Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

Đảng Cộng sản Việt Nam không có khẩu hiệu nào là “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”

 



Để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch không từ bất kỳ thủ đoạn nào, trong đó có cả việc sử dụng các luận điệu xuyên tạc, “lật sử”, và cả vu khống. Câu chuyện về khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là một điển hình của các mưu đồ này.

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có câu khẩu hiệu này

Đối với một đảng chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện có giá trị cao nhất là Cương lĩnh chính trị. Vì vậy, mọi nghị quyết, chỉ thị của Đảng đều không được trái với Cương lĩnh chính trị. Khi đưa ra luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam có hẳn câu khẩu hiệu “Trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cho rằng nó ở trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930 do Tổng Bí thư Trần Phú soạn thảo.

Có thể thấy việc hiểu sai hay cố tình xuyên tạc về nội dung này thì thiên hình, vạn trạng. Trên BBC, cũng đăng bài viết có tiêu đề “Khiếp nhược hay là đang náu mình” có nội dung như sau: “Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương ghi rõ Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Như vậy trí thức là đối tượng được ưu tiên xếp hạng đầu tiên Đảng Cộng sản cần tiêu diệt”.

Đa phần các bài viết trên mạng đều dẫn khẩu hiệu này để quy kết cho Đảng Cộng sản Việt Nam về việc coi khinh trí thức, đàn áp trí thức. Cũng có những bài viết có vẻ khách quan hơn khi cho rằng đó là “một sai lầm của Đảng” và đã được sửa sai. Sự thật thì Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt lịch sử hơn 90 năm của mình chưa bao giờ có khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Câu khẩu hiệu này chỉ là một khẩu hiệu được đưa ra bởi một cấp ủy và chỉ để thực hiện trong nội bộ đảng của cấp ủy đó. Sau khi biết được điều này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời chấn chỉnh.

Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân

Như vậy, khẳng định rằng câu khẩu hiệu này không phải của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nó càng không phải là đã được ghi trong Cương lĩnh Chính trị năm 1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương như bài viết của BBC nêu trên. Đây chỉ là chủ trương của một xứ ủy trực thuộc và sau khi nhận được thông tin này ngay lập tức Đảng đã ra chỉ thị chấn chỉnh.

Chúng ta đều biết Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 đã bùng lên mạnh mẽ và sau đó bị đàn áp đẫm máu. Hàng loạt các tổ chức Đảng bị đàn áp, hàng loạt người yêu nước bị bắt và giết hại, các tổ chức của Đảng vỡ từng mảng, nhất là ở Xứ ủy Trung Kỳ. Khi ấy, ban lãnh đạo của Xứ ủy nhận định rằng tổn thất của phong trào có thể do trong hàng ngũ có kẻ phản bội. Nghi vấn đổ dồn vào những trí thức trong tổ chức khi ấy. Vì vậy, năm 1931, Xứ ủy Trung kỳ ra chỉ thị về vấn đề thanh Đảng (tức thanh lọc nội bộ của Đảng) có câu: “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ngay sau khi nhận được thông tin, Trung ương Đảng đã kịp thời uốn nắn nhận thức sai lầm này và khẳng định: “Xứ ủy Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ ở đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chí tướng”.

Trung ương đã yêu cầu Xứ ủy Trung Kỳ phải có nhận thức đúng đắn và sửa sai: “Vậy tiếp được chỉ thị này, Xứ ủy phải nghiêm mật khảo xét lại từng địa phương, từng bộ phận, từng cá nhân, người nào sai, bộ phận nào sai phải dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy”.

Trung ương khẳng định: “Đảng ta được xây dựng theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đảng được xây dựng từ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta, Đảng ta kế thừa truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm của dân tộc ta (…). Không tránh khỏi xuất hiện những tư tưởng hoang mang, dao động, bi quan, những phần tử đầu hàng phản bội. Điều đó không có gì lạ, mà là việc thường xảy ra đúng với quy luật đấu tranh cách mạng… nhưng là số ít, còn thì giai tầng nào mặc dầu, nhưng đa số đồng chí hết sức trung thành hiến thân cho Đảng đến giọt máu cuối cùng”. Trung ương cũng yêu cầu Xứ ủy Trung kỳ phải tự chỉ trích, phải khắc phục những sai lầm, Chỉ thị cho Xứ ủy Trung Kỳ phải nghiên cứu thẩm tra lại tình hình cụ thể từng đảng bộ, từng cấp ủy và toàn thể đảng viên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm điểm sắp xếp lại lực lượng. Sau đó, Xứ ủy Trung kỳ đã kịp thời khắc phục sai lầm này trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Bài học rút ra trong việc tiếp nhận thông tin

Việc xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm bóp méo, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, có một điều đáng tiếc là ngay chính những người là cán bộ, đảng viên cũng đã có lúc nhận thức sai, hiểu sai về vấn đề này. Chẳng hạn, vì không tìm hiểu kỹ nên khi đánh giá về những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có những đồng chí cán bộ, đảng viên vẫn chưa hiểu thật sự thấu đáo vấn đề này khi còn cho rằng đó là một trong những sai lầm của Đảng khi ấy. Rõ ràng, Đảng là một thực thể sống và bao gồm rất nhiều người thuộc các thành phần khác nhau. Do đó, Đảng không phải không có sai lầm. Đánh giá đúng, “có gan thừa nhận những khuyết điểm” (lời Hồ Chủ tịch) để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế khuyết điểm là việc đáng nên làm. Thế nhưng, bất luận trong bối cảnh nào cũng phải hiểu thấu đáo vấn đề, gắn với bối cảnh và hoàn cảnh lịch sử.

Từ câu chuyện này, rõ ràng nếu xem kỹ Văn kiện Đảng, chắc chắn ai đó sẽ không thể phán bừa rằng câu khẩu hiệu ấy “được ghi trong Cương lĩnh của Đảng” và những ai tìm hiểu cặn kẽ cũng sẽ hiểu rõ thêm.

TIẾP TỤC NHẬN THỨC VỀ CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG NƯỚC TA

  

Diễn biến hòa bình” là một chiến lược chống CNXH và CNCS do các thế lực thù địch với CNXH tiến hành nhằm thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, chống phá độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, lái chệch hướng phát triển của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB.

Chủ thể chỉ đạo, điều khiển chiến lược “diễn biến hòa bình” là các thế lực thù địch với CNXH và độc lập dân tộc. Chủ thể tiến hành, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm những phần tử cầm đầu lực lượng phản động bên ngoài và phản động trong nước; lãnh tụ các đảng phỏi đối lập; những phần tử cơ hội, phản bội trong ban lãnhđạo cấp cao của đảng cầm quyền, chính quyền, quõn đội, an ninh, cảnh sỏt; một bộ phận quần chúng bất mãn với chính quyền và chế độ bị kích động, lừa gạt hoặc bị mua chuộc. Đối tượng của “diễn biến hòa bình” lúc đầu là các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN, sau đó mở rộng ra một số nước độc lập dân tộc.

Mục tiêu sâu xa của chiến lược “diễn biến hòa bình” là thủ tiêu chế độ XHCN trên phạm vi toàn thế giới, phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc, thiết lập một thế giới “nhất thể húa TBCN”. Mục tiêu trực tiếp đối với các nước XHCN và phát triển theo định hướng XHCN là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ các nước XHCN và các nước độc lập dân tộc, đối với các nước XHCN nhằm tạo ra sự vận động chệch hướng của quốc gia, dân tộc theo quĩ đạo của CNTB; đối với các nước độc lập dân tộc nhằm tạo ra tình trạng mất ổn định về kinh tế và chính trị, suy thoái từ bên trong, đi đến khủng hoảng toàn diện, từ đó ngày càng lệ thuộc vào CNTB. Chiến lược “diễn biến hòa bình” mang tính chất phản cách mạng, phản động; tính chất dân tộc; tính chất giai cấp; tính chất toàn cầu; tính chất phi vũ trang.

Phương thức thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình” là tiến công tổng hợp, toàn diện, “mềm, ngầm, sâu”, dựa vào lực lượng đối lập phản động trong nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong của đối tượng là chính; lấy chính trị làm đột phá; kinh tế làm mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ; quốc phòng - an ninh làm then chốt; ngoại giao làm hỗ trợ; đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, kết hợp bạo loạn lật đổ, thực hiện răn đe quân sự từ bên ngoài, gây áp lực để làm tan rã, sụp đổ chế độ.

Nội dung chủ yếu của chiến lược “diễn biến hòa bình” bao gồm:

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị là khâu đột phá, giữ vai trò quan trọng hàng đầu, nội dung chủ yếu là chống phá hệ tư tưởng, đường lối chính trị, hệ thống chính trị, thể chế chính trị, thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóavề chính trị trong nội bộ: chống phá hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính trị nhằm làm phai nhạt, tiến tới xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm suy thoái, biến đổi tư tưởng chính trị cách mạng sang tư tưởng chính trị phản động, phản cách mạng; tiến công vào các thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị, thể chế chính trị, tập trung mũi nhọn phê phán, phủ định, làm tha hóa Đảng và Nhà nước; tác động vào công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng lực lượng ngầm, tìm cách tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối; đòi Việt Nam cải cách hệ thống pháp luật, tiến tới xóa bỏ lực lượng lãnh đạo, chuyển hóa bộ máy quản lý, điều hành đất nước và xã hội.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực kinh tế là khâu mũi nhọn, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách kinh tế; làm chuyển hóa chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm; thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóavề kinh tế: chống phá và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đường lối, chính sách kinh tế, chế độ sở hữu, cơ cấu, thành phần kinh tế; hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân, từng bước thực hiện tư nhân hoá nền kinh tế; hình thành môi trường kinh tế có lợi cho CNTB; từng bước xâm nhập, chiếm lĩnh những địa bàn, lĩnh vực kinh tế quan trọng và nhạy cảm.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hóa - xã hội là khâu quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội;  thúc đẩy tự diễn biến”, “tự chuyển hóalàm chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức và giáo dục - đào tạo; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chia rẽ nội bộ, kích động chống đối, gây rối loạn bên trong CNXH: chống phá đường lối, chính sách văn hóa - xã hội; thúc đẩy chệch hướng giá trị văn hóa, đạo đức; làm suy thoái, biến đổi đạo đức, lối sống theo hướng tha hóa, suy đồi; thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, phân tầng và phân hóa xã hội theo mô hình xã hội TBCN; lợi dụng mâu thuẫn, khiếu kiện, chống tham nhũng để kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ; truyền bá lối sống thực dụng, đồi trụy, cá nhân cực đoan; tuyên truyền, xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; triệt để khoét sâu vấn đề dân tộc, tôn giáo, lấy đó làm “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị, kinh tế, rối loạn xã hội ở Việt Nam.

Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là khâu then chốt, chống phá về đối ngoại là khâu hỗ trợ quan trọng, nội dung chủ yếu là chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh, đối ngoại; thực hiện phi chính trị hóa quân đội và công an: chống phá đường lối, chính sách quốc phũng - an ninh của Đảng, nhà nước; truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ tư sản trong cán bộ, chiến sĩ LLVT; tìm cách xúc tiến “phi chính trị hoá” quân đội, công an; thúc đẩy hợp tác quân sự, an ninh để lôi kéo Việt Nam, đồng thời vừa răn đe, gây sức ép, tìm cách tạo chỗ đứng chân; tuyên truyền cho sức mạnh quân sự phương Tây, đặc biệt sức mạnh vũ khí công nghệ cao; kích động mâu thuẫn, gây chia rẽ nội bộ, phá hoại đoàn kết cán binh, đoàn kết quân dân; tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, gây cơ sở và phá hoại từ bên trong; nhen nhóm “cách mạng màu”, kích động gây bạo loạn lật đổ; khi gặp tình huống và thời cơ thuận lợi có thể tổ chức lực lượng phản ứng nhanh gây xung đột vũ trang, hỗ trợ cho lực lượng phản động bên trong tiến hành bạo loạn ở những địa bàn xung yếu, thực hiện chia cắt chiến lược, tổ chức tập kích đường không vào những mục tiêu chiến lược của ta, không loại trừ khả năng tạo cớ tiến hành chiến tranh xâm lược khi thời cơ chín muồi; triệt để lợi dụng mở cửa, hội nhập để chuyển hóa Việt Nam; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng, bạn bè truyền thống.

 

 

CHỈ RÕ ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Xây dựng, thiết lập hệ thống các giải pháp tuyên truyền đồng bộ, sát hợp, hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng góp phần nhận diện, chủ động đấu tranh sớm, kịp thời, hiệu quả trước các hình thức, phương thức tấn công, phá hoại xấu xa của các thế lực thù địch.

Các cơ quan báo chí cần tổ chức thông tin cân bằng hơn, tăng cường thông tin về các mặt tích cực, tốt đẹp trong xã hội tránh tình trạng mất cân bằng thông tin, khiến các thế lực thù địch, phản động dựa vào đó vu khống rằng bộ mặt đất nước quá nhiều gam màu xám, thiếu những tươi mới, phấn khởi… Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cần tăng cường đáng kể thời lượng cho các chuyên mục đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng…

Bên cạnh đó, cần thiết phải hình thành, duy trì hoạt động hiệu quả các trang thông tin trên mạng xã hội, nhất là trên mạng xã hội Facebook được tổ chức khoa học, bài bản, với đội ngũ phụ trách chuyên nghiệp, có nghề nhằm kịp thời, chủ động nhận diện, đấu tranh bài bản, khoa học, xác đáng, thuyết phục, hiệu quả trước các âm mưu, thủ đoạn, hành động xấu xa của các thế lực thù địch, phản động, từ việc viết bài đăng trên các phương tiện truyền thông xã hội nhằm xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, bôi xấu các lãnh đạo cấp cao, nhằm gây chia rẽ nội bộ; đến những việc như kêu gọi tụ tập, kích động biểu tình, chống phá; gây hấn, lăng nhục, chửi bới vô cớ, phạm pháp… để khiêu khích chính quyền, lực lượng chức năng “trấn áp” và quay video clip, chụp ảnh, lives tream để vu oan cho chính quyền…

Thứ sáu, cần kịp thời phát hiện, nhận diện để đấu tranh, can thiệp, nghiêm trị những phần tử phá hoại núp dưới danh nghĩa “yêu nước”, “nhân quyền”, “công bằng” để kích động, tạo lập các mầm mống gây bạo loạn, lật đổ… trên tất cả các phương diện, hình thức khác nhau, từ không gian mạng, đến các vụ việc cụ thể trong đời sống.

Phải khu biệt, cô lập, xác định đúng đối tượng phản động, phá hoại, kích động, chủ mưu trong từng vụ việc, cũng như đã cố tình vi phạm cả thời gian dài một cách có hệ thống để đưa ra xét xử trước pháp luật những phần tử chống phá, những kẻ nhân danh “lòng yêu nước”, “vì dân chủ”, “vì công bằng”, nhất là hai tổ chức phản động ở nước ngoài đã được Bộ Công an Việt Nam đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố là Việt Tân và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…

Rõ ràng, chỉ có bị nghiêm trị trước pháp luật, các phần tử, những kẻ cố tình chống phá cách mạng nước ta mới giác ngộ, nhụt chí, từ bỏ sự phá hoại điên cuồng, ngu muội, cùng đường, vô lối...

Sự nghiêm trị của pháp luật cũng góp phần cảnh tỉnh, răn đe các đối tượng bất mãn, thiếu hiểu biết, tham lam mù quáng… không bước chân vào con đường tội lỗi, góp phần tàn phá chính đất nước, đồng bào mình.

 

KIÊN QUYẾT ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIEU CUC

 

Kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, gây tâm lý hoài nghi, bất an, thậm chí mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Có thể khẳng định rằng, việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những mặt trái trong xã hội thời gian qua đạt được nhiều kết quả tích cực, lấy lại niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Rõ ràng, đây là vấn đề hệ trọng, là mối quan tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân nên không thể vội vàng, mắc sai lầm. Nhưng cũng vì thế mà không thể “chùng xuống”, không thể thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện, nhất là việc đẩy nhanh tiến độ xác minh, điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp…

Có như vậy, mới thấy rằng, cuộc đấu tranh này là không có “vùng cấm”, không loại trừ bất kỳ ai vi phạm pháp luật; qua đó tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, mới giúp cả nước đồng lòng, quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội, giúp đất nước phát triển tích cực, vững bền…


Một đánh giá phiến diện về tự do trên mạng của FH về Việt Nam

 


            Ngày 21/9, trong báo cáo hằng năm có tên “Tự do trên mạng 2021: Nỗ lực toàn cầu nhằm kiểm soát các đại công ty công nghệ”, tổ chức Freedom House (FH) đã đưa ra các cáo buộc sai sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Trong báo cáo này, FH “chấm điểm” Việt Nam ở mức 19/100 điểm, thuộc nhóm các quốc gia “không có tự do Internet”(?).

Tỷ lệ người sử dụng internet ở Việt Nam rất cao

Tại buổi họp báo thường kỳ tổ chức theo hình thức trực tuyến vào ngày 23/9, liên quan tới câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc ngày 21/9, Tổ chức Freedom House ra báo cáo tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do trên Internet, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức này đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và tôi thấy không cần thiết phải bình luận thêm”.

Chúng ta đều biết ngày 19/11/1997, Việt Nam mới chính thức kết nối internet toàn cầu. Như vậy, có nghĩa là Việt Nam kết nối với internet toàn cầu chậm hơn nhiều so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, số người sử dụng internet ở Việt Nam đã không ngừng tăng cao. Nếu ở giai đoạn đầu mới chỉ có khoảng trên 200 nghìn người sử dụng thì năm 2012, số người sử dụng internet lên tới 31 triệu người, năm 2017, con số này là hơn 50 triệu, chiếm 54% dân số, cao hơn mức trung bình 46,64% của thế giới khi ấy. Và nay, con số người sử dụng internet ở Việt Nam đã lên tới 68 triệu người, chiếm khoảng 70% dân số. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực Châu Á. Nếu thật sự ở Việt Nam “không có tự do internet”, người dân “gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội” như bảng “chấm điểm” kia của FH thì phải giải thích ra sao về con số này?

Tự do internet không phải muốn làm gì thì làm

Internet là mạng xã hội ảo, song những tác hại mà nó gây ra là thật, vì vậy, các nước đều có những quy định để quản lý internet. Không phải chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đều ban hành các quy định để quản lý mạng xã hội phù hợp hướng tới môi trường internet an toàn lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng.

Ủy ban Châu Âu (EC) yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Chính phủ Mỹ đã ban hành 3 đạo luật an ninh mạng chính là: Đạo Luật về Quyền riêng tư trong lĩnh vực Y tế (HIPPA) năm 1996, Đạo Luật Gramm-Leach-Bliley trong lĩnh vực Tài chính năm 1999 và Đạo Luật An ninh nội địa năm 2021. Tòa án Tối cao Mỹ đã thông qua sửa đổi Điều 41 Bộ luật Hình sự, cho phép Cục Điều tra Liên bang (FBI) được quyền truy cập vào máy tính của bất kỳ ai, ở bất kỳ đâu và vào bất kỳ lúc nào nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm an toàn thông tin mạng internet.

Đức đã có quy định về Luật An ninh mạng từ rất sớm. Tháng 7/2015, Quốc hội Đức đã thông qua Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Luật An ninh mạng của Đức yêu cầu các công ty và cơ quan liên bang phải có tiêu chuẩn bảo mật mạng tối thiểu và phải được Văn phòng Bảo mật Thông tin Liên bang (BSI) chứng nhận. Trong luật mới có những điều, khoản cụ thể đối với người sử dụng mạng internet như cấm âm mưu sử dụng bạo lực lật đổ an ninh quốc gia, cấm xúi giục hành vi phạm tội... Luật An ninh mạng của Singapore ban hành năm 2017 cho phép Cơ quan An ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan An ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe dọa và sự cố…

Thời gian qua ở Việt Nam, rất nhiều người đã sử dụng internet để đưa những thông tin kích động bạo lực, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, vu khống người khác, đưa các thông tin dâm ô, đồi truỵ, cổ suý bạo lực, gây chia rẽ vùng miền, dân tộc… Đó là những hành vi vô cùng nguy hiểm nếu các cơ quan có trách nhiệm không có những biện pháp mạnh để quản lý nhằm lập lại trật tự này. Một điều không thể phủ nhận là internet đã chi phối hầu như rất nhiều hoạt động của con người, của xã hội, vì vậy, một trong những yêu cầu bắt buộc là dù trên không gian mạng, trên môi trường ảo thì tất cả đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Thực tiễn không thể phủ nhận

Trước đây, để phụ họa cho bảng “chấm điểm” một lần nọ của FH, trên trang của BBC có bài viết với tiêu đề: “Dân Việt dùng mạng xã hội nhiều, nhưng Việt Nam đứng chót bảng Tự do Internet”.

Theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, các hành vi bị nghiêm cấm trên internet đều là các hành vi vi phạm và gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia, gây bất ổn về mặt xã hội. Chẳng hạn, cấm đưa các thông tin xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc, các thông tin sai sự thật, các thông tin ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, xúi, lôi kéo người khác phạm tội, những thông tin về mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người, dâm ô, đồi trụy, tội ác… Thử hỏi có đất nước nào - dù chưa có quy định - cổ suý cho việc đăng những thông tin dạng này?

Cũng cần khẳng định lại rằng, ở Việt Nam không hề có chuyện cấm sử dụng internet, không cấm mạng xã hội: Facebook, Youtube, Google, Zalo... Cũng vậy, không có quy định nào cấm phát ngôn trên mạng, nhưng người phát ngôn phải chịu trách nhiệm về thông tin của mình. Thời gian qua, đã có rất nhiều người có các hành vi vu khống, thoá mạ, bôi nhọ người khác trên internet bị xử phạt. Cùng với đó đã có rất nhiều người bị mất an ninh trên mạng đã được bảo vệ. Nếu “rảo” một vòng trên internet chúng ta sẽ không khó để bắt gặp rất nhiều các trang facebook của những người nổi tiếng viết những bài phản biện, góp ý “nảy lửa”, thế nhưng hầu như họ cũng không bị hạn chế hay gây khó dễ nếu không vi phạm các điều khoản của nhà quản lý mạng.

Có lẽ, ngoài việc “không cần thiết phải bình luận thêm” như phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam thì ý kiến ông Yerlan Baizhanov - Ðại sứ Kazakhstan tại Việt Nam là ý kiến xác đáng. Ông Yerlan Baizhanov đã bình luận: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như FH…”

 

Về vai trò của đội ngũ trí thức


Bên cạnh giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là V.I.Lênin đã nhìn thấy vai trò to lớn của nông dân và trí thức trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Họ là đồng minh, là lực lượng cách mạng, là lực lượng vật chất của giai cấp công nhân. Nhưng với những hạn chế từ chính bản thân các giai tầng này, do phương thức lao động quy định, do vai trò trong hệ thống sản xuất xã hội và không có hệ tư tưởng, các giai tầng này không thể giữ vai trò lãnh đạo xã hội. V.I.Lênin cho rằng: “so với giai cấp công nhân thì giới trí thức bao giờ cũng có nhiều tính chất cá nhân chủ nghĩa hơn, ấy là do những điều kiện cơ bản của đời sống và công tác của họ không cho phép họ thống nhất lực lượng một cách trực tiếp và rộng rãi, không cho họ được giáo dục trực tiếp trong lao động tập thể có tổ chức”(7). Chính từ đặc điểm này, V.I.Lênin luôn luôn cảnh báo về thái độ thờ ơ chính trị của đội ngũ trí thức. Người viết: “Người trí thức cấp tiến, người trí thức xã hội chủ nghĩa rất dễ biến thành quan lại của chính phủ nhà vua, thành một anh quan lại tự an ủi rằng ở trong nếp cũ quan trường, mình cũng “có ích” và viện “sự có ích” đó để bào chữa cho thái độ lãnh đạm của mình đối với chính trị, bào chữa cho tính nô lệ của mình trước cái chính phủ roi vọt”(8).

Khi nói về vai trò của trí thức, trong tác phẩm tác phẩm Làm gì, V.I.Lênin khẳng định: “Công nhân trước đây không thể có ý thức dân chủ - xã hội được. Ý thức này chỉ có thể từ bên ngoài đưa vào. Lịch sử tất cả các nước chứng thực rằng chỉ do lực lượng của độc bản thân mình thôi thì giai cấp công nhân chỉ có thể đi đến ý thức công liên chủ nghĩa... Còn học thuyết xã hội chủ nghĩa thì phát sinh ra từ lý luận triết học, lịch sử, kinh tế, do những người có học thức trong giai cấp hữu sản, những trí thức xây dựng nên”(9). Khi đề cập đến vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, việc hình thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được thông qua vai trò của trí thức - những người đứng ở đỉnh cao tri thức nhân loại.

Tuy nhiên, theo V.I.Lênin, trí thức tồn tại với tư cách không phải là một giai cấp, mà là một tầng lớp (đội ngũ) trung gian trong xã hội, hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc (sản xuất tinh thần là chủ yếu), trí thức không có hệ tư tưởng độc lập mà phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp mà họ phục vụ. Với tư cách là một tầng lớp đặc biệt và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của giai cấp thống trị, do hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của nhà nước, của thể chế chính trị ấy tạo ra. Đội ngũ này tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị. Quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho trí thức phân hóa thành những bộ phận khác nhau. Những bộ phận đó sẽ ngả theo lực lượng này hay lực lượng khác, giai cấp này hay giai cấp khác. Điều này cũng có nghĩa rằng, trí thức không phải là “siêu giai cấp”, “đứng trên mọi giai cấp” như quan niệm của các học giả tư sản, mà theo V.I.Lênin, “Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”(10). Do đó, trí thức chỉ có thể chứng tỏ mình là một lực lượng xã hội thực sự khi gắn bó chặt chẽ và được sự ủng hộ của một giai cấp, tầng lớp nào đó trong xã hội. Theo nghĩa đó, trí thức không thể là đội ngũ lãnh đạo xã hội.

Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, trong giai đoạn đầu của cách mạng vô sản, phần lớn những người trí thức đứng về phía giai cấp tư sản, bảo vệ những quan điểm, lập trường tư sản, phản ánh những lợi ích của giai cấp tư sản. Cùng với thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, tầng lớp trí thức ngày càng nhận rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tìm thấy lợi ích của mình trong cuộc đấu tranh chung đó. Vì thế, ngày càng nhiều trí thức đi theo giai cấp công nhân, ủng hộ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Ngày nay, trí thức càng có vai trò to lớn trong cách mạng khoa học công nghệ. Với những phát minh, sáng chế của trí thức, quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân đã có thay đổi căn bản, góp phần thay đổi sức sản xuất của xã hội, tạo ra sự phát triển vượt bậc của thời đại mới về cả giá trị vật chất và tinh thần cho nhân loại. Tuy nhiên, với những đặc điểm cơ bản nêu trên, trí thức không phải là đội ngũ lãnh đạo xã hội.


Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản


Đảng cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân nên vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản cũng xuất phát từ bản chất cách mạng và vai trò của giai cấp ấy.

Khi phân tích về các giai tầng trong xã hội từ khi giai cấp công nhân xuất hiện, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, trong tất cả các giai cấp tồn tại cùng với giai cấp công nhân, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp hội đủ các yếu tố của một giai cấp lãnh đạo xã hội. Chỉ có giai cấp công nhân mới đủ sức cầm ngọn cờ cách mạng định hướng cho con đường đi của lịch sử nhân loại. Điều này không phải là mong muốn của chủ quan của giai cấp công nhân hay nguyện vọng của C.Mác như nhiều quan điểm lập luận. Sở dĩ giai cấp công nhân có được vai trò và sứ mệnh ấy bởi lẽ, giai cấp công nhân có sự khác biệt với tất cả các giai tầng khác về địa vị trong phương thức sản xuất, về tính tổ chức, tính kỷ luật và hệ tư tưởng.

Giai cấp công nhân ra đời và phát triển trong nền công nghiệp hiện đại với phương thức lao động đặc trưng là gắn liền với dây chuyền máy móc, sản xuất tập trung, theo chu trình khép kín. Chính điều này làm cho giai cấp công nhân có tính kỷ luật chặt chẽ. Tính kỷ luật chặt chẽ làm cho giai cấp công nhân thống nhất được hành động, thống nhất được lợi ích, qua đó thống nhất được nhận thức, tư tưởng. Nói cách khác, khi nhận thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân được hình thành. Hệ tư tưởng đã trở thành vũ khí trong cuộc đấu tranh giải phóng chính giai cấp công nhân và nhân dân lao động cần lao trên phạm vi toàn thế giới. Trong lịch sử, một giai cấp chỉ khẳng định được vai trò lãnh đạo của mình nếu có hệ tư tưởng. Nếu không có hệ tư tưởng thì các phong trào cách mạng chỉ có tính chất tự phát, tạm thời, kiểu “lửa rơm chóng tắt”(4), chứ không thể “lay chuyển những khối quần chúng đông đảo, những dân tộc trọn vẹn; rồi đến những giai cấp trọn vẹn trong mỗi dân tộc”(5), “đến chỗ tiến hành những hành động lâu dài đưa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại”(6).


Về bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đảng cộng sản ra đời từ đòi hỏi tất yếu của sự phát triển giai cấp công nhân. Đảng cộng sản là tổ chức của những con người ưu tú từ phong trào cách mạng, nơi hội tụ mọi ước nguyện của sự giải phóng và giá trị tốt đẹp. Với sứ mệnh đó, đảng cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân.

Như đã phân tích, giai cấp công nhân mang trong mình thuộc tính bản chất của giai cấp cách mạng. Đó là giai cấp có tính kỷ luật chặt chẽ, giai cấp tiên tiến, tiên phong, triệt để, nhân văn, nhân đạo sâu sắc... Do vậy, đảng cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân chính là đảng mang những thuộc tính bản chất của giai cấp ấy.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, trong các giai tầng xã hội, giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất nên những đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân sẽ có môi trường tốt để rèn luyện trưởng thành nhanh hơn so với các giai tầng xã hội khác, chứ không phải các giai tầng khác không thể rèn luyện những phẩm chất của giai cấp cách mạng. Nhưng điều này cũng có nghĩa là không phải bất kỳ ai xuất thân từ giai cấp công nhân cũng đương nhiên là người cách mạng nhất. Mỗi người công nhân phải có quá trình rèn luyện mình để trưởng thành, từ việc nhận thức về vai trò, trách nhiệm đến nhận thức sứ mệnh; từ việc vươn lên thành giai cấp dân tộc đến trở thành dân tộc.

Cũng theo nghĩa đó, khi đã trở thành đảng viên của đảng cộng sản, mang trong mình bản chất của giai cấp cách mạng thì đều có thể trở thành lãnh đạo của Đảng. Điều này cũng bác bỏ một số quan điểm cho rằng, đảng mang bản chất của giai cấp công nhân mà nhiều lãnh đạo của đảng cộng sản không xuất thân từ giai cấp công nhân. Quan niệm như vậy là máy móc, siêu hình, không hiểu được nội hàm “bản chất giai cấp công nhân của đảng”.


Con đường chiến lược góp phần chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam

 Từ xưa, dân gian Việt Nam đã có câu: “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, “Rẽ nước biển Đông để tìm sinh lộ”…. Cách đây gần 2.000 năm, nữ tướng Triệu Thị Trinh cũng khẳng định: “Tôi muốn cưỡi gió mạnh/ Đạp bằng sóng dữ/ Chém cá kình ở biển Đông” như sự tiếp nối truyền thống hướng biển của cha ông. Điều đó cho thấy dân tộc ta có sự gắn bó, gần gũi với biển Đông.    

Lịch sử nước ta từng có những trận hải chiến lẫy lừng. Trận Vân Đồn (năm 1288), nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên là một trong những trận đánh trên biển mẫu mực. Ngô Thì Sĩ chép: “Tướng nhà Nguyên là Trương Văn Hổ chở thuyền lương tới, Khánh Dư đón đánh, quân giặc đại bại. Đến biển Lục Thủy lại đánh bại quân giặc. Thuyền lương đều bị chìm xuống biển...”.

Việc chiến đấu với các hải đội tàu nước ngoài để bảo vệ chủ quyền biển đảo, quốc gia cũng được ghi chép lại thời các chúa Nguyễn. Năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt. Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân. Còn theo Thomas Bowyear, một nhà buôn người Anh đến Đàng Trong trong các năm 1695 - 1696, lực lượng thủy quân ở Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu có đến 200 chiến hạm, mỗi chiếc có từ 16 đến 22 khẩu đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ từ 40 đến 44 tay chèo; 100 chiếc thuyền lớn từ 50 đến 75 tay chèo... Nhờ vào lực lượng thủy quân hùng mạnh này mà quân đội của chúa Nguyễn Phúc Lan đã đánh bại một đội tàu của Hà Lan ở cửa Eo (cửa Thuận An, ở gần Huế) vào năm 1644, đuổi chúng rút chạy ra biển Đông.

Hải quân chúa Nguyễn còn từng đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch các giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan... Đặc biệt là những tên giặc biển Tàu Ô đến từ Trung Quốc lại là một hoạt động phi pháp trên biển Đông. Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại: “Năm 1867, thuyền giặc biển 22 chiếc vào cửa Sa Kỳ lên trên cạn hơn 300 tên, quan tỉnh Quảng Ngãi vì có ít quân, xin điều quân ở quân thứ Tĩnh Man hội lại cùng đánh tan tác lũ giặc Tàu Ô”.

Việc làm chủ biển Đông không những được Nhà nước mà còn được nhân dân coi trọng. Chẳng hạn, vào ngày 15 tháng giêng năm 1776, dưới thời Tây Sơn, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ xin lập lại hai đội Trường Sa và Quế Hương để “ứng chiến” với kẻ xâm phạm: “Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, Cù Lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cũng thuế quan đem phụng nạp”.

J.Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793 đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội của Nguyễn Ánh: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người. Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Nguyễn Ánh: “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”. Với lực lượng hải quân như thế, việc quản lý và thực thi chủ quyền trên biển Đông của triều Nguyễn đã phát huy tác dụng lớn. Hệ thống phòng thủ bờ biển dưới thời Nguyễn đã được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển, kể cả Hoàng Sa, Trường Sa đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật.

Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, việc tiếp tế và chi viện thường xuyên cho cách mạng miền Nam là hết sức cần thiết. Thực hiện chủ trương của Đảng và Tổng Quân ủy, ngày 19/5/1959, Đoàn công tác quân sự đặc biệt (đơn vị tiền thân của Đoàn 559) được thành lập. Đến tháng 7/1959, Tiểu đoàn 603 được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Trong khi chưa có lực lượng để làm nhiệm vụ vận chuyển trên biển chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch, nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để cung cấp cho phong trào cách mạng ở miền Nam đang phát triển. Từ giữa năm 1961 đến 1962 đã có 5 thuyền của địa bàn Nam bộ (tỉnh Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa) đã ra tới miền Bắc (trong đó có 18 đảng viên) đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương gặp mặt, ân cần thăm hỏi, động viên. Những chuyến thuyền từ Nam bộ vượt biển ra Bắc thành công là một trong những cơ sở quan trọng để xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế vũ khí cho miền Nam.

Đêm 11/10/1962, chuyến tàu đầu tiên chở vũ khí đã xuất phát từ bến K15, Đồ Sơn (Hải Phòng) đi Cà Mau. Chuyến tàu cập bến thành công, đánh dấu cho việc mở đường thắng lợi. Cán bộ, chiến sĩ “Đoàn tàu không số” đã vô cùng anh dũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên biển, khai thông tuyến đường vận chuyển chiến lược - một con đường có một không hai trên thế giới. Trước đó, ngày 23/10/1961, Bộ Tổng tư lệnh ra Quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Văn Thái ký thành lập Đoàn 759 vận tải thủy. Ngày 23/10 trở thành Ngày Truyền thống của đoàn 759 trước đây, Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, đồng thời là ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển.

Chỉ trong năm đầu tiên, Đoàn 759 đã thực hiện 29 chuyến hàng vào Nam, vận chuyển 1.430 tấn vũ khí cho chiến trường. Đến ngày 29/1/1964, Bộ Quốc phòng quyết định đổi phiên hiệu Đoàn 759 thành Đoàn 125. Trong 14 năm, 1961 - 1975, gần 2.000 lượt chiếc tàu không số, vượt qua hơn 20 cơn bão lớn, hàng trăm cuộc vây ráp của kẻ thù, đi gần 4 triệu hải lý, vận chuyển hơn 15 vạn tấn vũ khí trang bị và 8 vạn lượt người, góp phần chi viện đắc lực cho chiến trường, cùng toàn dân, toàn quân đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Đặc biệt, ngày 4/4/1975, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân phải “nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất đánh chiếm các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm thuộc quần đảo Trường Sa”. Sau đó, với tình hình chiến sự miền Nam phát triển rất nhanh, Bộ Tổng tham mưu đã ra lệnh cho Bộ Tư lệnh Hải quân nhanh chóng giải phóng Trường Sa. Chính vì quyết định nhanh chóng và đúng đắn này, từ ngày 14 đến 29/4/1975, các lực lượng của ta đã nhanh chóng giải phóng và tiếp quản các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa lớn. Tiếp đó Đoàn 125 tham gia giải phóng một số đảo ở miền Trung và vùng biển Tây Nam.

Thế kỷ XXI được coi là “thế kỷ của đại dương”. Việt Nam do đó phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Biến mục tiêu đó thành hiện thực là cách tốt nhất để kế thừa, gìn giữ, phát huy và bảo vệ các vùng biển đảo thiêng liêng của cha ông cho các thế hệ mai sau.

 

Căn cứ khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

 

Có thể nói, C.Mác và Ph.Ăngghen luận giải sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân xuất phát từ cơ sở xác định vai trò của các giai cấp trong lịch sử. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp, ở mỗi thời đại lịch sử, các giai cấp có vai trò khác nhau đối với lịch sử của mỗi dân tộc và lịch sử thế giới. Giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho lực lượng sản xuất mới thì thúc đẩy sự phát triển của dân tộc, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhân loại. Ngược lại, giai cấp lỗi thời, bảo thủ, phản động thì kìm hãm sự phát triển của lịch sử.

Khi còn là giai cấp cách mạng, giai cấp tư sản đã có vai trò to lớn đối với sự phát triển của CNTB ở mỗi nước và đối với lịch sử thế giới. Chính giai cấp tư sản đã phá bỏ thành lũy phong kiến, thúc đẩy sự thống nhất giữa các dân tộc; nêu ra tư tưởng về sự giải phóng con người trong cách mạng tư sản; tạo ra của cải vật chất to lớn cho CNTB và nền văn minh nhân loại. Tuy nhiên, khi giai cấp tư sản hoàn thành sứ mệnh lịch sử, nó đã bộc lộ tính chất lỗi thời, phản động sâu sắc, tác động to lớn, kìm hãm sự phát triển của các dân tộc và lịch sử thế giới. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc xuất hiện đã dẫn đến thời kỳ của sự áp bức, nô dịch các dân tộc trên thế giới, mà bản chất của chủ nghĩa đế quốc chính là sự phản động cùng cực của giai cấp tư sản.

Khi giai cấp tư sản đã bộc lộ tính chất lỗi thời, phản động thì việc một giai cấp xuất hiện để phủ định nó, nhằm giải phóng áp bức giai cấp, áp bức xã hội, áp bức con người là điều tất yếu. Như vậy, sự xuất hiện của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan. Giai cấp công nhân mang đầy đủ thuộc tính của giai cấp cách mạng.

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày về nguồn gốc ra đời của giai cấp công nhân. Về nguồn gốc kinh tế, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng sự ra đời của giai cấp công nhân gắn với nền công nghiệp hiện đại, từ mục đích phát triển quy mô sản xuất và tích lũy tư bản của nhà tư sản. Về nguồn gốc xã hội, giai cấp công nhân được tuyển mộ từ trong tất cả các giai cấp, tầng lớp của xã hội.

Đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân là không có tư liệu sản xuất, lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản, địa vị xã hội là người làm thuê và bị bóc lột; giai cấp công nhân là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, có tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả, có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tình đoàn kết giai cấp...

C.Mác và Ph.Ăngghen dựa trên cơ sở địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân để luận chứng cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp đó, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ một cá nhân hoặc một lực lượng xã hội nào. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, chế độ TBCN đã từng chiến thắng chế độ phong kiến bởi vì giai cấp tư sản đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới, đại diện cho nhân tố mới trong thực tiễn xã hội đang mục ruỗng, lạc hậu của chế độ phong kiến. Và giai cấp công nhân chính là một lực lượng mới trong xã hội tư bản, là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Chính vì vậy, C.Mác đã đặt ra “Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”(1).

Nói về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen viết, “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”(2). Chính vì bị đẩy xuống đáy tận cùng của nấc thang xã hội, giai cấp công nhân trở thành nơi hội tụ của những khao khát được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột mà tất cả những người lao động có thể gửi gắm ủy thác. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng xã hội. Giai cấp công nhân có quyền nhân danh lợi ích toàn xã hội để đứng ra tập hợp các giai cấp, các tầng lớp bị áp bức, bóc lột, những phần tử tiên tiến trong cuộc đấu tranh đó. Cuộc đấu tranh ấy được bắt đầu ngay từ khi giai cấp công nhân ra đời, trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ tự phát đến tự giác, cuối cùng kết thúc bằng cuộc cách mạng XHCN, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo tất cả những người lao động dùng bạo lực lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, “giai cấp tư sản không những đã rèn nên vũ khí sẽ giết nó mà còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những người công nhân hiện đại, những người vô sản”(3).


Len án mạnh mẽ những kẻ lấy mạng xã hội làm tấm bình phong


Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng "câu view", "câu like", hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.

 


CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG ĐẢNG ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

 

Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(15); để Đảng không phải là một “tổ chức làm quan phát tài”, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(16). Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”(17).

Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, “chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”(18). Theo đó:

Một là, phải có phương pháp đúng đắn, bước đi thích hợp, thận trọng, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong Đảng”; xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, khắc phục triệt để biểu hiện “nhẹ trên nặng dưới”, “đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”(19); phát huy “vai trò của người đứng đầu”, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị…

Hai là, mỗi đảng viên dù ở cương vị công tác nào đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong trong thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, quy định tại đơn vị công tác, trong gia đình và ngoài xã hội.

Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

Từng đảng viên phải kết hợp chặt chẽ xây và chống, chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, ngăn chặn, đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện nghiêm Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19/12/2016 về “Một số vấn đề làm ngay để tăng cường nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung tương”.

Ba là, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những đảng viên có chức, có quyền.

Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực./.

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN


          Hồ Chí Minh khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Theo Người, “việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội”(6) là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

             Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

            Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. “...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”(7), song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”(8), vì “khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(9). Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: “chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”(10).

               Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. “Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới”(11), nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. 

              Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(12).

             Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

               Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: “Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”(13). “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”(14)


LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG CÁ NHÂN KHÔNG PHẢI LÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 


Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(1).

Nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ quan điểm “không khoan nhượng” của Người đối với chủ nghĩa cá nhân trong Đảng: “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Chủ nghĩa cá nhân” (15/10/1948), “Phải chữa cái bệnh cấp bậc” (15/7/1950), “Tự phê bình và phê bình” (14/6/1955), “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” (7/9/1957), “Đạo đức cách mạng” (12/1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2/3/1969)…

Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”(2); là “thứ vi trùng độc hại” sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(3).

Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”(4).


Giá trị của đàn ông

Gần đây tôi tham gia một câu lạc bộ mới, gọi là “Đàn ông quá bối rối về giá trị của họ trên thị trường”. Nếu bạn muốn hiểu về nhóm trên, tôi đã chuẩn bị vài lời giới thiệu và bài hát này: "Alo, alo! Em quá xinh, em quá quyến rũ, đi chơi với anh nhé... Xin lỗi anh, xin lỗi, em đã có người yêu". Mới tuần trước, Sài Gòn hết giãn cách, tôi diễn hài rồi nhún nhảy, hát bài đó trên sân khấu. Khi diễn hài tôi thử khá là nhiều câu nói đùa, chỉ là thử thôi, không hài thì không dùng lần thứ hai. Mọi người nhìn tôi như tôi bị khùng. Quả thật, nhiều lúc tôi rất hoang mang về giá trị của đàn ông. Hầu hết đàn ông Việt lúc gặp tôi lần đầu tiên hỏi: "Bạn là giáo viên hả?". "Không bạn, tôi làm bên viết báo". "...Vậy hả? Bạn biết tiếng Việt không?". "Có đó bạn" (có khi tôi đang nói tiếng Việt với họ). "Vậy à, nhưng chắc bạn không biết từ chém gió?". "Tôi biết từ đó". "Vậy chắc bạn không biết từ ăn nhậu đúng không?". "Đúng rồi... tôi không biết từ đó". Thực ra là tôi lạ gì từ đó, nhưng tôi cố tình chịu thất bại để họ không cố tìm tiếp những điều tôi không biết. Cứ như thế, rất nhiều lần, họ có vẻ chỉ thích cạnh tranh, thậm chí chiến đấu. Chiến đấu, ngày nay, đàn ông chúng tôi không sử dụng nắm đấm và bàn chân nữa, không còn cung tên, kiếm, súng và lựu đạn, nhưng chúng tôi vẫn chiến đấu mọi lúc. Trên đường đi đến sân chơi tennis tuần trước, tôi gặp một chiếc xe tải màu đỏ cực kỳ lớn so với người đàn ông nhỏ bé bên trong nó. Và người đàn ông lái xe đang chiếm dụng một không gian trên đường cũng cực kỳ lớn, gấp rất nhiều lần cơ thể. Anh ta dùng còi xe để bắt nạt xe đạp của tôi phải dừng lại cho xe tải anh vượt qua. Không chỉ ở Việt Nam, ở bất kỳ đâu và Canada quê tôi, đàn ông cũng thường cạnh tranh. Chúng tôi buộc phải học tiếng Pháp ở trường, nhưng hầu hết đều bực bội khi phải học nó, vì nó khó vào đầu. Chúng bạn tôi hay cạnh tranh "tôi biết nhiều tiếng Pháp hơn bạn" trong khi họ biết 10 từ vựng và người kia biết 5 từ. Phụ nữ luôn có cách giải quyết thông minh hơn nhiều. Nhóm "Đàn ông quá bối rối về giá trị của họ trên thị trường" đã nhắc tôi về lúc đi lính ở Afghanistan. Tôi nghe kể về cô Sakena Yacoobi, một nhà giáo dục phát triển. Một lần, khi cô lái xe trên sa mạc, nhóm người đàn ông mang súng AK47 ngăn cô lại và nói "Đưa tiền đây!". Sakena nói: "Công việc này không bền vững. Những con trâu non, hãy đến với tôi, tôi sẽ cho bạn một công việc tốt hơn". Nhiều người đàn ông trở thành nhân viên của cô, giáo viên, và rất trung thành. Sakena nói: "Đàn ông không dốt lắm đâu, chỉ là họ hiếu thắng, mình phải dạy cho họ biết thôi". Tôi thấy có vẻ cô ấy đúng. Ai là người sản xuất súng AK47? Đàn ông. Ai là người tạo ra các cuộc đua, chiến tranh? Đàn ông. Tôi thấy chán họ rồi. Giãn cách xã hội từ từ kết thúc khi tôi tiêm liều vaccine thứ hai và cảm thấy tự do hơn. Nhưng tôi không muốn quay trở lại thế giới mà chúng ta đã rời bỏ hai năm trước vì tắc đường, cạnh tranh và ô nhiễm. Tôi cũng hy vọng thuỷ triều tha cho nhà tôi, để tôi khỏi phải lau dọn do nước vào nhà hàng tuần. Khi biên tập viên hỏi tôi có muốn viết một bài về sự thay đổi trong tương quan phụ nữ và đàn ông ngày nay không, tôi đã nghĩ về một sự tương tác bình thường mới. Những người đàn ông - chiến binh và thợ săn trong hàng ngàn năm phát triển đã được coi như chủ nhân của nhiều thứ, gồm cả phụ nữ. Nhưng hôm nay, nhiều phụ nữ bắt đầu thấy giá trị của chiếc nhẫn kim cương đắt tiền giảm đi, giá trị của khả năng trò chuyện thú vị và yoga tăng lên. Bắt đầu có sự thay đổi cán cân quyền lực giữa hai giới khi ngày càng có nhiều phụ nữ ưa chuộng sự độc lập. Họ kiếm tiền giỏi, dễ dàng rời đi hơn, còn đàn ông phải khó khăn hơn để thu hút phụ nữ, tìm cách thuyết phục phụ nữ ở bên mình. Khi tôi về miền Tây, rất nhiều thanh niên trong làng khó kiếm vợ. Phụ nữ ý thức cao hơn về vị thế và những việc họ có thể làm, có thể mua bất cứ cái gì họ muốn, đi bất cứ đâu thay vì trông chờ tiền của đàn ông để nuôi con. Họ đôi khi có thể khiến người đàn ông trở nên mờ nhạt, kéo những người đàn ông vào tương lai ít chắc chắn hơn, nơi bóng đá và bia, phim hành động ít thú vị hơn. Trong thời gian ở nhà vì Covid, nhiều đàn ông nói với tôi, họ cảm thấy việc kết hôn và có gia đình cực kỳ quan trọng, người độc thân thì cảm thấy cần phụ nữ để chấm dứt những ngày bấp bênh. Nhất là sự thu xếp của phụ nữ trong một gia đình tất cả vừa học tập, vừa làm việc, ăn uống tại nhà. Nhưng vì nhiều phụ nữ ngày càng yêu thích sự độc lập, tự do hơn, ít phụ thuộc hơn vào nam giới. Đàn ông muốn thu hút phụ nữ phải nỗ lực nhiều hơn xưa. Covid đã cho chúng ta thấy nhiều điều quan trọng, không phải là tiền mà là một cộng đồng, đối tác tốt để xây dựng tương lai hạnh phúc. Để tăng giá trị thị trường với xã hội, thu hút lại phụ nữ, đàn ông cần phải "đàn ông" hơn. Điều đó không có nghĩa lúc nào cũng phải gồng lên như chiến đấu chống lại một con gấu trong rừng, mà là chấp nhận những điều đổi thay theo vai trò giới đang thay đổi. Tôi đến các cơ quan, hầu hết nhân viên giỏi, năng động là phụ nữ. Tôi nghĩ, đầu tiên, đàn ông trẻ phải tự nâng cấp các kỹ năng nghề nghiệp, xã hội để không thua phụ nữ, dành thời gian cho gia đình nhiều hơn, giúp đỡ cộng đồng nhiều hơn, giảm thời gian say xỉn đi. Giá trị cao hơn còn có nghĩa là chu đáo và trung thực với mọi người, không bấm còi xe trên đường với người đi xe đạp như tôi. Con người không thể phát triển xã hội của mình, thúc đẩy kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống nếu quá bận rộn với xung đột. Còn phụ nữ dù độc lập đến mấy cũng cần đàn ông phù hợp. Văn minh là khi mọi giới trong xã hội tôn trọng, hòa thuận với nhau và mang lại tương lai chậm mà chắc, ổn định cho tất cả mọi người.

Khởi tố đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam

    Ngày 24/10, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi cho biết, đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Lê Văn Quân (32 tuổi, trú ở thôn 6, xã Nghĩa Lâm, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) về hành vi "Làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", theo quy định tại khoản 1, Điều 117 Bộ luật Hình sự.

    Theo tài liệu điều tra, thông qua tài khoản mạng xã hội Facebook, Lê Văn Quân đã thường xuyên đăng tải nhiều bài viết mang nội dung chống Đảng, Nhà nước và chế độ Xã hội chủ nghĩa; bôi nhọ danh dự, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao.

Khởi tố đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam -0
Đối tượng Lê Văn Quân.

    Đáng nói, trước đó cơ quan Công an đã nhiều lần mời Lê Văn Quân để làm việc, giáo dục nhưng bỏ qua những cảnh báo, đối tượng Quân ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi, thường xuyên tham gia nhiều hội nhóm phản động trên Facebook, liên lạc với đối tượng truy nã Lê Văn Thương (đối tượng tham gia tổ chức khủng bố Triều Đại Việt hiện đang lẩn trốn ở Thái Lan). Hiện, cơ quan Công an đang điều tra mở rộng vụ án, làm rõ những đối tượng có liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Văn Quân.

Dám làm, dám sai

Bước vào đời, tôi làm giảng viên Đại học Mỏ - Địa chất, gần như không động chạm mấy đến ghế lãnh đạo, trách nhiệm và lợi ích. Sau đó là tám năm làm nghiên cứu khoa học ở Ba Lan, một nước Xã hội chủ nghĩa cũ nhưng có tư tưởng cởi mở. Thầy tôi là thứ trưởng Bộ Quy hoạch Ba Lan nên tôi được nghe ông giảng giải nhiều về lãnh đạo, trách nhiệm, đánh giá của xã hội về mình. "Phải biết xấu hổ khi tự mình thấy làm chưa tốt công việc", tôi vẫn nhớ lời ông. Tôi nhiễm tư duy tích cực về lãnh đạo của ông nên thấy cuộc đời "cán bộ" của mình sau này cũng phẳng phiu. Về nước, tôi làm việc với cương vị tiến sĩ khoa học vào năm 1988. Đến 1994, tôi được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, nhưng cũng chỉ được phân công phụ trách mảng công việc liên quan nhiều đến kỹ thuật. Câu chuyện trách nhiệm với tôi cũng đơn giản, vì kỹ thuật dễ đo đếm để đánh giá hiệu quả. Đến 2002, tôi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và được phân công phụ trách quản lý đất đai. Định hình lại lĩnh vực mình quản lý, có phần kỹ thuật nhưng không khó, thêm phần chính sách mới phức tạp, tôi bắt đầu cảm thấy "rờn rợn". Có lẽ bởi khi ấy, tôi mong manh nhận thấy nhiều người dường như có lý khi tán đồng "quả là chí lý" rằng: làm nhiều - sai nhiều, làm ít - sai ít, không làm - không sai. Dù vậy, tôi vẫn quyết tâm gạt bỏ tư duy "không làm - không sai". Tôi nghĩ "không làm thì làm sao phát triển được". Năm 2003, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường lập kế hoạch thực hiện kiểm tra một năm thi hành Luật Đất đai mới vào năm 2005. Đây lại là năm tiến hành Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh tại tất cả địa phương. Lãnh đạo nhiều tỉnh phản ứng gay gắt, bằng nhiều cách với đợt kiểm tra đất đai này. Khá nhiều dân mang đơn khiếu nại, tố cáo tới các đoàn kiểm tra. Có phóng viên phỏng vấn tôi rằng "anh có sợ khi một số tỉnh quy cho Bộ thiếu trách nhiệm, tổ chức kiểm tra về đất đai vào thời điểm không phù hợp, gây hậu quả chính trị nghiêm trọng cho địa phương không?". Tôi đã nói cứng rằng: "Đã làm thì không sợ, đã sợ thì không làm". Thế rồi, dù chịu không ít sức ép, Bộ cũng trình ra Bản phê duyệt kế hoạch kiểm tra đất đai đã được Thủ tướng phê duyệt. Tôi vẫn suy nghĩ thường xuyên và sâu hơn về câu hỏi: Cái gì cản trở người có thẩm quyền dám làm, dám đổi mới khi thực hiện thẩm quyền? Thứ nhất, chúng ta dễ thống nhất với nhau yếu tố thứ nhất là con người. Người không có bản lĩnh thì khó có thể khẳng định đâu là "hay" và đâu là "dở", việc gì phải làm và việc gì không được làm. Tôi tin nhiều người cũng như tôi, theo dõi các quyết sách của lãnh đạo các địa phương liên quan đến dịch Covid-19, có thể cảm nhận được sơ bộ về khả năng lãnh đạo của các tư lệnh địa phương. Thứ hai theo tôi là yếu tố minh bạch của hệ thống pháp luật. Pháp luật minh bạch đến từng nội hàm, từng chi tiết thì xác định hành vi vi phạm rõ ràng và công bằng. Pháp luật thiếu minh bạch có thể làm cho đúng thành sai, sai thành đúng. Tôi có anh học trò, tiến sĩ, đứng đầu cơ quan tài nguyên và môi trường một huyện. Anh đưa đất xen kẹt trong huyện ra đấu giá thu ngân sách cho huyện. Cả tổ chức, cá nhân đều tham gia và doanh nghiệp thắng vì trả giá cao hơn. Rồi có đơn khiếu nại, lãnh đạo huyện lo ngại đã tự quyết định huỷ kết quả đấu giá. Nhưng sau đó, vụ việc vẫn bị cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh kết luận là đấu giá sai vì thẩm quyền giao đất cho tổ chức thuộc tỉnh, không thuộc huyện. Hơn nữa, họ còn cho rằng việc đấu giá đất như vậy "không gây hậu quả kinh tế nhưng gây hậu quả chính trị vì làm mất lòng tin của dân". Sự thực, việc đấu giá đất và việc giao đất là hai công đoạn khác nhau. Đấu giá xong rồi, ai thắng đấu giá thì được giao đất theo đúng thẩm quyền. Kết luận "làm mất lòng tin của dân" thì quả là buồn. Cuối cùng, học trò tôi bị kỷ luật khá nặng. "Tích cực quá cũng khổ vào thân, thầy ạ", anh than. Khía cạnh thứ ba là tìm cách gì để đánh giá người nào có thẩm quyền sử dụng thẩm quyền đạt hiệu hiệu quả cao nhất. Trên thế giới, cả về lý thuyết và kinh nghiệm, người ta đã chỉ ra rằng để đánh giá bất kỳ yếu tố nào đều phải sử dụng hệ thống chỉ số tương ứng, có thể chỉ số định lượng tính ra từ kết quả làm việc, hoặc có thể chỉ số định tính thông qua thu thập ý kiến từ cộng đồng. Hệ thống chỉ số đánh giá càng phù hợp thì kết quả đánh giá càng đúng. Ở Việt Nam, hệ thống chỉ số đánh giá còn quá ít và chưa được coi là công cụ chính thức trong xây dựng và thực thi luật pháp. Chúng ta mới có vài hệ thống chỉ số khái quát chung như về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, hay cảm nhận của người dân về thủ tục hành chính và quản trị PAPI... Mảng còn thiếu mà các cơ quan tại Việt Nam có thể tiến tới là xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá cho hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ công. Các bộ chỉ số dạng này rất phổ biến trên thế giới. Điều quan trọng là chúng ta có nhận thức rằng hệ thống chỉ số đánh giá rất quan trọng và buộc phải xây dựng sớm nhất hay không. Quan sát nhiều năm qua, tôi nhận thấy tư duy "không làm - không sai" không giảm. Bài viết này đã chỉ ra ba nguyên nhân chủ yếu: chọn cán bộ không đúng, pháp luật thiếu minh bạch và thực thi yếu kém, không đánh giá công việc bằng các chỉ số hợp lý. Còn một nguyên nhân bao trùm: tư duy nhiều cán bộ chưa chịu thay đổi để dám chịu trách nhiệm. "Trường hợp cán bộ thực hiện đúng, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm", chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ sáng tạo mới đây của Bộ Chính trị được cho rằng có ý nghĩa mở đường. Chiếu theo tinh thần này, học trò tôi đáng ra đã không bị kỷ luật. Tôi vẫn cho rằng, người tâm sáng là người không ngại làm.

3 tài xế cục quản lý thị trường dùng vé thu phí đường bộ giả

Ngô Vũ Luân, 36 tuổi và 2 tài xế khác thuộc Cục Quản lý thị trường Bình Định bị khởi tố với cáo buộc dùng vé thu phí đường bộ giả để qua trạm BOT trong nhiều năm. Ngày 23/10, Luân và Lê Quốc Vệ (37 tuổi), Lê Thành Trung (35 tuổi) bị Công an Bình Định điều tra về hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. 3 bị can là nhân viên hợp đồng lái xe của Cục quản lý thị trường Bình Định. Theo điều tra, từ 2018 đến nay, họ đã sử dụng các vé thu phí đường bộ toàn quốc giả để không phải đóng tiền khi qua 2 trạm thu phí phía Bắc và phía Nam tỉnh Bình Định. Các vé giả này được dùng cho một ôtô chở lãnh đạo Cục quản lý thị trường Bình Định và hai xe của Đội Quản lý thị trường số 1, trực thuộc đơn vị này. Trước khi bị khở tố, cả ba đã chuyển sang công việc khác.