Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Không có cách nào kiểm soát đại dịch COVID -19 nếu không có vaccine

Bài học được rút ra là không có cách nào kiểm soát đại dịch COVID-19 nếu như không có vaccine. Các nước đang phát triển cần được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn cung cấp vaccine đã có sẵn trong ngắn hạn, vì lợi ích chung của cả thế giới trong việc đánh bại đại dịch COVID-19. Mùa hè năm nay, các nước giàu ở phương Tây sống trong bầu không khí sôi sục của chương trình tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 trên diện rộng. Người dân các nước giàu phương Tây chia làm hai phe, một bên vui mừng lạc quan về chương trình tiêm chủng quốc gia, một bên lo ngại về biến chủng mới của vius nhưng tất cả đều chung cảm nhận là tình trạng tồi tệ nhất của thế giới đối với đại dịch COVID có lẽ gần như đã đi qua. Trái ngược với hình ảnh phấn khởi đó là sự tương phản của châu Á. Tâm lý tự mãn, tư tưởng dân túy và hạ tầng y tế nghèo nàn đã thổi bùng làn sóng COVID-19 lần thứ hai tại Ấn Độ với hàng triệu ca mắc bệnh. Chuông báo động đã gióng lên từng hồi trên khắp Đông Nam Á. Tình hình đã trở nên tồi tệ tại Thái Lan, Malayxia, Indonexia, Philippine. Tất cả các nước này đã ghi nhận số ca lây nhiễm trong ngày ở mức cao kỷ lục, vượt xa những làn sóng lây nhiễm trước đó. Indonexia đang mấp mé con số 6.000 ca nhiễm mới mỗi ngày, Philippine ngày 22/5 công bố 6.800 ca nhiễm, Campuchia tháng 5 có trên 24.000 người tăng gấp 10 so với tháng 4, Lào tháng 5 có 1.700 ca so với chưa tới 50 ca nhiễm hồi đầu tháng 4. Thái Lan trong tháng 4 ghi nhận hơn 72.000 ca bệnh cao hơn rất nhiều so với tổng số chưa đến 7.000 ca của năm 2020. Làn sóng lây nhiễm dịch bệnh COVID-19 lần thứ tư cũng đã xuất hiện trở lại ở Nhật Bản chỉ 10 tuần trước khi Olympic thế giới được tổ chức. Theo trang Southeast Asia Globe, làn sóng COVID-19 mới có thể chấm dứt câu chuyện “chống dịch thành công” của khu vực sông Mêkông. Tiến sĩ Jessica Manning thuộc Trung tâm y tế quốc gia ở Maryland Mỹ cho rằng: “Sự bùng nổ những biến thể mới khiến chúng ta không còn nuôi dưỡng quan niệm rằng người Campuchia, người Thái Lan hoặc người Việt Nam có khả năng miễn nhiễm với virus”. Sự hoành hành trở lại của đại dịch tại nhiều nước khiến dư luận chú ý về công tác quản lý đại dịch của châu Á, vốn dĩ được đánh giá là rất thành công trong năm 2020. Nhiều ý kiến cho rằng, dù thành tích kiểm soát dịch bệnh với các biện pháp cách ly tại khách sạn, cách ly bệnh nhân, đeo khẩu trang bắt buộc và truy vết những trường hợp tiếp xúc… của châu Á là rất ấn tượng, song về cơ bản khu vực đã tụt hậu so với thế giới phương Tây khi bước vào giai đoạn triển khai tiêm chủng. Các giải pháp và hành động được đánh giá là có hiệu quả trong công tác ngăn công tác ngăn chặn dịch bệnh lây lan vào năm ngoái hiện đã không còn phát huy tác dụng, trong khi Mỹ và Châu Âu bắt đầu mở cửa trở lại thì phần lớn các quốc gia châu Á lại phải thắt chặt phong tỏa. Bài học được rút ra là không có cách nào kiểm soát dịch bệnh nếu như không có vaccine. Đây chính là lý do mà nhiều khu vực tại châu Âu và Mỹ đã chứng kiến số ca nhiễm giảm hẳn và châu Á dường như đang tụt hậu trong cuộc chiến này. Ông Shiro Amstrong, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Australia - Nhật Bản tại đại học quốc gia Australia cho rằng: Những đợt bùng phát gần đây trên khắp Thái Lan, Đài Loan và Singapore là điều đáng tiếc và nhắc nhở chúng ta chưa qua được đại dịch. Những gì xảy ra ở Ấn Độ có thể xảy ra ở bất kỳ nơi đâu tại Đông Nam Á và Nam Á, nếu không có sự hợp tác và hỗ trợ vaccine từ các nền kinh tế tiên tiến”. Karrthik Nachiappan, nhà nghiên cứu tại Đại học quốc gia Singapore khẳng định vaccine sẽ là chìa khóa để châu Á duy trì sự dẫn đầu trong cuộc đua hồi phục kinh tế. Ông nói: “Chìa khóa ở đây để tránh bị áp đặt thêm các biện pháp hạn chế, thậm chí có thể là phong tỏa là vaccine và cần đảm bảo đủ nguồn cung vaccine để tiêm chủng nhiều hơn hoặc có chương trình vaccine kéo dài khoảng cách giữa các liều tiêm…” BẤT BÌNH ĐẲNG, MIỄN TRỪ BẢN QUYỀN VÀ MỞ NÚT THẮT TRONG SẢN XUẤT VACCINE PHÒNG COVID-19 Đã có nhiều tranh luận liên quan đến “cuộc chiến” vaccine phòng ngừa COVID-19 như quyền sở hữu trí tuệ, ngoại giao vaccine, bất bình đẳng vaccine, sản xuất vaccine mở. Theo thống kê hiện các quốc gia giàu có chỉ chiếm 16% dân số thế giới nhưng sở hữu tới 60% lượng vaccine. Người đứng đầu Tổ chức Y tế thế giới WHO đã lên tiếng về vấn đề này bởi những quốc gia giàu có đang có gấp 3 lần lượng vaccine để tiêm chủng cho toàn bộ dân số của họ. Nhiều ý kiến cho rằng cần tạm miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine phòng COVID-19. Điều này cho phép các nước đang phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu các liều vaccine gốc mà không cần sự cho phép của các công ty sở hữu bằng sáng chế. Việc đình chỉ bảo hộ sáng chế vaccine có thể cho phép tăng tốc sản xuất trên toàn cầu để chống lại một đại dịch đã cướp đi sinh mạng của hơn 3 triệu người trên thế giới. Ngày 5/5, đại diện Thương mại Mỹ Katherine tuyên bố ủng hộ việc tạm hoãn bảo vệ bản quyền vaccine phòng chống Covid-19. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng hủy bỏ quyền bảo hộ sáng chế vaccine không phải là “cây đũa thần” do còn nhiều chướng ngại vật trong đó có vấn đề kinh tế và chính trị. Báo kinh tế Les Echos đề cập đến việc tại sao các tập đoàn dược phẩm không ủng hộ việc đình chỉ bảo hộ sáng chế đối với vaccine ngừa COVID-19. Dựa trên 11 loại vaccine được bán trên thị trường, Viện CEPI của Pháp cho biết, tính trung bình mỗi dự án phát triển vaccine cần tới 10 năm với số tiền đầu tư từ 2,8-3,7 tỷ đô la và tỷ lệ thất bại ở thời điểm khởi đầu dự án lên tới 94%. Nếu quyền sở hữu trí tuệ không được bảo đảm, các hãng bào chế rất khó tìm được nhà đầu tư tài chính. Bên cạnh tâm lý lo sợ mất nguồn thu nếu bằng sáng vaccine ngừa COVID-19 bị đình chỉ, các tập đoàn còn lo ngại về việc mất kiểm soát hệ thống quyền sở hữu trí tuệ tạo tiền lệ cho việc đình chỉ sáng chế tương tự nếu sau này thế giới lại lâm vào khủng hoảng do dịch bệnh. Bất chấp nhiều nỗ lực, cuối tháng 4 vừa qua, sản lượng vaccine toàn cầu mới đạt 1,2 tỷ liều, thấp hơn rất nhiều so với tốc độ cần thiết để đạt mục tiêu cho năm 2021. Hơn nữa, các biến thể mới và nguy hiểm hơn có thể tiếp tục xuất hiện làm giảm hiệu quả của vaccine, các nước cần thêm nhiều liều hơn để đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, do đó, nhu cầu vaccine ở các nước giàu vẫn sẽ tiếp tục. Chủ nghĩa dân tộc vaccine và các lợi ích thương mại tiếp tục là mối đe dọa khiến cho các nước đang phát triển phải đứng cuối hàng chờ để có vaccine, thậm chí phải chờ lâu hơn. Điều này làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến thể nguy hiểm hơn và gây ra một vòng luẩn quẩn. Roland Rajah, Giám đốc Chương trình Kinh tế học quốc tế đã chỉ ra một số lý do cho thấy việc miễn trừ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine ngừa COVID-19 sẽ không “giết chết” sự đổi mới, nhưng cũng sẽ không tự nhiên đem lại nhiều liều vaccine hơn để đáp ứng nhu cầu cấp bách hiện nay do các rào cản về quy tắc thương mại, nguyên liệu cũng như năng lực sản xuất của các nước nghèo. Việc miễn trừ bản quyền đối với vaccine là việc cần phải làm nhưng chưa đủ. Cần có những kêu gọi xóa bỏ các hạn chế xuất khẩu và tăng cường đầu tư để tăng nguồn cung. Các nước đang phát triển cũng cần được hỗ trợ tài chính để mua đủ vaccine. Việt Nam là một trong những nước đầu tiên kêu gọi các quốc gia “miễn trừ bản quyền” vaccine COVID-19. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng ngày 13/5 đã nêu rõ: “Để mở ra cơ hội khống chế lây lan dịch bệnh nguy hiểm này, Việt Nam mong muốn các quốc gia chia sẻ thông tin, miễn trừ bản quyền vaccine COVID-19 để các loại vaccine có thể phổ biến rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới. Vaccine do Việt Nam sản xuất dự kiến được sử dụng trong năm 2022”. Điểm mấu chốt hiện nay là thời gian quan trọng hơn tiền bạc. Các nước đang phát triển cần được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn cung cấp vaccine đã có sẵn trong ngắn hạn, vì lợi ích chung của cả thế giới trong việc đánh bại đại dịch COVID-19. VACCINE VÀ CUỘC CHIẾN TIẾP THEO CỦA VIỆT NAM VỚI ĐẠI DỊCH COVID-19 Việt Nam được đánh giá có nhiều thành công trong cuộc chiến với đại dịch COVID-19. Trang mạng Peoplesreview cho rằng Việt Nam tiếp tục chống dịch tương đối thành công nhờ những nỗ lực không ngừng trong việc dự phòng và phòng chống dịch bệnh. Lãnh đạo Việt Nam bắt đầu cuộc chiến chống COVID-19 bằng những hành động khẩn trương và quyết liệt. Người dân tuân thủ và duy trì các biện pháp phòng ngừa, kể cả giãn cách xã hội. Nền kinh tế VIệt Nam có khả năng chống chịu và dự kiến đạt mức tăng trưởng 6,5% vào năm 2021. Trang Devpolicy của Australia dẫn số liệu của Worldometers cho biết, tính đến ngày 18/5 tỷ lệ tử vong do COVID-19 trên 1 triệu dân ở Việt Nam là 0,4 trong khi ở Singgapore là 5, Thái Lan là 9, Australia là 35 và Malayxia là 59. Tỷ lệ nhiễm bệnh trên 1 triệu người ở Việt Nam là 44, trong khi ở Singaporre là 10.460, Thái Lan là 1.623 và Malyxia là 14.500. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn chậm tiến độ tiêm chủng ngừa COVID-19 so với các nước láng giềng Đông Nam Á. Lào và Campuchia dẫn đầu trong việc triển khai tiêm chủng, tiếp đó là Thái Lan, Malayxia, Indonexia và Philippine. Thống kê của Our World in Data cho thấy 32% trong số 5,7 triệu dân của Singapore đã được tiêm ít nhất một mũi vaccine ngừa COVID-19 thì hiện mới chỉ có khoảng 1% trong số 96 triệu dân Việt Nam được tiêm vaccine. Theo trang Nikkei của Nhật Bản đưa tin ngày 18/5, làn sóng mới của dịch COVID-19 có thể tác động đến kinh tế Việt Nam. Hoạt động sản xuất sẽ bị gián đoạn hơn nếu tình trạng lây nhiễm không được kiểm soát được và điều này có khả năng ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang các điểm đến như Mỹ và Trung Quốc. Tốc độ tiêm chủng chậm sẽ càng làm tăng thêm lo ngại. Zhang Zhiwei, nhà kinh tế trưởng tại Pinpoint Asset Management cho rằng, ngược lại với xu hướng chuyển dịch chuỗi cung do chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, tình hình dường như đang thay đổi và chuỗi cung ứng có thể quay trở lại Trung Quốc khi số ca nhiễm COVID-19 tăng đột biến ở Ấn Độ và nhanh chóng ở Việt Nam. Việc cấm hoặc hạn chế nhập cảnh khiến các công ty đa quốc gia không thể cử nhân viên của họ đến Ấn Độ để thiết lập các nhà máy mới. Hiện tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc dao động khoảng 20-40%/tháng. Nếu các nhà máy ở Ấn Độ và Việt Nam sớm trở lại sản xuất, xuất khẩu của Trung Quốc dự kiến sẽ chậm lại trong nửa cuối năm 2021, khi các công ty chuyển hoạt động sản xuất sang hai quốc gia này. Tuy nhiên “nếu chuỗi cung ứng Ấn Độ và Việt Nam” bị gián đoạn trong một thời gian dài, Trung Quốc có thể đạt mức tăng trưởng xuất khẩu 20-30% trong năm tới. Theo tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc, chuỗi cung của Apple đang phải đối mặt với sự bất ổn ngày càng tăng, khi nhiều nhà máy của các nhà cung cấp cho hãng công nghệ khổng lồ của Mỹ phải tạm dừng hoạt động do đại dịch COVID-19. Sau sự gián đoạn hoạt động của nhà máy Foxcon Tecgcology Group - nhà cung cấp lớn của Apple tại Ấn Độ, các nhà máy của Foxconn và một nhà cung cấp khác là Luxshare Precision Industry đã tạm ngừng hoạt động tại Việt Nam, việc không khởi động lại sản xuất trong 2 tuần sẽ gây căng thẳng cho năng lực toàn cầu của Apple. Trong bối cảnh hoạt động sản xuất ở Ấn Độ gián đoạn, Foxconn đã tích cực tuyển dụng lại một số nhà máy lớn tại Trung Quốc. Theo các nhà phân tích, đây có thể là dấu hiệu ban đầu của việc công ty này chuyển một số công việc từ Ấn Độ sang Trung Quốc. Các nhà phân tích cho rằng cách lâu dài là Việt Nam phải tiêm vaccine ngừa COVID-19 cho phần đông dân chúng. Tiến sỹ Todd Pollack, Giám đốc Quốc gia của tổ chức Đối tác vì tiến bộ Y tế tại Việt Nam (HAIVN) cho rằng: “Việt Nam đã làm đúng mọi thứ. Những gì Việt Nam cần làm bây giờ là tiêm chủng cho người dân”. Hiện nay, Bộ Y tế nước ta đã đàm phán với nhiều quốc gia, tổ chức, nhà sản xuất để đa dạng hóa nguồn cung vaccine. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết trong cả năm 2021, Việt Nam sẽ có khoảng 110 triệu liều vaccine, bao gồm 38,9 triệu liều vaccine từ chương trình COVAX, 30 triệu liều từ AstraZeneca và 31 triệu liều từ Plizer. Khi có vaccine, ngành Y tế sẽ triển khai chiến dịch tiêm phòng vaccine COVID-19 quy mô rộng lớn, chưa từng có trong lịch sử ngành Y tế Việt Nam. Việt Nam đang kêu gọi các quốc gia “miễn trừ bản quyền” với vaccine COVID-19. Trong một cuộc họp với đại diện của WHO, Bộ Y tế Việt Nam đã đề nghị phía Tổ chức Y tế thế giới WHO tạo điều kiện đàm phán để một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine Pfizer/BioNTech và Moderna theo công nghệ ARNm. Ngoài việc tìm hướng sản xuất, Việt Nam còn “tự chủ động nguồn vaccine” với 3 loại vaccine đang được thử nghiệm: Nano Covax của Công ty cổ phần Công nghệ sinh học dược Nanogen kết hợp với Học viện Quân y, Covivac của Viện Vaccine và Sinh phẩm – IVAC sẽ thử nghiệm giai đoạn 1 vào tháng 7/2021 và Vabiotech của Công ty TNHH một thành viên vaccine và sinh phẩm số 1 thuộc Bộ Y tế. Trong 3 loại này vaccine Nano Covax có thể được bảo quản ở nhiệt độ 2-8 độ C, bắt đầu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 với hơn 10 ngàn người từ giữa tháng 5 và dự kiến hoàn tất trong tháng 8 hoặc tháng 9. Vaccine made in Việt Nam có thể được sử sụng vào cuối năm 2021. Ông Đỗ Minh Sĩ, Giám đốc nghiên cứu và phát triển của Nanogen khẳng định công ty có khả năng sản xuất 120 triệu liều mỗi năm. Tuy nhiên cũng có nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về khả năng sản xuất trên quy mô lớn, về nguồn tài chính cũng như công tác kiểm soát chất lượng của Việt Nam. Việt Nam đang thực hiện nhiều nỗ lực trong đàm phán mua, nhận hỗ trợ cũng như sản xuất vaccine ngừa COVID-19. Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP về mua và sử dụng vaccine phòng COVID-19, dự kiến mua 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người, với tổng nhu cầu kinh phí ước khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng. Trong điều kiện trước mắt còn khan hiếm, Việt Nam cần xây dựng chiến lược phân bổ, tiêm vaccine hợp lý, ưu tiên cho các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao, các tỉnh thành đang có dịch nặng nhất và sau đó là các tỉnh thành, địa phương cần ưu tiên. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh các nhiệm vụ trọng tâm như sau: Thứ nhất, truyền thông, vận động sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước, nước ngoài và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác đóng góp xây dựng Quỹ vaccine phòng COVID-19, góp phần đẩy nhanh tiến độ tiếp cận mua, nhập khẩu vaccine để triển khai tiêm chủng trên diện rộng cho nhân dân. Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền vận động tham gia tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 như là lợi ích và trách nhiệm của mỗi cá nhân, đảng viên, tổ chức và đông đảo nhân dân; tránh tâm lý do dự, hoài nghi hoặc cố tình chống lại việc tiêm chủng vaccine./.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam với mục đích “tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”(1). Một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch tấn công nhiều nhất là vai trò lãnh đạo, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua. Ảnh minh họa 1. NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng việc chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam theo các hướng chủ yếu sau: Thứ nhất, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước (2). Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước” (3). Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập” vì Đảng có “một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do, dân chủ”(4). Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”(5). Chúng lập luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là theo “chế độ đảng trị = đảng chủ”, “thể chế Việt Nam hiên nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Hiến pháp của Việt Nam là không chính danh, chỉ là Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”(6). Như một thông lệ, trước thềm các kỳ đại hội của Đảng, các thế lực thù địch lại tấn công mạnh mẽ vào vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những luận điệu xuyên tạc. Điển hình là trước khi Đại hội XII diễn ra, đã có những luận điệu vu khống cực kỳ phản động: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”(7). Từ việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch còn lên tiếng đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo của Đảng. Thứ hai, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”(8). Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”(9). Trọng tâm của sự công kích, chống phá cương lĩnh, văn kiện của Đảng là sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Dễ dàng nhận thấy thực chất của sự chống phá này là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tạo ra sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Thứ ba, những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về cán bộ lãnh đạo của Đảng.Bên cạnh những luận điệu phủ nhận về đường lối lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch còn ra sức tấn công vào công cuộc xây dựng Đảng hiện nay. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”(10). Chúng còn dự đoán tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng: “Trước tình hình cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông” (11). Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là “linh hồn” của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng. Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Trước thềm Đại hội XIII, “đến hẹn lại lên”, các thế lực thù địch ra sức đồn đoán về tình hình nhân sự của Đại hội Đảng, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ những đồng chí có tên trong danh sách bầu cử Đại hội Đảng các cấp, nhất là nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện sự chống phá này là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các lãnh tụ của Đảng nói riêng và công tác nhân sự của Đảng nói chung. Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện. 2. TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ TO LỚN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA DÂN TỘC Từ việc nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta càng cần phải tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc để tiếp thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như vận mệnh và tương lai của đất nước. Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”(12). Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thứ hai, có thái độ khách quan, công tâm khi nhìn nhận những khuyết điểm, thiếu sót của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”(13). Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”(14). Thứ ba, tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua. Hơn nữa, mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn. Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, “luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta”(15). Như vậy, nhận diện các quan điểm sai trái về Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng có dịp nhìn lại hành trình hơn 90 năm ra đời và phát triển của Đảng, cảm thấy tự hào về những thành tựu to lớn, nổi bật của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời không được chủ quan, lơ là trước những sai lầm, khuyết điểm để có ý thức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo. Nguon. Ban tuyen Hung Yen./.

Mấy khía cạnh lý luận về cán bộ, công chức cấp cơ sở

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng công tác cán bộ và luôn đặt nó lên vị trí hàng đầu trong xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước. Tư tưởng về công tác cán bộ của Người không chỉ phát huy vai trò trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Công tác cán bộ có vai trò quan trọng trong xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó. Cán bộ là những người tổ chức và lãnh đạo hoạt động thực tiễn, là trụ cột trong mọi giai đoạn cách mạng của đất nước. Có cán bộ tốt thì mới có phong trào cách mạng tốt, còn ngược lại thì phong trào phát triển chậm, không đúng hướng, thắng lợi không cao hoặc có thể đi xuống. Bởi vì, cán bộ chính là người ”bắc cầu” đem quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, tổ chức lãnh đạo họ thực hiện; cán bộ là người đem ”lý thuyết” để cho người dân hiện thực hóa. Cùng với vai trò ”bắc cầu” cán bộ còn là người nắm bắt tình hình, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân phản ảnh cho Đảng, Nhà nước để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn phong trào, bảo đảm cho Đảng gần dân, dân tin Đảng. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân cần đội ngũ cán bộ có tài, có đức. Những người đảm nhận chức trách, quyền hạn ở mọi cấp mọi ngành từ Trung ương đến cơ sở, đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân mà không có đủ uy tín, mất uy tín trước dân có tác hại to lớn không thể lường hết. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng, uy tín cho cán bộ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội và tội phạm”. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cán bộ, công chức cấp cơ sở có một vai trò rất quan trọng, bởi họ là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở; là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã, vì lẽ đó, cán bộ, công chức cấp cơ sở là một trong những nhân tố có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố không nhỏ góp phần quyết định sự thành bại của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người trực tiếp, tiếp xúc với nhân dân hàng ngày, giải đáp, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, chất lượng hoạt động của công chức cấp cơ sở ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước. Cán bộ: Ở Việt Nam từ “cán bộ” được nghe một cách quen thuộc, phổ biến. Hiểu theo nghĩa thông thường của người dân thì “cán bộ” được hiểu là người làm việc ở cơ quan Đảng, Nhà nước. Có cách hiểu khác “cán bộ” là những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định. Tại những trụ sở hành chính chính công, “cán bộ” là danh từ chung được những người dân đến giải quyết công việc chỉ về những người đang thụ lý hoặc giải quyết một vụ việc cho người dân. Ở các trại giạm tù nhân sử dụng từ “cán bộ” để chỉ các “quản giáo” phụ trách, quản lý mình. Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu. Theo Người: Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Theo khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13-11-2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2010, quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương, thuộc biên chế Nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; giữ vai trò và cương vị nòng cốt trong cơ quan (có thể là người lãnh đạo, người quản lý), có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của cơ quan. - Công chức: Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng. Khái niệm công chức được hình thành và thường gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định" (Trích Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950). Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Để hướng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Nghị định số 06/2010/NĐ- CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là "Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tổ chức Chính trị xã hội; những người lãnh đạo, quản lý đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam. - Cán bộ, công chức cấp cơ sở: Cán bộ, công chức cấp cở sở (hay cấp xã) Theo khoản 3, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức (cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Khái niệm chất lượng: Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc”. Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó. Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Như vậy, về chất lượng cán bộ, công chức, có thể hiểu chất lượng của cán bộ, công chức là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân về cung ứng các dịch vụ hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cũng đa dạng: Có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi hưởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố, như sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của người dân… - Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức, cấp cơ sở: Chất lượng cán bộ, công chức được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của cán bộ, công chức là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức… của những người cán bộ, công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt. Để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực, luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với cán bộ, công chức ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ, công chức không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà còn phải gương mẫu, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt; luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chất lượng của cán bộ, công chức ngoài những yếu tố nêu trên còn phụ thuộc vào cơ cấu cán bộ, công chức, đó là tỷ lệ hợp lý giữa các độ tuổi, giữa giới tính nam và nữ, giữa thành phần dân tộc, giữa cán bộ với công chức lãnh đạo, quản lý, công chức phụ trách chuyên môn nghiệp vụ. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu, chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của cán bộ, công chức, thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác, chất lượng và hiệu quả thực nhiệm vụ được phân công của cán bộ, công chức cũng như cơ cấu hợp lý về độ tuổi, về số lượng cán bộ, công chức và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Về tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Tiêu chí về năng lực chuyên môn và kỹ năng công tác; Tiêu chí về uy tín trong công tá; Tiêu chí về chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc được giao; Tiêu chí về năng lực tổ chức, quản lý. Các hoạt động nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở: Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; Công tác tuyển dụng; Công tác sử dụng cán bộ, công chức; Công tác đánh giá cán bộ, công chưc; Công tác kiểm tra, giám sát công chức trong thi hành công vụ. Bên cạnh đó các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức gồm: Các yếu tố khách quan, như: Chế độ, chính sách - Khen thưởng; kỷ luật cán bộ, công chức. Các yếu tố chủ qua: Tinh thần trách nhiệm trong công tác; Ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức cấp cơ sở có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người gần dân, sát dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trực tiếp giải quyết những yêu cầu, thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân. Cán bộ, công chức cấp cơ sở đã có sự đóng góp rất lớn trong sự nghiệp cách mạng, duy trì ổn định an ninh chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, là động lực của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở là tổng hợp các yếu tố về phẩm chất chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, ý chí, niềm tin, năng lực, gắn bó với tập thể, cộng đồng và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước yêu cầu chất lượng đối với cán bộ, công chức ngày càng cao, đòi hỏi người cán bộ, công chức không những có trình độ, phẩm chất theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, có tinh thần kỷ luật cao, có tư duy khoa học, lý luận sắc bén, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, gắn bó với tập thể, với cộng đồng, có kỹ năng tốt trong việc kết hợp tri thức khoa học, kinh nghiệm, kỹ năng thực tiễn một cách nhạy bén, linh hoạt. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì cán bộ, công chức cần phải hội tụ những yếu tố cấu thành đó./.

SỰ KHÁC NHAU VỀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Ngày nay bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam càng trở nên rõ nét hơn./.

Không để những “mảnh chĩnh” thông tin tiếp tay cho “ngụy tuyên truyền”

Lợi dụng internet, gần đây, các thế lực thù địch ra sức tìm cách hạ thấp vai trò của báo chí, truyền thông chính thống và cổ xúy cho những cái gọi là “nhà báo công dân”, “báo mạng xã hội”, “nhà xuất bản mạng”… Chúng “nâng cấp” một số blogger, facebooker thành những “nhà báo tự do”, “nhà báo toàn cầu”... Cha ông ta có câu: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai/ Nữa là mảnh chĩnh ném ngoài bờ tre!”. Thế mà một số người do thiếu hiểu biết và tư tưởng lệch lạc lại hay tìm đọc, thậm chí cổ vũ, tiếp tay cho thứ "mảnh chĩnh" thông tin ấy để chúng “ngụy tuyên truyền” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân… Trịnh Hữu Long, sinh năm 1986, quê Thanh Hóa, từng tốt nghiệp Trường Đại học Luật Hà Nội nhưng lại sớm sa ngã. Cách đây 5 năm, Long dựng lên một trang mạng và tự xưng trang này là “tạp chí” với tinh thần chủ đạo là tập hợp những bài viết phân tích, bôi đen tình hình đất nước, xuyên tạc Đảng, Nhà nước dưới góc nhìn pháp luật. Trang mạng của Long nhanh chóng thu hút nhiều nhân vật bất mãn và được sự hậu thuẫn của tổ chức Việt Tân để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trang mạng này xưng là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận, không đặt quảng cáo, nhưng lại kêu gọi bạn đọc tài trợ từ “20 nghìn đồng trở lên”. Theo một tài liệu được công bố, năm 2016, trang này từng xin được hơn 23.000USD nhưng phần lớn đều từ các tài trợ ẩn danh. Năm 2018, trang mạng này đã tiếm danh đại diện cho hơn 50 triệu người sử dụng internet Việt Nam khởi xướng việc vận động ký tên vào thư gửi Chủ tịch Facebook, chất vấn và xuyên tạc, lu loa Facebook “hợp tác với Chính phủ và phản bội người dân Việt Nam”. Gần đây, mạng xã hội (MXH) lan truyền video tố cáo Cảnh sát Giao thông tỉnh Đắc Lắc chặn, cản trở xe đưa người đi cấp cứu vì lỗi chạy quá tốc độ. Song tìm hiểu sự việc thì đó chỉ là một màn kịch nhằm đánh lừa dư luận. Trong clip có cảnh một chiếc xe vi phạm vừa bị cảnh sát thổi còi thì xuất hiện ngay một phụ nữ xuống xe khóc rống lên kể lể đưa con đi cấp cứu nhưng tay “không quên” cầm điện thoại livestream. Một người đàn ông lại từ xe bế cháu bé ra đặt… giữa đường. Lo cho tính mạng người dân, một cảnh sát bế cháu bé lên xe để đưa cháu đi bệnh viện thì người nhà ngăn cản, chửi bới là “công an đàn áp dân, vi hiến”. Đến khi cảnh sát cho chiếc xe được đưa cháu bé đi bệnh viện thì họ lại tuyên bố “trưa rồi, không đi nữa” và lấy ra những cuốn hiến pháp phát cho người dân ở đó, quên luôn việc cấp cứu cho cháu bé. Rất nhiều bạn đọc tỉnh táo đã nhận ra chân tướng sự việc và chỉ rõ đó là clip của tổ chức phản động "Con đường Việt Nam" vì trong clip có nhóm người mang trang phục của tổ chức này. Thế nhưng, vẫn có một số người dân chia sẻ, comment nói xấu cảnh sát, nhìn nhận sai lệch về sự việc. Năm 2017, Cục An ninh mạng, Bộ Công an đã phối hợp Công an TP Hồ Chí Minh và Công an tỉnh Thái Nguyên bắt hai đối tượng là Bùi Hiếu Võ và Phan Kim Khánh để điều tra về tội tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Qua điều tra, từ tháng 5-2015, chúng đã lập tài khoản facebook và các trang mạng lấy tên là “Báo Tham Nhũng”, “Tuần Việt Nam”, “Dân chủ TV”, “Việt Báo TV” và “Việt Nam online” để đăng nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc. Chúng móc nối, tham gia quản trị một số trang mạng của tổ chức khủng bố Việt Tân và một số tổ chức phản động khác. Cùng thời gian này, tại Hà Tĩnh, cơ quan chức năng đã phá vụ án và bắt Nguyễn Văn Hóa (22 tuổi, trú tại xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) cùng một số đối tượng do có hành vi kích động, gây rối, biểu tình, đập phá tài sản. Qua điều tra phát hiện, mỗi tháng Hóa viết, quay 16 clip, phóng sự mang nội dung xuyên tạc để chia sẻ, gửi cho những cá nhân thuộc các tổ chức phản động và một số đài, trang mạng nước ngoài… để nhận mức lương 1.500 USD/tháng từ tổ chức Việt Tân. Đó là sự thật ẩn sau những nội dung y chia sẻ núp dưới danh nghĩa yêu nước, bảo vệ môi trường, vì cuộc sống của nhân dân… Bị lợi dụng hay cố tình la làng? Bên cạnh một số người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, cũng có hiện tượng vì động cơ cá nhân mà cổ xúy, tiếp tay cho những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước. Câu chuyện ở Thái Nguyên, địa phương từng phối hợp với Cục An ninh mạng, Bộ Công an khởi tố, bắt giam đối tượng phản động nêu ở phần trên của bài viết là một ví dụ. Do vướng mắc về lợi ích của gia đình, một nữ chủ doanh nghiệp đã liên tục tán phát nhiều đơn thư có nội dung không đúng sự thật. Bà này còn liên hệ và nhờ vả cả đối tượng phản động để đưa thông tin khiếu kiện lên một số trang tin phản động và liên tục “rải bom” đơn kêu cứu đến lãnh đạo các cấp và các cơ quan Trung ương, địa phương, bất chấp nhiều nội dung các cơ quan chức năng đã vào cuộc và kết luận, nêu rõ không có những sai phạm như đơn thư quy kết. Đối tượng "trợ giúp" doanh nghiệp, nguy hiểm thay lại là một trong những kẻ cầm đầu nhóm phản động “NoU Hà Nội” và thường xuyên tung các thông tin chống phá Đảng, Nhà nước lên cái gọi là "kênh truyền hình CHTV" trên Youtube. Y từng bị công an triệu tập vì tiến hành các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và có liên hệ với một số tổ chức phản động nước ngoài. Vậy mà chủ doanh nghiệp nêu trên đã nhiều lần gặp và trực tiếp cùng đối tượng này "lên sóng" trong những clip kéo dài cả giờ đồng hồ. Với những thông tin được cung cấp, đối tượng này ngang nhiên xuyên tạc, bóp méo sự việc, nói xấu chính quyền và các cơ quan pháp luật. Các clip trên được chia sẻ trên MXH, tạo cớ để một số đối tượng lợi dụng xuyên tạc nói xấu Đảng, Nhà nước. Vẫn liên quan đến cái gọi là "kênh truyền hình CHTV", một lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Ninh cho biết, thời gian gần đây các đối tượng điều hành trang mạng này cũng kích động, lôi kéo một số người dân, móc nối, liên kết với một số đối tượng khiếu kiện dạng "đầu đơn" ở địa phương để hứa hẹn giúp đỡ đấu tranh bằng CHTV... để đòi quyền lợi cho “dân oan”. Đối tượng còn ngang nhiên gọi điện, gây sức ép với một số cơ quan chức năng trong tỉnh đòi được “làm việc” và tuyên bố "kênh truyền hình CHTV" của y ngang với VTV, thậm chí còn gây ảnh hưởng… quốc tế(?). Cần những giải pháp kiên quyết, đồng bộ Hiện tượng lợi dụng các kênh truyền thông “tiểu ngạch” để chống phá Đảng, Nhà nước thời gian gần đây diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Ngoài việc “nâng cấp” các facebook, blog thành các “tạp chí”, “nhà xuất bản” để mở rộng diện tán phát; các thế lực thù địch còn khai thác triệt để khả năng tương tác, lan truyền trên MXH; lập nhiều kênh Youtube phản động. Chúng cũng lợi dụng danh nghĩa luật sư, từ thiện, hỗ trợ pháp lý để lôi kéo, xúi giục một số người dân khiếu kiện kéo dài, thậm chí tụ tập, gây rối; đồng thời mở rộng các hình thức hội luận, đào tạo trực tuyến, hội họp trực tuyến... Những thông tin xấu độc trên MXH có tác động tiêu cực đến tình hình, tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, dao động, tiếp sức cho "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để đấu tranh có hiệu quả với những thủ đoạn trên, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý, xử lý sai phạm. Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đẩy mạnh các hoạt động trao đổi, làm việc với đại diện của Facebook, Google yêu cầu giải quyết các đề nghị ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam trên MXH hiệu quả hơn. Việc xây dựng và ban hành "Bộ quy tắc ứng xử cho các nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam" cần sớm được triển khai. Hiện, Facebook đã xây dựng một kênh riêng để giải quyết các đề nghị gỡ bỏ thông tin vi phạm MXH của Việt Nam. Sau khi Luật An ninh mạng có hiệu lực, việc sớm đưa luật vào cuộc sống rất cần thiết. Lãnh đạo Cục An ninh mạng (Bộ Công an) từng cho biết: Google và Facebook đều đánh giá Luật An ninh mạng của Việt Nam là “phù hợp” và sẽ nghiên cứu để sửa chính sách của mình phù hợp với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Bà Ann Lavin, Giám đốc Chính sách công và Quan hệ chính phủ của Tập đoàn Google tại châu Á-Thái Bình Dương khi làm việc tại Việt Nam từng cho biết: “Google cam kết tuân thủ pháp luật các nước sở tại, trong đó có Việt Nam. Chúng tôi hiểu sâu sắc đó là nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ pháp luật nước sở tại Việt Nam nên việc tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam là rất quan trọng và cần thiết để tuân thủ” Tính đến hết tháng 6-2018, Google đã gỡ bỏ 6.700/7.800 video clip ra khỏi Youtube, trong đó có gần 300 video clip có nội dung phản động, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, 6 kênh Youtube đã bị chặn hoàn toàn... Facebook cũng đã gỡ bỏ gần 1.000/5.500 đường link có nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam, 107/107 tài khoản giả mạo, 137 tài khoản nói xấu, bôi nhọ, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước. Các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong ngăn chặn thông tin xấu độc. Kinh nghiệm từ Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy: Bộ đã phát hiện, cảnh báo cho các doanh nghiệp quảng cáo về tình trạng Google gắn quảng cáo của nhiều thương hiệu nổi tiếng ở trong và ngoài nước trên các video clip phản động, bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao trên kênh Youtube của Google. Chính điều này đã dẫn đến việc các đại lý quảng cáo lớn ở Việt Nam đồng loạt dừng quảng cáo trên toàn hệ thống của Google một thời gian. Từ cơ sở đó, Google đã đồng ý thiết lập cơ chế riêng để Bộ Thông tin và Truyền thông có thể yêu cầu Google gỡ bỏ số lượng lớn các video clip vi phạm trên Youtube. Về phía các cơ quan pháp luật, cần xử lý mạnh tay, nghiêm minh hơn nữa các hành vi vi phạm; nhất là xử phạt một số cá nhân thông tin xuyên tạc, chống phá trên internet. Như trường hợp Dũng vova không phải là nhà báo, không quản lý kênh truyền hình, báo chí được pháp luật công nhận thì không thể lôi kéo, kích động người dân kiện tụng, tán phát thông tin, thể hiện sự coi thường kỷ cương, phép nước. Những hiện tượng như vậy phải xử lý nghiêm minh cả người tán phát và người cung cấp thông tin, tiếp tay cho đối tượng. Đối với mỗi người dùng internet và MXH cũng như người dân nói chung, phải biết "gạn đục khơi trong" khi tiếp cận thông tin trên internet và MXH; không vì thiếu hiểu biết hay vì sự bức xúc mà đơn giản tiếp tay cho những kẻ xấu lợi dụng để kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.

Nói một đằng, làm một nẻo

Nhiều năm qua, dưới chiêu bài dân chủ và nhân quyền, một tổ chức có tên là “Ân xá quốc tế” (AI - Amnesty International) đã thường xuyên đưa ra nhiều đánh giá phiến diện, bóp méo sự thật, có tính chất kích động, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ và trực tiếp đe dọa tới an ninh của các quốc gia mà tổ chức này nhắm đến. Bất chấp sự bác bỏ, phản đối của các nước, phải đối diện rất nhiều ý kiến phê phán của chính giới và báo chí, nhưng đến nay, AI vẫn chưa từ bỏ hành vi sai trái, thiếu thiện chí và mục đích đen tối này. Là tổ chức phi chính phủ (NGO) do luật sư người Anh là P.Benenson (P.Ben-nơ-sân) thành lập năm 1961, AI không giấu giếm tham vọng khi xác định mục tiêu hoạt động như: giải phóng mọi tù nhân lương tâm; bảo đảm các phiên tòa diễn ra công khai và công bằng; giúp đỡ những người tìm chỗ nương náu chính trị; hợp tác với các tổ chức cùng mục đích nhằm chấm dứt vi phạm nhân quyền… Để thỏa mãn tham vọng, AI vươn cánh tay tới hầu hết các quốc gia trên thế giới. Và trong quá trình đó, “tù nhân lương tâm” là yếu tố thường xuyên được sử dụng làm khái niệm công cụ để bao biện, bảo vệ một số người vi phạm luật pháp ở các quốc gia. Theo trả lời phỏng vấn trên RFA ngày 12/3/2019 của Nguyễn Trường Sơn - được giới thiệu “hiện là người làm chiến dịch cho AI ở Cam-pu-chia, Việt Nam”, thì “thuật ngữ tù nhân lương tâm được tạo ra từ chính tổ chức AI”, bởi “Trước khi thuật ngữ tù nhân lương tâm được sử dụng thì trước đây người ta thường sử dụng thuật ngữ tù nhân chính trị. Tuy nhiên AI nhận thấy có rất nhiều người, người ta không hề hoạt động chính trị, mà chỉ đơn thuần thực hiện các quyền con người cơ bản của mình, hoặc các quyền công dân của mình, vì thế mà họ phải chịu cảnh tù đày, bắt bớ, đàn áp. Những người như vậy nếu xét theo tiêu chuẩn của một tù nhân chính trị thì không phải, cho nên AI đã nghĩ ra một khái niệm mới, đó là tù nhân lương tâm”. “Nghĩ ra một khái niệm mới” rồi yêu cầu các quốc gia phải tuân theo, cũng như bằng nội hàm của “khái niệm mới” này có thể thấy dường như qua đó AI muốn xóa nhòa ranh giới giữa hành vi phạm tội phải xử lý theo pháp luật tại các quốc gia với quan điểm quy chuẩn riêng, theo cách nghĩ, đánh giá của mình. Chưa kể, bằng việc “nghĩ ra” và sử dụng một khái niệm rất mơ hồ, phải chăng AI đã tìm thấy phương cách hữu hiệu để dễ bề biện hộ cho hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia không chịu nằm trong sự chi phối của những thế lực đã và đang dung túng các hoạt động của AI. Dù bản chất hành động của những người được AI bảo vệ còn là vấn đề gây tranh cãi, nhưng cần phải thấy rằng, trong nhiều văn bản luật quốc tế cũng như văn bản pháp luật của các quốc gia, không hề có mặt “khái niệm mới” do AI chế tạo. Có thể nói, với tham vọng “một mình một đường”, dường như AI muốn áp đặt “luật chơi riêng” của mình lên cả thế giới. Với cách hành xử áp đặt như vậy, AI đã tự cấp cho mình “quyền” đứng trên luật pháp của các quốc gia; bởi trên thế giới ngày nay, theo nguyên tắc pháp quyền, các quốc gia có chủ quyền, có hệ thống pháp luật riêng thì mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu trách nhiệm tuân thủ và chấp hành trước pháp luật, bất luận đó là ai, tổ chức nào. Các năm qua, vì bất bình trước lối hành xử bất chấp pháp luật của AI, rất nhiều quốc gia, tổ chức đã lên tiếng phản đối các cáo buộc thiếu căn cứ, phiến diện, cũng như không chấp nhận việc AI đã phớt lờ các mối đe dọa đến an ninh quốc gia từ những tổ chức, cá nhân vẫn được AI bao bọc trong tấm áo mỹ miều được gọi là “tù nhân lương tâm”. Tiêu biểu như ngày 24/2/2016, Bộ Ngoại giao Thái Lan phủ nhận “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới 2015-2016” của AI, coi đây là một báo cáo “không cân bằng”, “không xét đến bối cảnh đặc biệt” của tình hình nước này, đồng thời khẳng định báo cáo đã “phớt lờ các thách thức dai dẳng mà Thái Lan đang đối mặt, đó là nhu cầu cần phải có sự cân bằng giữa quyền tự do tụ tập và tự do bày tỏ quan điểm trong khi phải ngăn chặn các xung đột chính trị tái diễn...; không phản ánh các tiến triển tích cực xuất phát từ nỗ lực thực sự của Chính phủ Thái Lan để cải thiện nhân quyền”. Hay năm 2017, Chính phủ Syria cũng đã bác bỏ chiến dịch của AI cáo buộc quốc gia này đã tra tấn, sát hại 13.000 người trong một nhà tù, đồng thời khẳng định những cáo buộc của AI là muốn làm tổn hại danh tiếng của Syria trên thế giới. Đồng thời hàng loạt quốc gia khác như Nga, Cộng hòa Dân chủ Công-gô, Trung Quốc,... cũng đã từng lên tiếng phê phán AI thiên vị và thân phương Tây. Phớt lờ thành tựu của nhiều quốc gia trong vấn đề nhân quyền, tự cấp cho mình quyền phê phán, lên án các quốc gia về nhân quyền nhưng bản thân AI trên thực tế lại không hề là địa chỉ tin cậy trong hoạt động bảo vệ nhân quyền ngay từ chính nội bộ của họ. Các bất ổn trong nội bộ AI là thực tế mà tổ chức này đang phải đối mặt, với nhiều cáo buộc nghiêm trọng. Năm 2002, cuộc trò chuyện giữa nhà báo D. Bernstein (D. Bơn-tên) với luật sư F.Boyle (F.Boi-lơ), một cựu thành viên ủy ban điều hành AI ở Mỹ, đăng trên globalpolicy.org ngày 13/6/2002 với tiêu đề “Được ân xá quốc tế?” đã phơi bày thực trạng đáng xấu hổ trong bộ máy của AI. Theo luật sư F.Boyle thì: “AI chủ yếu được thúc đẩy không phải vì quyền con người mà bởi sự công khai. Thứ hai đến tiền. Thứ ba đến nhận được nhiều thành viên hơn. Thứ tư, trận chiến “sân cỏ nội bộ”. Và cuối cùng mới là quyền con người”. F. Boyle cũng thẳng thắn chỉ ra rằng dù vậy, AI lại hết sức kiêu ngạo: “Chúng tôi là tổ chức Ân xá quốc tế. Chúng tôi là tổ chức nhân quyền lớn nhất và quyền lực nhất thế giới. Chúng tôi đã giành Giải thưởng Nobel Hòa bình cho công việc của mình. Vì vậy, chúng tôi làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn”! Trước đó, tại Hội nghị hội đồng quốc tế của AI tổ chức tại Dakar (Đắc-ka, Sê-nê-gan) tháng 8/2001, chứng kiến việc AI mở rộng nhiệm vụ bao gồm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã được thông qua, một số thành viên AI đã bày tỏ lo ngại rằng “AI đang mất đi hình ảnh đặc trưng và mở rộng lĩnh vực hoạt động quá lớn. AI có thể biến thành một “cửa hàng tạp hóa nhân quyền” và mất uy tín”. Đáng chú ý mới đây, ngày 26/2/2019 tờ Tagesspiegel (Tấm gương hằng ngày) đã đăng bài “Môi trường làm việc độc hại - Tổ chức Ân xá quốc tế bị cáo buộc điều gì” cho biết: Ngày 31/1/2019, công ty tư vấn quốc tế KonTerra Group tại Washington (Oa-sinh-tơn) công bố một báo cáo về việc lạm dụng nội bộ tại AI. Ngay sau đó, ngày 28/2/2019, trên trang mạng epochtimes.de (tiếng Đức) xuất hiện bài viết đáng chú ý có tiêu đề “Lòng căm thù con người sâu sắc: Tổ chức Ân xá quốc tế bị chỉ trích sau các tiết lộ về bầu không khí làm việc”. Bài viết có đoạn: “Trong khi tổ chức này giương cao biểu ngữ “nhân quyền”, cáo buộc các chính phủ trên thế giới có hành vi vô nhân đạo, thì người ta nói rằng, AI đã vận hành và dung túng cách tiếp cận thô lỗ đối với nhân viên của mình. Sự việc được phanh phui bởi báo cáo “Đánh giá phúc lợi của nhân viên” ngày 31/1/2019. Báo cáo cho biết, có một “môi trường làm việc độc hại” trong AI và không chỉ gần đây, mà đã qua nhiều năm và nhiều thập kỷ. “Bắt nạt, căng thẳng và liều lĩnh” được cho là cuộc sống hằng ngày trong AI. Khi có sự tái cấu trúc lớn tổ chức vào năm 2018, hai vụ tự tử đã xảy ra trong AI, ít nhất là vụ việc của G.Mootoo (G.Mô-tu), cộng tác viên 30 năm của AI, có thể liên quan trực tiếp đến các điều kiện nội bộ. G.Mootoo, người tự kết liễu đời mình vào ngày 25/5 tại văn phòng Paris (Pa-ri, Pháp), đã viết trong một lá thư từ biệt “áp lực công việc không chịu nổi”... Trong vài thập kỷ qua, đã có sự chỉ trích ngày càng tăng đối với hoạt động của AI vì cáo buộc tổ chức này thiên vị, và trên hết là theo đuổi một sự mở rộng độc đoán, thúc đẩy ý thức hệ của khái niệm nhân quyền”. Trong một diễn biến khác cũng liên quan đến sự việc trên, tháng 2/2019, nhóm quản lý của AI đã đề nghị từ chức sau khi một báo cáo độc lập tìm thấy cái gọi là “văn hóa độc hại” tại chính tổ chức này, biểu hiện bằng tình trạng chèn ép tại nơi làm việc, quấy rối, phân biệt giới tính, phân biệt chủng tộc... Báo cáo cũng cho biết những nỗ lực của AI để giải quyết các vấn đề của mình là “không liên quan, không phản ứng, không nhất quán”. Nhiều nhân viên đã mô tả đội ngũ lãnh đạo cấp cao của AI là không làm việc, bất tài và nhẫn tâm. Trong số người ký thư đề nghị từ chức đáng chú ý có: giám đốc nghiên cứu cao cấp, văn phòng tổng thư ký, nhóm gây quỹ toàn cầu, các thành viên phụ trách mảng luật pháp, chính sách, chiến dịch truyền thông... Tổng Thư ký AI K.Naidoo (K.Nêi-đô) phải thừa nhận rằng ông có thể không chấp nhận tất cả các đề nghị từ chức, ưu tiên của ông là xây dựng lại niềm tin ở AI mới là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Đây không phải là vấn đề gì mới với AI. Vì trước đó, AI đã từng lâm vào một khủng hoảng chưa từng có. Cụ thể cuối năm 2012, các điều kiện làm việc tồi tệ đã dẫn đến các cuộc đình công ngay tại văn phòng của AI ở London và khu vực Vương quốc Anh. Các báo cáo nội bộ của AI buộc phải thừa nhận ở một số khu vực, nhất là ở Mỹ, tổ chức này đã mất ảnh hưởng cùng với một số lượng thành viên đáng kể. Một nghiên cứu của NGO Monitor chỉ ra cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ một số vấn đề cơ cấu, gồm khuynh hướng tư tưởng hậu thực dân nhất quán, thiếu uy tín trong các báo cáo nghiên cứu, không nhất quán về đạo đức, bất ổn tài chính và tham nhũng, không hành động một cách minh bạch giữa văn phòng Luân Đôn với các bộ phận quốc gia quan trọng (đặc biệt là ở Mỹ)... Đáng nói, dù đã được chỉ ra, những bất ổn đã không hề được AI giải quyết. Từ hiện trạng kể trên, có thể thấy rõ rằng, hoạt động của AI không thực tâm hướng tới nhân quyền. Về thực chất, nhân quyền chỉ là bình phong, là nhãn hiệu AI tự gắn lên mình và dựa vào đó để đưa ra các cáo buộc tùy tiện, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều quốc gia nhằm thực hiện mục đích riêng của mình. Sự tùy tiện ấy thể hiện rõ ngay từ chính nội bộ của AI, mà hệ lụy là AI vi phạm nhân quyền ngay cả với thành viên của mình. Bởi vậy, nếu thực sự hoạt động vì nhân quyền, lớn tiếng phán xét người khác, trước hết AI nên tự xem xét ngay từ chính tổ chức của mình để chấn chỉnh cả về quan niệm, mục đích... lẫn công việc nội bộ.

Cảnh giác với những lời lẽ lu loa, tâm địa đen tối

Xưa nay, khi nói đến những kẻ "tiền hậu bất nhất", ngoài miệng thì nói lời từ bi, hiền lành nhưng trong lòng lại bạc ác, nham hiểm, dân gian có câu “khẩu phật tâm xà”, hay “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”. Thời nay, trên không gian ảo lại xuất hiện những đối tượng không chỉ có lời lẽ lu loa mà tâm địa còn chứa đựng “nọc rắn độc” rất nguy hại. Đó chính là một số đối tượng lợi dụng vụ việc xảy ra ở chùa Ba Vàng (TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) để phỉ báng Phật giáo, xuyên tạc sự thật tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề chính trị nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trong lịch sử tôn giáo Việt Nam, Phật giáo gắn bó lâu đời với dân tộc, con người Việt Nam và có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng nền tảng văn hóa, đạo đức tốt đẹp cho xã hội và góp phần củng cố, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, vụ việc lợi dụng hoạt động tôn giáo để truyền bá mê tín dị đoan và trục lợi ở chùa Ba Vàng vừa qua là một điều đáng tiếc. Thực tế cho thấy, nghi thức “thỉnh vong”, “cúng oan gia trái chủ” do một vài cá nhân duy trì tổ chức trong thời gian qua ở chùa Ba Vàng là sai cả về giáo lý, đạo lý, không phù hợp với truyền thống văn hóa tôn giáo tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Liên quan đến vụ việc, chính quyền TP Uông Bí đã tạm dừng các hoạt động sai trái này. Cá nhân sai phạm bước đầu bị xử phạt vì vi phạm nếp sống văn hóa và đối tượng này đang bị cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, sớm đưa ra kết luận những sai phạm để có hình thức xử phạt phù hợp, đúng luật. Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam khu vực phía Bắc cũng đề xuất tạm đình chỉ mọi chức vụ đối với cá nhân trụ trì chùa Ba Vàng. Việc xử lý bước đầu đối với cá nhân liên quan đến sai phạm ở chùa Ba Vàng là hoàn toàn có cơ sở. Vì một trong những nội dung của Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có quy định nghiêm cấm hành vi “Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”. Đông đảo tăng ni, phật tử cả nước và dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ với sự vào cuộc kịp thời, khẩn trương, nghiêm túc của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Sự thật rõ ràng, minh bạch là vậy. Thế nhưng, lợi dụng mạng xã hội, một số kẻ có thái độ thâm thù với chính quyền, chế độ nhân cơ hội này đưa ra những thông tin, bình luận lệch lạc, xảo trá. Các đối tượng không chỉ cho rằng “nguồn cơn của sự tha hóa và biến tướng trong Phật giáo là do chính quyền Hà Nội thao túng Phật giáo” (!); “đó là điều tất yếu xảy ra và không bao giờ dừng lại” vì “chế độ độc đảng hiện hành” (!); mà có kẻ lại “làm thơ” với những câu từ trơ trẽn, đơm đặt và kích động. Không cần bình luận thêm, bởi bản thân những lời lẽ trên đã lộ rõ chân tướng của những kẻ “ngồi lê mách lẻo” bên bàn phím, hằng ngày hằng giờ chỉ biết mải mê tìm kiếm một số thông tin bất cập, tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội rồi quy chụp mọi điều xấu xa, tội lỗi đều do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra! Cái trò gian giảo, “gắp lửa bỏ tay người” này tuy không mới, nhưng luôn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, chứng tỏ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, phản động ngày càng quyết liệt. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của người dân, giữ gìn thanh danh của đạo Phật Thực ra không phải bây giờ mà từ lâu các thế lực thù địch, phản động luôn coi vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những trọng điểm của âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, khi có điều gì đó liên quan đến các tôn giáo, các đối tượng luôn tìm mọi cách để biến “đốm lửa nhỏ” thành “ngọn lửa to” nhằm thu hút sự quan tâm của một số cơ quan, tổ chức, lực lượng vốn không có thiện chí với Việt Nam để cùng nhau “đồng thanh tương ứng” xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Mặc dù vụ việc xảy ra ở chùa Ba Vàng là do bản thân một số người lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, trục lợi chứ không phải do sự tác động của chính quyền; nhưng do sự hiềm khích với chính quyền đã “ăn sâu” vào máu của những kẻ chống phá nên chúng chẳng tìm ra được căn cứ, bằng chứng gì thì cứ nói theo kiểu “lấp liếm, lu loa” để đánh lạc hướng dư luận và làm “mồi nhử, thả thính” đối với người nhẹ dạ cả tin! Do vậy, thủ đoạn này không thể xem thường. Đảng, Nhà nước Việt Nam nhiều lần khẳng định, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước không chỉ tôn trọng, bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; mà còn luôn tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng. Đồng thời, pháp luật cũng nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi đôi với tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức tôn giáo trong nước hoạt động đúng giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức và trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật, là điều bình thường đối với bất cứ nhà nước, chính quyền nào. Mỗi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của công dân. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, những năm qua, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đều có tinh thần dân tộc, yêu nước, gắn bó với Tổ quốc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đạo và đời, giữa giáo lý, giáo luật và pháp luật. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Phật giáo Việt Nam nói chung và Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng đã có nhiều đóng góp về mặt văn hóa cho xã hội. Tuy Phật giáo không thể làm thay các chức năng thuộc về thể chế xã hội, nhưng có thể góp phần điều chỉnh khả năng nhận thức, khuyến khích điều thiện và ngăn chặn cái ác, lòng tham, qua đó góp phần xây dựng nền tảng đạo đức xã hội lành mạnh. Với tinh thần từ bi hỉ xả, khuyến khích sự hài hòa, bình đẳng và phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, Phật giáo Việt Nam đã góp phần khơi dậy và phát huy tinh thần khoan dung, dân chủ, yêu nước thương nòi, động viên mọi người cùng chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thực hiện phương châm “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội”, các tăng ni, phật tử đã có nhiều hoạt động thiện nguyện, nhân văn để góp phần làm đẹp thêm cuộc sống, xã hội. Được biết, hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 46 trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi với 1.330 trẻ em và 160 bảo mẫu; 15 trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn với 576 cụ được chăm sóc; 33 phòng khám Đông y với 206 lương y tham gia cộng tác và 10 phòng khám Tây y có với 40 bác sĩ tham gia cộng tác để khám, chữa bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân nghèo. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp cũng như những việc làm thiện nguyện, vì cộng đồng mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các tăng ni, phật tử và cơ sở Phật giáo trên khắp mọi miền đất nước đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao. Điều này thêm một lần minh chứng sinh động về việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, phát huy những giá trị nhân văn của các tôn giáo, trong đó có Phật giáo để góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thế nên, lợi dụng vụ việc sai phạm xảy ra trong hoạt động tôn giáo của một ngôi chùa để bôi nhọ hình ảnh Phật giáo Việt Nam là một hành vi xúc phạm đến giới tăng ni, phật tử cả nước, xúc phạm đến niềm tin thiêng liêng của người dân Việt Nam vào giá trị nhân văn của đạo Phật, xúc phạm đến sự đóng góp nhiều mặt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với xã hội, đất nước. Cũng cần nhắc lại rằng, việc chính quyền, cơ quan chức năng vào cuộc xử lý kịp thời vụ việc sai phạm xảy ra trong hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động, sinh hoạt của tôn giáo phù hợp với giáo lý, giáo luật và pháp luật, qua đó góp phần giữ gìn thanh danh của mỗi tôn giáo trong xã hội.

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI PHẢI BẮT NGUỒN TỪ SỨC MẠNH CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN

 

Chúng ta phải nhận thức rằng cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. Vì thế mối quan hệ máu thịt với nhân dân được Đảng ta xác định rõ và không ngừng củng cố./.

Từ đánh tráo khái niệm đến can thiệp thô bạo

Với mục đích đen tối và những toan tính cá nhân nhiều năm qua, các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam, đã a dua tung hứng và sử dụng “tù nhân lương tâm” của “Ân xá quốc tế” (AI - Amnesty International) như một cơ sở để đưa ra đòi hỏi phi lý, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vậy số người được AI gắn nhãn hiệu “tù nhân lương tâm” là ai? Đã nhiều năm, trong các loại tuyên bố, phúc trình, báo cáo và phát ngôn, trả lời phỏng vấn,... của một số tổ chức, cá nhân, thậm chí một số chính phủ, về vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam, khái niệm “tù nhân lương tâm” được sử dụng như một cơ sở pháp lý nhằm hướng đến mục đích duy nhất là biện hộ cho một số người ở Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật và đã bị tòa án nhân dân (TAND) xét xử, tuyên án vốn chung mục đích hoặc đồng lõa với hành vi của mình... Dù Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và đại diện cơ quan chức năng liên quan nhiều lần khẳng định, chứng minh ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, không có người vì bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ, và như các quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật, nhưng sự thật và chứng lý đó luôn bị phớt lờ. Bởi vậy, mỗi khi TAND ở Việt Nam xét xử, tuyên án một hoặc một nhóm người có hành vi vi phạm pháp luật với các tội danh liên quan hoạt động chính trị, chống phá Nhà nước thì AI bèn trưng ra cái gọi “tù nhân lương tâm” yêu cầu Việt Nam “phải trả tự do vô điều kiện, ngay lập tức” cho số người này nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam. Ðiểm qua số người ở Việt Nam được AI gắn nhãn hiệu là “tù nhân lương tâm” rồi nhất mực bảo vệ, nổi lên có: Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Lê Công Ðịnh, Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Hoàng Ðức Bình, Huỳnh Trương Ca... Ðiểm chung giữa các cá nhân này là họ cùng có hành vi vi phạm pháp luật, căn cứ vào tội danh được xác định cụ thể trong luật pháp Việt Nam, TAND đã công khai xét xử, tuyên án. Cũng cần nhắc đến một điểm chung nữa, sau khi đã được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, một số “tù nhân lương tâm” đã ra nước ngoài định cư thì “lương tâm” cũng biến mất, “tinh thần đấu tranh” vốn trước đó được AI ca ngợi, cổ vũ, khích lệ, bảo vệ hầu như không còn. Nên có chuyện bi hài là cuối năm 2018, trong khi vẫn tiếp tục sử dụng khái niệm “tù nhân lương tâm” để vu khống Việt Nam mỗi khi cần thiết, tổ chức khủng bố “Việt tân” cũng làm một tổng kết, thừa nhận đó là những người bị kết án, bị cáo buộc vì đã “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, tuyên truyền chống Nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ, gây rối trật tự công cộng, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc”... Càng bi hài hơn vì qua tổng kết này, tổ chức khủng bố “Việt tân” đã trực tiếp cung cấp cho AI chứng cứ để thấy đó là số người vi phạm pháp luật Việt Nam, hành vi của họ không chút gì dính líu với những giá trị của lương tâm. Thực tế, trên thế giới, dù làm việc hay sinh sống bất kể đâu thì khái niệm lương tâm con người vẫn thuộc về phạm trù đạo đức. Và dù có khái quát trừu tượng đến đâu vẫn phải nhìn nhận, đánh giá lương tâm trên cơ sở thực hành, gìn giữ các giá trị chân - thiện - mỹ trong cuộc sống. Từ góc nhìn nhân tính, không thể gọi là người có lương tâm khi “công khai hoạt động chống phá chính quyền, biến nơi ở thành nơi làm ra, tàng trữ, lưu hành, phát tán nhiều tài liệu, hoạt động chống phá Nhà nước, thành lập cái gọi là đảng "Thăng tiến Việt Nam", móc nối, cấu kết các thế lực phản động trong và ngoài nước chống đối Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc” như Nguyễn Văn Lý; “lợi dụng các quyền tự do dân chủ, kích động nhân dân chống chính quyền, chống chế độ, gây phương hại tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội” như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh; “đưa ra đường lối, các kế hoạch hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, cấu kết với đối tượng cầm đầu tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài để bàn bạc, thống nhất phương thức hoạt động để lật đổ chính quyền nhân dân...” như Trần Huỳnh Duy Thức; “thường xuyên đăng tải, chia sẻ trên Facebook cá nhân những thông tin, tài liệu tuyên truyền nói xấu chế độ, cổ vũ đa nguyên, đa đảng; kích động người dân Giáo xứ Trung Nghĩa (Hà Tĩnh) bao vây, tiến công tổ tuần tra của công an, đập phá tài sản nhà trưởng công an xã, kéo lên trụ sở Công an huyện, UBND huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) gây mất trật tự an ninh” như Hoàng Ðức Bình; “chia sẻ, phát tán bài viết, video, hình ảnh có nội dung kích động, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền luận điệu phản động, trái với đường lối, chủ trương của Ðảng và Nhà nước, nhận được sự hỗ trợ, cung cấp tài chính từ các cá nhân cực đoan, tổ chức phản động trong và ngoài nước số tiền là 92,1 triệu đồng, 5.264 USD” như Nguyễn Văn Hóa... Với các tội danh nêu trên, chỉ riêng âm mưu lật đổ chế độ, tiến công lực lượng chức năng, đập phá trụ sở chính quyền thì ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể dung thứ, bắt buộc phải đem ra truy tố, xét xử trước pháp luật để bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội, sự an toàn và yên bình cho cuộc sống người dân. Thế mà, thật khó lý giải, AI lại coi đây là hành động của “nhà hoạt động xã hội và môi trường, người hoạt động ôn hòa, thực thi quyền tự do bày tỏ ý kiến nhằm thúc đẩy nhân quyền”, rồi dựa vào đó để gắn nhãn hiệu “tù nhân lương tâm”, hô hào cứu giúp. Bỏ qua sự phản đối và lên án về cách hành xử của AI của rất nhiều nước trên thế giới, chỉ tính riêng phạm vi Việt Nam, xem xét liên hệ giữa thời gian sự kiện và thái độ của AI với Việt Nam, phải khẳng định càng gần đây AI càng tỏ ra ngạo mạn một cách vô lối, và hung hăng một cách bất thường. Hầu như mọi sự kiện ở Việt Nam, nhất là sự kiện liên quan pháp luật, AI đều tìm cách can thiệp, phê phán, xuyên tạc... Như với Luật An ninh mạng của Việt Nam, AI vừa gửi thư ngỏ tới Microsoft, Apple, Google, Facebook, Samsung yêu cầu những công ty này “tạo áp lực lên Nhà nước Việt Nam”, vừa gửi “thư ngỏ” tới Quốc hội Việt Nam để phản đối. Dù không được mời dự Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) tổ chức tháng 9/2018 tại Hà Nội, AI vẫn cố cử người đến Việt Nam, khi không được nhập cảnh thì lập tức la lối vu cáo. Ngày 9/3/2019, sau khi cơ quan công an thông báo về việc bắt giữ Hà Văn Nam để điều tra hành vi “gây rối trật tự công cộng”, lập tức AI đã gắn cho người này nhãn hiệu “tù nhân lương tâm” và đòi “phải trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện”. Thậm chí trước, trong và sau phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm của TAND xét xử Từ Công Nghĩa, Lưu Văn Vịnh, Nguyễn Quốc Hoàn, Nguyễn Văn Ðức Ðộ, Phan Trung vì có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, thành lập tổ chức phản động với tên gọi “liên minh dân tộc Việt Nam”, tuyên truyền đả kích, bôi nhọ, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam, AI cũng tỏ ra rất xăng xái với đủ loại tuyên bố, yêu cầu mà tác dụng duy nhất là giúp hệ thống truyền thông của các thế lực thù địch với Việt Nam có thêm “tài liệu” để làm rùm beng, vu cáo, xuyên tạc... Năm 2014, đề cập cái gọi là “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam theo quan niệm của AI, Kim Âu - một kẻ nổi tiếng chống cộng, đưa ra ý kiến: “gọi chúng là tù nhân lương tâm thì sai mà nên sửa lại là tù nhân lương tháng mới đúng”! Ý kiến của Kim Âu dựa trên điều ông ta cho rằng những “tù nhân lương tâm” này không quan tâm đến nhân quyền, mà chỉ hoạt động để kiếm tiền tài trợ của nước ngoài. Ðiều này là có cơ sở, vì chính “tù nhân lương tâm” được AI o bế từng thừa nhận. Như Tạ Phong Tần kể “viết, trả lời cho các đài phát thanh BBC, RFI, RFA trên 100 bài. Cứ mỗi bài, BBC trả 28 bảng Anh (khoảng 40 USD). Tổng cộng từ năm 2007 đến nay, tôi đã nhận được gần 15.000 USD từ nhiều báo, đài”. Hồ sơ vụ án Trần Khải Thanh Thủy cho biết chị ta “đã nhận ít nhất 12.350 USD, 200 euro, 400 AUD từ các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong; nhận 1.600 USD, 400 AUD từ bên ngoài với mục đích mua chuộc, lôi kéo người khiếu kiện”. Sau khi được ra nước ngoài định cư, trong bài “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Trần Khải Thanh Thủy đã công khai cho biết trong thời gian “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”, các khoản lương hằng tháng người này được chu cấp bao gồm: tổ chức khủng bố “Việt tân” 200 USD, Bích Huyền 400 USD, báo Người Việt 200 USD (kể cả khi ngồi tù Trần Khải Thanh Thủy vẫn được nhận khoản lương này), “từ Ðàn chim Việt đến Viet Tide, Người Việt, Thời báo,... bèo nhất cũng trả 25 USD, cao nhất là 80 đến 100 USD/bài, còn lại từ 30 đến 50 USD một bài”. Và ngày 22/1/2019, người có biệt danh (nickname) Hao Duc Nguyen viết trên Facebook cá nhân kể sau khi sang Mỹ, Cù Huy Hà Vũ: “xin tiền thành lập chính phủ. Viết hiến pháp mới cho nước Việt trong tương lai. Tiền giấy tờ, tiền thuê thư ký, đánh máy, văn phòng,... một tháng chừng 4.500 USD”... Do vậy, chỉ có thể kết luận đó là những người buôn lương tâm, và thực tế (cũng như với các cá nhân này) AI cũng chỉ như một thế lực có vai trò giúp biện hộ cho những việc làm bất minh. Xét đến cùng, lương tâm là nền tảng tinh thần để mỗi người tự điều hướng suy nghĩ, hành động. Người có lương tâm sẽ thực hiện hành vi đúng đắn, lành mạnh, góp điều tốt đẹp với cuộc sống, cùng mọi người phấn đấu xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển. Thậm chí, nếu cần phải phê phán cũng thực hiện với tinh thần thiện chí, cầu thị, không manh động, không lợi dụng quyền cá nhân để làm điều xấu, gây tác hại với cuộc sống của người khác, làm rối loạn, ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự, an ninh xã hội. Vì thế, trong xã hội đã nảy sinh hai khái niệm đối lập nhau là lương tâm và vô lương tâm. Từ thái độ, việc làm của AI với cộng đồng quốc tế và với Việt Nam, hoàn toàn có thể đặt các câu hỏi: Phải chăng AI quan tâm bảo vệ hành vi vô lương tâm vì có lợi cho mục đích của mình hơn là việc ca ngợi, bảo vệ hành vi mang dấu ấn của lương tâm. Và cũng vì lẽ đó, AI sẵn sàng bao bọc người vi phạm pháp luật, cố tình làm chỗ dựa cho một số người, biến lương tâm thành món hàng để trục lợi. Tất nhiên, chỉ những người đang tổ chức, điều hành AI mới hoàn toàn có thể trả lời đầy đủ các câu hỏi này, cũng như chỉ có họ mới là yếu tố quyết định AI có hành xử thực sự xứng đáng. Và đương nhiên, cũng chỉ họ mới điều chỉnh được lương tâm của chính AI trước khi phán xét và gắn tên tuổi của bất kỳ cá nhân nào trên thế giới này với khái niệm lương tâm./.

Bộ đội Biên phòng bắt giữ 47 đối tượng nhập, vượt biên trái phép 25/05/2021

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, hiện tượng xuất nhập cảnh trái phép, vượt biên trái phép trên các tuyến biên giới vẫn phức tạp. Bộ đội biên phòng tạm giữ 32 người nhập cảnh trái phép Đối tượng Lầu Thị Má bị lực lượng biên phòng phát hiện vượt biên trái phép. Ảnh: TTXVN Đối tượng Lầu Thị Má bị lực lượng biên phòng phát hiện vượt biên trái phép. Ảnh: TTXVN Chiều 24/5, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) cho biết, lực lượng chức năng đã bắt giữ 46 đối tượng nhập cảnh trái phép, trong đó trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc bắt giữ 37 đối tượng, tuyến Việt Nam - Campuchia 8 đối tượng và tuyến Việt Nam - Lào 1 đối tượng. Trước đó, lực lượng BĐBP đã tổ chức tuyên truyền, phát tờ rơi về phòng, chống dịch Covid-19 đến Nhân dân vùng biên giới. Qua đó, giúp người dân ở khu vực biên giới nâng cao nhận thức và thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19; không tiếp tay, bao che cho những đối tượng xuất, nhập cảnh trái phép và báo cáo ngay với cơ quan chức năng nếu phát hiện đối tượng khả nghi trên địa bàn. Cũng trong chiều ngày 24/5, đại diện Đồn Biên phòng A Mú Sung (Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai) cho biết, Tổ Kiểm soát phòng, chống Covid-19 của đơn vị đã phát hiện một trường hợp có hành vi lợi dụng ngày bầu cử 23/5 để vượt biên giới trái phép vào Việt Nam. Cụ thể, khoảng 6 giờ ngày 23/5, Chốt kiểm soát Covid-19 số 4 của Đồn Biên phòng A Mú Sung đang làm nhiệm vụ tại khu vực biên giới thuộc thôn Lũng Pô, xã A Mú Sung, huyện Bát Xát thì phát hiện một phụ nữ lội qua suối Lũng Bô để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Đó là đối tượng Lầu Thị Má, sinh năm 1964, dân tộc Mông, trú tại xã Dền Thàng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Đối tượng Lầu Thị Má khai nhận, bà làm công việc trồng dứa thuê ở thôn Lũng Pô, sát biên giới, sau đó thì lội suối sang Trung Quốc để tiếp tục làm thuê. Đến ngày 23/5, Lầu Thị Má cho rằng vào ngày bầu cử ở Việt Nam thì lực lượng kiểm soát biên giới sẽ lơ là nên đã lội qua suối Lũng Bô để nhập cảnh trái phép về Việt Nam. Đồn Biên phòng A Mú Sung đã lập biên bản, bàn giao công dân Lầu Thị Má cho lực lượng y tế để đưa đi cách ly theo quy định. Nguon Pháp luạt.

Giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ sở

     Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.

    Trong những năm gần đây, tệ nạn tham nhũng đã có những diễn biến hết sức phức tạp, tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chính vì thế Đảng ta cũng đã xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ lớn đe dọa đến sự sống còn của chế độ và sự nghiệp đổi mới của đất nước. Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 của Chính phủ cũng xác định “Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới”. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, hành vi nhũng nhiễu, quan liêu, hách dịch, cửa quyền của một số cán bộ ở cơ sở đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với đảng.

    Nguyên nhân dẫn đến tệ nạn tham nhũng

    Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu vẫn đang chịu ảnh hưởng nặng nề của việc quản lý tập trung bao cấp, cơ chế xin cho tạo ra các kẽ hở cho tệ nạn tham nhũng nảy sinh và phát triển. Cơ chế chính sách pháp luật về công tác phòng, chống tham nhũng chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương chưa rõ ràng. Chế độ công vụ hiện nay mới bắt đầu được thể chế hóa. Do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường lối sống thực dụng và văn hóa biếu, nhận quà tặng đang bị lợi dụng dẫn đến những hành vi đưa hối lộ cho cán bộ, công chức trong cơ quan để dễ dàng làm ăn, dễ dàng chiếm đoạt tiền của Nhà nước và nhân dân, làm giàu bất chính Ngoài ra, thu nhập của cán bộ, công chức không đủ đảm bảo nhu cầu cuộc sống đã thúc đẩy một bộ phận cán bộ, công chức thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực khi có cơ hội. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý hành vi tham nhũng chưa nghiêm, vẫn còn sự nể nang, né tránh, bao che cho những người có hành vi tham nhũng. Cải cách hành chính vẫn còn chậm, cơ chế “xin cho” chưa được khắc phục triệt để; thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu. Bên cạnh đó, việc huy động tổng thể lực lượng toàn xã hội tham gia đấu tranh chống tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng chưa tạo ra sự chuyển biến tích cực.

    Giải pháp phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác phòng, chống tham nhũng

    Một là, tuyên truyền phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, thống nhất có hiệu quả từ nhận thức đến hành động của cán bộ,công chức, viên chức trong việc phòng, chống tham nhũng.

    Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện, củng cố đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở liêm chính, có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; kiểm tra giám sát, ngăn ngừa việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp cơ sở trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động gây lãng phí, thất thoát kinh phí và tài sản trong cơ quan, đơn vị cơ sở; phát huy vai trò phản biện xã hội về phòng chống tham nhũng; kịp thời ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tiêu cực tham nhũng trong toàn hệ thống chính quyền. Đồng thời, tập trung công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng; Luật phòng chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến toàn thể cán bộ, công chức cơ sở; triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng. Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, các giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát hiện, xử lý tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp cơ sở nhằm ngăn chặn, phòng ngừa có hiệu quả những hành vi tham nhũng.

    Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng.

    Hoàn thiện các quy định để quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thu chi ngân sách của chính quyền cấp cơ sở; các khoản chi cho đầu tư xây dựng, chi thường xuyên, chi phí hội nghị, lễ hội, tiếp khách. Công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn và việc thực hiện chế độ định mức tiêu chuẩn sử dụng tài sản công của cán bộ công chức cấp cơ sở trước hết là người đứng đầu cơ quan tổ chức đơn vị, minh bạch tài sản thu nhập, việc thực thi công vụ ở nhưng vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân và doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực gắn liền với quyền lợi của người dân, doanh nghiệp như: đất đai, tài nguyên, thuế, ngành nghề kinh doanh nhạy cảm... Rà soát việc tổ chức, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương nhằm phục vụ tốt hơn yêu cầu quản lý, đồng thời không gây khó khăn, phiên hà cho người dân, doanh nghiệp.

    Ba là, tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về công tác tổ chức – cán bộ thuộc cấp cơ sở để phòng, chống tham nhũng.

    Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ trong các đơn vị thuộc hệ thống chính trị cơ sở, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật. Tăng cường dân chủ ở cơ sở; đặt phòng, chống tham nhũng trong mối quan hệ với chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách hiện đại hóa hệ thống chính quyền cấp cơ sở nói riêng. Kịp thời điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của hệ thống chính quyền cấp cơ sở. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cơ quan đơn vị mình.

    Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

    Chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc thực thi công vụ những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. Hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lượng thực thi công vụ của chính quyền cấp cơ sở. Tăng cường vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị cơ sở đối với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm ngăn ngừa, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, đúng quy định của pháp luật đối với những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong phát hiện, xử lý tham nhũng; đẩy mạnh việc thực hiện nâng cao năng thực thanh tra, kiểm tra, chú trọng tăng cường công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về phòng, chống tham nhũng, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức cơ sở làm công tác thanh tra, kiểm tra. Đồng thời, công bố công khai kết luận kiểm tra, thanh tra và kết quả kiểm tra, thanh tra có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức. Xử lý nghiêm người đứng đầu cơ quan đơn vị có hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hoặc để đơn vị mình quản lý xảy ra tham nhũng, lãng phí tiêu cực. Có biện pháp mạnh tay đối với cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng, tiêu cực sai phạm về chuyên môn. Cụ thể hóa và tăng cường kiểm tra nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức ở trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trong các lĩnh vực nhất là trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

    Năm là, tăng cường vai trò giám sát trong công tác phòng, chống tham nhũng.

    Có biện pháp bảo vệ an toàn và kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân dũng cảm tố cáo, phát hiện những hành vi tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục  và có chính sách truyền thong đúng đắn, phát huy vai trò và trách nhiệm của bộ phận tuyên truyền trong phòng, chống tham nhũng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực về công tác phòng, chống tham nhũng. Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa tổ chức đảng các đoàn thể quần chúng và chính quyền cơ sở trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đồng thời, duy trì công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí một cách thường xuyên, liên tục, có biện pháp chặt chẽ, không để sơ hở trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ đối với tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị như Đảng ta đã xác định: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”.

Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là không ngừng, không nghỉ

 Đấu tranh chống tham nhũng không phải là để trị ai, thù oán ai, mà hoàn toàn là nhân văn, nhân đạo. Xử một vài người để răn đe, giáo dục, ngăn ngừa người khác đừng vi phạm, để cảnh tỉnh, cảnh báo là chính, không phải cốt xử cho nhiều, xử cho nặng mới là nghiêm.

Trả lời câu hỏi của báo chí về công tác phòng chống tham nhũng tại Họp báo sau Đại hội XIII của Đảng vào sáng 1/2, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho biết, đây là vấn đề lớn, đất nước nào cũng có, thời nào cũng có, chỉ có nhiều hay ít, rộng hay hẹp.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt, vừa qua mới là hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Đây là bệnh của những người có quyền, có chức, lại nắm trong tay tiền của nên rất dễ tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Cuộc phát động chống tham nhũng, tiêu cực được bắt đầu từ năm 2013, khi thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng. Từ năm 2013 đến nay, đã xử rất nhiều vụ, nhiều Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị bị đi tù, thu hồi tài sản lên đến hàng triệu USD và nhiều tỷ đồng.

“Tôi nói là không dừng, không nghỉ, không kể đó là ai, không có vùng cấm. Có người trước đây lúc thấy tôi sức khỏe yếu cũng lo chùng xuống. Rồi có tâm lý: Giờ sắp đến Đại hội rồi có làm không? Tôi nói là, mai Đại hội mà hôm nay đến ngày xét xử, vẫn đưa ra tòa xét xử,” Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói và dẫn chứng vừa qua, gần Đại hội vẫn xử nhiều vụ, đến cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là không ngừng, không nghỉ, bất cứ lúc nào.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, làm không phải cốt để trị ai, thù oán ai, mà hoàn toàn là nhân văn, nhân đạo. Tổng Bí thư nhắc lại câu nói của Bác Hồ, cưa một cành cây mọt, sâu để cứu cả cái cây. Xử một vài người để răn đe, giáo dục, ngăn ngừa người khác đừng vi phạm, để cảnh tỉnh, cảnh báo là chính, không phải cốt xử cho nhiều, xử cho nặng mới là nghiêm.

“Chưa bao giờ một khóa mấy ông Bộ Chính trị bị đi tù, bị cách chức, tịch thu bao nhiêu tài sản. Có người hối lộ, xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Tôi nói tại Hội nghị toàn quốc rồi, đồng chí cán bộ kiểm tra mở ra xem đó là gì. Mở vali ra, thấy toàn tiền USD, yêu cầu khóa lại lập biên bản, anh ký vào đây, rồi anh xách vali về”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ về việc đấu tranh tham nhũng khó khăn, phức tạp, nếu không có bản lĩnh, dũng khí, tình cảm chân chính thì không làm được.

“Ai cũng thích của, thích tiền. Nhưng danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng khẳng định, đây là cuộc đấu tranh còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt và gian nan. Vừa qua mới là hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn quyền, còn chức, còn tiền, nếu con người ta không tu dưỡng rèn luyện sẽ còn xảy ra.

Về những trọng tâm công tác sắp tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: Sắp tới nhiệm vụ còn lớn, nhiều, nặng nề, khó khăn và còn nhiều nguy cơ, nhiều diễn biến phức tạp chưa lường hết được.

“Cảm ơn các bạn đã chúc mừng tôi, chúc mừng sức khỏe, đây là nhân tố rất quan trọng, nếu không nói là quyết định, để làm việc. Tuổi tôi cũng cao rồi, tôi xin nghỉ rồi, nhưng Đại hội bầu, là đảng viên thì phải chấp hành, nên tôi sẽ cố gắng hết sức, còn làm được hay không thì phải là tập thể, phải đoàn kết, thống nhất, trên dưới một lòng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, nhất trí”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bày tỏ./.

Tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong phòng chống dịch bệnh Covid - 19

    Những ngày qua, cùng với sự nỗ lực cố gắng của cả nước, lực lượng Công an đã triển khai quyết liệt các biện pháp để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh: “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”; thần tốc, cương quyết, bằng mọi biện pháp tranh thủ từng giờ, từng phút phối hợp rà soát, truy vết, xác minh các trường hợp liên quan đến các ca nhiễm bệnh Covid-19; tăng cường lực lượng bảo đảm an ninh trật tự tại các khu vực bị phong tỏa do có người bệnh dương tính với SARS-CoV-2; tham mưu và triển khai các biện pháp phòng, chống dịch tại các địa điểm bỏ phiếu Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 và các địa điểm cấp căn cước công dân cho người dân. Phối hợp các ban ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm thông điệp “5K” của Bộ Y tế trong phòng, chống dịch. Cùng với đó, mọi lực lượng Công an đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các tỉnh, thành phố, tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm các hành vi, vi phạm pháp luật trong công tác phòng chống dịch Covid-19, nhất là vi phạm về việc đeo khẩu trang nơi công cộng.