Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Thành tựu xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta trong thời gian qua

 

    Trong lịch sử dân tộc, ở mọi thời đại, tư tưởng, đạo đức, lối sống và môi trường văn hóa là nội dung quan trọng trong xây dựng nhân cách con người, hình thành lối sống, nếp sống chuẩn mực, là yếu tố nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp, nhân văn, đồng thời phản ánh sự tiến bộ xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, nội dung xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và môi trường văn hóa là nhiệm vụ hết sức to lớn và quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng và đời sống thực tiễn cả trước mắt và lâu dài. Nhiệm vụ này không phải của riêng ngành văn hóa, mà là yêu cầu đối với cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của toàn xã hội.

        Xét trên tổng thể, môi trường văn hóa là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, gắn bó hữu cơ, mật thiết với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội do con người tạo nên. Môi trường văn hóa là kết quả của phép ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính bản thân mình. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cũng đồng thời là cải thiện và nâng cao chất lượng của môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường xã hội nhân văn, hình thành và nuôi dưỡng nhân cách con người. Với ý nghĩa đó, xây dựng môi trường văn hóa không tách rời với việc xây dựng nhân cách cá nhân và xây dựng lối sống, nếp sống văn hóa của cộng đồng.

   Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường văn hóa, trong những năm qua, việc xây dựng môi trường văn hóa bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, cụ thể:

   Thứ nhất, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về văn hóa ngày càng được hoàn thiện. Xây dựng môi trường văn hóa đã được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo bằng những định hướng cơ bản quan trọng, thông qua hệ thống văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng và thông qua các nghị quyết chuyên đề, chuyên biệt về văn hóa, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; được thể hiện, thể chế hóa thông qua cơ chế, chính sách của Nhà nước. Qua đó, nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của môi trường văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa từng bước được nâng lên. Ngành văn hóa, thể thao và du lịch đã chủ động phối hợp với các ngành, các địa phương trong cả nước tham mưu xây dựng và ban hành các văn bản, các chủ trương, chính sách, phát động các phong trào văn hóa nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường với phương châm quản lý đi đôi với phát triển, kết hợp hài hòa giữa hai nhiệm vụ căn bản “xây” và “chống”. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về văn hóa ngày càng được hoàn thiện: Một số luật, nghị định và văn bản liên quan để điều chỉnh các hoạt động văn hóa phù hợp với sự phát triển của đất nước được ban hành, sửa đổi, bổ sung kịp thời, trong đó có các nội dung về xây dựng môi trường văn hóa, quản lý, bảo tồn các di sản, các giá trị văn hóa truyền thống, quản lý và tổ chức lễ hội, quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở...

   Thứ hai, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt được nhiều kết quả tích cực

   Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (từ tháng 4-2000) kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm, kết quả đạt được từ các phong trào “Đời sống mới” (năm 1961), xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa” (năm 1991) và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” (năm 1995). Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” là sợi dây đan kết các phong trào hiện có, như phong trào “Người tốt, việc tốt”, “Uống nước, nhớ nguồn”, “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Xóa đói, giảm nghèo”, xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”...

   Kể từ khi phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, tại các địa phương, ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố mới về điển hình tiên tiến trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Phong trào đã mang tính toàn diện, được khẳng định trong cuộc sống và có ý nghĩa chính trị - xã hội, nhân văn sâu sắc; đồng thời, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò và động lực của văn hóa đối với sự phát triển bền vững đất nước; nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Nhiều giá trị văn hóa, các quy định pháp luật và quy chế, quy tắc ứng xử văn hóa ngày càng thẩm thấu vào đời sống, tạo dựng môi trường sống lành mạnh cho cộng đồng dân cư, mỗi gia đình và cá nhân.

   Phong trào đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế và văn hóa - xã hội một cách bền vững. Truyền thống đoàn kết và đạo lý dân tộc được phát huy, trở thành nội lực giúp nhau “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn, đáp nghĩa”; xây dựng con người về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nếp sống được chú trọng, vai trò và vị trí của gia đình và cộng đồng được nâng lên; tình làng, nghĩa xóm được củng cố. Nhiều giá trị văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy, làm phong phú đời sống văn hóa của người dân.

   Phong trào đã thực sự đi vào cuộc sống và trở thành cuộc vận động về văn hóa có tầm ảnh hưởng và quy mô lớn, thu được nhiều thành tựu đáng kể. Đến năm 2018, qua 18 năm thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã có nhiều mô hình tiêu biểu, cách làm hiệu quả được phổ biến, nghiên cứu, học tập, nhân rộng: 19.064.069/22.236.778 gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”; 69.024/106.382 thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa; 84.785/114.972 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa; có 1.200.000 gương “người tốt, việc tốt” các cấp được tôn vinh, trong đó cấp tỉnh có 249.000 người, cấp huyện 712.000 người. Nhiều cá nhân, tập thể đã có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước, Chính phủ khen thưởng động viên kịp thời.

   Kết quả đạt được của phong trào đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, ổn định chính trị, xóa đói, giảm nghèo; làm lành mạnh môi trường văn hóa, nâng cao dân trí cho mọi người; giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, làng, xóm; làm cho chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Những nội dung, tiêu chí xây dựng và công nhận danh hiệu gia đình, làng, tổ dân phố văn hóa, xã đạt chuẩn nông thôn mới, phường đạt chuẩn văn minh đô thị cùng với nội dung quy ước, hương ước văn hóa được xây dựng và thực hiện trên các địa bàn cơ sở trong cả nước đang là những chuẩn mực về lối sống, đạo đức, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho toàn xã hội.

   Thứ ba, xây dựng nếp sống văn hóa, đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng và phát huy hiệu quả.

   Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội trên địa bàn cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, kịp thời đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, hạn chế và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực, những hủ tục. Nhiều địa phương đã tổ chức cưới, tang văn minh, tiết kiệm, gọn nhẹ, giảm bớt các hủ tục phiền hà. Nhiều nét văn hóa mới được phát huy, như tổ chức các đám cưới không hút thuốc, xuất hiện mô hình tổ chức các đám cưới tập thể. Nhiều địa phương đã chú trọng chỉ đạo lồng ghép nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang với các nội dung xây dựng gia đình văn hóa, làng (thôn, ấp, bản), tổ dân phố văn hóa, khu dân cư tiên tiến.

   Việc xây dựng đạo đức, lối sống ngày càng được chú trọng; xuất hiện nhiều tấm gương đạo đức, hành động xả thân vì xã hội, dũng cảm cứu người trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh COVID-19,...

   Thứ tư, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu.

   Các giá trị, chuẩn mực cốt lõi của văn hóa, của môi trường văn hóa được gìn giữ, phát huy; các giá trị mới, chuẩn mực mới từng bước được hình thành, hoàn thiện; nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm; truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng được phát huy; các sản phẩm văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân; công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, đẩy mạnh, góp phần đáng kể vào việc xây dựng, từng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh. Hệ thống di sản văn hóa được khai thác, gắn kết việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.

   Thứ năm, xây dựng và từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa.

   Thiết chế văn hóa có vai trò quan trọng để tổ chức các hoạt động văn hóa cho nhân dân, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt chung của cộng đồng; qua đó, cộng đồng tổ chức xây dựng và tổ chức thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương. Thiết chế văn hóa cơ sở còn là yếu tố gắn kết cộng đồng, điều chỉnh các mối quan hệ ở địa bàn dân cư; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với mọi người dân; cổ vũ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hiện nay, toàn quốc có 72 thiết chế văn hóa cấp tỉnh, gồm 60 trung tâm văn hóa, 3 nhà văn hóa, 4 trung tâm thông tin - triển lãm và 5 thiết chế văn hóa khác; 589/713 huyện trong cả nước có trung tâm văn hóa, hoặc nhà văn hóa huyện, chiếm tỷ lệ 82,6%; 6.102/11.162 xã/phường, thị trấn có trung tâm văn hóa - thể thao, chiếm tỷ lệ 54,7% (trong 6.102 trung tâm văn hóa - thể thao hiện có, có 30% trung tâm đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); 68.222/113.607 thôn, bản, buôn, làng, ấp có nhà văn hóa, đạt tỷ lệ 60% (trong 68.222 nhà văn hóa hiện có, có 47% nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Các thiết chế văn hóa thuộc các bộ, ngành, đoàn thể bao gồm 28 nhà văn hóa lao động cấp tỉnh, 17 nhà văn hóa lao động cấp huyện và trên 100 nhà văn hóa công nhân trong các doanh nghiệp; 80 nhà văn hóa, cung thiếu nhi cấp tỉnh; 189 cung, nhà thiếu nhi cấp huyện, nhà văn hóa thiếu nhi các ngành và các nhà văn hóa thuộc Quân đội, Công an nhân dân quản lý và sử dụng”. Với độ bao phủ và sự năng động, tích cực trong việc phát huy vai trò của các thiết chế, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở ở nhiều nơi đã thực sự trở thành trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao, bồi dưỡng nghiệp vụ, là hạt nhân có tác động tích cực nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội,... phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, định hướng thẩm mỹ lành mạnh cho nhân dân.

ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VẬN DỤNG, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

   Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền là một di sản tư tưởng vô giá và trở thành cơ sở lý luận để giải đáp những vấn đề hiện nay về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên. Đại hội XIII của Đảng đã vận dụng và có những phát triển tư tưởng của Người về vấn đề này trên một số nội dung cơ bản.

   1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Một là, về ý nghĩa, tác dụng của việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực của nhân dân. Trong thực tế, mỗi tổ chức, cá nhân được trao quyền lực thường có xu hướng lạm quyền, tức lạm dụng quyền lực đó để mưu cầu lợi ích của một nhóm người, hoặc lợi ích của cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy nguy cơ này ngay trong những ngày đầu thành lập nhà nước mới. Vì thế, Người đã chủ trương xây dựng một nhà nước kiểu mới thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Chỉ hơn nửa tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong bài “Chính phủ là công bộc của dân” (ngày 19-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: dưới chế độ mới, “bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các Ủy ban nhân dân bây giờ”. Nhận thấy nguy cơ “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””, Người luôn trăn trở, băn khoăn: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”.

   Như vậy, quyền lực của các tổ chức, cá nhân là do Đảng hoặc Chính phủ, đoàn thể “ủy cho họ quyền lãnh đạo” mà có. Xét cho cùng, quyền lực đó cũng đều do nhân dân “ủy thác”. Người thẳng thắn giải thích: “Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”.

   Kiểm soát quyền lực để khắc phục sự tha hóa quyền lực, trừng trị và xử lý nghiêm khắc tình trạng lạm dụng quyền lực của cán bộ. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh thấy rõ nguy cơ của quyền lực làm tha hóa một bộ phận cán bộ, đảng viên; quyền lực được nhân dân ủy thác để thi hành nhiệm vụ bị biến thành quyền lực của riêng mình, không giữ được phẩm chất, bản lĩnh và ý chí dẫn đến lợi dụng chức quyền để trục lợi, lạm quyền, lộng quyền, suy thoái về đạo đức, lối sống cùng những tiêu cực khác. Người đã nghiêm khắc phê phán: “dân ghét các ông chủ tịch, các ông Ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng”.

    Hồ Chí Minh nhấn mạnh, kiểm tra, kiểm soát chính là phương pháp quan trọng để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự là của nhân dân, cán bộ không bị tha hóa. Theo Hồ Chí Minh, việc kiểm tra công tác đối với cán bộ là một trong năm “cách đối với cán bộ”, tức là năm phương pháp quản lý cán bộ của Đảng. Người viết: “Kiểm tra - Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”. Vì vậy, Người giải thích: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Như vậy, qua công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực sẽ phát hiện ra khuyết điểm, những cán bộ làm sai, lộng quyền, lạm quyền, không thực hiện đủ quyền hạn; qua kiểm soát, phát hiện và kiên quyết trừng trị những cán bộ lạm dụng quyền lực, lợi dụng quyền lực nhân dân trao cho rồi cậy quyền, cậy thế ức hiếp dân chúng, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.

   Hai là, về phương pháp kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Thực thi nghiêm pháp luật. Để chống lại tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân - theo Hồ Chí Minh - việc áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng. Do vậy, việc xử lý bằng pháp luật đối với các vi phạm cần nghiêm minh, kịp thời, không được bao che. Người thường phê phán những cán bộ có tư tưởng bao che, xử lý không nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời... Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”.

   Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát. Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra, kiểm soát công việc lãnh đạo, quản lý nói chung và kiểm tra, kiểm soát đối với đội ngũ cán bộ có chức quyền có vai trò cực kỳ quan trọng. Người khẳng định: “chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Trong kiểm soát quyền lực, việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên, cụ thể sẽ phát hiện sớm các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền.

    Việc Đảng kiểm tra, giám sát, làm trong sạch đội ngũ đảng viên đang giữ những vị trí chủ chốt của các cơ quan nhà nước tức là Đảng đã thực hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm soát đảng viên trong cơ quan nhà nước. Điều đó cho thấy, nếu Đảng có kỷ luật nghiêm, thì việc kiểm soát của Đảng đối với các đảng viên trong các cơ quan của bộ máy nhà nước càng có hiệu quả. Người phê bình nghiêm khắc các tệ lạm dụng quyền lực của các đảng viên là những người có chức quyền trong bộ máy nhà nước. Người viết: “Bệnh công thần rất có hại cho đoàn kết ở trong Đảng cũng như ở ngoài Đảng. Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ”.

    Công tác kiểm tra của Đảng cầm quyền bao gồm các hoạt động chủ yếu, như: kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nghị quyết, chủ trương của Đảng; việc thực hiện Điều lệ, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, giữ gìn kỷ luật của Đảng, trong đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương thức kiểm soát từ dưới lên. Người chỉ rõ: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên. Còn ở trong Đảng, khi khai hội, các đảng viên nghe những người lãnh đạo báo cáo công việc, các đảng viên phê bình những khuyết điểm, cử hoặc không cử đồng chí nọ hoặc đồng chí kia vào cơ quan lãnh đạo”. Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.

    Phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương thức kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân, cả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; trong đó, bầu cử có vai trò quan trọng, là một hình thức cơ bản để nhân dân thực hiện quyền kiểm soát của mình đối với Nhà nước.

   Theo Người, để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quan trọng nhất là cơ quan quyền lực nhà nước phải được nhân dân bầu ra một cách dân chủ và tiến bộ. Người lý giải: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà”, bởi vì: “lá phiếu cử tri có một giá trị rất cao quý; nó là một dấu hiệu xác nhận rằng nhân dân thật sự làm chủ nước nhà”. Từ đó, Người khẳng định: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”.

   Điều kiện để kiểm soát tốt, có hiệu quả - theo Hồ Chí Minh - “phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”; “theo cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, thì việc kiểm soát nhất định kết quả tốt”. Đồng thời, “phải hăng hái chịu khó, thiết thực hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể để bày vẽ và kiểm soát những công việc đó”.

   2. Vấn đề kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

   Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên cho đến nay vẫn mang tính thời sự, có giá trị thiết thực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy các cơ quan công quyền ở nước ta hiện nay. Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực, Đại hội XIII đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên:

   Một là, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên bằng việc phát huy mạnh mẽ tính chủ động, tích cực, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân

    Cần phát huy mạnh mẽ tính chủ động, tích cực sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân vào việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ là vì: Trong thể chế chính trị của nước ta hiện nay, tất cả các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội) đều tham gia vào thực thi quyền lực chính trị. Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với bất cứ tổ chức nào và bất cứ chức danh nào trong hệ thống chính trị. Mặt khác, khi đánh giá về những hạn chế trong kiểm soát quyền lực thời gian qua, Đại hội XIII đã chỉ ra: “Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời”.

   Do đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “kiểm soát phải có hệ thống” trong điều kiện hiện nay, cần xây dựng và thực thi cơ chế để các tổ chức, cá nhân được giao quyền lực phải thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm các chức trách, nhiệm vụ được giao, không lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì mục đích, lợi ích cá nhân. Cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đòi hỏi quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Để kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên, cần coi trọng phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí.

   Hai là, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên bằng việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng

   Có thể khẳng định, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên thông qua việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là một trong phương thức quan trọng và hiệu quả. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, nhờ chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc này trong các cơ quan nhà nước đã phát hiện và xử lý nhiều tổ chức và cán bộ vi phạm, trong đó một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, người đứng đầu áp đặt ý kiến cá nhân đối với tập thể lãnh đạo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng còn xảy ra ở một số nơi. Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài”; “việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. Để khắc phục hạn chế này, Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “Quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Tùy theo tình hình thực tiễn và yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong mỗi lĩnh vực, mỗi cấp, một số nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cần được cụ thể hóa và yêu cầu đảng viên thực hiện theo tinh thần kỷ luật đảng. Theo đó, cần “đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện phân cấp, phân quyền, chống tha hóa quyền lực; có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thống nhất của Trung ương”.

   Ba là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của cán bộ, đảng viên

    Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ sở pháp lý để kiểm soát quyền lực theo tinh thần: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra giải pháp: bổ sung, hoàn thiện “các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch”. Đây là điều kiện để hiện thực hóa các chủ trương về kiểm soát quyền lực: “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, luật pháp”, tránh sự chồng chéo của các cơ chế, chính sách, quy định về kiểm soát quyền lực. Trong kiểm soát quyền lực, Đại hội XIII chú trọng nhiệm vụ “xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”. Theo đó, việc quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong công tác cán bộ. Đặc biệt là, lần đầu tiên nhấn mạnh trách nhiệm của cán bộ ngay cả khi đã nghỉ hưu hay chuyển công tác, đây là một trong những điểm mới đột phá để hạn chế sai phạm của cán bộ, góp phần thiết thực vào việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.

   Bốn là, hoàn thiện các chế định pháp lý để phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương

   Để phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên cần mở rộng quy chế dân chủ cơ sở, có cơ chế để nhân dân có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, tham gia ngày càng thực chất vào các công việc của địa phương, kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các cán bộ ở địa phương. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá có hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”.

   Năm là, vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về điều kiện bảo đảm tính hiệu lực trong kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên

   Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cần phải tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc và đề cao kỷ luật của Đảng và Nhà nước” và bảo đảm tính khách quan, hiệu lực của kiểm soát quyền lực đối với cán bộ. Theo đó, sai phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không có “vùng cấm”, “không ai đứng trên, đứng ngoài pháp luật”, tổ chức, cá nhân lạm quyền, lộng quyền phải được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta kiên quyết chỉ đạo: kiểm soát quyền lực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ những hành vi tham nhũng, lãng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí”; “tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”./.

ÐƯA NỀN KINH TẾ SỚM TRỞ LẠI QUỸ ĐẠO TĂNG TRƯỞNG

 

   Hỗ trợ người dân và doanh nghiệp giảm đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, từng bước mở cửa trở lại để phục hồi kinh tế là yêu cầu cấp thiết đang đặt ra.

   Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, Chính phủ ước tính đạt và vượt tám trong số 12 chỉ tiêu chủ yếu Quốc hội giao với các điểm nhấn quan trọng: Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng được kiềm chế dưới mức Quốc hội giao; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm...

   Nhận diện khó khăn

   Nhìn vào bốn chỉ tiêu chưa đạt, có thể nhận thấy nền kinh tế đang đứng trước những khó khăn chưa từng thấy. Cụ thể: Tăng trưởng GDP dự kiến chỉ đạt từ 3% đến 3,5% so mục tiêu đề ra là tăng trưởng 6%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt từ 3.660 USD đến 3.680 USD, thấp hơn mức mục tiêu 3.700 USD/người; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng ước đạt khoảng 32%, thấp hơn mức mục tiêu từ 44% đến 47%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tiếp cận đa chiều ước giảm từ 0,5 điểm đến một điểm phần trăm, thấp hơn so mục tiêu từ một điểm đến 1,5 điểm phần trăm. Ðáng lo ngại là xuất hiện tình trạng đứt gãy một số chuỗi sản xuất, cung ứng, lao động. Thị trường tài chính, bất động sản có thời điểm tăng trưởng nóng. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm, nhất là vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Khu vực dịch vụ gặp khó khăn nghiêm trọng, nhất là du lịch, lưu trú, ăn uống. Lao động, việc làm bị ảnh hưởng nặng nề với tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tăng cao...

   Nhận diện những khó khăn nền kinh tế đang phải đối mặt, TS Nguyễn Ðình Cung, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư cho rằng, đáng lo ngại nhất là các động lực tăng trưởng của nền kinh tế đang suy giảm. Ðầu tư công chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, trong khi đầu tư tư nhân giảm mạnh. Năm 2020, đầu tư công là bệ đỡ của tăng trưởng với mức tăng 34,5% thì chín tháng năm 2021 mới giải ngân được hơn 47% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn nhiều tỷ lệ giải ngân hơn 56% so cùng kỳ. Khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy được vai trò trong nền kinh tế, kể cả trong sử dụng nguồn lực nắm giữ và tác động cải cách thể chế để đẩy nhanh kế hoạch tái cơ cấu như kỳ vọng. Tiến trình thoái vốn, cổ phần hóa của khu vực này vẫn rất chậm, từ đầu năm đến nay mới có ba phương án cổ phần hóa của ba doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty được phê duyệt. Tăng trưởng đầu tư tư nhân giảm từ mức khoảng từ 15% đến 17%/năm của giai đoạn trước xuống chỉ còn 3,9% trong chín tháng năm 2021.

   Ðáng lưu ý, vùng động lực phía nam đang yếu dần. Sự suy yếu này đã bắt đầu từ vài năm trở lại đây và càng trở nên rõ nét sau đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, thể hiện ở tỷ trọng trong GDP chung của cả nước giảm dần từ mức 39,7% năm 2010 xuống còn 37,7% năm 2020. Nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng và logistics của vùng kinh tế trọng điểm phía nam chỉ bằng hai phần ba so với phần đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm phía bắc.

   Tận dụng các dư địa tăng trưởng

   Với mức tăng trưởng 1,42% trong ba quý, kinh tế Việt Nam khó có khả năng bật lên trong quý IV để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm 6%. Tuy nhiên, cơ hội cải thiện mức tăng trưởng là khả thi vì đến nay, đại dịch cơ bản được kiểm soát và cả nước đang thực hiện lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, động lực tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc tận dụng các dư địa sẵn có và tốc độ triển khai các giải pháp hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp; mở rộng hoạt động thương mại, tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), chuyển đổi số, giải ngân vốn đầu tư công.

   PGS, TS Phạm Thế Anh, Kinh tế trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) phân tích: Nếu công tác chống dịch trong thời gian tới không làm đứt gãy lưu thông hàng hóa và sản xuất, sự hồi phục của kinh tế Việt Nam sẽ rất tốt. Hai động lực chính cho tăng trưởng trong quý IV là xuất khẩu và đầu tư công. Trong đó, xuất khẩu dự kiến sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ các ngành sản xuất trong nước nối lại sản xuất và hưởng lợi từ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới thông qua việc thực thi các FTA. Ðối với đầu tư công, Chính phủ đã có các giải pháp tập trung thúc đẩy giải ngân, nhất là các dự án mang tính trọng điểm quốc gia, các dự án kết cấu hạ tầng, không chỉ tạo động lực cho tăng tưởng trong ngắn hạn mà còn có tác động trong cả dài hạn.

   Ðặc trưng nổi bật của cú sốc kinh tế do đại dịch Covid-19 với biến chủng Delta là tạo ra sự đứt gãy các liên kết trong toàn bộ nền kinh tế và các hoạt động của đời sống xã hội, dẫn đến đứt gãy sự kết nối giữa tổng cung và tổng cầu. Do đó, các giải pháp đề ra cần thống nhất một số nguyên tắc xuyên suốt như bảo đảm tính toàn diện cả về y tế, kinh tế và xã hội; bảo đảm tính đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, địa phương và giữa T.Ư với địa phương; giữa doanh nghiệp, người lao động, người dân và chính quyền các cấp... Do đó trong bốn bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, ông Jacques Morisset, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nhấn mạnh đến giải pháp quản lý hạn chế di chuyển cần thông minh hơn, trên cơ sở giám sát chặt chẽ và chia sẻ thông tin, đơn giản hóa và điều phối các quy trình, không để xảy ra tình trạng đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng như vừa qua. Cùng với đó, Ngân hàng Thế giới cũng khuyến cáo Việt Nam trong hỗ trợ tăng trưởng cần hướng sang chính sách tài khóa nhiều hơn và thực hiện chính sách tiền tệ ít hơn. Vì dư địa chính sách tài khóa vẫn còn và việc sử dụng công cụ tài khóa có thể giúp kích cầu trong ngắn hạn và cung trong dài hạn. Bên cạnh đó, các chương trình trợ giúp xã hội cần được thực thi hiệu quả hơn để giảm bớt gánh nặng kinh tế, trong đó Việt Nam cần tăng cường khả năng phục hồi thông qua một hệ thống trợ giúp xã hội mạnh mẽ và linh hoạt. Ðó chính là những giải pháp quan trọng cần thực thi để nền kinh tế sớm trở lại quỹ đạo tăng trưởng./.

0 bình luận

NÊU GƯƠNG - MỘT TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO

 

   Nêu gương chính là thực hành lãnh đạo, để những giá trị của đạo đức và tài năng của người lãnh đạo lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng thúc đẩy mọi hành động của nhân dân. Quán triệt Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận của nêu gương, các hình thức nêu gương, các giải pháp nêu gương của người lãnh đạo.

   1. Lãnh đạo và nêu gương

   Lãnh đạo là quá trình tương tác có định hướng giữa người lãnh đạo (cá nhân, nhóm lãnh đạo) và người bị lãnh đạo (cá nhân, nhóm) với kết quả cuối cùng là hoàn thành tốt các mục tiêu của tổ chức, thực hiện được các sứ mệnh cao cả của người lãnh đạo vì một tương lai tốt đẹp hơn của tổ chức và xã hội.

   Thuật ngữ “lãnh đạo” được phiên âm từ “Hán Việt”, “lãnh” tức là nhận lấy, là được một cái gì, là “cầm đầu”, là “đứng đầu”; “đạo” tức là “đường đi”, là “quy luật”, là “cái tất yếu”. Như vậy từ ghép “lãnh đạo” tức là “nhận lấy việc dẫn đường” hay “dẫn đầu”, “đi đầu”, “định hướng”. Trong tiếng Anh thuật ngữ “lãnh đạo” được gọi “lead” có nghĩa là: chỉ huy, hướng dẫn, dẫn đường, đánh trước, khuyến dụ, điều khiển; và chữ “leader” có nghĩa là những người đứng đầu, cầm đầu có tầm quan trọng nhất, chức vụ cao nhất trong các nhóm xã hội thực hiện vai trò hướng dẫn, chỉ huy, điều khiển và chịu trách nhiệm cao nhất trong tổ chức ấy.

   Các tác giả Hemphill và Coons cho rằng: “Lãnh đạo là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt tới mục tiêu chung”.

   Tannenhaum, Weschles và Masarik nhận định: “Lãnh đạo là sự  ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể”.

   Rauch và Behlinh lại xem: “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu”.

   Các tác giả Paul Hersey và Ken Blan Chard cho rằng lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong những tình huống nhất định.

   Như vậy, những định nghĩa về lãnh đạo luôn có điểm chung là nó bao hàm sự tương tác giữa hai hay nhiều người, nó bao gồm quá trình ảnh hưởng khi sự ảnh hưởng có mục đích được thực hiện bởi nhà lãnh đạo với khách thể lãnh đạo (người dưới quyền, họ vừa là chủ thể và vừa là khách thể của hoạt động lãnh đạo). Mục tiêu của hoạt động lãnh đạo hướng đến vấn đề xây dựng những giá trị cốt lõi của nhóm, tổ chức xã hội; thúc đẩy sự phát triển nhóm - tổ chức hội trong điều kiện những thách thức thường xuyên xảy ra.

   Từ đó, có thể hiểu lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng giữa chủ thể lãnh đạo và khách thể lãnh đạo nhằm định hướng mục tiêu, xây dựng niềm tin và phát triển nhóm - tổ chức xã hội.

   Những nghiên cứu của Khoa học lãnh đạo đã khẳng định, bản chất của lãnh đạo là quá trình sử dụng quyền lực lãnh đạo. Khẳng định này thể hiện, quyền lực chính là công cụ cốt lõi của nhà lãnh đạo gây ảnh hưởng tới khách thể lãnh đạo (người bị lãnh đạo). Tức là, khách thể lãnh đạo chịu ảnh hưởng từ nhà lãnh đạo bởi quyền lực mà nhà lãnh đạo có. Sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của khách thể lãnh đạo nếu có là dưới tác động của quyền lực lãnh đạo.

   Theo các nghiên cứu của Ken Blan Chart, Paul Hersey..., căn cứ vào nguồn gốc hình thành thì quyền lực lãnh đạo có 2 loại cơ bản, đó là quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Quyền lực địa vị biểu hiện là ảnh hưởng từ địa vị của người lãnh đạo (thông qua quyền hạn của mỗi địa vị nhất định trong hệ thống tổ chức - xã hội), còn quyền lực cá nhân được biểu hiện qua sự ảnh hưởng bằng những giá trị từ nhân cách của người lãnh đạo. Trong hai loại quyền lực cơ bản này, quyền lực địa vị không làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người bị lãnh đạo mà nó chỉ tạo nên sự phục tùng uy quyền đến từ địa vị lãnh đạo do hệ thống tổ chức quy định; còn, quyền lực cá nhân mới là cơ sở tạo nên tính tích cực, động lực, và sáng tạo từ khách thể lãnh đạo. Quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân có quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Mối quan hệ này trong lãnh đạo là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Quyền lực địa vị là biểu hiện hình thức của lãnh đạo, nó quy định quyền hạn của mỗi vị trí trong hệ thống lãnh đạo, qua đó phản ánh sự phân quyền trong hệ thống tổ chức và phản ánh hình thức phối hợp trong hoạt động thực thi các sứ mệnh chung của hệ thống tổ chức xã hội. Quyền lực cá nhân chính là nội dung của lãnh đạo, thể hiện yêu cầu về nhân cách người lãnh đạo cần có để hoàn thành những giá trị của mỗi vị trí (địa vị) trong hệ thống tổ chức. Quyền lực cá nhân chính là bản chất cốt lõi của lãnh đạo. Mọi giá trị được tạo nên của lãnh đạo là bằng quyền lực cá nhân, tức là bằng đạo đức, sự thông thái và tài năng từ người lãnh đạo.

   Quyền lực với ý nghĩa là công cụ cơ bản của lãnh đạo làm cho hoạt động lãnh đạo trở thành loại hình lao động đặc biệt, khác biệt với các loại hình lao động khác trong xã hội. Sự cải biến đối tượng lao động được thực hiện thông qua hệ thống quyền lực lãnh đạo. Nêu gương chính là quá trình người lãnh đạo phát huy cơ sở “quyền lực cá nhân” trong lãnh đạo. Nội dung của lãnh đạo chính là nêu gương. Người lãnh đạo phải lấy đạo đức, sự thông thái và tài năng của mình làm “công cụ” lãnh đạo. Không có nêu gương thì sẽ không có hoạt động lãnh đạo. Và, nêu gương là sự thể hiện tính đặc biệt của lao động lãnh đạo, là quá trình thường xuyên, liên tục được thể hiện trong mỗi hành vi lãnh đạo.

   2. Quy định số 08-QĐi/TW về nêu gương trong lãnh đạo của cán bộ, đảng viên

   Cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là những người đóng vai trò cá nhân lãnh đạo thuộc về hệ thống lãnh đạo đối với toàn thể Nhân dân. Nêu gương trong lãnh đạo là thể hiện hành động lấy “quyền lực cá nhân” làm công cụ lãnh đạo, vì thế mọi lời nói và hành vi của cán bộ, đảng viên đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy định lời nói và hành động của mọi tầng lớp nhân dân.

   Quy định số 08-QĐi/TW của Đảng về nêu gương, có 8 nội dung quy định về những điều cần “gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung cần phải “nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết tránh”  đối với “Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, có thể thấy rằng các yêu cầu Đảng ta chỉ ra là yêu cầu về “cái tâm, cái tầm, cái tài” hay là “đức và tài” của người cán bộ, đảng viên mà cụ thể là những phẩm chất nhân cách người lãnh đạo. Với vai trò là người lãnh đạo mỗi cán bộ, đảng viên phải dùng những yêu cầu về “quyền lực cá nhân” làm cơ sở để xây dựng niềm tin, dẫn dắt, truyền cảm hứng tạo nên động lực, tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động công vụ đối với cấp dưới và toàn thể Nhân dân.

   Có thể thấy rằng, từ Quy định 101 - QĐ/TW ngày 7-6-2012 đến Quy định số 08-QĐi/TW là bước phát triển mới về yêu cầu nhân cách của chủ thể nêu gương. Đó là từ việc quy định yêu cầu về phẩm chất và năng lực gắn với các mối quan hệ cụ thể của người cán bộ, đảng viên trong nêu gương (có 7 mối quan hệ cơ bản: về chính trị; về đạo đức, tác phong; về tự phê và phê bình; về trách nhiệm với nhân dân; về trách nhiệm trong công tác; về ý thức tổ chức kỷ luật; về đoàn kết nội bộ) đến các yêu cầu cụ thể về nhân cách cán bộ, đảng viên được thể hiện cụ thể 8 yêu cầu “gương mẫu đi đầu” và 8 yêu cầu về “nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống”. Sự phát triển này thể hiện sinh động mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống”, bám sát vào thực tiễn, gắn với những vấn đề mà xã hội đang quan tâm, và gắn với chủ trương xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh được thể hiện qua Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

   Quy định số 08-QĐi/TW là quy định của Ban Chấp hành Trung ương - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa 2 kỳ Đại hội, khẳng định “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Có thể thấy quy định này là quyết định của cấp lãnh đạo cao cấp nhất và đối tượng được ưu tiên xác định “trước hết” là chính mình. Lãnh đạo là một hệ thống, tổ chức và cá nhân có “quyền lực địa vị” càng cao thì tầm ảnh hưởng, lan tỏa càng lớn, do đó đòi hỏi “quyền lực cá nhân” cũng phải tương xứng để bảo đảm cho tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa đó. Như vậy, Đảng ta đã xác định cụ thể về trách nhiệm nêu gương trong lãnh đạo “Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương”. Từ cơ sở lý luận về lãnh đạo và nêu gương thì đây là một giá trị mới thể hiện sự nhận thức và quyết định đúng đắn của Đảng ta.

   Lãnh đạo là hoạt động đặc biệt được thể hiện qua nêu gương và nêu gương là quá trình thường xuyên, liên tục được thể hiện trong mỗi hành động lãnh đạo. Nhận thức về nêu gương qua Quy định số 08-QĐi/TW cần thấy được bản chất của nêu gương của cán bộ, đảng viên trong hành động lãnh đạo, như sau:

   - Nêu gương, chính là làm gương về những giá trị chân chính mà Đảng và nhân dân chọn lựa. Cán bộ, đảng viên phải “tiên thiên hạ chi ưu, hậu thiên hạ chi lạc” để làm gương về sự tiên phong, dám hy sinh bản thân mình cho những giá trị chân chính; lấy việc chung làm trọng, làm cơ sở để thuyết phục, tạo dựng niềm tin của nhân dân. Cán bộ, đảng viên với vai trò của mình luôn lấy nêu gương làm công cụ. Lãnh đạo có “quyền lực địa vị” càng cao, việc thể hiện nêu gương phải càng mạnh; và cán bộ, đảng viên luôn luôn nêu gương trước Nhân dân.

   - Nêu gương, chính là làm gương thấm nhuần và thực hiện nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương của Đảng; pháp luật và chính sách của Nhà nước. Những hành vi của cán bộ, đảng viên luôn là những mẫu mực để quần chúng soi rọi làm chuẩn mực cho những hành vi của mình. Nêu gương, cũng chính là cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng điều lệ đảng và các quy định của Đảng, đề cao việc trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giải trình trong đảm trách vai trò lãnh đạo, và trách nhiệm công khai, minh bạch về tài sản và thu nhập của cá nhân. Làm được điều này là cơ sở của việc củng cố, xây dựng và phát triển niềm tin và điểm tựa của nhân dân vào Đảng, là cơ sở để Đảng ta xứng đáng và làm tròn sứ mệnh là tổ chức lãnh đạo duy nhất đảm bảo cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

   - Nêu gương là làm gương trong học tập và làm theo tấm gương, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên là mẫu mực trong trong thể hiện “nói đi đôi với làm”, lấy hành động của mình để làm công cụ tuyên truyền, thuyết phục, cảm hóa, lôi cuốn quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

   - Nêu gương là làm gương trong công việc từ việc nhỏ đến việc lớn; từ việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng cho đến việc làm trong thực tiễn, trong quan hệ với Nhân dân. Đó là sự tận tâm thực hiện những nhiệm vụ mà mình đóng vai trò là người lãnh đạo, thường xuyên “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Đó là sự thận trọng, tỉ mỉ, đúng giờ trong công việc với tinh thần trách nhiệm cao.

   - Nêu gương cũng là dũng cảm đấu tranh với những biểu hiện “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; là phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về quyền lực địa vị, xa rời quần chúng của chính bản thân mình.

   3. Tăng cường trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo

   Một là, cần thấy rõ hơn nữa vai trò của nêu gương trong lãnh đạo.

   Về mặt nhận thức, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự bản thân mình nhận thức rõ “Nêu gương là công cụ lãnh đạo”. Nêu gương không phải là một hình thức hay phương pháp có tính chất tình huống trong lãnh đạo mà nêu gương là người lãnh đạo dùng những “tài” và “đức” của bản thân mình để gây ảnh hưởng, để lãnh đạo. Do đó, nêu gương là hiện thân của lãnh đạo. Để thể hiện vai trò là người lãnh đạo thì cán bộ, đang viên bằng hoạt động của mình phải đi trước “Đảng viên đi trước, làng nước đi sau”. Tức là người cán bộ, đảng viên phải đem những “phẩm chất mẫu”, “giá trị mẫu” từ lời nói và hành vi của mình để thực hiện vai trò dẫn dắt, thuyết phục, thúc đẩy, khai mở tâm - trí và đoàn kết các đảng viên, quần chúng, các tổ chức doanh nghiệp và người dân. Muốn vậy, phải quán triệt và thuấn nhuần Quy định số 08-QĐi/TW về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết  là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” mà cụ thể là 8 nội dung phải gương mẫu đi đầu thực hiện và 8 nội dung phải nghiêm khắc với bản thân kiên quyết chống của “Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

   Hai là, người lãnh đạo thường xuyên tự đánh giá nghiêm khắc về bản thân.

   Công cụ hoạt động của cán bộ, đảng viên chính là phẩm chất đạo đức và năng lực, vì thế bản thân họ cần phải biết rõ ưu điểm, hạn chế về tài năng và các phẩm cách của mình để qua đó mà học hỏi, tu dưỡng và rèn luyện để “công cụ nêu gương” luôn có sức hút, sức lan tỏa thuyết phục mạnh mẽ đến người dưới quyền và nhân dân.

   Phân tích, đánh giá bản thân, tức là coi trọng phương pháp “phê bình và tự phê bình”. Đó là lấy việc tự phân tích, đánh giá bản thân mình làm trọng và thông qua sự phê bình của người khác làm điều kiện để nhận thức về bản thân. Đồng thời cũng thông qua trách nhiệm với đồng chí của mình mà phê bình, giúp họ nhận thức đúng về bản thân họ.

   Phân tích và đánh giá đúng bản thân là cơ sở của việc phân tích, nắm bắt về “quyền lực cá nhân” của người cán bộ, đảng viên. Chỉ khi nắm bắt đúng về “quyền lực cá nhân” của mình thì cán bộ, đảng viên mới có thể sử dụng nó để gây ảnh hưởng đến cấp dưới, đến nhân dân nhằm thực hiện sứ mệnh lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước.

   Ba là, thường xuyên hoàn thiện nhân cách người lãnh đạo.

   Hoàn thiện nhân cách cũng là kỹ năng của người lãnh đạo. Lãnh đạo và kiểm soát bản thân là việc cán bộ, đảng viên định hướng, dẫn dắt và xây dựng cho bản thân mình những giá trị văn hóa cao đẹp, tránh xa những thói hư, tật xấu.

   Lãnh đạo và phát triển bản thân người lãnh đạo cần khiêm tốn, tự giác học hỏi, tu dưỡng và rèn luyện thường xuyên bản thân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu”.  Liên tục học hỏi, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng, thiết thực nhằm đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

   Các nhà lãnh đạo học Warren Bennis và Burt Nanus khẳng định rằng: “Quá trình trở thành nhà lãnh đạo cũng giống như quá trình trở thành một con người hoàn thiện vậy”.

   Bốn là, thực hành dân chủ, lắng nghe dư luận xã hội để điều chỉnh những giá trị nêu gương.

   Đối tượng lãnh đạo của hệ thống chính trị là nhân dân. Chính nhân dân là người chịu ảnh hưởng từ những giá trị nêu gương của lãnh đạo. Để nêu gương, người cán bộ, đảng viên cần có quá trình liên tục hoàn thiện những phẩm chất và năng lực của bản thân. Chính trong quá trình này, những lời nói và hành vi từ người dân lại là tấm gương phản chiếu lời nói và hành vi lãnh đạo. Để không ngừng nâng cao giá trị nêu gương, việc thực hiện tốt các cơ chế dân chủ, lắng nghe ý kiến từ dư luận tập thể, xã hội là rất cần thiết và rất quan trọng./.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 

   Trong xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về nội dung tự phê bình và phê bình. Theo Người, tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén để chiến đấu và chiến thắng với những sai lầm, khuyết điểm, là quy luật sống còn đối với sự tồn tại, phát triển của Đảng ta.

   Theo Người: "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau". Tự phê bình và phê bình theo tư tưởng của Bác là phải có quan điểm toàn diện, phải chú ý cả ưu điểm và khuyết điểm, phải kết hợp chặt chẽ cả hai mặt tự phê bình và phê bình. Điều này tưởng như đơn giản, nhưng trước kia cũng như hiện nay, đã có không ít cán bộ, đảng viên thường tiến hành phê bình một cách phiến diện, chỉ nêu khuyết điểm mà ít chú ý ưu điểm của đồng chí; chỉ đi phê bình người, mà ít quan tâm tới tự phê bình mình. Đây là căn bệnh phải kiên quyết khắc phục. Song, để khắc phục được nó, chắc chắn phải là một quá trình đấu tranh lâu dài, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm rất cao.

   Sinh thời, Bác Hồ kịch liệt phê phán thái độ "dĩ hòa vi quý", e dè nể nang, che dấu khuyết điểm, ngại đấu tranh phê bình. Người luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống thói "trước mắt thì nể, kể lể sau lưng". Người đã phân tích một cách sâu sắc, sinh động về thái độ nể nang, né tránh đấu tranh phê bình và tự phê bình rằng: "Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí  mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình!". Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, thái độ e dè, nể nang, né tránh tự phê bình và phê bình vẫn còn tồn tại ở một số đảng bộ, chi bộ. Nhìn chung, đảng viên ngại phê bình cán bộ và cán bộ cấp dưới ngại phê bình cán bộ cấp trên. Cá biệt, có trường hợp, cán bộ cấp dưới chẳng những không phê bình cán bộ cấp trên, mà còn nịnh nọt, tâng bốc cán bộ cấp trên để nhằm vụ lợi. Thực tế ở đại hội đảng bộ các cấp vừa qua cho thấy, thái độ né tránh tự phê bình và phê bình còn diễn ra ở một số đảng bộ, chi bộ. Đặc điểm nổi lên là, báo cáo chính trị của một số đại hội chủ yếu trình bày thành tích, ưu điểm, mà ít chú ý tới thiếu sót, khuyết điểm. Không khí thảo luận ở một số đại hội còn xuôi chiều, tán dương thành tích, tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình còn hạn chế.

   Để tự phê bình và phê bình đạt hiệu quả thiết thực, Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục đích, ý nghĩa của việc tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần nhấn mạnh, tự phê bình và phê bình là để cho mọi người học tập ưu điểm của nhau, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cùng nhau đoàn kết thống nhất, cùng nhau tiến bộ, trưởng thành. Theo Người, muốn đạt được mục đích cao đẹp nêu trên, thì khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi người cán bộ, đảng viên phải có động cơ, thái độ và phương pháp phê bình đúng; đồng thời, phải luôn gương mẫu trong thực hiện tự phê bình và phê bình. Người đã nhiều lần xác định, động cơ phê bình đúng là động cơ trong sáng, thái độ chân tình, hết lòng vì sự tiến bộ của đồng chí. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên: "Phê bình thì phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật - mục đích là cốt sửa chữa, chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ, chứ không phải làm cho đồng chí khó chịu, nản lòng".

   Về phương pháp phê bình đúng, Người chỉ rõ, cách phê bình phải sao cho "thấu lý, đạt tình", "Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa". Thực tế tiến hành tự phê bình và phê bình ở nhiều đảng bộ, chi bộ đã khẳng định rằng, chỉ có động cơ trong sáng, thái độ chân tình, mềm dẻo, lời lẽ thuyết phục, thì tự phê bình và phê bình mới đem lại hiệu quả cao.

   Người khuyên cán bộ, đảng viên phải có thái độ tiếp thu phê bình đúng mực, khi bị phê bình "phải vui lòng nhận xét để sửa đổi" và không vì bị phê bình mà "nản chí hoặc oán ghét". Theo Người, điều quan trọng là phải thành tâm sửa hết khuyết điểm và có nhiều biện pháp khắc phục hết sai lầm. Tiếp thu phê bình là khâu cuối cùng của quá trình tự phê bình và phê bình. Chúng ta đều biết rằng, cho dù có nội dung phê bình đúng, có động cơ phê bình tốt, có phương pháp phê bình hay, nhưng cán bộ được phê bình không thành thật tiếp thu, không tự giác sửa chữa khuyết điểm, thì phê bình không thể đạt được kết quả. Chính vì thế, tiếp thu phê bình đúng mực là vấn đề cực kỳ quan trọng. Để tiếp thu phê bình đúng mực, cán bộ, đảng viên được phê bình phải thực sự cầu thị, cầu tiến bộ, phải nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân mình để vừa loại bỏ tính chủ quan, bảo thủ; vừa loại bỏ tính tự ti, nản chí. Đối với đảng bộ, chi bộ, phải có lòng khoan dung, độ lượng, tìm mọi cách để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm. Đặc biệt, phải kịp thời cổ vũ động viên, trân trọng với những bước tiến nhỏ của cán bộ, đảng viên có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm. Thực hiện tốt các vấn đề trên, thì nhất định cán bộ, đảng viên sẽ tiếp thu phê bình đúng mực, hiệu quả tự phê bình và phê bình sẽ được nâng cao.

   Khi tiến hành phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên phải bình tĩnh, lời lẽ rõ ràng, nhẹ nhàng, tinh tế. Bất kỳ cán bộ cấp nào, khi tiến hành phê bình cũng không được dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc và phải chú ý chỉ phê bình việc làm sai, chứ không phê bình con người. Đặc biệt, trong tiến hành phê bình, chúng ta kiên quyết phản đối thái độ thiếu xây dựng, thái độ "đao to búa lớn", "truy chụp vu cáo", lợi dụng phê bình để moi móc, công kích. Khi tự phê bình và phê bình, mọi cán bộ, đảng viên cần chú ý chỉ rõ nguyên nhân thiếu sót, khuyết điểm; đồng thời, nêu rõ những biện pháp cụ thể để sửa chữa, khắc phục. Trên cơ sở thực hiện được tự phê bình và phê bình như vậy, nhất định đảng viên sẽ tiến bộ, tổ chức đảng sẽ vững mạnh, trưởng thành.

   Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Đảng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nỗ lực phấn đấu, rèn luyện toàn diện. Trong đó, vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết để góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ mới./.

NGHỆ THUẬT DÙNG MƯU TRONG TRẬN ĐÁNH CỦA THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO

 


Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu mà là hiểm yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên, xuống đồng bằng ven biển, vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định:

“Ta ghìm địch ở đầu mạnh (Bắc Tây Nguyên) để phá vỡ địch ở đầu yếu (Nam Tây Nguyên). Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Trong "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126" của tướng Giáp có viết: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất.

Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận"./.

Tỉnh táo trước tin nhắn, thông tin mạng xã hội “núp bóng” phòng, chống dịch Covid-19

 


Khi dịch bệnh Covid-19 kéo dài, nhiều công nhân, viên chức rơi vào tình cảnh thất nghiệp, hoàn cảnh khó khăn, Nhà nước đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ người dân và nhiều công nhân, viên chức, đồng thời thực thi các biện pháp chống dịch với quyết tâm cao nhất. Lợi dụng điều này, các đối tượng tội phạm công nghệ cao lợi dụng chúng tăng cường phát tán, lây nhiễm mã độc nhằm chiếm đoạt tài sản, tung tin bịa đặt gây hoang mang cho người dân nhất là trên các địa bàn có dịch.

Đánh cắp thông tin qua tin nhắn mạo danh hỗ trợ dịch Covid-19

Các đối tượng đã giả mạo email của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với nội dung “Công đoàn hỗ trợ tiền mặt cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19” và đề nghị toàn thể cán bộ, nhân viên trong các doanh nghiệp điền đầy đủ thông tin theo đường link có sẵn. Khi người dùng cung cấp các thông tin tài khoản cá nhân, hoặc click vào các đường link có chứa mã độc, kẻ gian sẽ xâm nhập hệ thống mạng doanh nghiệp đánh cắp thông tin tài khoản ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. Với hình thức nhắn tin vào số điện thoại, đối tượng tội phạm sẽ gửi tin nhắn mạo danh và giả mạo website của Bộ Y tế. Trong tin nhắn này, các đối tượng gửi kèm hướng dẫn hoàn tất thủ tục đăng ký xin trợ cấp kèm theo đường link dẫn đến website có giao diện giống website của Bộ Y tế và yêu cầu người dùng nhập thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng (username, password, OTP) để nhận trợ cấp. Nếu người dùng làm theo hướng dẫn, kẻ gian sẽ đánh cắp toàn bộ thông tin nhằm chiếm đoạt tiền trong tài khoản cá nhân. Hoặc là nhắn tin đề nghị nạn nhân cung cấp thông tin, hình ảnh cá nhân, giấy tờ tùy thân để nhận được tiền hỗ trợ ảnh hưởng của dịch Covid-19. Thực chất, các đối tượng tội phạm dùng thông tin của nạn nhân để làm hợp đồng vay tiền online của các công ty tài chính. Với thủ đoạn này, kẻ gian đã chiếm đoạt được tiền của các công ty cho vay tài chính, đồng thời biến các nạn nhân thành “con nợ” bất đắc dĩ.

Để tránh các hình thức lừa đảo liên quan đến mua bán, giảm giá các mặt hàng nhu yếu phẩm thiết yếu bán lẻ, các hoạt động từ thiện cứu trợ người dân trong vùng dịch… do tội phạm công nghệ cao thực hiện, NCSC khuyến cáo người dân chủ động thường xuyên truy cập vào các website chính thống của Bộ Y tế tại địa chỉ https://moh.gov.vn/ để cập nhật thông tin tin cậy, không tiếp cận thông tin từ những nguồn không chính thống. Người dùng internet cần nâng cao cảnh giác, đề phòng trước những nguy cơ lừa đảo đang ngày càng gia tăng trên không gian mạng.

 

Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CỐ THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN (25/10/1921-25/10/2021).

 Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.
Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.
Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".
Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.
Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.
Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.
Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.
Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.
Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Phản bác xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

 



Gần đây, khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)…

Những luận điệu xuyên tạc

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!).

Những kết quả không thể phủ nhận

Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an…

Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể trong Quy định 205-QĐ/TW. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Từ Quy định 105-QĐ/TW của Đảng, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

Ở TP Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã có chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị từ sinh viên các khá giỏi ở các trường đại học, các chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài… Rất nhiều sinh viên giỏi là con em của các gia đình nghèo từ nông thôn vào Thành phố học tập, nhờ học giỏi, phấn đấu tốt đã được lựa chọn, đào tạo và trưởng thành. Từ các chương trình này đã bổ sung một lực lượng lớn cho đội ngũ cán bộ và hiện nay có nhiều người đang đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị ở Thành phố.

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.