Thứ Năm, 14 tháng 10, 2021

Công an làm việc với Thủy Tiên, Đàm Vĩnh Hưng: Thiện ác phân minh trong hoạt động từ thiện

 

Công an làm việc với Thủy Tiên, Đàm Vĩnh Hưng: Thiện ác phân minh trong hoạt động từ thiện

Trong việc hành thiện, tôi tin sẽ không có chỗ cho điều ác. Thiếu minh bạch trong thiện nguyện, có thể có cả sự tư túi bớt xén chính những tấm lòng thiện của đồng bào tin tưởng trao gửi mình sẽ là một cái ác không thể dung thứ.

Khi nghe tin Bộ Công an chỉ đạo làm rõ những lùm xùm từ chuyện làm thiện nguyện của một số nghệ sĩ tên tuổi trong đợt cứu trợ lũ lụt năm ngoái, tôi thấy đúng nhưng thú thực tôi rất buồn.

Buồn vì nhiều lẽ. Chuyện làm thiện nguyện chẳng có gì mới. Đó là truyền thống ngàn đời của người dân Việt “lá lành đùm lá rách”. Làm thiện nguyện ai cũng có thể làm, từ một người nghèo trong mặt bằng xã hội cứu giúp người hoàn cảnh kém hơn đến một tổ chức bằng uy tín và chức năng của mình đứng ra huy động một lượng của cải vật chất lớn giúp đỡ đồng bào...

Trong trường hợp này, các nghệ sĩ lấy chính tên tuổi, sự nghiệp của mình đứng ra để làm thiện nguyện cũng là lẽ thường. Đồng bào vùng lũ lụt lâm nạn, mọi sự giúp đỡ đều là đáng quý, là việc nên làm.

Vậy tại sao lại xảy ra lùm xùm để dư luận dị nghị, thậm chí tố cáo việc tổ chức thiện nguyện rất cao quý này. Rất đơn giản thôi, đó là tính minh bạch. Buồn ở nhẽ đó.

Trong tất cả các trường hợp trong diện xác minh làm rõ lần này khiến dư luận nghi vấn chính ở số tiền quá lớn và việc giải ngân chậm trễ, thậm chí tù mù. Cách thức cứu trợ cũng là vấn đề. Với cá nhân, đã đành là số tiền quá lớn vượt khả năng tổ chức nhưng không thiếu gì cách thực hiện tốt hơn khi các địa phương bị thiên tai có hẳn hệ thống chính quyền, đoàn thể có thể kết hợp cấp phát và giám sát tốt hơn. Nhưng cái chính có nhẽ ở những phát ngôn của người thực hiện. Khi làm thiện nguyện việc phát ngôn vô cùng nhạy cảm, có thể gây tổn thương chính dư luận chứ chưa nói đến những người trong diện cứu trợ.

Lúc xảy ra chuyện lùm xùm, tâm lý chung của những người hay làm công việc này là lo lắng cho chính những người thực hiện. Phải nói thêm chỗ này, rất nhiều người tôi biết, tôi quen, họ có là bạn tôi hoặc không đều im lặng bởi họ đã từng làm việc tương tự không chỉ một lần. Trong sự hỗn loạn của dư luận ủng hộ lẫn phản đối những người thực hiện cứu trợ tôi có cảm giác họ như đang trong men say của một điều rất tối kị của việc thiện nguyện đó là ý nghĩ ban phát. 

Điều này là có thật với một trường hợp cụ thể trong số những người bị xác minh lần này. Anh là ai, làm gì khi chỉ là người trung chuyển lòng hảo tâm của mọi người đến đồng bào. Nói theo nhà Phật, anh chẳng có tẹo công đức nào. Công đức bằng không.

Đợt lũ lụt năm ngoái tôi đang nằm ở Vinh viết kịch bản phim truyện về Nghệ An. Một nhóm bạn nhờ tôi chuyển một xe hàng vào Hà Tĩnh. Tôi liên hệ mượn xe tải trực tiếp chuyển hàng vào tập kết đúng yêu cầu của họ, có biên nhận địa phương. Kế đó một quỹ xã hội ủy nhiệm cho tôi mang tiền mặt đến phúng viếng các trường hợp liệt sĩ hy sinh trong đợt chống lũ lụt của tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. 

Liên quan đến tiền mặt và cũng muốn tổ chức một đoàn quy mô hơn đến chia buồn với thân nhân liệt sĩ, tôi chủ động mời một cán bộ cấp Sở của Nghệ An, một doanh nhân có kiến thức tài chính làm kế toán giao tiền, biên nhận đầy đủ từng trường hợp. Không thể có một sơ sảy nhỏ khi mọi sự minh bạch rõ ràng với một số tiền nhiều trăm triệu đồng.

Nhắc trường hợp của tôi năm ngoái chỉ để khẳng định một điều nếu làm trọn vẹn mọi nhẽ thì không bao giờ có thể xảy ra chuyện điều tiếng. Có thể thông cảm cho những nghệ sĩ rằng họ không chuyên nghiệp trong việc tài chính và quá sức họ trong khi lượng tiền quá lớn vượt tầm kiểm soát cá nhân. Nhưng điều đó không đủ trấn an dư luận và dập tắt những nghi ngờ. 

Không có lửa sao có khói. Sau những phát biểu mạnh mẽ đầy thiên kiến cá nhân của một nữ nghệ sĩ, anh bạn tôi một người làm thiện nguyện nhiều năm nay bảo tôi, nguy đấy ông ạ. Tình hình này chắc sẽ xảy chuyện. Có lẽ bằng kinh nghiệm của mình và thực tế thiện nguyện nên anh có lời nhận xét như một tiên lượng chính xác như vậy.

Vì tế nhị và cũng rất thực lòng tôi tôn trọng những tên tuổi nghệ sĩ làm thiện nguyện đang bị Bộ Công an xác minh nên ẩn danh họ. Nhưng trong việc hành thiện này, tôi tin một điều sẽ không có chỗ cho điều ác. Thiếu minh bạch trong thiện nguyện, có thể có cả sự tư túi bớt xén chính những tấm lòng thiện của đồng bào tin tưởng trao gửi mình sẽ là một cái ác không thể dung thứ. Thiện ác phân minh. Cái ác sẽ bị trừng phạt. Dẫu vậy tôi vẫn mong sự bình an cho họ. Mong nhưng tất cả đều phải bình đẳng trước pháp luật. Hoan nghênh Bộ Công an đã vào cuộc làm rõ.

 

Phó Bí thư Hà Nội: Nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao vì còn F0 trong cộng đồng

 

Phó Bí thư Hà Nội: Nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao vì còn F0 trong cộng đồng

Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội cho biết đang có nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao vì vẫn còn F0 trong cộng đồng, mới nhất là ổ dịch chưa rõ nguồn lây ở quận Hà Đông.

Tại cuộc họp Sở Chỉ huy phòng, chống COVID-19 TP Hà Nội chiều tối 13/10, Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong cho biết, Hà Nội vẫn đang trong giai đoạn nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao vì còn F0 trong cộng đồng, mới nhất là ổ dịch xuất hiện ở quận Hà Đông, chưa rõ nguồn lây.

Trong khi số người dân trở về từ vùng dịch ngày càng đông; ngoài các phương tiện máy bay, tàu hoả, xe khách, người dân còn di chuyển tự phát bằng phương tiện cá nhân. Các tỉnh xung quanh như Bắc Ninh, Hà Nam cũng vừa phát sinh thêm các ổ dịch mới rất phức tạp.  

Ông Nguyễn Văn Phong cũng chỉ rõ, Hà Nội có 97,7% số người từ 18 tuổi trở lên được tiêm vaccine mũi 1. Tuy chỉ có hơn 2% số người từ 18 tuổi trở lên chưa đủ điều kiện được tiêm mũi 1, nhưng con số lên tới khoảng trên 120.000 người, là những người có bệnh nền, tuổi cao, phụ nữ mang thai chưa đến 13 tuần mà chỉ định không thể tiêm được...

Tiếp đó là gần 3 triệu trẻ em dưới 18 tuổi chưa được tiêm. Nếu những người cao tuổi, bệnh nền không thể tiêm mắc SARS-CoV-2 thì nguy cơ chuyển nặng, thậm chí tử vong sẽ tăng cao.

“Trên thực tế tại Hà Nội, một số quận, huyện nhiều ngày chưa có ca F0 trong cộng đồng đã xuất hiện tâm lý lơ là, chủ quan”, ông Phong nhấn mạnh.  

Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong yêu cầu, cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền quán triệt tinh thần tuyệt đối không được chủ quan, lơ là công tác phòng, chống dịch COVID-19 vào lúc này; phải nêu cao trách nhiệm hơn nữa, phải quyết liệt ngay từ những ngày đầu thiết lập trạng thái bình thường mới.

Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong nhấn mạnh, để bảo vệ thành quả chống dịch đạt được thời gian vừa qua, các quận, huyện, thị xã phải chủ động dự báo và đánh giá đúng tình hình, nhất là các nguy cơ phát sinh, lây lan dịch bệnh, xây dựng kế hoạch, phương án rà soát điều kiện cơ sở vật chất, con người để ứng phó khi cần thiết, tiếp tục dự phòng ở mức độ cao hơn; không được chủ quan, lơ là, đảm bảo chuyển trạng thái “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” trong tình hình mới.

“Từ kinh nghiệm phòng, chống dịch của thành phố thời gian qua cho thấy, phải chủ động chuẩn bị trước một bước và quan trọng là phải dựa vào nhân dân, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đến tận thôn, tổ dân phố, các tổ COVID cộng đồng, các tổ tự quản liên gia...”, ông Nguyễn Văn Phong nêu rõ.   

Phó Chỉ huy trưởng Thường trực Sở Chỉ huy thành phố Nguyễn Văn Phong cũng yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp; trước mắt giữ nguyên hiện trạng các cơ sở cách ly tập trung từ nay đến hết tháng 10/2021 để đề phòng các tình huống phát sinh.

Phó Bí thư Thành uỷ yêu cầu các quận, huyện, thị xã phải xây dựng ngay kế hoạch cụ thể từng phần việc, từng loại hình tổ chức, cơ sở nhằm quản lý việc chấp hành các quy định phòng, chống dịch khi mở lại các hoạt động, dịch vụ. Công an Thành phố tăng cường tuần tra, kiểm soát di biến động dân cư, kiểm tra việc chấp hành phòng chống dịch từ cửa ngõ đến nội đô thành phố.

 

Không quân CAND - bước tiến hiện đại của Cảnh sát cơ động

 

Không quân CAND - bước tiến hiện đại của Cảnh sát cơ động

Bộ Công an vừa ra mắt Trung đoàn Không quân CAND trực thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (CSCĐ). Đây là việc hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI và XII của Đảng đã xác định "tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước hết là cho lực lượng Hải quân, Phòng không - Không quân; lực lượng An ninh, Tình báo, CSCĐ...".

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định "xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa các lực lượng Hải quân, Phòng không - Không quân, Tác chiến điện tử, Trinh sát kỹ thuật, Cảnh sát biển, Tình báo, Cơ yếu, An ninh, CSCĐ...".

1. Pháp lệnh CSCĐ năm 2013 và Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh cũng quy định CSCĐ được trang bị các loại phương tiện cơ giới đường không chuyên dụng phục vụ trinh sát kỹ thuật, vận chuyển cơ động chiến đấu, tác chiến phòng, chống tội phạm, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (CNCH). Gần đây, ngày 31-3-2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 31 phê duyệt Đề án hiện đại hóa lực lượng CSCĐ đến năm 2025, tầm nhìn 2030, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình thực hiện.

Thực tế, thời gian qua, lực lượng CSCĐ thường xuyên được huy động với số lượng lớn tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, gần đây nhất là đợt bão lũ, sạt lở đất xảy ra ở các tỉnh miền Trung năm 2020. Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh COVID-19, CSCĐ đã tăng cường tuyến đầu chống dịch, riêng Bộ Tư lệnh hiện đang tăng cường gần 5.000 CBCS với trên 300.000 lượt CBCS hỗ trợ công an các đơn vị, địa phương. Do đó, xây dựng lực lượng CSCĐ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong bảo đảm ANTT của đất nước. Lực lượng Không quân CAND ra đời là hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ và phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.

Phát biểu chỉ đạo tại Lễ công bố các quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và công tác cán bộ của Trung đoàn Không quân CAND sáng 11-10, Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an khẳng định, bên cạnh bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ của đội ngũ CBCS và tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ phù hợp thì việc tăng cường sức mạnh của trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện nghiệp vụ là vấn đề được quan tâm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng CSCĐ; đồng thời là một trong những nội dung có tính chất quyết định để xây dựng lực lượng CSCĐ cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vào năm 2025.

Việc trang bị máy bay trực thăng cho lực lượng CAND, trước tiên là lực lượng CSCĐ để thực hiện nhiệm vụ không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tham mưu, quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật mà còn giải quyết được những vụ việc, tình huống trên các địa hình, địa bàn phức tạp mà các phương tiện cơ động chiến đấu đường bộ, đường sắt và đường thủy chưa đáp ứng được. Nhất là trong trường hợp khẩn cấp, cần cơ động nhanh, ứng phó kịp thời, chủ động để đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, giảm thiểu các thiệt hại về người và tài sản.

"Có thể khẳng định, việc thành lập Trung đoàn Không quân CAND đã đánh dấu sự phát triển, hiện đại của CAND nói chung, của lực lượng CSCĐ nói riêng", Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh. Trung đoàn Không quân CAND có trách nhiệm tham mưu thực hiện các nhiệm vụ quản lý, điều hành hoạt động bay theo quy định phục vụ công tác huấn luyện và đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tham gia tìm kiếm CNCH, phòng chống, khắc phục thảm họa, thiên tai và thực hiện các hoạt động bay khác theo chương trình, kế hoạch đã được lãnh đạo Bộ phê duyệt.

2. Bộ máy tổ chức của Trung đoàn Không quân CAND hiện gồm 11 đồng chí phi công, cán bộ chuyên môn kỹ thuật hàng không tại các đơn vị máy bay trực thăng thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng và 2 đồng chí phó trưởng phòng thuộc Bộ Tư lệnh CSCĐ. Trong đó, Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm 4 đồng chí: 1 Trung đoàn trưởng và 3 Phó Trung đoàn trưởng.

Có một điều đặc biệt là trong số 13 CBCS của Trung đoàn Không quân CAND ở thời điểm hiện tại có 4 Phi công cấp 1 (trong đó có Đại tá Nguyễn Ngọc Trung, Trung đoàn trưởng và Trung tá Nguyễn Văn Hưng, Phó Trung đoàn trưởng kiêm Trưởng Ban Tham mưu); 1 Phi công cấp 2.

Để đạt Phi công cấp 1, phi công phải có trình độ kỹ thuật lái, dẫn đường trong điều kiện bay 4 khí tượng: ngày, đêm, đơn giản, phức tạp. Họ phải có tổng giờ bay tích lũy hơn 800 giờ. Được biết, các Phi công cấp 1 ở Trung đoàn Không quân CAND đều có khoảng 1.000 giờ bay, riêng Đại tá Nguyễn Ngọc Trung là gần 1.500 giờ bay. Anh cũng chính là người từng trực tiếp lái trực thăng bay vào khu vực Thủy điện Rào Trăng 3 (xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế) tham gia CNCH vụ sạt lở đất cách đây tròn 1 năm; thực hiện nhiệm vụ CNCH tại địa bàn xã Hướng Việt, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị... khi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 930, Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không - Không quân.

Theo Trung tướng Phạm Quốc Cương, Tư lệnh CSCĐ, Bộ Tư lệnh rất vinh dự, tự hào khi được Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an quan tâm, giao nhiệm vụ nhưng đồng thời cũng nhận thức sâu sắc rằng, đây là yêu cầu, trách nhiệm rất cao để hoàn thành tốt nhiệm được giao. Vì vậy, xuyên suốt quá trình triển khai đặt nền móng thành lập Trung đoàn Không quân CAND, từ khi tiếp nhận chủ trương, tham mưu xây dựng các đề án, dự án, xây dựng tổ chức bộ máy, quy mô cơ cấu quân số, biên chế và đảm bảo nguồn nhân lực cho Trung đoàn, Đảng ủy, lãnh đạo Bộ Tư lệnh cũng như toàn thể CBCS đều đồng lòng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ với một nỗ lực, ý chí cao nhất.

Trong thời gian đầu triển khai, đơn vị còn gặp nhiều khó khăn, Bộ Tư lệnh CSCĐ đã nhận được sự quan tâm đặc biệt, sự chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an; cùng với sự quan tâm, tạo điều kiện rất nhiệt huyết và thuận lợi của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân và sự phối hợp, hiệp đồng của các đơn vị chuyên môn thuộc hai Bộ.

"Gây dựng một đơn vị mới là rất khó khăn nhưng chúng tôi hứa với đồng chí Bộ trưởng và Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an sẽ phát huy truyền thống đoàn kết, kinh nghiệm, hiệu quả để tham mưu xây dựng Trung đoàn Không quân CAND ngày càng phát triển vững mạnh, có khả năng tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng thành thạo các phương tiện bay, làm chủ tình huống, sẵn sàng ra quân thực hiện nhiệm vụ", Trung tướng Phạm Quốc Cương bày tỏ.

Chia sẻ với phóng viên Báo CAND sau lễ công bố, Đại tá Nguyễn Ngọc Trung bày tỏ xúc động: "Lúc trao quyết định, Bộ trưởng có nói: "Cố gắng lên em nhé!". Tôi cứ nhớ mãi khoảnh khắc ấy, một câu nói gần gũi, có tính khích lệ lớn lao, khơi dậy trong tôi động lực để cống hiến và hoàn thành tốt nhiệm vụ". Hơn ai hết, anh và đồng đội luôn ý thức sâu sắc rằng, được công tác, chiến đấu trong lực lượng Quân đội nhân dân hay Công an nhân dân đều là niềm vinh dự lớn lao trong cuộc đời binh nghiệp của mỗi CBCS. Quán triệt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng, tập thể CBCS Trung đoàn sẽ tiếp tục giữ vững những phẩm chất tốt đẹp của bộ đội cụ Hồ, phát huy truyền thống vẻ vang của lực lượng CAND, của Bộ Tư lệnh CSCĐ - đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, pháp luật và năng lực công tác. Giữ vững đoàn kết nội bộ, giữ nghiêm kỷ luật trong công tác và chiến đấu; tăng cường công tác huấn luyện bay và bảo đảm an toàn bay, xây dựng Trung đoàn Không quân CAND có trình độ kỹ, chiến thuật chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ theo mệnh lệnh của cấp trên...

 

Một số giải pháp phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội hiện nay.

            Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc tham gia các trang mạng xã hội nhằm mục đích giải trí, chia sẻ và trao đổi thông tin, giao lưu, kết nối giữa các cá nhân với nhau ở khắp mọi nơi trên thế giới ngày càng trở nên hết sức phổ biến. Bên cạnh tác động tích cựcmạng xã hội cũng bộc lộ những tác động tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến phẩm chất, đạo đức, lối sống, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của thanh niên Việt Nam nói chung, thanh niên quân đội nói riêng.

Bước vào “kỷ nguyên 4.0”, con người càng trở nên bận rộn và ít có điều kiện để gặp gỡ, trao đổi thông tin, tình cảm trực tiếp với nhau. Điều đó đặt ra nhu cầu bức thiết về một giao thức, mà ở đó, con người có thể kết nối không giới hạn cả về không gian và thời gian. Mạng xã hội ra đời đã đáp ứng gần như hoàn hảo nhu cầu bức thiết đóHiện nay, trên thế giới đã có hơn 250 trang mạng xã hội khác nhau như: Facebook, Zalo, Instagram, Twitter, MySpace, Google+, Youtube…, mỗi mạng xã hội có những hướng phát triển nhất định và ngày càng đi sâu, tác động trực tiếp đến đời sống của con người. Bên cạnh những mặt tích cực không thể phủ nhận, mạng xã hội cũng mang đến những tác động tiêu cực như: “khủng hoảng thông tin”, “nghiện online”, đặc biệt mạng xã hội chính là môi trường lý tưởng mà những phần tử cơ hội, bất mãn và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, chống phá nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “phi chính trị hóa” quân đội; đưa những thông tin sai trái, thậm chí xuyên tạc nhằm làm giảm sút lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây thù hận, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo dựng ngọn cờ, kích động, lôi kéo tập hợp lực lượng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thanh niên quân đội là một bộ phận ưu tú, vừa mang đầy đủ bản chất và truyền thống của thanh niên Việt Nam, vừa hội tụ đầy đủ bản chất và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Thanh niên quân đội hiện nay đã và đang tiếp cận, sử dụng mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau: tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, trao đổi thông tin hữu ích, chia sẻ, kết nối bạn bè. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng đang trong quá trình hoàn thiện, thích khám phá những vấn đề mới, hơn nữa cùng với tâm lý thích nổi tiếng, thích được mọi người chú ý, câu “like”, câu “view” khiến cho một bộ phận thanh niên quân đội không tránh khỏi những tác động tiêu cực, đặc biệt là những tác động trực tiếp ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục tiêu, lý tưởng cách mạng của thanh niên quân đội hiện nay, ngoài ra còn làm ảnh hưởng tới việc chấp hành kỷ luật và chấp hành các chế độ trong ngày, vi phạm pháp luật. Nếu không đủ tỉnh táo, kiên định với lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị thì một bộ phận thanh niên quân đội sẽ bị cuốn theo những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, bị lung lay ý chí,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội hiện nay là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy và các tổ chức trong đơn vị đối với việc phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội 

Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, là một nội dung của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ thanh niên quân đội, là tiền đề tạo sự “miễn dịch”, “sức đề kháng” cho thanh niên quân đội tránh được những tác động tiêu cực của mạng xã hội trong quá trình tiếp cận, sử dụng thông tin; giữ vai trò chủ đạo quyết định đến chất lượng, hiệu quả phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội hiện nay.

Nhận thức là cơ sở của hành động, định hướng hành động, có nhận thức đúng mới có trách nhiệm cao và hành động đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, tư tưởng đúng thì hoạt động mới khỏi sai lệch và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được. Nhận thức trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy đơn vị là cơ sở để vạch ra phương hướng, mục tiêu, lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp và có quyết tâm cao trong phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội. Trong đó, tập trung một số nội dung chủ yếu đó là: Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy đơn vị và thanh niên quân đội về những tác động tiêu cực của mạng xã hội và vai trò của phòng, chống tác động tiêu cực của việc sử dụng mạng xã hội đến thanh niên quân đội; nâng cao nhận thức của cấp ủy, chỉ huy đơn vị, thanh niên quân đội về âm mưu, thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang lợi dụng mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội 

Nội dung, hình thức và biện pháp giữ vai trò rất quan trọng trong phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội; là những yếu tố thường xuyên vận động biến đổi phù hợp với tính chất và mức độ tác động của mạng xã hội đến quá trình tiếp cận, sử dụng thông tin của thanh niên quân đội. Nội dung phòng, chống đúng, hình thức phong phú, biện pháp cụ thể, sáng tạo thì hoạt động phòng, chống mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó, quá trình phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội phải quan tâm đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này.

Với phương châm phòng là chính, việc đổi mới nội dung phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội cần tăng cường tính toàn diện, cụ thể, thực tiễn. Phải bảo đảm các yêu cầu: khách quan, toàn diện, kết hợp hài hòa giữa nâng cao nhận thức, tư tưởng với xây dựng thái độ, hành vi sử dụng mạng xã hội; xuất phát từ thực tiễn quá trình học tập, công tác của thanh niên quân đội để xác định nội dung phòng, chống, tránh dàn trải, chung chung; kích thích tính tích cực, sáng tạo, tự chủ, tự phòng, chống của thanh niên quân đội; đồng thời phải luôn bổ sung, cập nhật những nội dung cần thiết đáp ứng yêu cầu phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội. Đổi mới nội dung phòng, chống nhằm giúp thanh niên quân đội có nhận thức đúng đắn, thực hành sử dụng mạng xã hội đúng mục đích, phục vụ hữu ích việc học tập, công tác và sinh hoạt.

Hình thức phòng, chống là vấn đề quan trọng, góp phần quyết định đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động phòng, chống. Đổi mới, hoàn thiện hình thức phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội vào hai hình thức cơ bản: phòng, chống thông qua hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của thanh niên quân đội và phòng, chống thông qua các hoạt động ngoại khóa. Mỗi hình thức phòng, chống có ưu điểm và hạn chế riêng, có tác động khác nhau nên cần sử dụng tổng hợp các hình thức phòng, chống.

Phương pháp có vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả phòng, chống. Để phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội có hiệu quả, cần sử dụng tổng hợp, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp như giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về những tác động tiêu cực của mạng xã hội, nêu gương, động viên những thanh niên biết sử dụng mạng xã hội một cách hữu ích, đồng thời kiểm tra chấn chỉnh những hành vi vi phạm quy định của đơn vị trong sử dụng, khai thác thông tin trên mạng xã hội của một bộ phận thanh niên quân đội. Trong đó, hai phương pháp cơ bản và hiệu quả nhất trong phòng, chống là: giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức và phương pháp kích thích, phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong nâng cao hiệu quả sử dụng mạng xã hội.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động của thanh niên quân đội trong tự phòng, chống tác động tiêu cực của việc sử dụng mạng xã hội

Thanh niên quân đội vừa là khách thể của hoạt động phòng, chống, vừa là chủ thể của hoạt động này. Do đó, phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của đội ngũ này trong nâng cao chất lượng phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội. Trong môi trường tập thể dù được giáo dục, định hướng tốt đến đâu nếu bản thân chủ thể tiếp nhận không phát huy được tính tích cực, chủ động trong tự phòng, chống thì hiệu quả của hoạt động này tất yếu sẽ không cao. Phát huy vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của thanh niên quân đội trong hoạt động phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội cần phải gắn chặt với nâng cao lý tưởng xã hội chủ nghĩa và ra sức phấn đấu theo mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Tự phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội thực chất là quá trình hoạt động có mục đích, có ý thức của họ, hướng vào nâng cao nhận thức, xây dựng và phát triển các kỹ năng “tự bảo vệ” trong khai thác, sử dụng mạng xã hội của thanh niên quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội. Bởi vì, xét đến cùng thì hiệu quả của hoạt động phòng, chống do ý thức chủ động, tự giác của từng thanh niên quyết định. Đó là quá trình tự tổ chức, tự điều chỉnh về nhận thức và hành vi nhằm loại bỏ những tác động tiêu cực của mạng xã hội, những yếu tố không phù hợp với yêu cầu của xã hội mới, của quân đội cách mạng và yêu cầu hoàn thiện nhân cách của người thanh niên.

Tự phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội một quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi tính tích cực, tự giác của mỗi thanh niên phải được phát huy cao độ. Thanh niên quân đội phải “tự thân vận động”, phải “tự chiến thắng bản thân mình” khi sử dụng mạng xã hội. Một khi mạng xã hội được ví như một “cái chợ”, ở đó ai đến cũng được, mặc sức “trao đổi”, có vô vàn thông tin, bình luận về cùng một sự kiện, cả những “dụ dỗ” đánh vào tâm lý, sở thích, tính tò mò của tuổi trẻ. Điều đó vừa đòi hỏi mỗi thanh niên quân đội phải có ý chí quyết tâm cao, nghị lực lớn nhưng cũng vừa phải phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác trong “rèn đức, luyện tài”; Đòi hỏi thanh niên quân đội phải có trình độ kiến thức chuyên môn vững vàng, có hiểu biết về thực tiễn đời sống xã hội, nắm vững chức trách, nhiệm vụ được giao, có đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh để đủ sức vượt qua những trở ngại đó. Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động phòng, chống của các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị với hoạt động tự phòng chống chính bản thân thanh niên quân đội, nhằm thực hiện bước chuyển hoá biến về chất trong quá trình phòng, chống tác động tiêu cực của mạng xã hội đến tiếp cận, sử dụng thông tin của thanh niên quân đội.

Bốn là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lực lượng thanh niên quân đội trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên mạng xã hội

Đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục để thanh niên quân đội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó, trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục cần tiếp tục gắn chặt với tuyên truyền, thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Luật an toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 47/CT-CT của Tổng cục Chính trị về “Tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội”; các kế hoạch, thông báo định hướng của Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương. Tập trung giáo dục những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; những tác động tiêu cực từ các trang mạng xã hội đến thanh niên quân đội trên nhiều phương diện, từ chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống đến phương pháp, tác phong công tác và chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Giáo dục để mỗi thanh niên quân đội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại đối với cá nhân và xã hội. Qua đó, trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng quân đội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Mặt trái nền kinh tế thị trường tác động đến nhận thức, tư tưởng, niềm tin và hành động của thanh niên. Thực tế đó đang đặt ra những yêu cầu cao về bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất cách mạng và năng lực công tác đối với thanh niên quân độilà lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của quân đội, mỗi thanh niên quân đội cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình. Tự hào vững bước dưới cờ Đảng, học tập và làm theo lời Bác, thanh niên quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân. Do đó, thực hiện tốt các giải pháp trên là cơ sở vũng chắc để phòng, chống có hiệu quả tác động tiêu cực của mạng xã hội đến thanh niên quân đội hiện nay./.

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH MỀM VĂN HÓA VIỆT NAM

 

          Việt Nam là đất nước có nền văn hóa, văn hiến lâu đời, có bề dày truyền thống hàng nghìn năm. Nền văn hóa đó có hệ giá trị và bản sắc riêng và không bị đồng hóa bởi bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Hệ giá trị và bản sắc đó đã tạo nên sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia (về chính trị, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, con người, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…) thì nguồn lực văn hóa đang được nhiều quốc gia coi là một “sức mạnh mềm” quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị trí, vai trò trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã yêu cầu Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”.

          Thuật ngữ “sức mạnh mềm”, “phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam và sức mạnh con người Việt Nam đã trở thành cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa dân tộc, là sức mạnh nội sinh, là nguồn lực và động lực to lớn của đất nước trong phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

          Để phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam hiện nay, trước hết, cần đặc biệt quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, bởi đây là cội rễ của sức mạnh mềm văn hóa quốc gia. “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”. Quan tâm phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa đương đại phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh, tiến bộ để tiếp tục gia tăng thêm cơ tầng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam và lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam ra thế giới. Cần tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và nhân dân thế giới; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thâm nhập sâu rộng, bền chặt trong đời sống tinh thần của xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Có thêm nhiều hình thức tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài. Tổ chức tuyển chọn, biên dịch, xuất bản các tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng nước ngoài. Tiếp tục đẩy mạnh giới thiệu tiểu sử, sự nghiệp và trước tác của các danh nhân lịch sử, văn hóa, quân sự tiêu biểu của dân tộc ta..., làm lan tỏa, củng cố giá trị văn hóa Việt Nam trong trong lòng nhân dân thế giới. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và ngoại giao văn hóa để phổ biến và lan tỏa hình ảnh đất nước, văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam; giúp nhân dân thế giới hiểu biết, yêu mến, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ Việt Nam phát triển; ủng hộ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tăng cường mở rộng đầu tư, kinh doanh, du lịch vào Việt Nam… Cần đầu tư phát triển mạnh ngành công nghiệp văn hóa, mở rộng thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa trong nước và quốc tế. Các sản phẩm công nghiệp văn hóa quốc gia khi ra khỏi biên giới sẽ không chỉ đơn thuần là những hàng hóa văn hóa mà nó còn là biểu tượng, bản sắc, hình ảnh, thương hiệu quốc gia, thể hiện sức mạnh mềm của văn hóa quốc gia. Chính vì vậy, cần có chiến lược, kế hoạch phát triển có trọng điểm, trọng tâm ngành công nghiệp văn hóa, trên cơ sở xác định rõ giá trị, bản sắc và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam trên mỗi sản phẩm từ hình thức, mẫu mã đến nội dung chuyển tải tinh thần văn hóa, giá trị văn hóa Việt Nam. Tiếp thu, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới để phát triển ngành công nghiệp văn hóa và lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam. Để gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, phải gắn kết chặt chẽ văn hóa với phát triển kinh tế; “Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, phấn đấu đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, giữ gìn tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau”. Du lịch, nhất là du lịch văn hóa chính là cách thức, là con đường có hiệu quả cao để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, thu hút du khách quốc tế thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng, đầu tư, kinh doanh, gia tăng nguồn thu nhập cho các địa phương và đất nước.

         

 

 

BÁC HỒ - NGƯỜI LÀ NIỀM TIN THIẾT THA NHẤT!

Tổ gồm tám đồng chí, mỗi người một việc khác nhau nhưng có cùng nhiệm vụ: Bảo vệ Bác Hồ. Cả tám đồng chí được Bác đặt tên vào một sáng mùa xuân (tháng 3-1947): Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi.

Tám người con, tám cuộc đời, tám số phận rất đẹp. Nói đúng ra là mười hai con người, mười hai cuộc đời, mười hai số phận. Bởi vì, do yêu cầu nhiệm vụ, có đồng chí chuyển sang công tác khác. Có tới ba đồng chí mang tên “Trường”, hai đồng chí mang tên “Nhất”, và hai đồng chí mang tên “Thắng”.

Đầu năm 1947, để bảo vệ an toàn lực lượng, các cơ quan trung ương của ta được lệnh trở về căn cứ Việt Bắc. Đi với Bác là một bộ phận rất gọn nhẹ, gồm tám người gần Bác nhất, vừa làm cảnh vệ, công tác văn phòng, thư ký, liên lạc vừa phục vụ hậu cần với tinh thần: một người thạo nhiều việc – song như đã nói, dù làm việ gì, bảo vệ Bác Hồ là nhiệm vụ quan trọng nhất.

Công tác bảo mật được đặt lên hàng đầu. Cứ mười ngày, hoặc vài tháng Bác lại di chuyển trên địa bàn các huyện ATK để chỉ đạo hoạt động kháng chiến kiến quốc. Bác tuổi cao, sức yếu, công việc bộn bề, nhưng dù căng thẳng, bận rộn đến mấy, phải di chuyển thường xuyên, cứ ổn định ở chỗ mới là Bác lại nhắc mọi người bảo đảm chương trình học tập chính trị, văn hóa. Bác rất quan tâm phổ biến tình hình thời sự để mỗi người nắm được diễn biến của cuộc chiến đang ngày một lan rộng.

Từ ngày 4 đến 17-3-1947, Người nghỉ và làm việc tại nhà ông Hoàng Văn Nguyên tại xã Cổ Tiết, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Tối mùng 5 tháng 3, trời rét, mấy bác cháu ngồi quanh đống lửa trò chuyện. Nhưng về khuya, Bác đi bách bộ ngoài sân, dáng trầm tư suy nghĩ. Vận mệnh của Tổ quốc đang từng giờ, từng phút đặt lên vai Bác- vị lãnh tụ tối cao của toàn dân tộc. Sáng ra, Bác bảo tám thành viên trong tổ họp mặt “khai hội”. Mọi người còn nhớ, sáng tháng 3, cái rét ở vùng trung du thật dữ dội. Mọi người ngồi quây quần bên Bác. Như một người cha, Bác nhìn mọi người rồi nói với giọng trầm ấm:

- Chiến sự đang ngày một lan rộng, các chú phải quân sự hóa mọi sinh hoạt. Đi ô tô không tiện nữa, dễ bị lộ bí mật. Ai có xe đạp thì sử dụng, người còn lại sẽ đi bộ. Các chú may cho mỗi người một chiếc ba lô để đựng đồ dùng và cũng may cho Bác một cái để Bác đeo máy chữ.


Bác nói đến tình hình cụ thể của chiến sự và đường lối kháng chiến cửa Đảng. Phổ biến xong, Bác hỏi:

- Các chú có ai thắc mắc gì không? Một đồng chí đứng dậy hỏi:

- Thưa Bác, chúng cháu nghĩ mà vẫn chưa rõ tại sao ta lại phải đánh trường kỳ, vì đánh như vậy hại người tốn của lắm.

Bác phân tích cho mọi người thấy rõ các mặt lợi hại rồi đưa ra một hình ảnh dễ hiểu:

- Sức ta bây giờ như chàng trai 16, mà thế giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được? Phải vừa đánh vừa nuôi cho sức mình khỏe lên. Khi sức ta đã khỏe, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy có chắc thắng không?

Bác lại nhìn mọi người khẳng định:

- Cho nên, kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi!

Rồi Bác mỉm cười, nói tiếp:

- Để thể hiện quyết tâm của chúng ta, hôm nay Bác đặt tên cho các chú, vừa giữ bí mật, vừa dễ gọi. Không cố ý sắp đặt mà vừa đủ tám người: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Bốn chú đầu người Kinh, bốn chú sau người dân tộc. Các chú có đồng ý mang tên mới không?

Cả tám anh em đồng thanh đáp lại:

- Dạ, đồng ý ạ!

Bác khoát tay theo chiều kim đồng hồ chỉ lần lượt từng người và gọi theo tên mới. Bác nói thêm:

- Nhiệm vụ chính của Bác hiện nay là cùng toàn Đảng, toàn dân kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Bác đặt tên cho các chú như vậy, cũng để hàng ngày nhìn thấy các chú là để nhắc nhở Bác hoàn thành nhiệm vụ.

Mọi người hiểu rõ ý Bác, càng phấn khởi nhận tên mới. Tám anh em trở thành một khẩu hiệu ngày đêm sống bên Bác.

*Đồng chí Trường tên thật là Võ Chương, quê ở Huế, làm nghề dạy học ở Hà Nội. Sau cách mạng tháng 8-1945, trở thành chiến sĩ trong đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu, được Anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) chọn bổ sung vào tổ bảo vệ Bác Hồ. Năm 1949, đồng chí mang bệnh và qua đời. Đồng chí Phạm Văn Nền lên chiến khu lái xe cho Bác được thay vào tên Trường. Sau này đồng chí được điều sang Liên Xô phục vụ đồng chí Nguyễn Lương Bằng trong những năm làm đại sứ ta tại Liên Xô. Người thứ ba mang tên Trường (Hồ Văn Trường) là Trường Toóng, ở Hải Dương về. Đồng chí có tài bắn súng, cho nên được giao việc huấn luyện quân sự và bảo vệ kho lưu trữ.

*Đồng chí Kỳ (Vũ Kỳ) tên thật là Vũ Long Chuẩn, quê ở Thường Tín, Hà Tây, là một trí thức yêu nước, có sức khỏe, thông minh, nhanh nhẹn và nói thạo tiếng Pháp. Đồng chí từng tham gia Thanh niên phản đế trường Bưởi (Hà Nội) từ đầu năm 1940. Tháng 8-1941, được cử sang Trung Quốc, học khóa huấn luyện chính trị. Giữa tháng 8-1942, đồng chí về nước hoạt động và công tác tại Thành ủy Hà Nội. Tháng 9-1943, bị Sở mật thám Pháp tại Hà Nội bắt giam ở Hỏa Lò. Tháng 3-1945, cùng một số đồng chí vượt ngục, trở về công tác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí được chọn vào tổ bảo vệ và giúp việc Bác Hồ từ tháng 8-1945. Cho đến những năm sau hòa bình, đồng chí vẫn ở cạnh Bác, chứng kiến những ngày Bác mệt nặng và giờ phút Người vĩnh viễn ra đi. Ông tự nhận là “tiểu đồng” của Bác Hồ.

*Đồng chí Kháng (Hoàng Hữu Kháng) tên thật là Nguyễn Đăng Cao, còn có tên là Nguyễn Văn Lý, người Thái Bình, tham gia cách mạng trong phong trào công nhân từ trước năm 1940, bị địch bắt giam tại nhà tù Sơn La, rồi nhà tù Chợ Chu (Định Hóa). Tại đây, đồng chí cùng một số bạn tù vượt ngục trở về hoạt đông ở căn cứ địa Tân Trào (Tuyên Quang), từng là một võ sư, nhiệt tình yêu nước, có sức khỏe, nên tháng 10-1945, được đồng chí Nguyễn Lương Bằng chọn phụ trách tổ bảo vệ Bác Hồ. Có thời kỳ đồng chí là hiệu phó trường quân chính chống Nhật. Sau này, ông là Cục trưởng Cục cảnh vệ Bộ Công an.

*Đồng chí Chiến (Tạ Quang Chiến) tên khai sinh Nguyễn Hữu Văn, quê Hải Dương nhưng lại sinh ra ở Thanh Hóa, từ nhỏ sống ở Hà Nội. Từng hoạt động trong phong trào thanh niên cứu quốc Hà Nội, là chiến sĩ tự vệ chiến đấu. Cuối năm 1945, cùng đồng chí Võ Chương được đồng chí Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy), Bí thư Thành ủy giới thiệu và đồng chí Nguyễn Lương Bằng tuyển chọn, bổ sung vào tổ cận vệ Bác Hồ. Từng giữ chức Trưởng phòng Bảo vệ 1, có nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và Thủ tướng Chính phủ. Đầu năm 1957, được cử đi học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, sau đó sang Liên Xô học chuyên ngành sử. Đồng chí từng là Bí thư thường trực Trung ương Đoàn và trước khi nghỉ hưu là Tổng cục trưởng Tổng cục thể thao.

*Đồng chí Nhất (Hồ Văn Nhất), bí danh là Văn Lâm, người dân tộc Tày thuộc đơn vị vũ trang của đồng chí Đàm Minh Viễn bảo vệ căn cứ địa Tân Trào. Tên thật là Hoàng Văn Nhất.

Đồng chí Nhất thứ hai là Long Văn Nhất, vốn là bảo vệ đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đồng chí bảo vệ Bác trong thời gian ở Hà Nội, đặc biệt trong những chuyến Người đi thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Bí danh của đồng chí là Tiền phong.

*Đồng chí Định (Võ Viết Định), tên thật là Chu Phương Vương , người dân tộc Tày, bí danh Ngọc Hà, được đồng chí Trần Đăng Ninh chọn từ đơn vị vũ trang của đồng chí Đàm Minh Viễn ở Tân Trào vào tổ bảo vệ Bác Hồ. Đồng chí bảo vệ tiếp cận Bác trong suốt chiến dịch Biên Giới (là người cầm ống nhòm đứng bên cạnh Bác khi Người đang theo dõi mặt trận Đông Khê 1950). Khi kháng chiến thành công, đồng chí về làm công tác Đảng ở khu gang thép Thái Nguyên.

*Đồng chí Thắng (Triệu Hồng Thắng), còn có tên Triệu Tiến Thọ, tên ở địa phương là Cắt, còn gọi là Sót, người xã Kim Sơn, huyện Định Hóa, dân tộc Dao. Đồng chí làm giao liên, đưa và nhận công văn ngay từ khi Bác ở Tân Trào. Rất thuộc đường đất, địa hình, giỏi leo núi. Giúp cơ quan nắm vững tình hình địa phương. Sau hòa bình, đồng chí ở lại công tác tại quê hương. Ngày thành lập khu tự trị Việt Vắc, giữ chức Phó chủ tịch Ủy ban hành chính.

Đồng chí Thắng thứ hai tên thật là Nguyễn Quang Chí, tên khai sinh là Nguyễn Quang Huy.

*Đồng chí Lợi, tên thật là Trần Đinh, dân tộc Tày, được chọn từ đơn vị vũ trang của đồng chí Đàm Minh Viễn vào tổ bảo vệ Bác Hồ ở căn cứ địa Tân Trào, trước cách mạng tháng 8-1945.

Trong số những người giúp việc và bảo vệ Bác Hồ, cũng có những người trùng tên một cách ngẫu nhiên với tám đồng chí Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi như Ma Văn Trường, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, Hữu Định, Nguyễn Văn Nhất, Nguyễn Văn Thắng… chứ không phải do Bác đặt. Tuy nhiên, các đồng chí đó cũng vô cùng vinh dự được sống những ngày tuy hết sức gian khổ nhưng đầy tự hào bên Bác kính yêu…

Môi Trường ST.

PHẠM BÁ TRỰC-LINH MỤC SỐNG TỐT ĐỜI ĐẸP ĐẠO!

 Có thể bạn chưa biết?


Vị linh mục đáng kính trong ảnh bên cạnh Bác Hồ kính yêu là ngài Phạm Bá Trực (1898-1954) một tu sĩ Công giáo người Việt, đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là linh mục đầu tiên tham gia cách mạng và giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông nguyên là Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội. Ông cũng là đại biểu Quốc hội có nhiều văn bằng tiến sĩ nhất trong Quốc hội Việt Nam từ trước tới nay (ba bằng tiến sĩ). Ông thuộc trong số rất hiếm linh mục tham gia hoạt động ở Quốc hội mà được sự cho phép của Giám mục bản quyền, Giám mục Francois Chaize.


Linh mục Phạm Bá Trực từng gửi thư cho các ngụy binh là người Công giáo ngày 1/6/1951đăng trên báo cứu quốc, kêu gọi họ hối cả quay súng trở về với nhân dân. Lá thư rất cảm động: “ ...Anh em ra trận chỉ làm dịp cho thực dân ăn cướp, hại đồng bào, nồi da nấu thịt, làm dịp cho toàn dân nguyền rủa vì trước thực dân đã lợi dụng Đạo mà cướp nước ta, nay lại lợi dụng Đạo mà cướp nước ta lại một lần nữa… Vậy hỡi anh em ngụy binh Công giáo, anh em hãy nhớ lời thánh Paulô bảo ta phải vâng phục chính quyền nước ta là chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh, mau mau đoàn kết trở lại với Tổ quốc độc lập thống nhất, sự đạo sẽ tự do và mở mang”.

Lễ Giáng sinh năm 1948, ông viết bài "Ta hãy vì Chúa, vì chính nghĩa mà kháng chiến oanh liệt" đăng trên báo Sự thật.Ngày 15 tháng 1 năm 1952, sau khi cùng phái đoàn Liên Việt đi thăm Trung Quốc và Triều Tiên về nước, ông soạn: "Thư kêu gọi đồng bào Công giáo tích cực tham gia kháng chiến " đăng trên báo Cứu quốc.

Linh mục Phạm Bá Trực mất vì bệnh tim ngày 5 tháng 10 năm 1954 tại Đại Từ, Thái Nguyên. Lễ tang của ông được tổ chức theo nghi lễ quốc gia. Trong lễ truy điệu ông có 3 điếu văn của Chủ tịch Liên Việt Tôn Đức Thắng, của Chủ tịch Ủy ban Liên lạc kháng chiến Liên khu III Vũ Xuân Kỷ và điếu văn của chủ tịch Hồ Chí Minh viết do Bộ trưởng Phan Anh thay mặt Bác Hồ đọc lời điếu.


Nhận xét của Bác Hồ:

"...Từ ngày nhân dân tin cậy cử Cụ làm đại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam".

Hình ảnh Linh mục Phạm Bá Trực (người mặc áo đen) cùng với Bác Hồ./.


Môi Trường ST.

"MÓN QUÀ SINH NHẬT ĐẶC BIỆT" MÀ ĐẾ QUỐC MỸ TẶNG BÁC HỒ

     Ngày 19/5/1966, Không lực Hoa Kỳ gửi một thông điệp trên những quả bom nặng 2000 Pound (tương đương khoảng 1 tấn) để làm "quà" Chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, bom được gắn trên máy bay F100 cất cánh từ sân bay Biên Hòa đánh phá từ Quảng Bình ra đến Hà Nội.

    Nghe nói phi công lái chiếc máy bay mang quả bom này ngay sau đó trở thành khách VIP của Hỏa Lò hotel, đến năm 1973 mới được trở về đất Mẹ.
    Anh ấy trở thành shiper đi quãng thời gian lâu nhất trong lịch sử loài người, với 7 năm cho quãng đường 500 kilomet.
    Và Việt Nam cũng được cho là nước “hiếu khách” nhất thế giới, khi giữ lại vị "thượng khách" hẳn 7 năm bao ăn ở cơm ăn 3 bữa, quần áo mặc cả năm và ngủ khách sạn 5 sao Hoả Lò free..


HH (st)