc họp thứ... 2001, để xóa hoặc làm bé đi nhiều lần con số 2000 cuộc họp, mà mỗi trưởng ngành của họ đang thực thi một năm! Và, ước gì đâu đâu cũng thế!./

Thêm 100 ca Covid-19, chủ yếu ở Bắc Giang

Bộ Y tế trưa 25/5 ghi nhận 100 ca dương tính nCoV trong nước, gồm tại Bắc Giang 87, Hà Nội 8, Đà Nẵng 2, Thái Bình, TP HCM và Điện Biên mỗi nơi một. Như vậy, trong buổi sáng nay Bộ Y tế công bố tổng cộng 157 ca Covid-19, nâng tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 2.506, ở 30 tỉnh thành. Riêng Bắc Giang trong sáng nay số ca nhiễm được công bố là 132, cao nhất từ trước tới nay tính theo địa phương và tính theo ngày. Số ca nhiễm mới đưa tổng số ca nhiễm ở Bắc Giang lên 1.156, địa bàn Hà Nội 316 ca (trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 89 ca, 48 ca ở Bệnh viện K), Đà Nẵng 154, Điện Biên 55, Thái Bình 19, TP HCM 8. 100 ca mới được ghi nhận từ số 5462-5561, cụ thể: Thái Bình Ca 5462, nữ, 82 tuổi, địa chỉ tại huyện Vũ Thư, có liên quan dịch tễ ca 3042, 3044. Kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV, bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. TP HCM Ca 5463, nữ, 37 tuổi, địa chỉ tại quận 3, là F1 của ca 4780, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV. Đà Nẵng Ca 5464, nữ, 9 tuổi, địa chỉ tại quận Thanh Khê, là F1 của ca 3610, đã được cách ly. Ca 5465, nữ, 14 tuổi, địa chỉ tại quận Cẩm Lệ, là F1 của ca 4132, đã được cách ly. Kết quả xét nghiệm ngày 24/5 họ dương tính với nCoV. Hà Nội Ca 5466-5471, 5473, 5561 gồm 2 ca là F1 của ca 5312, 6 ca liên quan đến ổ dịch Công ty T&T. Kết quả xét nghiệm ngày 25/5 họ dương tính với nCoV. Điện Biên Ca 5472, nữ, 17 tuổi, địa chỉ tại huyện Nậm Pồ, là F1 của ca 4590, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 24/5 dương tính với nCoV. Bắc Giang Ca 5474-5560 gồm 86 ca có liên quan dịch tễ đến khu công nghiệp Quang Châu, Vân Trung, Đình Trám và một ca là F1 liên quan đến ổ dịch cũ, đã được cách ly. Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe là hơn 165.000, trong đó cách ly tập trung tại bệnh viện là hơn 5.000; cách ly tập trung tại cơ sở khác là hơn 35.000; số còn lại tại nhà, nơi lưu trú. Theo Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, thế giới ghi nhận hơn 168 triệu ca Covid-19, trong đó hơn 3,4 triệu người đã tử vong. Đứng thứ nhất về số ca mắc là Mỹ, sau đó là Ấn Độ và Brazil.