Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021
ĐỘI QUÂN CHIẾN ĐẤU, ĐỘI QUÂN CÔNG TÁC
Về “đội quân chiến đấu” đã được bàn nhiều, có lẽ không cần
nói thêm. Trong việc thực hiện chức năng đội quân công tác, quân đội ta
luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững
chắc và tin cậy của Đảng và Nhà nước với nhân dân. Sống trong lòng dân, bộ đội
ta luôn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước; đoàn kết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu,
thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
ra sức giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, khám chữa bệnh, đẩy mạnh sản
xuất, xây dựng đời sống văn hóa, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất
là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Những
ngày qua, hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm kề vai sát cánh với Nhân dân chống Dịch
Covid - 19 củng cố mối quan hệ máu-thịt với nhân dân, bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, thêm một lần nữa in đậm trong trái tim đồng bào cả nước.
Các anh luôn là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của người dân trong những lúc nguy
nan nhất, quân đội luôn làm điểm tựa vững
chắc trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
Tiếp tục phát huy vai trò Quân đội trong phòng
chống dịch bệnh, ứng phó sự cố thiên tai, thực hiện tốt chức năng đội quân công
tác, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời dạy của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu,
hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.
CHỐNG: “BỆNH CÔNG THẦN”
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về “thói hư tật xấu” của cán bộ, Người đã chỉ ra căn bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng… Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ. Những đồng chí mắc bệnh ấy không hiểu rằng: mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng. Trong đó, có cả cán bộ đương chức và cả cán bộ đã nghỉ hưu. Có những người tự kiêu tự mãn, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân. Chỉ với một chút đóng góp, một chút thành tựu nhưng nhiều người đã coi trời bằng vung, coi mình là trung tâm của vũ trụ. Thậm chí, có những người ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, tự cho mình là “cứu tinh” của nhân dân. Cũng từ căn bệnh công thần này sinh ra rất nhiều bệnh tật nguy hiểm khác. Có những người tự cho mình là quan trọng, tự cho mình là người đã đóng góp lớn cho Đảng, Nhà nước và sau đó đưa ra các yêu sách, đòi hỏi về những đặc quyền, đặc lợi cho bản thân, gia đình. Đối với cán bộ đã nghỉ hưu, có người thì đưa ra đòi hỏi về vật chất, chế độ; có người lại đưa ra đòi hỏi về vị trí “ghế ngồi” cho con, em mình. Khi yêu cầu không được đáp ứng thì không ít người lại sinh ra ấm ức, bất mãn với tổ chức, nhiều khi còn ghét thế hệ sau… và sinh ra chống đối, xét lại, thù hằn đội ngũ lãnh đạo, thù hằn chế độ. Cá biệt còn có người trở thành các phần tử cực đoan chống đối Đảng, Nhà nước ta như có phát ngôn thiếu tỉnh táo, kích động gây hoang mang cho dư luận và đặc biệt trong đó có cả tướng lĩnh đã về hưu. Có thể nói tất cả những cán bộ trên không làm theo lời Bác, tự cho mình là đúng nhất, phủ nhận tất cả mọi ý kiến khác, nhất là ý kiến của tổ chức. Khi có một chút công lao với đất nước lại tự kiêu ngạo và cho rằng ý kiến của mình có thể đứng trên ý kiến của người khác, như thế là thiếu khiêm tốn. Những cán bộ nói trên có lẽ không phải là người thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nên nhận xét vội vàng, hồ đồ, phủ nhận quyết định của Nhà nước đối với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Với những căn bệnh đó, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, không để những công thần khoe khoang, ngụy biện, làm hại đất nước.
Chúng ta cần phê
phán bệnh công thần, bệnh kiêu ngạo cộng sản, không thể để một người phủ nhận
công lao, thành tựu chung của đất nước. Như chúng ta đã biết, cán bộ là sức
mạnh của quốc gia, là linh hồn của toàn hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn
gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng, khi đương chức
cũng như khi nghỉ hưu. Căn “bệnh công thần” vô cùng nguy hiểm. Ở một góc
độ nhất định, những người mắc bệnh công thần cũng nguy hiểm không kém những
người tham nhũng. Tất cả đều làm suy yếu nội bộ, khiến cho bản chất cách mạng
của người cán bộ bị biến chuyển làm mất niềm tin với Nhân dân./.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ: NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG SOI SÁNG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trong kho tàng di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng của Người về hội nhập quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại, hợp tác, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với
phong trào cách mạng thế giới
Trước hết, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho thấy, hợp tác, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại mới, là một
nhân tố quan trọng đưa tới thành công của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Qua
hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cách nhìn mới về
thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua những hạn
chế mang tính lịch sử của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa
sự nghiệp cứu nước của dân tộc Việt Nam với sự nghiệp cách mạng trên thế giới.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoạt động
của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở nước ta trở nên sôi sục, rộng khắp,
song những hoạt động đó đều không mang lại kết quả. Một trong những nguyên nhân
cơ bản là do các nhà yêu nước lúc đó chưa đưa ra được các phương hướng cách mạng
phù hợp với thời đại đã đổi thay. Từ trải nghiệm trong quá trình bôn ba tìm đường
cứu nước, nhận thức được xu thế thời đại, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm
cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Có thể xem đây là
điểm khởi đầu của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế. Một mặt, tư tưởng
này thể hiện tầm nhìn mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương
Đông; mặt khác, quan điểm đoàn kết rộng mở của Người về hội nhập quốc tế là hướng
vào những người làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu lục hay màu da. Tư
tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong những yếu tố dẫn đến thành công của sự
nghiệp cách mạng Việt Nam là phải hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong
trào cách mạng thế giới để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng nước
ta. Chính từ đây, Người chủ trương đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường của
thời đại mới: con đường cách mạng vô sản và Việt Nam đã trở thành một bộ phận
không thể tách rời của phong trào cách mạng thế giới.
Từ tiếp cận và hướng theo học thuyết cách mạng,
khoa học Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do chính Người sáng lập và lãnh đạo, đánh dấu một
bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Đây là sợi dây gắn kết
giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cộng sản quốc tế. Trong Chiến tranh thế
giới thứ hai, “cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và
giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít”. Khi phát-xít Nhật đầu
hàng Đồng minh, các lực lượng cách mạng Việt Nam đã chớp thời cơ, phát huy thế chủ
động, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, đưa tới sự ra đời của
nước Việt Nam độc lập.
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng chỉ đạo trong công tác đối ngoại “dĩ bất
biến ứng vạn biến” đã tích cực đưa hoạt động đối ngoại hướng tới tranh thủ sự ủng
hộ của các nước trên thế giới. Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập, về đối ngoại,
Người kêu gọi các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam.
“Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc
bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận
quyền độc lập của dân Việt Nam”. Về đối sách của Chính phủ Việt Nam, Người khẳng
định: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện
với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”. Sau khi đất nước
độc lập, trên cương vị người đứng đầu Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã gửi nhiều điện, thư đến các vị nguyên thủ, ngoại trưởng của các nước, như Mỹ,
Trung Quốc, Liên Xô và đến Liên hợp quốc... thể hiện quan điểm đối ngoại của Việt
Nam, đó là cố gắng mở rộng quan hệ với các nước, nhất là các cường quốc, để
tranh thủ sự công nhận địa vị pháp lý của nước Việt Nam độc lập, qua đó xác lập
vị thế chủ nhà trong việc giao tiếp với các nước bên ngoài, bảo vệ chế độ dân
chủ cộng hòa vừa được thành lập. Từ năm 1950, ngoại giao Việt Nam đã “mở ra con
đường hướng lên phía bắc, đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các
nước dân chủ nhân dân”. Từ đây, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận và được
sự ủng hộ tinh thần, viện trợ vật chất của cách mạng thế giới, phục vụ công cuộc
kháng chiến, kiến quốc. Những sự kiện trên đánh dấu bước hội nhập quan trọng của
Việt Nam vào khối các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó ngoại giao đóng vai trò mở
đường.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -
1975), với tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phối
hợp nhịp nhàng với đấu tranh quân sự và chính trị, tích cực tranh thủ sự ủng hộ,
giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết đấu
tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, hình thành mặt trận nhân dân thế giới
đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại, trực tiếp góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế
Ngay sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945,
Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông cáo về chính
sách đối ngoại, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh
viễn”. Trong đó, tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước,
từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải
phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và
tài sản, nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí
Minh tiếp tục khẳng định phương châm đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất
cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người nhấn mạnh: “Mục
đích của ta lúc này là tự do, độc lập... Là bạn của ta trong giai đoạn này tất
cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục
đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”.
Có thể thấy, từ chiến lược hội nhập quốc tế
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta từng bước hòa vào dòng chảy của
cách mạng thế giới, luôn gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Đánh giá thành quả của cách mạng Việt Nam đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng
ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những
thắng lợi vẻ vang ngày nay”. Mặt khác, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, hội nhập
quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, giành được lợi ích cho mình mà còn đóng
góp vào hòa bình, tiến bộ của thế giới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nhân dân ta
chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự
do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược
hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, xác định đúng
các dòng chảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã thực hiện
chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế, trên nguyên tắc bao trùm và cũng là mục tiêu xuyên suốt của cách
mạng Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Chính từ chủ
trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, nước ta từng bước vượt qua
tình trạng bị bao vây, cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước
trên thế giới, trong đó có tất cả các nước lớn, tham gia các tổ chức, diễn đàn
khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp
tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc..., phát huy vai trò tích cực, chủ
động trong mọi hoạt động tại các thể chế đa phương.
Sau thống nhất đất nước năm 1975, tình hình
quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc, tạo ra những thời cơ và thách
thức lớn đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng ta (năm 1986)
đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, chủ
quyền dân tộc. Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ quá độ,
đổi mới, kiên định chiến lược hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng,
Nhà nước ta luôn quán triệt và thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Trong
đó, để tận dụng sức mạnh thời đại, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “thực hiện đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế;... nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên
thế giới”.
Với
phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của nước ta ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế, đạt
nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội. Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử,
nếu nhận thức đúng và nắm bắt được xu thế phát triển, các dòng chảy của cách mạng
thế giới, gắn mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, dân tộc trên
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, thì sẽ tranh
thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế
giới; ngược lại với xu thế trên, sẽ khó thành công.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi
Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhiều lần gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp
công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và
tình cảm của tất cả những người Việt Nam”. Với Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu “Mỹ
phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn
trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”. Với việc ký kết
Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7-1954), Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), Pháp và Mỹ
đều phải cam kết, thừa nhận nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam. Đây là cơ sở để sau khi hòa bình lập lại, với phương
châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với các nước
đó đã được thiết lập và phát triển trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, hợp tác,
hữu nghị, cùng phát triển. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục khẳng
định, phải quán triệt nguyên tắc chiến lược là tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau trong hội nhập quốc tế. Trong đó, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng với
nhau.
Không chỉ như vậy, hội nhập quốc tế trong tư
tưởng Hồ Chí Minh còn là quá trình hướng tới chọn đối tác, mở rộng quan hệ, hợp
tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi.
Sau khi nước nhà độc lập, năm 1946, trong
Thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đối với các
nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác
trong mọi lĩnh vực. Theo đó, Người nêu ra một số giải pháp: Việt Nam sẽ dành sự
tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài
trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và
đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận
tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an
ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan... Ngay trong những năm kháng chiến
chống Pháp, Người khẳng định rõ thiện chí: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản
Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “Chúng ta sẽ mời những
nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta
trong cuộc kiến thiết quốc gia”.
Khi bàn về quan hệ hợp tác trong thời kỳ đấu
tranh giải phóng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến thực lực của
đất nước là nhân tố quyết định thành công. Người thường nhắc nhở phải “đem sức
ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình
thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới
chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu
kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Người mong muốn xây dựng một nền
kinh tế độc lập, không lệ thuộc vào ngoại bang, dựa vào những điều kiện, tiềm
năng sẵn có của dân tộc để không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân
dân. Tuy nhiên, trong khi ra sức đấu tranh cho lợi ích của dân tộc mình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia, dân tộc khác.
Người cho rằng “Mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho
mình”. Phát biểu nhân dịp Ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
ngày 2-9-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Trong quan hệ đối với các nước
khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rõ ràng và trong sáng:
Đó là một chính sách hòa bình và quan hệ tốt... tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và
chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ,
bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình”. Điều này cho thấy, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khác hản với những người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt
lập. Cùng với việc duy trì tính độc lập, tự chủ, Người chủ trương xây dựng khối
đoàn kết quốc tế, quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các đối
tác, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế,
nhất là hợp tác kinh tế quốc tế có nội dung rất rộng, có giá trị tham chiếu cho
quá trình hội nhập quốc tế, với các bước đi thích hợp của Việt Nam trong điều
kiện toàn cầu hóa hiện nay.
Có thể thấy, trong hội nhập quốc tế nói
chung, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế là một
tư tưởng lớn và nhất quán ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm đó được hình thành
là kết quả của quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và quốc tế, nhận thức
đúng quy luật vận động, xu thế phát triển của thời đại. Người khẳng định, hợp
tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước là nhu cầu khách quan có
tính quy luật phổ biến của mọi nền kinh tế, là điều kiện quan trọng bảo đảm thực
hiện thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đây chính là biểu hiện của sự
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình phát triển.
Lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn trong
quan điểm Hồ Chí Minh về việc xác định đối tác mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
và trong quan hệ hợp tác, thực lực của đất nước là nhân tố quyết định thành
công. Đây là những quan điểm đi trước thời đại và có ý nghĩa thực tiễn to lớn
trong công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam, là
những việc mà nước ta đã và đang triển khai trong quá trình hội nhập vào một thế
giới toàn cầu hóa, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước
ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, khoa học quản lý hiện đại... Những
thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới, từng bước hội
nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của chiến
lược hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Giương cao ngọn cờ chính nghĩa: “Thêm bạn,
bớt thù”, đoàn kết quốc tế
Trải qua các chặng đường đấu tranh giành và
giữ độc lập dân tộc, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ bạn, thù; phân hóa “bạn”,
“thù” ngay trong hàng ngũ đối phương. Nhờ vậy, cách mạng Việt Nam đã giành được
sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh
vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông
Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người
nói: “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”. Với phương châm đúng
đắn đó mà cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã nhận được sự ủng hộ to
lớn của phong trào cách mạng, nhân dân tiến bộ thế giới chống chiến tranh xâm
lược Việt Nam, nhất là ở châu Âu và Mỹ. Năm 1967, nhân dân tiến bộ Mỹ với cuộc
đấu tranh “Mùa Xuân” đã lôi cuốn hàng triệu người tham gia, đến cuộc đấu tranh
“Mùa Thu” có tới 3.400.000 người của hơn 100 thành phố Mỹ vào cuộc, đạt tới đỉnh
cao là cuộc bao vây Lầu Năm góc của 200.000 người Mỹ trong suốt 32 giờ liền. Tiếng
nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã có tác động lớn đến giới
cầm quyền chính quốc, thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân yêu chuộng hòa
bình thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Với phương
châm thêm bạn, bớt thù, đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính
nghĩa đó.
Ngày nay, trong bối cảnh mới, chúng ta tiếp
tục kiên định, nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”. Với chính sách đối ngoại
rộng mở, Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với tất cả các nước,
vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Từ chủ trương rộng mở quan hệ đối ngoại của
Đại hội VI của Đảng, với những kết quả đối ngoại của thời kỳ đổi mới và hội nhập
quốc tế, đã củng cố những bước tiến vững chắc của Việt Nam theo phương châm “muốn
là bạn với tất cả các nước” của Đại hội VII, “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội IX, “là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội XI và điều
này tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng. Quá
trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được phát triển cả bề rộng lẫn
chiều sâu, đem lại nhiều kết quả tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác, phát triển của nhân dân thế giới.
Trong quan hệ đối ngoại, chúng ta kiên trì phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu
tranh” trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, hai mặt hợp tác và đấu
tranh gắn bó hữu cơ với nhau. Thúc đẩy hợp tác nhưng vẫn phải đấu tranh dưới
hình thức, mức độ thích hợp với từng đối tượng, trên từng vấn đề, nhằm bảo vệ lợi
ích dân tộc, thiết lập quan hệ bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.
Chính sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh đã giúp Việt Nam
tranh thủ được ngày càng nhiều sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới
đối với sự nghiệp chính nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Thực tế ngày nay cho thấy, quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với
một ai” là phù hợp với xu thế quan hệ quốc tế hiện nay. Những quan điểm đó đã
và đang được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong đường lối và thực tiễn
quan hệ đối ngoại, hướng tới mục tiêu tiếp tục tạo lập môi trường hòa bình, ổn
định ở khu vực và thế giới cho sự phát triển của đất nước, vì lợi ích quốc gia
- dân tộc. Chính từ đây đã mở ra một trang mới trong lịch sử đối ngoại của nước
ta. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao chính thức với 189/193 quốc gia thành viên
của Liên hợp quốc, trong đó có cả những nước từng là cựu thù của Việt Nam.
Trong các mối quan hệ quốc tế đa tầng, đan chéo, biến động phức tạp khó lường
hiện nay, quán triệt các quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần
tích cực, chủ động hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn với thế giới, qua đó sẽ góp
phần xây dựng lòng tin chiến lược trong hợp tác, phát triển của quốc gia, góp
phần vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế.
Lịch sử cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về hội
nhập quốc tế đã phát huy hiệu quả to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc
đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Ngày nay, mặc dù quan hệ
quốc tế và tình hình Việt Nam đã thay đổi căn bản, nhưng những quan điểm cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế vẫn còn nguyên giá trị, có ý
nghĩa chiến lược, tiếp tục được quán triệt và thấm sâu vào mọi chủ trương,
chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho nước
ta tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả./.
Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021
THỜ KẺ BÁN NƯỚC LÀ PHẢN QUỐC!
KẺ NÀO ĐÚC TƯỢNG THỜ TÊN BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN?
Tại sao lại thờ tên bán nước Phan Thanh Giản.?
Những kẻ bán nước như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký thì khác gì thờ tên Ngô Đình Khả (bố đẻ Ngô Đình Diệm.).
Chúng đang rửa tội cho Triều Nguyễn - Triều đình "rước voi dày mả tổ" - triều đình pháp về đô hộ Việt Nam.
Triều đình đã đẩy nhân dân Việt Nam suốt 80 năm trời nô lệ tăm tối.
Thế mà chúng lại thờ.
Bọn chúng là ai.?
Còn sống hay đã chết.?
Tại sao chúng dám thờ tên bán nước Phan Thanh Giản.?
Hãy lên tiếng mạnh mẽ, hãy đập bỏ, vứt tượng kẻ bán nước xuống biển đông.!
KẺ TAY SAI BÁN NƯỚC PHAN THANH GIẢN
1.Cuộc đời quan lộ Phan Thanh Giản.
Phan Thanh Giản tên tự là Phan Tịnh Bá và Phan Đạm Như, hiệu là Lương Khê, sanh năm Bính Thìn 1796 mất năm Đinh Mẹo 1867, vốn là con cháu của một gia đình người Tàu Minh hương, vì phản Thanh phục Minh mà qua nước mình. Phan Thanh Giản là con dân đất Vĩnh Long (sau nhiều lần thay đổi địa chánh thời nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), sanh sống và học hành ở xứ nầy.Minh Mạng năm thứ 5 (1825) Phan đậu Cử nhơn khoa thi Hương Ất Dậu tại Gia Định, khi đó Phan 30 tuổi. Năm sau (1826), 31 tuổi, Phan đã đậu Đệ tam Giáp đồng Tấn sĩ khoa Bính Tuất (đứng hạng 3 trên 9). Phan Thanh Giản đã trở thành Tấn sĩ khai khoa ở Nam kì.Mùa thu năm Minh Mạng thứ 7 (1827), Phan Thanh Giản được Vua Minh Mạng cho nhiệm chức quan Chánh Thất phẩm: Hàn lâm viện biên tu. Phan được Vua khen:
"Người Nam kì như Phan Thanh Giản, lòng ngay chí chắc, học rộng tài cao, phải khuyến khích. Phan Thanh Giản lập công lao, Trẫm sẽ gia tăng quyền lực."
Vua Minh Mạng rất nóng tánh mà Phan đại thần thường can cái nầy tấu cái kia, không được lòng nhà Vua và cầm binh không giỏi nên đã ba lần bị giáng chức, trong đó có lần Phan phải làm “Lục phẩm thuộc viên”, tức giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở chốn công đường tại tỉnh Quảng Nam (1836).
Hai trào Vua tiếp theo Phan Thanh Giản đởm nhận nhiều chức quan lớn nhỏ khác nhau. Năm 1850, Phan Thanh Giản được Vua Tự Đức cử vào trấn nhiệm miền Tây Nam kì cùng với tướng Nguyễn Tri Phương. Sau đó, được phong làm Kinh lược sứ Nam kì.
Như vậy qua nhận xét của nhiều người, trong đó có Vua thì hình ảnh Phan Thanh Giản là một người con hiếu thảo, một đệ tử Nho gia chơn chánh, một vị quan tận tụy vì nước và được Vua Tự Đức ban thưởng bốn chữ “Liêm-Bình-Cần-Cán” vào năm 1852.
2. Làm trái lịnh Vua, giao giặc 3 tỉnh miền Đông Nam kì
Như cổ nhơn từng dạy: “Nước loạn mới biết tôi trung”. Lời dạy nầy ứng dụng vô trường hiệp của Phan Thanh Giản thì “đắt” vô cùng.
Năm 1858, quân xâm lược Pháp đã tấn công nước Việt, cuộc đấu tranh không cân sức và đầy hi sanh, gian khổ của dân tộc bắt đầu. Và cũng từ đây, Phan Thanh Giản mới bắt đầu lộ bộ mặt thiệt: phản quốc và đầy xảo trá.
Trong sự ủng hộ và phục vụ của “hàng muôn người Công giáo”(2) giặc Tây xâm lược tấn chiếm Đà Nẵng. Do lực không đủ, thay vì tấn công kinh thành Huế để diệt “ông Vua không thờ Chúa” như yêu cầu của giáo dân Gia tô, Pháp lại quyết định tấn công Nam kì.
Tháng 2 năm 1861 Tây lịch, Pháp tấn công Đại đồn Chí Hòa (Sài Gòn). Quân dân ta chịu nhiều hi sanh, chống cự quyết liệt nhưng do hỏa lực của giặc quá mạnh nên Tướng Nguyễn Tri Phương đã buộc phải rút lui. Pháp thừa thắng đánh chiếm Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long. Nhơn dân Nam kì theo nghĩa binh kháng Pháp khắp vùng Lục tỉnh.
Đầu tháng 5 năm 1862, sau khi cùng các đình thần bàn bạc, vua Tự Đức sai quan thông báo cho phía Pháp đề nghị “giảng huề”. Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, Trước khi đi “nhà Vua có căn dặn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc các tỉnh đã mất với giá 1.300 vạn lượng, còn nếu phía Pháp đòi cắt đất luôn thì kiên quyết không nghe.”
Trong đoàn sứ nầy Phan chánh sứ có dẫn theo một linh mục Thiên chúa tên là Đặng Đức Tuấn chưa rõ là chức vụ gì và đi theo với mục đích gì. Phan Thanh Giản đại diện cho trào đình Tự Đức kí kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị “Hòa ước Nhâm Tuất” ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn với các điều khoản: nộp Pháp ba tỉnh miền Đông còn nộp thêm tiền, hườn toàn trái lịnh Vua. Thêm một điều khiến người đương thời và cả hậu nhơn sau nầy thắc mắc nữa là tại sao một điều ước quan trọng tới như vậy nhưng Giản chỉ kí xong chỉ trong "hơn một ngày”?
Hiệp ước gồm 12 khoản, theo đó, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Luân được nhượng cho Pháp (Khoản 3 Hiệp ước); trào đình phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha một khoản bồi hường chiến phí là 4 triệu piastre trong 10 năm, mỗi năm 400.000 đồng (quy ra bạc là 288 ngàn lượng) (Khoản 8 Hiệp ước). Đổi lại, người Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho trào đình Huế, nhưng kèm theo điều kiện là trào đình phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 Hiệp ước).
Sứ bộ hồi trào, Vua Tự Đức choáng váng với nội dung bổn Hiệp ước. Không những không đòi được đất mà còn hiệp thức hóa 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, cấm cản quân dân Nam kì chống Pháp rồi còn phải thường tiền nữa. Giận quá giận, nhà Vua đã lên án trưởng, phó phái bộ Phan, Lâm không những là “tội nhơn của bổn triều mà còn là tội nhơn của muôn đời”.(3) Sau nầy, trong bài văn khắc trên bia Khiêm Lăng, nhà Vua còn nhắc lại chuyện cũ:
"Bất đắc dĩ cầu huề với giặc, sai sứ đi định ước, không biết vì cớ gì mà lập thành hòa ước dễ dàng, đem tất cả thổ địa nhơn dân của các trào trước mở mang khó nhọc bỗng chốc bỏ cho giặc hết”" (4)
Là tội nhơn của đất nước của dân tộc nhưng Phan Thanh Giản đã lập công lớn cho quân xâm lược. Trích trong báo cáo của Đô đốc Bonard gởi về Pháp ngày 8 tháng 9 năm 1862:
"Phải nói rằng tôi chỉ còn biết hài lòng về chánh phủ Tự Đức và những người thay mặt họ (tức là nói Phan với Lâm) đã giúp tôi tại Nam kì…" (5)
Lấy đất nộp giặc nhưng Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vẫn không bị Vua Tự Đức xử tội mặc dầu Vua giận lắm. Lẽ đó là vì nhà Vua hi vọng hai người nầy sẽ lập công chuộc tội. Sách Việt sử tân biên (quyển 5) chép:
“Ngày 14 tháng ấy, ông Phan và Lâm về kinh tâu bày sự việc. Vua Tự Đức vừa than vừa thống trách hai vị sứ thần. Cả trào đình đều bất đồng ý kiến về nội dung của Hòa ước, nhưng đòi sửa đổi ngay thì biết rằng không được, nên đề ghị cho Phan, Lâm trở lại để giao thiệp với Soái phủ Sài Gòn (của Pháp)…”
Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng rồi lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) qua nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863). Trước khi sứ bộ lên đường, vua Tự Đức có căn dặn: “Quốc thơ phải đưa tới nơi, đừng để các quan đương sự ngăn đón, đừng chuyên tin lời người thông ngôn. Sứ thần là người thay mặt Vua đừng lạy mà nhục quốc thể”. Cuộc sứ năm đó cũng không đạt được kết quả. Tại Pháp, Phan Thanh Giản được người Pháp tiếp đón tử tế và tặng nhiều quà.
Năm 1865, Phan được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thơ, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu: “Tội các ngươi đáng phạt nặng, nhưng nghĩ việc thương nghị ta coi như chưa thành, nay ta chỉ dụ cho Phan Thanh Giản làm Tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Hiệp làm Tuần võ Thuận Khánh, để giao tiếp với người Pháp, tìm cách uốn nắn những lầm lỗi trong Hòa ước mà các ngươi đã phạm phải”.
Việc trên vô tình tạo cơ hội cho họ Phan bán nước thêm lần nữa.
3. Giúp Pháp lấy 3 tỉnh Tây Nam kì “không tốn một giọt máu”(6)
Trên đường từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long nhiệm chức, Phan Thanh Giản ghé lại Mĩ Tho (tỉnh Định Tường), hội kiến với Trung tá Hải quân Ansart, chỉ huy tối cao (commandant supérieur) tỉnh Định Tường. Bổn tường trình của Ansart đề ngày 18.11.1866 gửi cho De La Grandière hé lộ nhiều chi tiết trong cuộc hội kiến giữa hai người. Mở đầu bổn tường trình, Ansart viết:
"Tôi hân hạnh báo cáo với Ngài về cuộc đàm thoại với Phan Thanh Giản vào ngày 16 vừa qua, khi ông ấy dừng lại Mĩ Tho, trên đường từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long. Lúc bốn giờ chiều, tôi hướng dẫn Phan Thanh Giản vào ngôi nhà kiểng trong vườn, và ở đó, sau khi cho đoàn tùy tòng đi nghỉ, ông bắt đầu cuộc nói chuyện với sự trung gian của cha Marc, và đặt cho tôi câu hỏi sau: Chừng nào các ông lấy ba tỉnh (Tây Nam kì)? Tôi trả lời ông ấy rằng tôi hoàn toàn không biết gì hết, nhưng trước khi đi xa hơn, tôi phải nhắc với ông ấy rằng tôi không có tư cách chánh thức nào để giải quyết những vấn đề tương tợ, và rằng, nếu tôi đồng ý hướng cuộc đối thoại vào lãnh vực nầy, thì ông ấy phải nhìn thấy trong những lời nói của tôi sự diễn đạt những ý kiến cá nhơn, không dính dáng gì đến chánh phủ Pháp. Ông ấy trả lời tôi rằng ông muốn nói chuyện với tôi trong tình thân hữu…" (7)
Không chỉ kí nộp ba tỉnh miền Đông cho Pháp, khi được Vua giao trọng trách trấn thủ ba tỉnh miền Tây thì Phan lại thông đồng bắn tin cho giặc: “Bổn chức sẽ không ngăn cản sự xâm chiếm bằng một cuộc kháng cự mà chúng tôi hiểu là vô ích” và nói trắng là “Nếu quới quốc lấn tới, quả nhơn sẽ không chống cự!” Phan Thanh Giản khuyên đồng bào “Các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú Lang Sa”, một mặt chỉ điểm cho giặc về những người yêu nước, mặt khác dâng sớ về trào xin trị tội, thuyên chuyển khỏi nơi cứ địa hoặc cách chức những chủ soái nghĩa quân như Trần Văn Thành, Trịnh Quang Nghị, Võ Duy Dương, Trương Định…
Mặc dầu ức hiếp Nguyễn trào đủ điều nhưng chưa thỏa, ngày 18 tháng 6 năm 1867 (lịch Tây), quân Pháp gồm 1.200 lính cùng với 400 lính tập người Việt tập hiệp ở Mĩ Tho. Ngày 19, từ Sài Gòn, De La Grandière chỉ huy một đội tàu gồm 16 chiếc cũng tới Mĩ Tho rồi cho hành quân ngây trong đêm. Sáng ngày 20, đoàn quân thủy bộ của Pháp đã tới trước thành Vĩnh Long.
Tới khi đoàn tàu thuyền nhà binh Pháp đậu kín trước thành Vĩnh Long “là một thành khá kiên cố, địa thế rất dễ phòng thủ” và tướng giặc cho người mang thơ lên gởi thì Phan ra lịnh cho binh sĩ không kháng cự và dẫn đám thuộc hạ xuống tàu Pháp trách cớ. Ngay sau đó quân Pháp “cho bộ binh nối gót theo sau rồi chia làm bốn cánh vào chiếm đóng thành”. Binh lính trong thành ngây từ đầu đã nhận lịnh Phan nên không có kháng cự nào. Còn phần Phan không có ý gì chống Pháp mà còn tiếp tay Pháp vội viết mật thơ dụ hàng các đồng liêu là thủ thành Châu Đốc và Hà Tiên theo yêu cầu của quan Pháp. Sự việc nầy sau đó được Tổng Đốc Vĩnh Long là Trương Văn Uyển khai trước Trào đình là:
"Ngày 19 tháng 5 năm ngoái(8), vào khoảng giờ Thìn, thấy viên quan Tây đem số lớn tàu binh đến bến tỉnh thành thả neo, kì thủy một viên quan ba cùng một người tên là Cố Trường (tức linh mục Pháp Legrand de la Liraye) đưa đến một phong thơ, trong thơ nói rằng: viên quan Tây nhận thấy bọn giặc [ý nói nghĩa binh Nam kì] quấy rối lâu nay phần nhiều là dân của tỉnh Châu Đốc, nay y muốn rằng quới quốc nhường lại ba tỉnh [miền Tây] để y kiểm soát, thì chúng không dám quấy rối như xưa…
Thần đẳng xem xong bức thơ, cùng nhau thương nghị, rồi Kinh lược sứ (Phan Thanh Giản) lập tức đem viên Niết ti Võ Doãn Thanh, theo xuống dưới tàu cùng viên chúa tàu đàm thoại; trách y đã vin vào cớ nhỏ mọn mà đã vội làm thương tổn đại nghĩa. Y trả lời rằng: “Bổn ý thế nào, đã nói ở trong bức thơ”. Nói đoạn y cho chiến thuyền tấn sát vào phía ngoài thành rồi cho bộ binh vào thành đóng giữ..."(9)
Xong, vậy là xong. Pháp đã chiếm trọn ba tỉnh miền Tây mà “không tốn một giọt máu nào”, viên Đại tá Thomazi hoan hỉ viết trong nhựt kí: “Đến tháng 6/1867, binh lính ta đi chơi một bữa vậy là xong hết cuộc chinh phục toàn xứ Nam-kì, công cuộc khó nhọc bắt đầu từ năm 1858”. Trong báo cáo gởi cho chánh quốc về việc chiếm lấy ba tỉnh miền Tây, De La Grandière đã viết:
"Các thành Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên đã mở cửa mà không kháng cự, các quan chức địa phương giao nộp sổ thuế và hồ sơ lưu trữ cho 9 sĩ quan ngạch Thanh tra các công việc bổn xứ được cử đi trước để cai trị những vùng đất bị sáp nhập…"(10)
Tại chánh quốc, tờ báo Moniteur Universel số ra ngày 9.8.1867 cũng đăng bổn tin trong đó có đoạn viết: “Quân ta đã chiếm đóng các tỉnh Vĩnh Long-Sa Đéc, Châu Đốc, Hà Tiên. Các quan giữ thành đã mở cửa thành cho quân ta vào với sự tán đồng của dân chúng.”
Có thể thấy cái công của Phan Thanh Giản giúp quân xâm lược nuốt trọn Nam kì là rất lớn vậy.
4. Lập lờ đánh lận về cái chết của Phan Thanh Giản.
Cái tội bán nước của Phan Thanh Giản đã quá rõ ràng. Nhưng bao nhiêu đó thôi là chưa đủ thấy hết bộ mặt thiệt của nhơn vật nầy. Mặc dầu vậy, Phan Thanh Giản cũng được một số người binh vực (chắc là) vì lí do Phan đã uống độc dược tự tử.
Có thiệt đó là “tuẫn tiết” không? Có gì mờ ám phía sau? Cái nầy không thể chỉ dựa vào sử sách của Nguyễn trào (vì các vua Nguyễn từ Đồng Khánh trở về sau đều là bù nhìn do Pháp dựng lên, sau nầy đã viết lại sử theo ý Pháp) mà phải coi thêm các văn bổn của người Pháp nữa mới biết được (người Pháp viết gởi người Pháp, chẳng ngại ngần gì hay kiêng sợ gì nên có thể tin tưởng các chi tiết về vụ nầy được).
Sau khi nộp thành Vĩnh Long dụ hàng hai thành An Giang và Hà Tiên cho Pháp xong, Phan thủng thẳng ra sống tại một ngôi nhà tranh ở ngoại thành Vĩnh Long, tỉnh táo sắp xếp mọi việc châu đáo. Phan gởi một lá sớ lên Vua Tự Đức xin xá tội. Bs. Nguyễn Văn Thịnh trong bài “Cụ Đồ Chiểu có làm thơ khóc thương Phan Thanh Giản?” có viết:
"Đồng thời, Phan cũng gởi một bức thơ dài cho Lagrandière. Hết lời ca ngợi “tình thân ái giữa các dân tộc bên hai bờ đại dương”; ca ngợi Hải quân Trung tướng Bonard với “những võ công hiển hách chinh phục xứ nầy, là người đồng chung một ý tưởng từ lâu về vấn đề lấy xứ Nam kì làm thực dân địa và rất tiếc là người đã ra đi trước, bây giờ tử thần sẽ cho hai ta gặp mặt trong sự vĩnh cửu, sẽ sung sướng vô biên giới và tình huynh đệ không thể tan rã được”; ca ngợi Đề đốc Rigault de Genouilly “có tầm nhìn xa biết chiếm lấy Sài Gòn để xây dựng thành trung tâm bền bỉ lâu dài”; ca ngợi Đề đốc Lagrandière “là người tạo lập ra thuộc địa Nam kì”… toàn là những từ hoa mĩ nể trọng, ân tình thắm thiết!"
Thơ gởi Trào đình đã lâu, Vua Tự Đức giận phản thần mà không thèm trả lời. Đợi hoài không thấy vua hồi âm, Phan Thanh Giản lo sợ: tội cũ nộp 3 tỉnh miền Đông chưa xử, nay lại nộp tiếp 3 tỉnh miền Tây nữa. Biết là không thể thoát khỏi tội chết, Phan rất khôn ngoan “đi trước một bước” uống á phiện tự sát.
Bức thơ đề ngày 4.8.1867 của Trung tá Ansart, người đã chứng kiến những giây phút cuối cùng của Kinh lược sứ Phan Thanh Giản, gởi cho tướng Tham mưu trưởng Reboul kể lại từng chi tiết một về những gì mà ông ta cho rằng mình đã trực tiếp nghe thấy:
"… Ông bình tĩnh xếp đặt mọi chuyện, cho mua quan tài, tang phục cho thân nhơn và gia nhơn, ấn định lễ tang trong từng chi tiết nhỏ nhứt và dành cho con cái những lời khuyên khôn ngoan (đừng chống Pháp) và đáng khâm phục… Ông yêu cầu để cho người Pháp nuôi nấng chúng cẩn thận và mấy ngày trước khi thực hiện quyết định bi thảm của mình, ông đã bày tỏ với tôi niềm ao ước được để lại cho tôi vài ngàn quan Pháp nhằm trang trải chi phí cho chúng ở Sài Gòn…"
Tuy tuyệt thực rồi uống á phiện tự sát để trốn phạt tội nhưng Phan Thanh Giản phút cuối vẫn còn tiếc nuối cái mạng. Theo thơ tường trình của Ansart kể về những giờ cuối đời của ông nầy:
"… Lúc các ông quan (Nam trào) còn lại ở Vĩnh Long, ông đã khăng khăng từ chối mọi thứ thuốc men, chúng tôi đã phải gần như ép ông và lợi dụng một trong những lúc ông ngất đi mới khiến ông nuốt được một chút giải độc.
Nhưng ngay khi ông được biết là các quan đã bỏ đi và chỉ còn có mình ông với chúng tôi (mấy sĩ quan Pháp) thì ông đã thuận mọi điều, lại hỏi: “Liệu có cứu được tôi không?” Than ôi, khi đó đã quá muộn rồi!" (11)
Rõ rồi nha! “Tuẫn tiết” chỉ là giả, còn “sợ chết” mới là thiệt.
Sau khi Phan chết thì Phó Thủy sư Đề đốc Thống soái Nam kì De La Grandière lại châu đáo cho tàu kéo và một toán lính kèn với đội tiêu binh hộ tống thi hài Phan về tận nơi an táng ở cố hương đúng theo nghi thức truyền thống nhà binh Pháp, đồng thời gởi thơ chia buồn và hết lời khen:
"Nơi trào đình Huế trừ một mình ngài thấy rõ đâu là ích nước lợi dân. Người Pháp quốc hằng bền một lòng tôn trọng quan lớn Phan Thanh Giản và gia đình của ngài. Bổn trấn hứa sẽ hết lòng bảo bọc cho con cháu ngài hoặc muốn ra mà giúp việc nhà nước hay là muốn tước lộc chi thì bổn trấn cũng vui lòng ban ơn theo như ý."
Ngộ chưa? Quan Nam trào chết mà Trào đình không thèm nhìn, đồng liêu thì coi thường, dân chúng thì chửi rủa vậy mà lại được Tướng giặc khen ngợi hết lời luôn!?
Nếu thực có tâm chết vì nước sao Phan không như Tướng Nguyễn Tri Phương tử thương giữ thành Hà Nội, như Tướng Trương Định rút kiếm tự sát nơi “Đám lá tối trời”(12) hây như Đại thần Huỳnh Diệu tự sát theo thành Hà Nội… mà lại nộp thành cho giặc rồi gởi thơ cho Vua xin tội, khi không xong mới uống độc dược tự sát? Câu hỏi nầy có lẽ không cần Phan trả lời, hậu nhơn cũng hiểu được.
Vẫn thường nghe câu “Con chim sắp chết kêu tiếng bi thương, con người sắp chết nói lời chơn thiệt”. Vậy trước lúc chết thì Phan Thanh Giản nói chuyện gì?
Ông ta khuyên con cháu đừng có chống Pháp còn dân chúng thì nên an phận dưới sự cai trị của người Pháp.
"Các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú Lang Sa"- Nguyễn Duy Oanh, Chân dung Phan Thanh Giản, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, 1974, tr. 253.
Quả đúng là như vậy, sau nầy hai con của Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm cũng đã phản bội nghĩa binh, quây ngược mũi giáo làm tay sai cho Pháp giết hại nghĩa sĩ nước nhà. Nhờ công sát hại đồng bào phục vụ quân xâm lược mà hai con của Phan Thanh Giản được Pháp cho làm quan lớn.(13)
Phan Thanh Giản trước lúc chết không quan tâm tới “tam cương, ngũ thường” của “đạo nhà” mà lại quan tâm tới đạo Gia tô. Đạo nầy như Vua Minh Mạng từng nói “Tà đạo của người Tây làm hư hoại lòng người” (chiếu của Vua năm 1832), và theo Thầy Chiểu thì tà đạo nầy chuyên “quăng vùa hương, xô bàn độc” và “ông cha không thờ” đây mà.
"…Khi cha Marc đến, Phan Thanh Giản không nói tới ý định tuyệt vọng của ông nữa. Sáng ngày mùng 1 tháng 8, ông chỉnh đốn một số văn kiện liên quan đến đạo Thiên chúa. Ông nói: “nhanh lên”. Lúc 11 giờ, ông uống thuốc độc trước mặt con cái và những người thân cận. Khi người ta đến báo tin cho tôi lúc 2 giờ thì đã muộn rồi. Ông chỉ còn thời giờ ôm chầm lấy cha Marc và tôi và bắt đầu cơn hấp hối…" Tạp chí France Asie số XI tháng 6-7.1955 trang 740.
Còn phần Phan Thanh Giản, tội lỗi tày trời, không thể lấy cái chết mà trốn tội được. Vì làm mất trọn Nam kì, trào đình Huế đã xử Phan án “trảm quyết”, đồng thời lột hết chức tước và cho đục bỏ tên ở bia tấn sĩ.(14) Trích chiếu chỉ của Vua Tự Đức ngày 21-10-1867:
"Phan Thanh Giản thủy chung lời nói không xứng với việc làm, đem học vấn danh vọng một đời trút sạch xuống biển Đông, thực là táng tận lương tâm."
"Đi sứ không có công, giữ chức Kinh lược để mất ba tỉnh, hai tội đều nặng. Mặc dầu đã lấy cái chết tự phạt nhưng cũng không đủ đền bù cho trách nhiệm. Vậy cho truy đoạt chức tước phẩm hàm, đục bia tấn sĩ."
Bổn án “giết người chết để răn người sống”(15) nầy cũng là để cảnh cáo những kẻ có lòng theo giặc cũng là điều thích đáng.
5. Chạy tội cho Phan Thanh Giản
Tội chứng, tội cớ của Phan Thanh Giản rành rành ra đó nhưng cũng có nhiều người đã và đang gắng chạy tội cho họ Phan:
- Trước tiên là người Pháp. Quá dễ hiểu, công lao giúp Pháp nuốt trọn Nam kì thì đâu có nhỏ. Pháp điều khiển được trào đình Huế mà để “công thần” họ Phan mang tiếng xấu thì coi không có được. Vậy là Pháp nói tốt cho Phan.
- Thứ hai là các Vua quan Nam trào bù nhìn của Pháp. Pháp nói gì mà mấy vị nầy không nghe. Không nghe thì khỏi làm vua. Trước tiên phải kể là Vua Đồng Khánh (ông vua nầy vốn là con nuôi Vua Tự Đức đã “xin” Pháp cho được làm vua), người “rất được lòng người Pháp” (đánh giá của Trần Trọng Kim). Một trong những hành động đẹp lòng người Pháp của ông Vua nầy là ra sắc chỉ khôi phục hàm cũ là Hiệp tá Đại học sĩ cho Phan Thanh Giản với những lời khen: “Phẩm vọng ngươi cao như núi Thái Sơn, văn chương ngươi như mây bay nước chảy, được xưng tụng cao nhứt một đời”.
- Một số đông người theo đạo Tây dương: mấy người nầy thì khỏi phải nói nhiều, nhìn những việc làm của họ trong lịch sử dân tộc thì bạn biết rồi đó.
Năm 1924, Vua Khải Định sắc cho quan dân tỉnh Thủ Dầu Một thờ phượng Phan như “thần hộ quốc an dân”. Công ơn gì với dân miền Đông? Nộp 3 tỉnh miền Đông cho Pháp chăng? Kế tới là năm 1933, (con Vua Khải Định là) Vua Bảo Đại lại sắc cho quan dân tỉnh Vĩnh Long thờ phượng Phan với nội dung cũng như vậy. Thưởng công giúp Pháp lấy 3 tỉnh miền Tây không tốn viên đạn nào chăng?
- Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, tên Phan Thanh Giản còn được đặt làm tên đường, tên trường nữa (Vĩnh Long xưa cũng có đường tên nầy, nay là đường 3 tháng 2). Ông họ Ngô nầy là con chiên ngoan của Giáo hội Vatican nên thôi, khỏi bàn.
Trào Ngô, dưới quyền Tỉnh trưởng Huỳnh Ngọc Diệp, tỉnh Vĩnh Long đã dựng lên cái “của nợ” nầy ngây chổ bến xe Vĩnh Long hồi xưa mà ngày nay là “Ngã ba Cần Thơ” ở phường 2, thành phố Vĩnh Long. Bẩy chữ trên mặt nầy của tháp là “Tiền trào đại thần Phan Thanh Giản”. Tháp vinh danh kẻ bán nước cho Tây nầy vào tháng 5.1975 đã bị nhơn dân đập banh chành.
Nước nhà thống nhứt, tự nhiên có phong trào chỉnh sửa lịch sử rồi tự dưng tôn vinh nhơn vật nầy. Tượng đài, đền thờ Phan Thanh Giản mọc lên nhiều nơi.
Giờ ai mà muốn bàn tội của Phan Thanh Giản thì phải chấp nhận bị người bất đồng ý kiến chỉ trách thôi. Ai chỉ trách họ Phan, họ hỏi “bán nước” sao được Nhà nước dựng tượng, lập đền thờ? Hết biết đường trả lời sao luôn! Câu nói của cố Thủ tướng đã được những người binh vực Phan Thanh Giản lợi dụng triệt để. Hễ ai chỉ trách họ Phan là họ lấy câu nầy ra để “lấp miệng” người đối thoại rồi sau đó là … đắc thắng. Thắng thiệt chớ không phải chơi, cố Thủ tướng nói thì ai dám cãi, Tiêu cũng vậy thôi. Không dám, không dám!
Như vậy có thể thấy để chỉ trách Phan Thanh Giản và bảo vệ được quan điểm của mình thiệt là khó lắm thay! Sau nầy nếu lỡ như có giặc, cớ chọn cách “yêu-nước-kiểu-Phan-Thanh-Giản”, biết đâu hên xui được lập đền thờ như ông nầy hổng chừng?!
—————
Chú thích:
(1) Dịch nghĩa: “Ở đất Long Hồ, ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già” lời dịch của cô giáo Phạm Thị Hảo – Giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại ĐHSP TPHCM trong bài “Viết về Phan Thanh Giản nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu” đăng trên báo Văn nghệ TP HCM tháng 3 năm 2009.
(2) Lời các Giáo sĩ gởi trong thơ kêu gọi Pháp tấn công nước Việt và xin làm nội ứng cho Pháp.
(3) Phan Khoang, Việt-Pháp bang giao sử lược, Huế, 1950, trang 148.
(4) Dẫn theo Nguyễn Phan Quang, tr. 285.
(5) Kho Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Kỉ yếu tập 28.
(6) G. Taboulet – La geste franVaise en Indochine, Paris 1955 – trang 515.
(7) Georges Taboulet- La geste franVaise en Indochine, Paris 1955 – trang 509-510.
(8) Bổn khai nầy xài lịch Việt, ngày đó là ngày 20 tháng 6 năm 1867 theo lịch Tây.
(9) Tập tâu của Viện Cơ mật-Bổn dịch của Tô Nam-Tập-san Sử Địa – số 7-8 năm 1967-trang 239-240.
(10) G. Taboulet-Sđd-trang 513(11) Nguyễn Duy Oanh – Chân-dung Phan Thanh Giản”, Sài Gòn, Tủ sách sử học Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên CHVN, 1974.
(12) Đám lá tối trời: Từ Gò Công đi về hướng ao Trường Đua, theo đường ấp Long Hưng tới ngã ba ấp Giá Trên thuộc xã Kiểng Phước; từ đây có bảng hướng dẫn đi thêm 8,5 km nữa để đến đền thờ Trương Định, chổ nầy khi xưa gọi là là “Đám lá tối trời”.
(13) Nguyễn Đình Vân Tiên – Con đường mang tên Phan Liêm đăng tại Hồn Việt.
(14) Quốc trào chánh biên – Sđd – trang 356(15) Nguyễn Duy Oanh, sđd, trang 302.
Yêu nước ST.
ÔNG “TUẤN TIM” VÀ CÁI TÚI ÁO BÁC SĨ BỊ KHÂU KÍN
ĐỔI MỚI SỬ HỌC, ĐỔI MỚI TƯ DUY SỬ HỌC?
Kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó là thiếu hiểu biết. Bởi lịch sử vốn là hiện thực và khách quan, lịch sử không thể thay đổi mà nó chỉ có thể được nhìn nhận, đánh giá đúng hoặc sai tùy thuộc vào sự hiểu biết và sự công tâm, khách quan của người nhìn nhận, đánh giá. Lịch sử không phụ thuộc vào lăng kính chủ quan của người nhìn nhận, nó khác với văn học là vì vậy. Sử học là một bộ môn khoa học còn văn học thì không. Sử học (chính sử) không thể sáng tác, sáng tạo theo nhận thức nhân sinh quan của người chép sử mà người chép sử chỉ làm công việc ghi chép lại những sự việc hiện tượng đã xảy ra trong thực tế sau đó có thể nhìn nhận, đánh giá dựa trên sự thật khách quan. Chỉ có cái được gọi là dã sử mới mang tính văn học. Dã sử là dòng văn chương mượn hiện tượng hoặc nhân vật lịch sử nào để khai triển nhân sinh quan tác giả. Do đó, nếu là chính sử thì không thể thay đổi và đương nhiên là không cần phải đổi mới tư duy để gọi là trả lại sự thật cho lịch sử hay nói cách khác không cần phải "đổi mới tư duy" để vo tròn hay bóp méo sự thật lịch sử (chính sử).
Như vậy, kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó là kẻ thiếu hiểu biết. Kẻ nào nói đổi mới sử học, đổi mới tư duy sử học thì kẻ đó chỉ là khua môi múa mép để tâng bốc mình lên cho ra vẻ ta đây hiểu biết nhưng thực tế lại là thiếu hiểu biết, hoặc là để che đậy dã tâm. Tại sao phải đổi mới tư duy khi đổi mới hay không thì cũng chỉ là nhận thức chủ quan của người nhìn nhận, còn lịch sử (chính sử) luôn luôn là sự thật khách quan?
Môi Trường ST.
KỈ NIỆM 60 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
Sáng 23/10, tại Khu di tích quốc gia Bến Vàm Lũng (huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), cán bộ, chiến sĩ, tướng lĩnh Vùng 5 Hải quân cùng chính quyền và nhân dân địa phương đến đặt tràng hoa, dâng hương tưởng nhớ các Anh hùng, liệt sĩ đã làm nên chiến công của tuyến đường huyền thoại, nhân Kỷ niệm 60 năm đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021).
60 năm về trước, chiếc tàu gỗ mật hiệu “Phương Đông 1” do thuyền trưởng Lê Văn Một, cùng chỉ huy là đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên và 11 chiến sĩ đã rời bến Ðồ Sơn (Hải Phòng), chở theo hơn 30 tấn vũ khí đã cập bến Vàm Lũng an toàn sau 5 ngày đêm vượt biển, mở ra con đường huyền thoại trên Biển Đông gắn với đoàn tàu không số.
Sau thành công từ chuyến tàu đầu tiên ấy, những chuyến tàu không số mật hiệu “Phương Ðông 2”, “Phương Ðông 3”… lần lượt vượt biển an toàn, mang theo vũ khí tập kết tại 4 cụm bến dã chiến ven biển, gồm: Vàm Lũng, Bồ Đề, Vàm Hố (tỉnh Cà Mau); Long Vĩnh, Trường Long Hòa (tỉnh Trà Vinh); Thạnh Phong, Cồn Rừng (tỉnh Bến Tre) và Rạch Chanh (Bà Rịa - Vũng Tàu).
Con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta, là biểu tượng cao đẹp của tình quân - dân thắm thiết. Truyền thống tốt đẹp ấy tiếp tục được thế hệ trẻ địa phương hôm nay hun đúc, tiếp nối, phát huy bằng việc tăng gia lao động, sản xuất vì sự đi lên của quê hương, để những con tàu không số, những bến cảng không tên ở chiến tích Vàm Lũng mãi trường tồn cùng thời gian.
Cũng trong ngày 23/10, tại Di tích lịch sử quốc gia Vũng Rô, xã Hòa Xuân Nam, thị xã Đông Hòa, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Phú Yên long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2021).
________
📌Xem chi tiết tại: https://tinyurl.com/nhandandientu670748
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN THAM GIA BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH!
Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết khẳng định, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, nên đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có lực lượng đoàn viên, thanh niên.
NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHẰM VÀO THANH NIÊN
Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi là một lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Khi được dìu dắt, tập hợp, thanh niên dễ liên kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, thường dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời… Đây là những đặc điểm dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là “chủ nhân tương lai của đất nước”, “là rường cột của nước nhà”… Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã đặt nhiều kỳ vọng và luôn chăm lo đến việc giáo dục, rèn luyện cho đoàn viên, thanh niên. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần nói về thanh niên và căn dặn Đảng cần phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên - thế hệ cách mạng cho đời sau. Người căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đây chính là sự tổng kết, đúc rút vô cùng quý báu của Người từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung và công tác thanh niên nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.
Vì thế, khi các thế lực thù địch hướng đến thanh niên chính là nhằm phá hoại tương lai của đất nước ta; phá hoại niềm tin, sự kỳ vọng của Đảng, của Bác và của nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước nhà. Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, sở dĩ các thế lực thù địch hướng đến thanh niên không chỉ là vì đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của thanh niên, mà còn do thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, luôn nhận được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và cả xã hội. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, lôi kéo, kích động. Nếu như tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch lợi dụng các cách thức truyền thống, như dồn dập tung thông tin xuyên tạc với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh…, thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tấn công vào thanh niên. Nhận thấy thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng internet và các phương tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức phát tán các bài viết, blog, hình ảnh, video clip bịa đặt, xuyên tạc, vu khống trên các kênh Youtube, Facebook,... Những âm mưu, nội dung chủ yếu mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc, chống phá là:
Thứ nhất, làm phai nhạt lý tưởng cao cả nhất của đoàn viên, thanh viên Việt Nam - lý tưởng cộng sản - bằng lấy sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn luôn rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một “tất yếu lịch sử” vì bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, trên các diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ sự xảo biện đó, họ cho rằng hiện nay, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng” để “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(?!). Những luận điệu này được tung ra nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí của thanh niên; khiến cho thanh niên hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; từ đó, làm phai nhạt lý tưởng cộng sản, mất mục tiêu phấn đấu.
Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước”. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”. Chúng còn xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hòng làm cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, từ đó hoài nghi, dao động về lập trường tư tưởng, mất phương hướng.
Thứ ba, các thế lực thù địch xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhận thức sai lệch. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn ra sức thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại, tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ,… nhằm làm cho thanh niên dễ bị lôi kéo, mua chuộc, dễ bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện “sính ngoại”, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của tập thể, của dân tộc…
Các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”.
Thực tiễn cho thấy, một phần do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và do sự xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu phấn đấu. “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đến tương lai, vận mệnh của đất nước. Do đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, bảo vệ thanh niên trước sự lôi kéo, mua chuộc, xúi giục của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị./.
Môi Trường ST.
THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA
Hiện nay, để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:
Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư ưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta. Trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình” phát triển.
Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng.
Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
TIA CHỚP
NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHẰM VÀO THANH NIÊN
Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến
30 tuổi là một lực lượng đông đảo, chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng
dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự
thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam
nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học
hỏi, có tinh thần đổi mới, sáng tạo. Khi được dìu dắt, tập hợp, thanh niên dễ
liên kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất
định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo,
kích động, thường dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã
đầu đời… Đây là những đặc điểm dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi trọng vai trò của thanh niên, coi thanh niên là
“chủ nhân tương lai của đất nước”, “là rường cột của nước nhà”… Do đó, Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng đã đặt nhiều kỳ vọng và luôn chăm lo đến việc giáo dục, rèn
luyện cho đoàn viên, thanh niên. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một
phần nói về thanh niên và căn dặn Đảng cần phải quan tâm đến việc giáo dục, bồi
dưỡng thanh niên - thế hệ cách mạng cho đời sau. Người căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ
THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại
khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho
họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và
rất cần thiết”. Đây chính là sự tổng kết, đúc rút vô cùng quý báu của Người từ
thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung và công tác thanh niên
nói riêng, nhằm phát huy mọi tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp
cách mạng của Đảng và của dân tộc.
Vì thế, khi các thế lực thù địch hướng đến
thanh niên chính là nhằm phá hoại tương lai của đất nước ta; phá hoại niềm tin,
sự kỳ vọng của Đảng, của Bác và của nhân dân dành cho thế hệ tương lai của nước
nhà. Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn
công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng
cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, sở dĩ các thế lực thù địch hướng đến
thanh niên không chỉ là vì đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của thanh niên, mà còn do
thanh niên là chủ nhân tương lai của đất nước, luôn nhận được sự kỳ vọng của Đảng,
Nhà nước và cả xã hội. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh
niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, lôi kéo, kích động. Nếu như tại các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các thế lực thù địch lợi dụng các cách thức
truyền thống, như dồn dập tung thông tin xuyên tạc với mục đích “mưa dầm thấm
lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh…, thì ngày nay, các thế lực thù địch đã
triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để tấn công vào thanh
niên. Nhận thấy thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng internet và các phương
tiện truyền thông xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức phát tán các bài viết,
blog, hình ảnh, video clip bịa đặt, xuyên tạc, vu khống trên các kênh Youtube,
Facebook,... Những âm mưu, nội dung chủ yếu mà các thế lực thù địch thường sử dụng
để xuyên tạc, chống phá là:
Thứ nhất, làm phai nhạt lý tưởng cao cả nhất
của đoàn viên, thanh viên Việt Nam - lý tưởng cộng sản - bằng lấy sự sụp đổ của
mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cái cớ để
xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cho đến nay,
các thế lực thù địch vẫn luôn rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một “tất yếu lịch sử” vì bắt nguồn từ “sự
lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin”; và bởi “chủ nghĩa xã hội
mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không
bao giờ thực hiện được”. Họ cũng cho rằng, chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng”...
Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, trên
các diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin. Xuất phát từ sự xảo biện đó, họ cho rằng hiện nay, Việt Nam
cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng” để “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”(?!).
Những luận điệu này được tung ra nhằm làm lung lạc tinh thần, lung lay ý chí của
thanh niên; khiến cho thanh niên hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
của Việt Nam; từ đó, làm phai nhạt lý tưởng cộng sản, mất mục tiêu phấn đấu.
Thứ hai, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam để làm suy giảm niềm tin của thanh niên đối với Đảng. Các thế
lực thù địch xuyên tạc rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá
khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng
đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước”. Từ những hạn chế
của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước
trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất
nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết
định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân
dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội
dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”. Chúng
còn xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu của Việt Nam trong công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng hòng làm cho thanh niên mất niềm tin vào Đảng, từ đó hoài nghi,
dao động về lập trường tư tưởng, mất phương hướng.
Thứ ba, các thế lực thù địch xuyên tạc bản
chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm cho
một bộ phận không nhỏ thanh niên có nhận thức sai lệch. Ngoài ra, các thế lực
thù địch còn ra sức thổi phồng những thành tựu của chủ nghĩa tư bản hiện đại,
tuyên truyền, cổ xúy lối sống phương Tây với những biểu hiện thực dụng, coi trọng
các giá trị vật chất, lối sống cá nhân, vị kỷ,… nhằm làm cho thanh niên dễ bị
lôi kéo, mua chuộc, dễ bỏ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp, có biểu hiện
“sính ngoại”, sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà đánh đổi lợi ích của tập thể, của
dân tộc…
Các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50
đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có
khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống
phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn,
băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”,
cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”.
Thực tiễn cho thấy, một phần do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường và do sự xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu phấn đấu. “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đến tương lai, vận mệnh của đất nước. Do đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, bảo vệ thanh niên trước sự lôi kéo, mua chuộc, xúi giục của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị./.