Thứ Năm, 21 tháng 10, 2021

VIỆC SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“ TRONG LỊCH SỬ CÁC NƯỚC!

Thưa các bạn: 

Trên không gian mạng hiện nay có rất nhiều kẻ thiếu hiểu biết ( hoặc hiểu biết nhưng cố tình xuyên tạc ) cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền“ trong lịch sử của Dân tộc. Chúng cho rằng gọi như vậy là không chính xác, vì một chính phủ có tồn tại trong thực tế thì không thể nào gọi là ngụy được. Đây là một nhận thức sai lệch, ấu trĩ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức của các tầng lớp Nhân dân về lịch sử Dân tộc. 

Hôm nay tôi sẽ làm sâu sắc hơn cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền“ trong lịch sử của Dân tộc, mà bất cứ kẻ nào cũng không có quyền bỏ đi bản chất “ ngụy “ vốn có của một chính phủ làm tay sai cho giặc.

Tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ đến được tai các ông mà Nhân dân gọi là "ngụy sử" như Vũ Minh Giang, Trần Đức Cường, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Nhã, Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ngọc, Hiển Vũ…cùng bọn đang ủng hộ cho việc bỏ tính từ “ngụy“ trong các bộ lịch sử Việt Nam

Bài viết tuy dài nhưng có rất nhiều bằng chứng cũng như bút tích, của tất cả các Chính phủ chính danh trên Thế giới vẫn luôn sử dụng Tính từ “ngụy“ trong lịch sử của mình. Và đặc biệt là, cách mà Chính phủ VNDCCH và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn sử dụng Tính từ “ngụy“ trong các nghị quyết văn kiện của Đảng, cũng như các bức thư hay lời kêu gọi mỗi khi nhắc đến một chính phủ làm tay sai cho ngoại bang rước voi về rầy mả Tổ.


A - Ý NGHĨA VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“

Bách khoa toàn thư Wikipedia" ngụy" là một từ gốc Hán trong tiếng Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa thường dùng là để chỉ sự vật, sự việc mang tính giả tạo, như trong từ ngụy trang, ngụy tạo, ngụy quân tử... Trong lịch sử, từ "ngụy" được dùng để chỉ một chính phủ được lập ra một cách bất hợp pháp, không chính thống, không được người dân công nhận, như trong từ ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền.

Tại Việt Nam, có hai từ ngụy đồng âm khác nghĩa thường được xử dụng trong văn hóa giao tiếp và văn học của người Việt.

1. Một từ ngụy (偽) là tính từ, có ý nghĩa là "sự giả tạo", ví dụ như "ngụy tạo, ngụy biện, ngụy trang, ngụy quân, ngụy quyền". Trong chính trị, từ này được dùng để chỉ một triều đại hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ một nước khác. Về bản chất, chính quyền này không có thực quyền, chỉ là hữu danh vô thực, chính quyền này bị quân xâm lược nước ngoài khống chế, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh. Trong lịch sử các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, từ "ngụy triều","ngụy quyền" được sử dụng nhiều trong các văn bản lịch sử. Ở phương Tây, thuật ngữ "ngụy quyền" có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc Chính phủ bù nhìn, chế độ tay sai, nhà nước con rối ("Puppet State, Puppet Regime").

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (năm 2007) thì: "ngụy quyền là chính quyền bản xứ do thế lực nước ngoài dựng lên, nuôi dưỡng, sử dụng làm công cụ xâm lược, nô dịch của họ. Ở Việt Nam, chính quyền Bảo Đại (1949-1954) và chính quyền Sài Gòn (1954-1975) đều là ngụy quyền (do Pháp và Mỹ dựng lên)". 

2. Một từ "Ngụy" khác (魏) là danh từ dùng để chỉ địa danh, tên gọi tại Trung Quốc, ví dụ: nước Ngụy thời Chiến Quốc bên Trung Quốc, nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Trung Quốc, hay họ Ngụy tại Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ này được viết hoa.


B -  VIỆC SỬ DỤNG TỪ “NGỤY“ TRONG LỊCH SỬ CÁC NƯỚC


TRUNG QUỐC :

Có một số triều đại và nhân vật thì được sử sách Trung Quốc gọi là "ngụy" (偽 – viết khác từ "ngụy" ở trên). Từ "ngụy" này là tính từ, chỉ sự giả tạo, bất hợp pháp, không được thừa nhận. Ví dụ như triều đình "ngụy Sở" (1127-1128) của Trương Bang Xương, triều đình "ngụy Tề" (1130–1137) của Lưu Dự do nhà Kim lập ra. Các triều đình này chỉ là bù nhìn, được nhà Kim lập ra nhằm hợp thức hóa sự xâm lược Trung Quốc.

Trong Chiến tranh Trung–Nhật, Trung Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm. Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc của Uông Tinh Vệ và Chính phủ Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, bị cả Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng gọi là "ngụy quyền", "ngụy quân", "ngụy Mãn Châu quốc" hoặc "chính phủ ngụy" do các chính phủ này được Đế quốc Nhật Bản lập ra nhằm hợp thức hóa sự xâm lược Trung Quốc. Thuật ngữ này cũng được sử dụng trên các kênh truyền thông, sách báo, phim ảnh của Trung Quốc và Đài Loan (của Quốc Dân Đảng) cho tới nay.


HÀN QUỐC VÀ TRIỀU TIÊN :

Bán đảo Triều Tiên từng bị Đế quốc Nhật Bản xâm lược và đô hộ (giai đoạn 1895-1945). Hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với thực dân Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với quân Nhật là "ngụy quân". Sau khi giành được độc lập, CHDCND Triều Tiên đã bắt giam hoặc xử bắn hàng loạt những người hợp tác với Nhật với tội danh phản quốc. Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, năm 2019 Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng “xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”


VIỆT NAM:


A - THỜI PHÁP THUỘC

Sau khi quân đội viễn chinh Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Chính phủ Pháp đã dùng chính sách "chia để trị" và chia cắt Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Cochinchine (Nam Kỳ), Annam (Trung Kỳ), và Tonkin (Bắc Kỳ), 3 vùng cùng với Lào và Campuchia đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) hay còn được gọi với tên Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française). Người Pháp tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn từ Đồng Khánh cho đến Bảo Đại. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương.

Trong thời gian cai trị Việt Nam, thực dân Pháp đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam, tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố vàng... Một số người Việt được toàn quyền Đông Dương tuyển dụng vào quân đội Lê dương Pháp. Tất cả các đội quân này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Các lực lượng nghĩa quân và nhiều người dân bản xứ gọi các đội quân này là ngụy quân hoặc ngụy binh. Họ cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là "ngụy triều", thường kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20, các nhà Nho thường gọi triều đình là "ngụy triều Khải Định, ngụy triều ngụy quyền Bảo Đại".


B - CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN QUỐC GIA VIỆT NAM 

Ngày 02 Tháng 09 Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, quân Pháp đã quay lại xâm chiếm miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp muốn khôi phục thuộc địa Đông Dương, quân Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền mới tại miền Nam. Sau đó, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát thành phố Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập lại đứng nạn ngoại xâm.

Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ. 

Chiến tranh Việt – Pháp kéo dài từ năm 1945 đến 1954. Năm 1948, theo chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại để làm đối trọng với Việt Minh. Dù vậy, người Pháp đã khéo léo khi thực tế trong hiệp ước, nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn cụ thể của chính phủ mới đã không được người Pháp xác định rõ để tránh phải trao quyền chính trị cho Quốc gia Việt Nam. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ý đồ của Pháp là muốn áp dụng chính sách Da vàng hóa chiến tranh, "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương.

Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một lực lượng quân đội của Quốc gia Việt Nam được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc gia sẽ cùng phối hợp với quân Pháp để đánh lại Việt Minh. Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.

Hiệp ước Elysee đã ghi rõ về vai trò chỉ huy của Pháp: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá."  Theo đánh giá của Spencer C.Tucker, quân đội này được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính bản địa mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống hậu cần của Pháp. Hai vấn đề quan trọng nhất là tài chính và quân đội của Quốc gia Việt Nam thì vẫn do Pháp nắm giữ, nhân viên hành chính Pháp tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp.

Theo phân tích pháp lý thì Hiệp định Élysée về việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam là bất hợp pháp từ cả hai bên ký kết vì những lý do sau :

• Người Pháp không còn tư cách pháp lý quốc tế ở Việt Nam sau khi vua Bảo Đại ra Tuyên cáo tháng 3-1945, theo đó xóa bỏ những hiệp ước mà nhà Nguyễn ký với Pháp. Sau khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, việc Pháp đem quân can dự vào Việt Nam là hành vi xâm lược, trái với luật pháp quốc tế.

• Bảo Đại (người ký Hiệp định Élysée với Pháp) không có tư cách pháp lý đại diện cho đất nước Việt Nam, bởi ông đã thoái vị ngày 25-8-1945 và chỉ còn là một công dân bình thường.

• Chính phủ hợp pháp đại diện cho nước Việt Nam khi đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi văn bản do công dân Việt Nam ký với bất kỳ chính phủ nào mà không được phép của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì đều là vô giá trị.

Do chính phủ Quốc gia Việt Nam được thành lập một cách bất hợp pháp và bị Pháp thao túng, nên trong thời gian chiến tranh chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi chính phủ Quốc gia Việt Nam là ngụy quyền và Quân đội Quốc gia Việt Nam là ngụy binh, ngụy quân, quân ngụy, hoặc lính ngụy.

Trong Hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 27/9 đến ngày 5/10/1951, Hội nghị nhận định tình hình chiến sự và đề ra nhiệm vụ phải phá chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp và nhấn mạnh công tác "ngụy vận", đặc điểm của công tác này là phải: Coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng cường công tác vận động binh sĩ Âu - Phi.

Năm 1951, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời hiệu triệu nhân ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến, lên án chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp:

 "Không đủ sức chống kháng chiến, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp lợi dụng bọn bù nhìn vong bản thi hành chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", dùng độc lập giả hiệu để mê muội, đốt làng cướp của làm cho dân ta bần cùng trụy lạc để dễ áp bức lừa phỉnh, bắt thanh niên đi lính ngụy để đánh lại đồng bào."

Cùng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục viết ba bức thư gửi binh lính trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam để thuyết phục họ về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm đó Ông viết bức thư "Vận động ngụy binh". Tháng 9 Ông viết bức thư "Thư gửi các ngụy binh" . Tháng 11 ông viết bức thư "Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc".

Tháng 3 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bức thư "Ngụy binh giác ngộ" nêu một số tấm gương lính người Việt trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam rời bỏ hàng ngũ theo về với Việt Minh. Nội dung tuyên truyền chính sách khoan hồng của Đảng Lao động và Việt Minh:

 “Đại đa số ngụy binh là những thanh niên bị bắt buộc hoặc bị lừa bịp mà đi lính cho giặc. Nhưng họ vốn cũng có lòng yêu nước và ghét giặc. Ta giải thích rõ cho họ, khoan hồng với họ, thì họ sẽ giác ngộ và quay về với Tổ quốc. Nhiều lần, sự thực đã chứng tỏ như vậy. Cho nên cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, ngụy vận, xem đó là một nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn hao binh, mà được cả người lẫn súng. Và do đó, ta sẽ phá tan mưu mô của địch "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".


C - NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ thành lập trên cơ sở kế thừa từ Quốc gia Việt Nam. Cũng giống như tiền thân là Quốc gia Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam coi là một chính phủ tồn tại bất hợp pháp, là chính phủ bù nhìn do Mỹ thao túng, và gọi đó là "ngụy quyền Sài Gòn" hay "ngụy quyền"; và quân lực Việt Nam Cộng hòa thì được gọi là "ngụy quân".

Từ ngụy quyền/quân có nghĩa là chính quyền/quân đội bất hợp pháp. Cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các nghị quyết, văn kiện Đảng, phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh, Việt Nam xác định Mỹ là kẻ thù chính, chế độ Việt Nam Cộng hòa chỉ là ngụy quân, ngụy quyền do Mỹ khống chế, nếu Mỹ thất bại thì ngụy quân, ngụy quyền cũng phải sụp đổ. Vì vậy Việt Nam xác định chỉ tiến hành đấu tranh với Mỹ, gọi đây là cuộc chiến tranh "chống Mỹ cứu nước" chứ không phải là"chống ngụy cứu nước".

Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Theo đó, Mỹ chỉ đứng ngoài chỉ đạo, kiểm soát và thu lợi, còn việc thực thi là trách nhiệm của chính phủ tay sai bản địa, chứ Mỹ không trực tiếp tham chiến như Pháp (thực dân cũ), đó chính là chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong giai đoạn 1955-1963. Cách này tương tự như đạo diễn điều khiển diễn viên đóng kịch trên sân khấu theo kịch bản cho trước. Đến khi Việt Nam Cộng hòa tỏ ra vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn (Chiến tranh đặc biệt thất bại vào năm 1963), thì "đạo diễn" là Mỹ buộc phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và hàng trăm nghìn quân Mỹ đã tới Việt Nam tham chiến trực tiếp trong giai đoạn 1964-1973.

Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc đã viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Việt Nam Cộng hòa, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ" Thậm chí tổng thống Mỹ Nixon trong lúc tức giận còn từng nói: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được."

Tại cuộc họp do Hội "American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (một năm sau trở thành Tổng thống Mỹ) tuyên bố: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ [chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta chủ tọa lúc nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”

Trong thập niên 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài báo, bài diễn văn gọi chế độ Việt Nam Cộng hòa là "ngụy quyền" để nhấn mạnh tính chất bất hợp pháp, làm tay sai cho giặc ngoại xâm của chế độ này. Viết trên bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ" nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân viễn chinh vào Việt Nam năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“"Ở Hội nghị Giơnevơ, Chính phủ Mỹ đã tuyên bố rằng: Mỹ sẽ không đe dọa hoặc dùng vũ lực cản trở Hiệp định ấy. Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì Mỹ đã dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Mỹ nặn ra chính phủ bù nhìn phát xít Ngô Đình Diệm, huấn luyện cho ngụy quyền một quân đội lính đánh thuê khát máu. Suốt mười nǎm trời, gần 20 vạn đồng bào miền Nam yêu nước đã bị Mỹ - Diệm khủng bố, tù đày, chặt cổ mổ bụng. 70 vạn người đã bị tra tấn giam cầm trở nên tàn phế. Hàng triệu người bị nhốt vào các trại tập trung mà chúng gọi là "ấp chiến lược". Không gia đình nào không có người bị hy sinh. Không làng xóm nào không bị càn quét. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã phạm hết mọi tội ác dã man, chúng đã biến miền Nam thành một địa ngục...”

Trong "Lời Kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước" năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“ Chúng (Đế quốc Mỹ) ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hoá học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta... ”

Bài thơ Chúc Tết năm 1969 là bài thơ chúc Tết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới toàn dân Việt Nam, trong đó có 2 câu:

"Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào"

Trong bài báo "Lại chuyện chó Mỹ" trên báo Nhân dân số ngày 20/1/1966, tác giả mỉa mai rằng một con chó nghiệp vụ của quân đội Mỹ còn được đãi ngộ tốt hơn so với một lính ngụy:

“ Chó sǎn là đồng minh trung thành của đế quốc Mỹ. Đây là chuyện chó sǎn có bốn chân, chứ không phải loài chó sǎn mặt người bụng thú, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà, như bọn Thiệu - Kỳ.

Từ ngày Mỹ phái Hakin lập bộ tư lệnh ở Sài Gòn, thì chó Mỹ cũng được phái đến miền Nam nước ta. Chúng được ở nhà lầu, có lính ngụy hầu hạ. Mỗi con chó Mỹ được ǎn lương gấp nhiều lần lương của một ngụy binh. Một chuyện thú vị là tháng 9-1964, giặc Mỹ đưa 200 chó sǎn đến Tây Nguyên bắt đồng bào Thượng nuôi. Non một tháng sau, đàn chó biến mất hết, chỉ còn lại mấy đống xương...”

Năm 1960, Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên danh nghĩa "Đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc". Chính sách học tập cải tạo sau năm 1975 tại Việt Nam cũng được thực hiện với nghị quyết: "Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."

Trong một số tài liệu, sách sử của phương Tây hiện nay, chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng được sử gia nước ngoài gọi là "chính phủ bù nhìn, Tay sai, con rối", những từ có ý nghĩa tương tự như từ "ngụy".


C - KẾT LUẬN :

Thưa các bạn: 

Sẽ không có gì gọi là “Miệt thị, phản cảm, hay không khoa học, không khách quan“ khi mà cả Thế giới vẫn sử dụng những ngôn từ mạnh mẽ như “ngụy, Bù nhìn, Tay sai, Con rối“ để chỉ một chính phủ do nước ngoài tạo dựng nên, nhằm phục vụ quyền lợi và lợi ích của kẻ xâm lược. 


CHỈ CÓ MỘT CHÍNH PHỦ ĐƯỢC NHÂN DÂN BẦU NÊN, ĐÓ LÀ CHÍNH PHỦ VNDCCH, NGÀY NAY LÀ CHXHCN VIỆT NAM, PHỤC VỤ QUYỀN LỢI VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN, MỚI HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN LÀ MỘT CHÍNH PHỦ HỢP PHÁP TRÊN TOÀN BỘ LÃNH THỔ VIỆT NAM!

Yêu nước ST.

QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN!

Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân viết năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm. Từ đó Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

Có 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân gồm: Bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh, vô thực”; bệnh cận thị (chỉ chú ý đến cái nhỏ nhặt, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tị nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè kéo cánh. Những năm gần đây, chủ nghĩa cá nhân còn nảy sinh thêm một số biểu hiện như cơ hội, thực dụng, “mũ ni che tai”, đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá...

Nên việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta đặc biệt coi trọng. Tại Hội nghị Trung ương 4 vừa qua, Đảng ta đã mở rộng phạm vi, xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao gồm cả hệ thống chính trị đúng theo tinh thần nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Những người giàu lòng tự trọng, thấm nhuần các giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha và những phẩm chất đạo đức cách mạng sẽ tự phòng ngừa được bệnh cá nhân chủ nghĩa.

Nhưng không phải ai cũng làm được như vậy. Nên rất cần những người đứng đầu nêu gương rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Rất cần mỗi cá nhân thường xuyên tự soi tự sửa, cần mỗi tổ chức cơ sở Đảng thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình gắn với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên vi phạm./.

Môi Trường ST.

KIỂM SOÁT TIN GIẢ, THÚC ĐẨY THÀNH CÔNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Tin giả không phải là vấn đề mới trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự trợ giúp của truyền thông xã hội và gắn với dịch COVID-19, tin giả mới thật sự trở thành một "đại dịch thông tin" trên thế giới và ở Việt Nam.

Tin giả về đại dịch và phòng, chống dịch COVID-19 có thể xuất phát từ sự vô ý, tùy tiện, thiếu trách nhiệm hoặc chủ ý của người tạo ra và đưa tin, nhằm phá hoại và trục lợi về kinh tế, làm cản trở, giảm uy tín, hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan và cả xã hội trong phòng, chống dịch bệnh. Thậm chí, một số báo chí và nhà báo cũng vô tình hay cố ý bị mắc bẫy tin giả, sản xuất và phát tán tin giả về dịch bệnh, gây hoang mang trong dư luận xã hội.

Tại Việt Nam, việc kiểm soát những thông tin sai sự thật liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 được đánh giá là có hiệu quả. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và xã hội, cũng như các cơ quan truyền thông trên "mặt trận" chống tin giả được thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, trên thực tế Việt Nam vẫn đang đứng trước thách thức rất lớn trước vấn nạn tin giả về dịch COVID-19. Với việc số lượng người dân tham gia truyền thông xã hội ngày càng đông đảo, với nhiều xu hướng mức độ thể hiện nhu cầu, điều kiện, kỹ năng và trách nhiệm xã hội khác nhau. Đặc biệt, các thế lực thù địch đang có xu hướng gia tăng việc sử dụng tin giả để chống phá sự ổn định và phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực và bằng tất cả các phương diện khác nhau, do dó hoạt động phòng, chống tin giả liên quan đến dịch COVID-19 phải được xác định là mặt trận hàng đầu hướng đến mục tiêu nhanh chóng chiến thắng đại dịch.

Muốn hạn chế nguy cơ gia tăng tin giả về dịch COVID-19, cần phải đảm bảo sự thành công rõ ràng, kịp thời của các biện pháp phòng, chống đại dịch đang được triển khai. Nếu những kết quả phòng, chống dịch và tình hình dịch COVID-19 được kiểm soát, có triển vọng tích cực thì các tin giả liên quan, cũng như hệ quả tác động xã hội tiêu cực của nó sẽ có xu hướng giảm. 

Cần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan  chức năng có thẩm quyền, các chuyên gia có uy tín cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình dịch bệnh, và phòng chống dịch COVID-19 trên các phương tiện truyền thông đại chúng; và đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội được tiếp cận. Tăng cường thực hiện chính sách "truyền thông an dân" trên các loại hình truyền thông hướng đến mục tiêu: mọi người dân đều có hiểu biết cơ bản về dịch bệnh; mọi người dân đều có thái độ bình tĩnh và yên tâm về các biện pháp phòng, chống dịch; mọi người dân đều chủ động tuân thủ, ủng hộ các biện pháp phòng, chống dịch; mọi người dân tích cực chấp hành các quy định liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng và Nhà nước Việt Nam./.

NHỮNG TIN GIẢ TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

 

Những tin giả đã lan truyền nhanh chóng tạo ra hệ quả xã hội nghiêm trọng và đã được các cơ quan chức năng kịp thời xử lý trong thời gian gần đây. Phần lớn các nội dung tin giả liên quan đến dịch COVID-19 ở Việt Nam hiện nay đang tập trung vào các vấn đề:

1. Tung tin xuyên tác sai sự thật về tình hình dịch COVID-19, về công dụng của thuốc, vật tư y tế phòng, chống dịch bệnh;

2. Kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế;

3. Xuyên tạc chính sách phân bổ vaccine của Bộ Y tế, bịa đặt thông tin về công dụng hiệu quả vaccine phòng, chống COVID-19;

4. Bôi nhọ chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng trong phòng, chống dịch COVID-19;

5. Chống đối, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người tham gia phòng chống dịch COVID-19; Kêu gọi sự kỳ thị, định kiến, xúc phạm danh dự người mắc bệnh, người có nguy cơ lây nhiễm COVID-19;

6. Kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, các công ty không đáp ứng được yêu cầu "ba tại chỗ";

7. Kêu gọi tích tích trữ lương thực, thực phẩm, vật tư y tế, gây hoang mang trong các cộng đồng dân cư…

Các tin giả không những gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng màcòn có khả năng tạo các tâm lý phản đối, mâu thuẫn trong xã hội, khiến người dân không tin tưởng vào các cơ quan chức năng, chính quyền trong phòng, chống dịch. Vì vậy, mỗi chúng ta cần cảnh giác, không cổ súy cho những thông tin bịa đặt, không chính thống để chung tay cùng các cấp đẩy lùi dịch bệnh./.

Những công việc thầm lặng trong thời bình đáng trân trọng

         Do đặc thù hoạt động quân sự, có những mất mát, hy sinh mà cán bộ, chiến sĩ trong QĐND Việt Nam chỉ âm thầm chịu đựng, chấp nhận thiệt thòi về mình để hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thể vì nhiều lý do, những hy sinh bình dị mà cao quý ấy vẫn chưa được phản ánh đầy đủ trên các phương tiện truyền thông, nên chưa được nhiều người biết đến. Đó là, có những thân nhân của các cán bộ, chiến sĩ qua đời, thế nhưng, trong điều kiện dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, đơn vị thực hiện nhiệm vụ trực SSCĐ nên các anh không thể về quê nhà chịu tang. Những câu chuyện “tạm gác tình riêng” ấy không giản đơn như những công thức số học, mà nó là sự đan lẫn muôn vàn cảm xúc, đấu tranh quyết liệt giữa thiệt hơn, nên hay không nên trong mỗi người lính Cụ Hồ. Đơn cử như việc phải sống xa gia đình, vợ con, gắn bó với biên cương, hải đảo. Trước hết, người lính Cụ Hồ phải đối diện với nỗi nhớ thương tận cùng đằng đẵng đối với hậu phương hết tháng này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác... Nơi biên cương heo hút đèo mây, giữa không gian thăm thẳm của chốn rừng thiêng nước độc... nỗi nhớ càng thêm chộn rộn, cồn cào và còn nhiều công việc khác nữa.

        Nếu chúng ta là những người lính kia, liệu có làm được những điều như họ đã và đang làm không. Vì thế, trước khi nhận xét về nhiệm vụ, cuộc sống của những người lính thì cần phải đặt mình vào vị trí của những người lính kia, để xem mình có thể làm được những điều như họ đã và đang làm hay không. Còn đối với những kẻ dã tâm chống phá cách mạng, cố tình bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thì cần phải đấu tranh, vạch trần mưu đồ, thủ đoạn của chúng; lên án thói ngông cuồng, nhận thức lệch lạc, chủ quan của một số “anh hùng bàn phím”. Những con người này vốn chỉ biết ngồi trong phòng lạnh huênh hoang, khoác lác trên mạng, còn trên thực tế thì có lẽ cái chốt của bộ đội nằm ở đâu trên tuyến biên giới thì họ cũng không hề biết và không dám đặt chân tới, chứ đừng nói đến việc có thể đến đó để thực hiện nhiệm vụ./. 

MẠC VĂN TRANG - LÃO GIÀ TRỞ CỜ, LÚ LẪN!


          Ở cái tuổi 80, với trình độ là PGS, TS lẽ ra Mạc Văn Trang phải được nhiều người tôn trọng, quý mến, nhưng mọi thứ thì ngược lại. Nhân gian thường nói "trẻ xông pha, già gương mẫu", nghịch lý là với cái hàm vị cao, tuổi lớn thì trí tuệ của anh Trang lại lú lẫn, phẩm chất đạo đức suy thoái nặng nề, lộ rõ tư tưởng phản động, trở cờ, ăn nói tệ hại hàm hồ như những kẻ vô học!

 

          Xin thưa, Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu, cha già dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người người 5 châu khâm phục, nể trọng và tôn vinh, kể cả những đất nước từng là kẻ thù.

          Bác Hồ đã dành cả cuộc đời mình dẫn dắt cả nước đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đã là một công dân Việt Nam thì phải luôn tri ân công lao vĩ đại ấy của Người. Còn anh đã già gần xuống lổ rồi nhưng chẳng lớn nổi thành người, quả thật là quá ất ơ.

          Nói cho anh biết, Phạm Đoan Trang là 1 ả đàn bà phản động, bán rẻ linh hồn cho tụi Việt Tân và các lực lượng thù địch chống phá đất nước ta, vi phạm pháp luật Việt Nam. Bị bắt và xử lý theo quy định của pháp luật là chuyện đương nhiên. Với tội đồ như vậy cần xử lý nặng hơn với mức án chung thân mới hợp lý.

          Tội bất trung, bất nghĩa với đất nước là tội nhơ nhuốc, bẩn thỉu nhất. Hơn ai hết, tụi phản động là những tên băng hoại đạo đức, lương tâm tha hóa chẳng thể cứu vãn.

          Coi thường lãnh tụ đất nước chỉ có tụi "người không ra người, vật không ra vật" như Vịt Tân thôi, còn anh lại láo toét mang cả Bác Hồ ra để so sánh. Quả thật đúng là đầu đất, phản động, hỗn xược.

          Đã già rồi, hãy sống cho tử tế vào cho đúng kiểu "gừng càng già càng cay", đừng thể hiện "lú", "láo", "nát" kiểu như vậy kẻo thiên hạ nguyền rủa thì nhục lắm. Hãy nhìn vào Bùi Tín và những kẻ trở cờ phản động... đều có kết cục bi thảm, để mà sống mảnh đời còn lại cho ra người ngợm Trang nhá!

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN QUYẾT TÂM, NỖ LỰC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA VIỆT NAM


          Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được người dân đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Mặc dù vậy, kết quả đấu tranh chống tham nhũng cũng là chủ đề mà các tổ chức, cá nhân và đài báo nước ngoài thiếu thiện chí lợi dụng để công kích, xuyên tạc.

          Điển hình, ngày 19/10/2021, RFA Tiếng Việt đã đăng tải bài viết với tiêu đề “Có ai còn tin câu chống tham nhũng ở Việt Nam không có vùng cấm?” đưa ra những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Mặc dù tỏ vẻ khách quan khi phân tích một số vụ việc được cho là có “tham nhũng”, “tiêu cực” trong thời gian vừa qua cùng với việc dẫn lời một cá nhân nhưng những luận điệu mà bài viết đưa ra tựu trung vẫn là nhìn nhận thiếu khách quan, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta.

 

          Bài viết xuyên tạc: “Không chỉ Ủy ban Kiểm tra Trung ương nói chống tham nhũng không có vùng cấm, mà nhiều cơ quan, nhiều lãnh đạo cao cấp của nhà nước Việt Nam đều nói câu đó. Đó là lời nói thôi, chứ thực tế thì rất khó để minh chứng cho nhận định như thế”; Hoặc “Nói chống tham nhũng, nhưng ai đã đẻ ra tham nhũng? Người lãnh đạo nào để cho tham nhũng tràn lan trong giai đoạn thời kỳ của mấy ông ấy, tức là ông Trọng và Bộ Chính trị lãnh đạo... Thế mà họ vẫn chọn những người tham nhũng, hay vẫn chọn những người có khả năng tham nhũng. Bây giờ những người đã được chọn ấy lại không vừa ý họ, không vừa mắt họ, và bản thân họ cũng không làm gì để ngăn ngừa được tính tham của lũ cán bộ đấy. Cho nên bây giờ chộp được đứa nào thì xử đứa đấy, để cho có vẻ là nghiêm minh thế thôi”…

          Thực tế cho thấy, công tác đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua đặc biệt là từ sau Đại hội XII đã được tiến hành với quyết tâm chính trị cao, thể hiện rõ tinh thần kiên quyết, song không nóng vội, chủ quan mà là kiên trì, liên tục với những bước đi đúng lộ trình, vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm. Trong cuộc đấu tranh đó, việc thực hiện đồng bộ các biện pháp để vừa chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng vừa kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng và cả các hành vi bao che, dung túng tiếp tay cho tham nhũng theo phương châm không có ngoại lệ, không có vùng cấm… được phối hợp nhuần nhuyễn, đồng bộ là không thể phủ nhận.

          Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật trên 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Đặc biệt, những con số “biết nói” trong báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng những năm 2016-2021, nhất là trong 6 tháng đầu năm 2021 được nêu ra tại phiên họp thứ 20 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã cho thấy rõ quyết tâm của Đảng về đẩy mạnh chống tham nhũng và hiệu quả từ những kết quả đạt được.

          Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2021, đã có 1.850 vụ án mới bị khởi tố liên quan đến tham nhũng. Cùng với đó, Ủy ban kiểm tra các cấp đã kỷ luật hơn 70 tổ chức đảng và hơn 8.000 đảng viên; trong đó có gần 180 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Các cơ quan chức năng đã xét xử kịp thời bốn vụ án tham nhũng trọng điểm: vụ tại Công ty cổ phần Hóa dầu và nhiên liệu sinh học dầu khí Ethanol Phú Thọ, Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam; vụ tại Dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên; vụ tại Bộ Công Thương và Tổng Công ty Bia-rượu-nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) liên quan đến dự án 2-4-6 Hai Bà Trưng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; vụ Công ty Nhật Cường và một số đơn vị liên quan…

          Bằng thực tiễn được chỉ ra trên đây cho thấy, luận điệu cho rằng hiệu quả chống tham nhũng ở Việt Nam “không hiệu quả” là khiên cưỡng, một chiều và chủ quan. Hay những nhận định cho tham nhũng là “bản chất của chế độ”, “quyết tâm phòng chống tham nhũng là thanh trừng nội bộ, đánh bóng tên tuổi”, là những luận điệu bẻ cong sự thật, bôi đen mục đích, nội dung, kết quả và ý nghĩa cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam.

 

 

VÔ GIÁO DỤC!

 

Câu chuyện sách giáo khoa,

In lá cờ Trung Hoa,

Cho trẻ em cấp một,

Năm trước đã xảy ra!

Năm nay lại tái diễn?

Cũng loại sách lớp một,

Hình vẽ tại cổng trường,

Là lá cờ Trung quốc!



Hỏi bà Bùi Thị Hương,

Nhà xuất bản Dân Trí,

Bà vừa là giám đốc,

Chịu trách nhiệm: bà ký!

Bà “thanh minh thanh nga”:

-“Cuốn sách nội dung tốt,

Hợp đồng khi biên dịch,

Không tự tiện cắt gọt!

Nếu thay cờ Trung quốc,

Bằng lá cờ Việt Nam,

Đối tác không chấp nhận,

Vì vi phạm hợp đồng”!

Ẩn dưới lập luận đó,

Có cái gì hèn hèn!

Người ta có quyền nghĩ:

Bản lĩnh bà vậy heng?

Đất nước nhiều người giỏi,

Lại tâm huyết với nghề,

Người tài đức không thiếu,

Miễn là biết phát huy.

Nơi rất đáng chê trách:

Cơ quan gác cửa kia,

Khâu kiểm duyệt lỏng lẻo?

Hay còn vì cái chi?

Nguồn: ST

 

 

BỘ ĐỘI CỤ HỒ

 

Nói về những người lính Cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp, tướng Marcel Bigeard - Cựu bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp đã phải thừa

nhận: “Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó,

tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các

nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và

lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều

này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ

đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm

tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra

trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng

và họ đã đánh bại được chúng ta”.

Có quân đội nào từ khi thành lập đến nay (77 năm) đã đánh thắng 3 đế quốc

lớn xâm lược.

Có đội quân nào sinh ra từ khu rừng già Trần Hưng Đạo, hơn 9 năm ròng

chiến đấu, “Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non” để làm nên

một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Có quân đội nào mà “Mười bảy tuổi hành quân dọc Trường Sơn/ dép rộng

rút quai/ quần dài xén ống/ những người lính vừa đi vừa lớn ...” suốt 20 năm trời

để tiến vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Có quân đội nào xả thân suốt một thập kỷ để làm nghĩa vụ quốc tế cao cả,

cứu một dân tộc khỏi diệt chủng.

Có quân đội nào mà “sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử” để đánh đuổi

bè lũ quân xâm lược phương Bắc.

Có quân đội nào mỗi khi thiên tai, thảm họa là lại nhường nơi ăn chốn ở, vác

tăng võng vào rừng; rồi xông pha hứng chịu mọi tai ương để bảo vệ nhân dân.

Có quân đội nào giữa thời bình vẫn “Sáng sớm mải đi chợ/ Trưa về bận nhặt

rau/ Chiều tập trung đong gạo/ Tối lại lo dân đau” suốt hang cùng ngõ hẻm thành

phố, bất chấp rủi do, dịch bệnh, bất chấp cả những chê bai phán xét, chỉ đơn giản

vì đó là mệnh lệnh từ trái tim.

Ngày nay không ít người vẫn hàng ngày ra rả kêu lương bộ đội cao, công

việc nhàn hạ. Vì sao? Vì họ không nhìn ra ngoài kia biên giới, hải đảo, nhà giàn,

 

tàu trực, thao trường, bãi tập, dưới khoang tàu ngầm, trong buồng tăng lực tiêm

kích, ... hàng vạn người lính vẫn ngày đêm đổ mồ hôi và cả máu để chúng ta có

cuộc sống bình yên. Đừng quên những ngày dịch bệnh này, những chiến sĩ áo

trắng, y bác sĩ, cán bộ quân đội, công an ... làm nhiệm vụ ngoài kia đang đang ngày

đêm bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Đừng quên và hãy tự hào vì chúng ta có một

quân đội như thế, “đội quân nhà Phật”, bộ đội Cụ Hồ./.


 

THẤY GÌ TRÊN BÌA SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ MỚI?

 

          Sau những ồn ào xung quanh chuyện phát hiện hàng loạt sai sót trong các bộ sách giáo khoa tiểu học mới, chuyện mấy nhà sử học tô vẽ cho thây ma “ngụy quân”, “ngụy quyền” trong bộ quốc sử Việt Nam, …, thời gian gần đây trước thềm năm học mới, trên mạng xã hội lại lan truyền các ý kiến trái chiều về việc in hình ảnh Vạn lý trường thành của Trung Quốc lên bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 7 và sách bài tập Lịch sử lớp 7.






          Đối với vấn đề này, PGS. Nghiêm Đình Vỳ, cha đẻ của bộ sách giáo khoa lịch sử trung học cơ sở giải thích rằng: do nội dung sách giáo khoa lịch sử bao gồm cả lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới nên trên bìa sách, bên cạnh hình ảnh đại diện cho lịch sử Việt Nam, có hình ảnh đại diện cho lịch sử thế giới; đại diện cho lịch sử thế giới, ngoài hình ảnh Vạn lý trường thành của Trung Quốc ở bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 7 và sách bài tập Lịch sử lớp 7 như đã nêu trên, còn có hình ảnh Đấu trường Roma của Ý ở bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 6, hình ảnh Cách mạng Pháp ở bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 8 ….

          Cách giải thích đó hầu như chưa làm cộng đồng mạng thỏa mãn, vẫn còn những ý kiến thắc mắc như: Thế giới có gần 200 nước sao chỉ chọn Trung quốc, Pháp, Ý được đăng hình ảnh đại diện lên bìa bộ sách giáo khoa lịch sử trung học cơ sở (thậm chí hình ảnh đại diện của Trung Quốc đăng ở bìa 2 / 8 cuốn, kể cả sách bài tập lịch sử) mà không chọn hình ảnh đại diện của những nước khác có dấu ấn đậm nét trong dòng chảy lịch sử thế giới, như: Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật Bản, Ấn Độ, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ, v.v…? Trong bối cảnh quan hệ quốc tế phức tạp, lịch sử Trung Quốc ngàn năm qua gắn với những cuộc chiến tranh xâm lược, đô hộ nước ta, trái tim khối óc mỗi người dân Việt vẫn luôn nhức nhối khi Trung Quốc còn đang chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa, một phần quần đảo Trường Sa và đang dùng mọi thủ đoạn áp đặt yêu sách chủ quyền phi lý với “đường lưỡi bò” chiếm hầu hết Biển Đông của Việt Nam …, việc đăng hình ảnh đại diện của Trung Quốc lên bìa bộ sách giáo khoa lịch sử trung học cơ sở như vậy khó tránh khỏi những dị nghị không đáng có./.


 

THANH NIÊN THAM GIA NGHĨA VỤ QUÂN SỰ LÀ TRÁCH NHIỆM, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ THIÊNG LIÊNG NHẤT

 

Được phục vụ trong môi trường quân đội, cống hiến sức trẻ bảo vệ Tổ quốc là niềm vinh dự, tự hào của mỗi công dân. Môi trường quân ngũ với đặc tính thống nhất, kỷ luật nghiêm minh, tinh thần tập thể và tình đồng chí, đồng đội… là điều kiện tốt để mỗi thanh niên phấn đấu rèn luyện, không ngừng hoàn thiện nhân cách, phát triển toàn diện. Điều này không những thuận lợi cho thanh niên trong thời gian phục vụ quân ngũ, mà còn giúp tích lũy hành trang cho tương lai sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

 Hơn nữa, thực hiện nghĩa vụ quân sự là tham gia, đóng góp một phần sức lực của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng và toàn dân tộc, trong đó hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" luôn đi đầu và được xem là tấm gương sáng cho mọi thế hệ thanh niên Việt Nam noi theo. Vì vậy, mỗi thanh niên khi thực hiện nghĩa vụ quân sự lên đường nhập ngũ vừa là niềm vinh dự, vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân đối với đất nước.

"TỰ DO CHO ĐỒNG BÀO TÔI, ĐỘC LẬP CHO TỔ QUỐC TÔI" LÀ KHÁT VỌNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

"Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi" là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.

Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”

Đó là KHÁT VỌNG lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị, một mẫu mực về phong cách.

Mỗi chúng ta hãy là những chiến sỹ tiên phong trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang được triển khai xây dựng và hoàn thiện ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, quá trình đó, theo nhận định của Đại hội XIII là vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về nhận thức và tổ chức thực hiện; cùng với đó là những khó khăn, thách thức đến từ sự chống phá của các thế lực thù địch với mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp.

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trong thời gian tới cần chú trọng:

Một là, đấu tranh với quan điểm “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”.

Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm, luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(5); rằng CNXH là chuyên chính, không có dân chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, tha hóa...

Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.

Hai là, đấu tranh với quan điểm lợi dụng “xã hội dân sự” để âm mưu gây chuyển hóa chính trị ở Việt Nam.

Bằng nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa “công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất, tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

“Xã hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình, kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.

Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta.

Ba là, đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát quyền lực”.

Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN.

Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy, “tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Bất kể thể chế chính trị nào, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ có thể thành công khi có quyết tâm chính trị cao, coi trọng công tác phòng ngừa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục, tu dưỡng rèn luyện là cơ bản với trừng trị nghiêm khắc những cá nhân vi phạm; hoàn thiện thể chế về chống tham nhũng, tăng cường năng lực của bộ máy nhà nước và tính đồng bộ về pháp luật, pháp chế, kỷ cương; thực hiện tốt việc giám sát của các tổ chức, cá nhân trong xã hội với hoạt động của cơ quan nhà nước; có chính sách đãi ngộ với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức...

Mai Năm Mới

Nhận diện tiêu cực trong cán bộ, đảng viên

Đại hội XIII đã thẳng thắn chỉ ra: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ;…Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

Những hiện tượng tiêu cực đó đã gây bức xúc trong xã hội. Trong các tiêu cực, cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội quan tâm, bức xúc nhiều trước một số tình trạng tiêu cực sau:

Một là, lợi ích nhóm. Đây là biểu hiện có trong tất cả các lĩnh vực; trong đó đáng lo ngại nhất là quản lý nhà nước đối với kinh tế, quản lý con người, công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. “Lợi ích nhóm” làm cản trở quá trình cải cách tư pháp, hành chính, từng bước làm vô hiệu hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm chệch định hướng phát triển, tăng sự phân hoá trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tiềm ẩn sự mâu thuẫn trong xã hội. “Lợi ích nhóm” từng bước làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức, sai lệch các chuẩn mực xã hội, gây mâu thuẫn nội bộ, làm xói mòn lòng tin giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiêu cực trong công tác cán bộ. Các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ thường thấy là chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm... Biểu hiện là tình trạng đúng quy trình nhưng không chọn được những cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; hợp thức hóa quy trình bằng nhiều cách khác nhau diễn ra ngày càng nhiều. Tình trạng chạy chức, chạy quyền có phần tinh vi hơn, với nhiều thủ đoạn khác nhau, biểu hiện ngày càng phức tạp, khó nhận biết. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm theo hiệu ứng domino, bổ nhiệm tràn lan… gây bức xúc trong xã hội.

Ba là, tình trạng tham nhũng “vặt”. Tình trạng này xuất hiện ở nhiều nơi, trong nhiều cơ quan, tổ chức và ở những vị trí khác nhau; xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính; quản lý trật tự giao thông, đô thị; y tế; giáo dục; hải quan; thuế; tuyển dụng, đề bạt, sắp xếp, bố trí, bổ nhiệm cán bộ công chức… và nó “biến tướng” dưới nhiều hình thức nên không dễ phát hiện, xử lý. Tham nhũng vặt tuy giá trị không lớn nhưng nó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho địa phương, đơn vị trong thu hút đầu tư; làm giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp… Đồng thời nó là nguyên nhân dẫn đến vi phạm nghiêm trọng đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức của Đảng nói chung.

Bốn là, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi...

Năm là, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... Những hành vi này tác động không nhỏ đến dư luận xã hội, gây phản cảm trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên, suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước.

Mai Năm Mới

Kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng

Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

Mai Năm Mới