Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Cần cảnh giác với những thông tin xuyên tạc, kích động


          Thực ra thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn. Xét về phía cạnh pháp lý là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai.

          Về chiến thuật, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị vẫn triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

         Thế nhưng gần đây, thủ đoạn của họ lại nham hiểm hơn, tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu độc này.

         Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

         Trước mắt, cần công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế-xã hội của các ngành, các địa phương, nhất là hoạt động phòng, chống dịch, các hoạt động hỗ trợ nhân dân, an sinh xã hội để các thế lực thù địch không còn “cái cớ” để xuyên tạc, bôi đen sự thật. 

        Điều đáng phấn khởi là trong những ngày gần đây, số người nhiễm dịch Covid-19 ở nước ta ngày càng giảm, nền kinh tế từng bước được khôi phục, đời sống của nhân dân được cải thiện, tốt dần lên.

           Quan điểm chỉ đạo điều hành đất nước trong thời gian tới của Chính phủ đã được Thủ tướng khẳng định trước Quốc hội tại phiên khai mạc Quốc hội tuần qua là: Đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Phòng, chống dịch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; tiêm chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là đặc biệt quan trọng; đề cao ý thức, trách nhiệm, tính tự chủ của người dân, doanh nghiệp trong phòng, chống dịch.

         Vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và là câu trả lời đanh thép trước các thế lực thù địch rằng: Không thể bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Không thể xuyên tạc công tác an sinh xã hội tại Việt Nam

 

            Tuần qua, báo cáo trước Quốc hội về công tác phòng, chống dịch Covid-19, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến những khó khăn trong nước: “Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư ở nhiều địa phương với sự xuất hiện của biến chủng Delta có tốc độ lây lan rất nhanh, nguy hiểm hơn nhiều so với chủng gốc trước đây, lại xâm nhập sâu vào các trung tâm kinh tế, đô thị lớn... buộc chúng ta phải áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch chưa có tiền lệ, mạnh mẽ, quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu ưu tiên trước hết, trên hết là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân; từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh, sinh kế và đời sống nhân dân”.

          Trước những khó khăn đó, cả hệ thống chính trị của chúng ta đã vào cuộc để bảo đảm an sinh xã hội. Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết: Tính đến ngày 21-9-2021, tổng kinh phí đã hỗ trợ cho công tác an sinh xã hội là gần 13,8 nghìn tỷ đồng cho gần 17,6 triệu đối tượng, trong đó có 11,4 nghìn tỷ đồng được chi cho 23 tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng nhiều do dịch bệnh; xuất cấp 136.349,6 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho hơn 2,4 triệu hộ gia đình với gần 9,1 triệu nhân khẩu gặp khó khăn do dịch trên địa bàn 30 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng TP Hồ Chí Minh đã chi hơn 5.446 tỷ đồng (chiếm 40% toàn quốc) hỗ trợ hơn 4,81 triệu đối tượng (chiếm 27,3% toàn quốc) và trao 1,8 triệu túi an sinh xã hội cho người dân...

          Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, bà Nguyễn Thúy Anh, Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội khẳng định: “Chính phủ đã triển khai các biện pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội, tổ chức vận động, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và các nguồn lực xã hội của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho hoạt động phòng, chống dịch Covid-19. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm lương thực, thực phẩm đã được thực hiện kịp thời thông qua việc triển khai các chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19”.

          Trên thực tế, trong nhiều tháng qua, hàng triệu lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an và dân quân tự vệ đã tận tâm, tận lực chăm lo cho cuộc sống của người dân. Bộ đội làm lán trại tạm để ở, nhường doanh trại khang trang làm nơi ở cho người dân bị cách ly do ảnh hưởng của dịch Covid-19... Thế nhưng, một số đối tượng vẫn cố tình xuyên tạc công tác bảo đảm an sinh xã hội của chúng ta. Chúng tung trên mạng xã hội ảnh người chết ở nước ngoài rồi gán ghép rằng “đó là người chết trên đường phố Việt Nam”, “người chết đói ở Việt Nam”...

          Qua đợt dịch lần thứ tư, nhiều trường hợp tử vong do dịch bệnh bùng phát mạnh, đặc biệt là ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng chính sách hỗ trợ cho trẻ mồ côi do dịch Covid-19. Thế nhưng, một số đối tượng lại xuyên tạc chính sách nhân đạo này.

          Phát biểu ý kiến ở phiên thảo luận tại tổ của Quốc hội ngày 21-10, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, hiện nay cả nước có 2.580 cháu rơi vào tình trạng mồ côi do dịch Covid-19, trong đó có 80 cháu mất cả cha và mẹ. Có một số doanh nghiệp muốn thành lập các cơ sở nuôi dưỡng riêng; một số tổ chức quốc tế thì đăng ký đỡ đầu toàn bộ 80 cháu này.

          “Chúng tôi thì không khuyến khích việc này. Chúng tôi muốn các cháu có gia đình. Không còn bố mẹ thì còn ông bà, người thân, không còn người thân thì còn trách nhiệm Nhà nước”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhấn mạnh. Dự kiến Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam sẽ dành tiền mặt hỗ trợ trực tiếp cho các cháu ăn học, sẽ có chính sách đối với các cháu không còn người thân, còn trường hợp đặc biệt sẽ đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội.

          Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam sẽ hỗ trợ 5 triệu đồng cho các cháu còn cha hoặc mẹ. Với các cháu không còn cha lẫn mẹ thì hỗ trợ trực tiếp 20 triệu đồng bằng tiền mặt, bằng sổ tiết kiệm để hỗ trợ cho các cháu ăn học.

          Như vậy, chính sách đối với các cháu mồ côi do dịch Covid-19 rất rõ ràng và minh bạch. Điều này trái với ý kiến của một số người đã phát trên mạng xã hội rằng “Chính phủ Việt Nam bỏ rơi các cháu mồ côi do dịch bệnh”, “Việt Nam cản trở việc giúp đỡ các cháu mồ côi do dịch bệnh”...


Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin


Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài.

Nếu không đọc Luận cương của Lê-nin, chưa đến được với Chủ nghĩa Lê-nin, chưa trở thành người cộng sản chân chính thì quan điểm, tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa thể tạo ra bước ngoặt cách mạng, không có điều kiện để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và do đó, Người không thể đặt nền móng cho tư tưởng mác-xít đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái trên quê hương Tổ quốc Việt Nam.

Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin đã trang bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Người tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt lên phía trước mọi thiên kiến hẹp hòi, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, “gieo mầm cộng sản” trên quê hương Việt Nam.

Sự phát triển tư tưởng mác-xít ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là kết quả tất yếu của quá trình xâm nhập, thẩm thấu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; nhờ đó mà tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng quốc tế vô sản.

Mục tiêu cứu nước, cứu dân ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 được dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, vũ trang lý luận cho con đường đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, giúp họ thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Rõ ràng, với việc trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho đội ngũ cán bộ cốt cán ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã giúp họ hòa nhập vào cách mạng thế giới, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng mácxít-lêninnít kiểu mới, đội tiên phong của giai cấp công nhân, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.

Từ đây, tinh thần “biện chứng pháp” của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng. Các văn kiện thành lập Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo và các nghị quyết của Đảng ta soạn thảo từ năm 1930 đến nay đều thể hiện tinh thần sống động của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; vì sao chúng ta phải kiên định, trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới; không được mắc sai lầm trong nhận thức, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam sao cho phù hợp.

Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Vì sao Bộ Chính trị khóa XII lại ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với mục tiêu và ý nghĩa là phải bảo vệ bằng được thành trì lý luận chính trị của Đảng, bảo đảm cho kim chỉ nam của Đảng luôn chỉ đúng hướng và ngày càng chi phối, thấm sâu vào tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và đời sống tinh thần xã hội.

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước

Trải qua hơn 91 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố và tăng cường. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. Dẫu vậy, các thế lực phản động, thù địch vẫn không ngừng mọi thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng. Đấu tranh với những luận điệu sai trái đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, không chỉ để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, mà còn là bảo vệ cuộc sống của nhân dân. ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, HẠ THẤP UY TÍN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC HIỆN NAY Một trong những thủ đoạn chống phá Đảng và chế độ ta mà các thế lực thù địch triệt để sử dụng trong bối cảnh, tình hình mới là tung tin xuyên tạc, hạ thấp uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vào những dịp như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; công tác bổ nhiệm,luân chuyển sau Đại hội; những khó khăn, phức tạp liên quan đến tình hình dịch bệnh COVID-19... là cơ hội để chúng ráo riết tìm mọi cách tấn công trực diện vào công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ cấp cao. Thông qua Internet và mạng xã hội, với những kịch bản được chuẩn bị khá kỹ,chúng đã tổ chức các “cấp độ” chiến dịch vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ có thể nói là khá bài bản. Thể hiện ở một số khía cạnh sau: Một là, không chỉ bằng những thông tin, hình ảnh cắt ghép, sai lệch, lẫn lộn thật-giả, chúng còn sử dụng những phát ngôn, bình luận của một số “chuyên gia” và “học giả” bất mãn để “lập luận” quy chụp, biến không thành có, có “ít suýt ra nhiều”, gây hoài nghi trong dư luận, tạo hiệu ứng tiêu cực trong tâm lý, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân và cán bộ thiếu bản lĩnh. Hai là, chúng lợi dụng, kích động hoặc mua chuộc một số đối tượng bất mãn, bất hảo để tung đơn thư nặc danh, mạo danh trên các trang mạng xã hội; lan truyền những thông tin sai trái nhằm kích động chia rẽ nội bộ; bôi nhọ danh dự, nhân phẩm những cán bộ trong nguồn quy hoạch; xuyên tạc quan điểm, ý kiến chỉ đạo,định hướng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước những vấn đề quan trọng, nhạy cảm của đất nước và xã hội... Đồng thời tạo ra hàng loạt bình luận (comnent) tiêu cực nhằm gây nhiễu loạn, hoài nghi trong dư luận, khiến không ít người bị rơi vào “trận đồ bát quái” - không hiểu đúng sai thế nào! Ba là, chúng thêu dệt, bịa đặt về nguồn gốc xuất thân, gia đình cũng như bản thân cán bộ lãnh đạo cấp cao, trong đó hầu hết là những nội dung theo kiểu “thâm cung bí sử”, đen tối, tiêu cực... để rồi quy chụp rằng mọi bí ẩn, khuất tất, xấu xa đều liên quan đến cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng lu loa rằng dân chủ ở Việt Nam chỉ là “chiếc bánh vẽ”, đồng thời để hạ thấp uy tín đại biểu Quốc hội, chúng rêu rao “tất cả những người mà được gọi là đại biểu quốc hội đều được lựa chọn quyết định từ trước, bầu cử chỉ là hình thức”. Bốn là, các thế lực phản động, thù địch luôn “nhấn mạnh” cái gọi là “nguyên nhân của những tiêu cực” xuất phát từ công tác nhân sự. Chúng đưa ra các bài viết, phỏng vấn, trao đổi, bình luận với những luận điệu như: công tác nhân sự của Đảng, nhất là nhân sự cấp cao “là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”, “theo lợi ích nhóm”… công tác nhân sự trong Đảng chỉ là sự ngụy tạo, chỉ là hợp thức hóa, là dịp để hội hè, tốn kém tiền bạc của nhân dân, còn nhân sự đã được sắp đặt theo lợi ích nhóm!”(1). Cùng với đó, chúng cho rằng “cán bộ lãnh đạo của Đảng là nhóm người đặc quyền đặc lợi”, “tự cho mình cái quyền được ban phát quyền lực, bổng lộc, chức tước, biến quyền lực của nhân dân thành quyền lực của mình”(2)... Vẫn là “mô-típ” cũ, những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của đội ngũ cán bộ nói chung, lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói riêng trong tình hình hiện nay chỉ là “phần nổi của tảng băng”, nguy hiểm và sâu xa hơn - điều mà các thế lực thù địch, phản động nhắm đến chính là “tung hỏa mù” để gây nghi ngờ, hoang mang trong dư luận, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Bằng tri thức lý luận và từ thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước, chúng ta hoàn toàn có cơ sở và luận cứ khoa học để đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch. Thứ nhất, không phải chỉ ở Việt Nam, mà mỗi đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, đều phải bầu ra bộ máy lãnh đạo của mình và phải tiến hành công tác lựa chọn, bầu cử ra đội ngũ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu dưới hình thức dân chủ trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là công việc quan trọng và được tiến hành theo quy định, quy trình chặt chẽ. Thứ hai, quán triệt những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, công tác nhân sự của Đảng ta luôn được tiến hành theo đúng quy định, quy trình chặt chẽ, nghiêm túc, công tâm, khoa học, dựa trên các nguyên tắc xây dựng Đảng và sự đồng thuận của nhân dân. Thứ ba, những cán bộ được giới thiệu, bầu vào các vị trí chủ chốt của Đảng, Nhà nước trong nhiệm kỳ Đại hội XIII nhìn chung đều được đào tạo bài bản, trải nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm. Thứ tư, Đảng ta luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đáng. Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và “không có vùng cấm” của Đảng. Đại hội XIII của Đảng xác định: “... phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(3). Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thứ tư, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thứ năm, xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của đội ngũ lãnh đạo Đảng, Nhà nước - như những luận điệu sai trái mà các thế lực thù địch, phản động tung ra. Nguồn: Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương./. _____________________

Người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin bén rễ vào cách mạng Việt Nam

 Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.


Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, lại tận mắt chứng kiến cảnh thất bại của phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành tuy rất khâm phục các bậc tiền bối, song anh quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới. Anh đã sang châu Âu, đến các nước Pháp, Anh, nơi chủ nghĩa tư bản tự cho mình là trung tâm kinh tế, văn hóa thế giới, có sứ mệnh “khai hóa cho các nước chậm phát triển”, để xem các nước ấy “làm ăn” như thế nào, cái gì ẩn chứa đằng sau khẩu hiệu “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào ta đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trải qua gần 10 năm bôn ba, nhờ tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những biến động xảy ra ở trời Âu và tội ác của giai cấp bóc lột ở nhiều nước trên thế giới; với sự cầu thị, ham học hỏi, vốn sống, kinh nghiệm đã tích lũy và trình độ ngoại ngữ ngày càng thông thạo, Nguyễn Ái Quốc đã có thêm những nhận thức mới.

Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những nhận xét, kết luận hữu ích, tìm thấy những tinh hoa tốt đẹp cần tiếp thu và cả những gì là hạn chế, bất cập cần phải khắc phục. Vì thế, tình yêu quê hương, ý thức dân tộc và giai cấp ở Nguyễn Ái Quốc từng bước phát triển; các mối quan hệ được mở rộng; ý thức đoàn kết, hợp tác quốc tế được nâng cao.

Đó là hành trang cần thiết để Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản chân chính. Năm 1920, Người đã đọc được Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo).

Bản Luận cương là lời giải đáp đầy đủ, sâu sắc và thuyết phục nhất đối với Người về những câu hỏi mà bấy lâu trăn trở, tìm tòi, khát vọng tìm kiếm. Người viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(1).

Bảo vệ nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta
Ảnh minh họa: TTXVN. 

Tiếp nhận thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp khoa học của bản Luận cương Lê-nin là luồng sinh khí mới, lại tích cực tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản.

Đó là bước nhảy vọt về chất trong nhận thức của Người, là một sự kiện đặc biệt trọng đại, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, quyết định tầm nhìn, quan điểm, lập trường; sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự hội tụ, kết tinh ý chí, khát vọng và là tinh thần của cả một dân tộc; phản ánh tâm nguyện của nhiều bậc tiền bối, các sĩ phu yêu nước nhưng chưa có điều kiện thực hiện.

Ngoài việc công khai phát biểu ý kiến khẳng định vai trò tiên phong của lý luận khoa học và sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quần chúng nhân dân lao động, Nguyễn Ái Quốc còn kêu gọi Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề thuộc địa. Để vạch mặt và tố cáo tội ác của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và xuất bản Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) do Người trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Với sự ra đời của tờ báo ấy, việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và các dân tộc thuộc địa ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn. Từ đây, tư tưởng giải phóng con người, nhất là giải phóng nhân dân các nước thuộc địa ở Hồ Chí Minh đã hình thành rõ nét và không ngừng phát triển; được truyền bá ngày càng sâu rộng vào các nước thuộc địa, được dân chúng đón nhận và đi theo.

Tiếp cận và hiểu đầy đủ, sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng Chủ nghĩa Mác-Lênin, giá trị và ý nghĩa Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra trong thời gian Nguyễn Ái Quốc công tác, học tập ở Liên Xô (1923-1924), tham dự Hội nghị Quốc tế Công hội đỏ.

Sau đó, Nguyễn Ái Quốc vào học lớp bồi dưỡng lý luận tại Trường Đại học Phương Đông. Tại quê hương của Lê-nin vĩ đại, Người đã nhiều lần phát biểu ý kiến ca ngợi Lê-nin, ca ngợi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.

Người đã nghiên cứu bộ sách "Tư bản" của C.Mác và "Chính sách kinh tế mới" của Lê-nin, cùng với đó, tham khảo những bài học kinh nghiệm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước xô viết và viết tác phẩm "Nhật ký chìm tàu" để tuyên truyền giá trị, ý nghĩa của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Người đã rút ra kết luận: Việt Nam muốn giành độc lập dân tộc không có con đường nào khác là phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Lênin.

Nguyễn Ái Quốc đã tới Quảng Châu (Trung Quốc), ở đó, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, ra Báo Thanh niên và mở lớp đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(2). Đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ cấp bách của người cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc.

Có thể nói rằng, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Người phân tích, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới, tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định những nội dung cốt lõi của Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu và truyền bá sâu rộng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quảng đại quần chúng nhân dân. Các văn kiện đó đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta.

Tổng kết kinh nghiệm, thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thắng lợi của chúng ta, trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người coi Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là “cái cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì lẽ đó, Người đánh giá rất cao cống hiến vĩ đại của Lê-nin đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. 


Ép 'thế chấp' ảnh khỏa thân khi vay nặng lãi

HÀ NỘINguyễn Thị Vân Anh yêu cầu khách hàng có nhu cầu vay lãi nặng phải thế chấp chứng minh thư và ảnh, video khỏa thân. Ngày 25/10, Vân Anh, 29 tuổi cùng chồng là Đào Quốc Huy và Bùi Ngọc Thủy (37 tuổi), Khương Thị Tuyến (29 tuổi) bị Công an quận Nam Từ Liêm khởi tố về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Riêng Vân Anh bị khởi tố thêm tội Cưỡng đoạt tài sản. Theo điều tra, từ cuối tháng 12/2020, vợ chồng Vân Anh tham gia các nhóm kín về mua bán dâm trên mạng xã hội để quảng cáo cho vay lãi nặng theo hình thức "bốc bát họ". Vân Anh đề nghị người có nhu cầu phải chụp chứng minh thư cùng ảnh chân dung, ảnh giao diện tài khoản mạng xã hội và đặc biệt là ảnh khỏa thân. Ai không đáp ứng được các điều kiện trên thì phải cung cấp mật khẩu điện thoại thế chấp hoặc tên đăng nhập, mật khẩu tài khoản mạng xã hội, tài khoản icloud. Đến hạn không trả, vợ chồng Vân Anh sẽ dùng những tài liệu "nhạy cảm" này để uy hiếp khách hàng. Hành vi của nhóm này khiến nhiều người khốn đốn. Một trong những nạn nhân là cô gái từ đầu tháng 5 đến nay đã vay 7 lần, tổng cộng 163 triệu đồng, lãi suất 10.000-20.000 đồng/triệu/ngày, với hình thức "bốc bát họ". Cô bị Vân Anh đe dọa sẽ tung ảnh, video nhạy cảm lên mạng xã hội và gửi cho người thân nếu không trả đủ. Khi bị bắt trong một vụ mua bán dâm, cô gái khai phải làm công việc này để có tiền trả lãi vay. Từ đây, đường dây của Vân Anh bị phát hiện. Theo cảnh sát, nhóm Vân Anh cho 989 người vay lãi nặng với số tiền hơn 5 tỷ đồng, lãi suất 146-730%. Họ đã thu lãi cùng gốc của 779 người, hưởng lợi hơn 1,3 tỷ đồng.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo- người có ba công lớn

Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (1921-2008) được biết đến là một vị tướng giỏi trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, bậc thầy của nghệ thuật dụng binh. Trong cuộc đời binh nghiệp, ông từng đúc kết: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra đời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

Đại tá khi mới 27 tuổi          

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (tên khai sinh là Tạ Thái An), sinh ngày 25-10-1921. Cha ông là Tạ Quang Khai, mẹ là Nguyễn Thị Tành làm nghề thợ may tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay xã Bảo Khê thuộc TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên). Cha ông do tham gia phong trào yêu nước nên bị thực dân Pháp lùng bắt, vì vậy gia đình ông đã rời bỏ quê hương lên sinh sống tại huyện Tràng Định (Lạng Sơn).

Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia Việt Minh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm.

Tháng 10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã được giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới 27 tuổi. Từ Tư lệnh Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm 1950, Đại tá Hoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là một bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội. Năm 1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).

Bậc thầy nghệ thuật dụng binh

Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánh xuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Ý kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức ủng hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phía bắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộng hòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn 23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinh điển ở Pleiku chính là yếu tố then chốt giúp Quân giải phóng giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định: “Ta ghìm địch ở Bắc Tây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tài nghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

 Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo là vị tướng trẻ, được “cắm chốt nằm vùng” suốt 10 năm ở núi rừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn võ song toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủ động dùng chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinh hồn bạt vía, hoang mang hoảng loạn, vội vàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ người ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắc đến danh tướng Hoàng Minh Thảo - một nhà cầm quân tài năng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tài năng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.

Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) từng nêu rõ: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất, ông là một vị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Thảo đã thay ông Nguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng được Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổ chức huấn luyện du kích rất giỏi, sau ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai, ông làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên. Thứ ba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng)...

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự năm 1986, Nhà giáo Nhân dân năm 1988. Ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo Biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam.

ST


Xây dựng chiến lược tổng thể ứng phó Covid-19

Bộ Y tế tiếp thu ý kiến, sớm hoàn thiện dự thảo Chiến lược tổng thể ứng phó hiệu quả đại dịch Covid-19 trong tình hình mới, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu. Tại cuộc họp chiều 25/10, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế trình Chính phủ dự thảo nêu trên đồng bộ với Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Theo Bộ Y tế, các giải pháp trong Chiến lược tổng thể ứng phó hiệu quả đại dịch Covid-19 (chiến lược) nhằm đạt bốn mục tiêu lớn: Giảm tỷ lệ người mắc Covid-19; tăng tỷ lệ bao phủ vaccine; giảm tỷ lệ tử vong; phục hồi phát triển kinh tế gắn với kiểm soát dịch bệnh. Chiến lược dự kiến thực hiện trong 2 năm, sau đó điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Nhiều đại biểu góp ý chiến lược phải nêu được mục tiêu hàng đầu là bảo vệ sức khỏe người dân; thích ứng an toàn, linh hoạt; đưa đời sống sinh hoạt dần trở lại trạng thái bình thường mới. Phương châm là "thống nhất Trung ương, linh hoạt địa phương". Việt Nam phấn đấu kiểm soát đại dịch sớm nhất, tranh thủ cơ hội, lợi thế để thu hẹp khoảng cách với các nước đi trước. Chiến lược cũng cần nhấn mạnh tinh thần khoa học, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ. Toàn bộ hệ thống y tế được tăng cường để sẵn sàng ứng phó với các biến chủng virus mới, cũng như đại dịch truyền nhiễm trong tương lai. Đại biểu đề xuất tiêu chí đánh giá mức độ an toàn để trở lại trạng thái bình thường mới cần bổ sung mức độ đồng thuận xã hội với chính sách đưa ra. Việt Nam cần chủ động nguồn vaccine, sinh phẩm, thuốc điều trị; việc giãn cách sẽ được thực hiện theo hướng hạn chế di chuyển, sinh hoạt của người dân. Cùng ngày, Bộ Y tế gửi công điện đến các địa phương, đề nghị xây dựng kế hoạch lập cơ sở điều trị người mắc Covid-19, trong đó đảm bảo số giường hồi sức cấp cứu (ICU) tại sơ sở khám chữa bệnh bao gồm cả y tế tư nhân. Việc này nhằm sẵn sàng đáp ứng tình hình dịch bệnh ở cấp độ 4. Các bệnh viện phải vừa điều trị bệnh nhân Covid-19, vừa điều trị bệnh khác. Quy định về thích ứng an toàn Covid-19 do Chính phủ ban hành ngày 11/10, phân loại bốn cấp độ nguy cơ gồm: Cấp 1 (nguy cơ thấp - bình thường mới), màu xanh; cấp 2 (nguy cơ trung bình), màu vàng; cấp 3 (nguy cơ cao), màu cam; cấp 4 (nguy cơ rất cao), màu đỏ. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, các tiêu chí để đánh giá cấp độ nguy cơ dịch bệnh là số ca nhiễm mới/100.000 dân/tuần; tỷ lệ tiêm vaccine; năng lực thu dung, điều trị. Đến ngày 21/10, Bộ Y tế công bố đánh giá cấp độ dịch bệnh của 63 tỉnh, thành, trong đó 26 tỉnh xanh, 37 tỉnh vàng, không có tỉnh cam và đỏ.

Thu phí chữa Covid

Một chiều, khi sang khu vực bệnh nhân đã hồi phục, tôi nghe thấy tiếng gọi: “Bác sĩ, bác sĩ, không nhận ra em à?”. Tôi quay lại. À, chị Phương, bệnh nhân giường số 16 cũ - buồng bệnh nhân nặng tôi phụ trách, nay chuẩn bị xuất viện. Tôi nhớ tuần trước đó, chị nằm bẹp thở oxy dòng cao, người nhễ nhại mồi hôi, buồn bã lo âu, luôn nói nhát gừng: "đói bụng", "khát", "uống nước". Đến độ tôi tưởng chị là người nước ngoài. Ở khu vực Bình Dương có nhiều người Đài Loan, Trung Quốc nằm viện, biết vài từ tiếng Việt. Tôi phải dỗ chị "gắng ăn uống để lấy sức". Thế mà chị đã hồi phục. Chị gọn gàng hẳn, mặt hồng hào tươi tỉnh, nói liền một hơi: "Ơn bác sĩ quá à, không có bác sĩ bữa trước tôi chết rồi". Một chị khác, nằm ở giường phía ngoài, đã ngoan ngoãn nghe theo lời khuyên của bác sĩ, bảo nằm nghiêng là nằm nghiêng, bảo nằm sấp là nằm sấp, không kêu than như vài bệnh nhân khác. Sáng hôm tôi đo cho chị, thấy oxy máu tốt quá, SpO2 lên 98%. Tôi giảm liều oxy thở xuống, một lúc sau quay lại đo, vẫn 98%. "Em đỡ nhiều rồi rồi nhé, mai cho chuyển sang buồng nhẹ hơn, sắp về được rồi", tôi bảo. Chị mỉm cười, giọng thì thào: Tôi sắp được về rồi hả bác sĩ, mừng quá trời. Vẻ mừng rỡ của người thoát chết nó ấn tượng ghê lắm, chính chị cũng không tin là có ngày về. Suốt vài tháng qua, mỗi đêm nằm xuống giường đi ngủ, tôi thầm cầu mong ngày mai được gặp lại các bệnh nhân ở khoa mình điều trị, chính tay tôi được viết bệnh án chuyển họ về khoa nhẹ. Tôi biết rồi đây những người may mắn thoát qua đại dịch, trong ký ức của họ sẽ là những bóng áo xanh, áo trắng không rõ mặt người, chỉ những giọng nói Bắc - Trung - Nam, ân cần bên họ lúc khó khăn nhất. Dịch lắng xuống, chính chúng tôi cũng mang theo về miền Bắc rất nhiều tình cảm. Đó là tình đồng bào. Chuyến đi chống dịch đem lại cho tôi cảm xúc lẫn lộn, khó tả. Nếu thoáng qua thì tôi thấy, trước cái chết mọi người đều bình đẳng, giàu cũng như nghèo. Nhưng trong tim tôi vẫn có điều bất ổn, đó là mọi nguồn lực trong xã hội chưa được huy động hết. Công việc chăm sóc bệnh nhân Covid-19 rất quá tải. Chỉ sau một đêm thôi, sáng ra, chúng tôi vào buồng bệnh, đúng là ngập trong chất thải. Phải mất rất nhiều công sức thì vệ sinh bệnh nhân mới tạm ổn. Nhiều bệnh nhân không chịu nổi cảnh ướt át ấy, luôn mồm gọi bác sĩ. Tôi nhớ một bác trung niên không nói được, cầm tờ 200 nghìn vẫy vẫy, chỉ vào cái bỉm dơ của mình. Đấy mới chỉ là công tác vệ sinh đơn giản như thay bỉm, thay dra giường. Công tác chăm sóc, thực hiện y lệnh còn rất nhiều việc nữa: vệ sinh răng miệng hàng ngày, rồi tiêm truyền thuốc, cho uống thuốc sao cho đúng giờ, đúng kỹ thuật. Vệ sinh chăm sóc các ống thông dạ dày, đường tiểu. Cao hơn nữa là thay băng, vô khuẩn catheter tĩnh mạch trung tâm, rồi xoay trở xoa bóp chống loét, vỗ lưng phục hồi chức năng hô hấp... Nếu bệnh nhân phải đặt ống thở máy, công tác chăm sóc còn nhân lên gấp bội. Ở khoa tôi, lúc bình thường, nếu có bệnh nhân thở máy thì phải cắt ra hai điều dưỡng chuyên chăm sóc một bệnh nhân thở máy, chưa kể bác sĩ cứ chốc lại phải đảo qua xem. Ví dụ sinh động nhất là hồi chúng ta chữa cho bệnh nhân số 91 - phi công người Scotland - anh em trong ngành thường nói vui, 91 người chăm một làm gì chẳng sống. Còn bây giờ, nhiều khi một người chăm 91. Thế nên giờ đây người ta rất sợ đặt ống thở máy. Thế mà anh bạn tôi, đang làm ở một bệnh viện tư vừa báo tin vui, một bệnh nhân của anh vừa cai được máy thở, "rút được ống thở, sống rồi!". Hỏi có bí quyết gì không, anh bảo: "Chẳng có bí quyết gì đâu, chỉ có chăm sóc thôi. Nhiều người chăm một người, chăm dữ lắm thì mới qua được". Điều đó nói lên rằng y tế công đang thực sự quá tải, nhà nước đang quá tải, cần có sự chung tay đóng góp của mọi nguồn lực trong xã hội để tháo gỡ. Cho y tế tư nhân tham gia điều trị Covid một cách chính thức, với chính sách công khai minh bạch, có giám sát là một giải pháp, thay vì để y tế công gánh vác toàn phần. Tôi tin đây là một giải pháp khơi dậy nguồn lực trong dân - từ cả hai phía cung và cầu, để y tế công tập trung sức còn lại cứu chữa cho những người có hoàn cảnh khó khăn, người không có tiền thuê dịch vụ điều trị riêng cho mình. Nếu cho phép thu phí điều trị bệnh nhân Covid thì bệnh viện tư nên được thu bao nhiêu? Theo tôi, do điều trị bệnh nhân Covid có đặc thù là nguy cơ lây nhiễm cao, nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ nên năng suất làm việc giảm, chưa kể các điều kiện khác về trang thiết bị, thuốc, vì vậy mức phí có thể cao hơn bảng giá điều trị thông thường. Mức phí dịch vụ điều trị Covid của bệnh viện tư có thể sẽ cao hơn bệnh viện công một cách hợp lý, người bệnh nếu có thẻ Bảo hiểm Y tế thì vẫn được khấu trừ phần chi trả của bảo hiểm. Như thế, tôi ước tính người mắc Covid điều trị tại bệnh viện tư sẽ phải chi thêm vài trăm nghìn một ngày nếu mức độ bệnh vừa, nằm phòng thường, cho đến vài triệu một ngày nếu bệnh nặng phải nằm phòng điều trị tích cực. Điều kiện kèm theo để đảm bảo công bằng là một bộ chính sách thông thoáng, minh bạch của Bộ Y tế. Có ý kiến sẽ bảo, cho tư nhân thu phí chữa Covid sẽ tạo ra bất bình đẳng trong xã hội. Tôi thì nghĩ, không có bình đẳng tuyệt đối trong xã hội, chúng ta có thừa nhận nó, cải tiến chính sách để góp phần điều chỉnh nó mới tạo ra bình đẳng hơn. Đại dịch vẫn còn tính bất định rất lớn, do đó, ngay từ bây giờ, chúng ta phải chủ động thiết kế một xã hội có thể sống chung với dịch, tích cực tìm ra sự chuyển hoán mới thay vì ngồi đợi mọi thứ sẽ trở lại như xưa. Đại dịch còn giúp chúng ta nỗ lực tìm ra cách thức làm việc hiệu quả, nhân văn hơn. Đưa y tế tư nhân vào cuộc là để cho một nhóm bệnh nhân có thu nhập cao sẵn sàng tự chi trả chi phí điều trị Covid, đây cũng là cách giúp tạo ra công bằng cho những người không có nhiều tiền.

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc bức tranh kinh tế- xã hội Việt Nam


          Thực ra thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn. Xét về phía cạnh pháp lý là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai.

          Về chiến thuật, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị vẫn triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”.

          Thế nhưng gần đây, thủ đoạn của họ lại nham hiểm hơn, tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu độc này.

          Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

          Trước mắt, cần công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế-xã hội của các ngành, các địa phương, nhất là hoạt động phòng, chống dịch, các hoạt động hỗ trợ nhân dân, an sinh xã hội để các thế lực thù địch không còn “cái cớ” để xuyên tạc, bôi đen sự thật. 

          Điều đáng phấn khởi là trong những ngày gần đây, số người nhiễm dịch Covid-19 ở nước ta ngày càng giảm, nền kinh tế từng bước được khôi phục, đời sống của nhân dân được cải thiện, tốt dần lên.

          Quan điểm chỉ đạo điều hành đất nước trong thời gian tới của Chính phủ đã được Thủ tướng khẳng định trước Quốc hội tại phiên khai mạc Quốc hội tuần qua là: Đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Phòng, chống dịch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; tiêm chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là đặc biệt quan trọng; đề cao ý thức, trách nhiệm, tính tự chủ của người dân, doanh nghiệp trong phòng, chống dịch.

          Vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và là câu trả lời đanh thép trước các thế lực thù địch rằng: Không thể bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Khát lao động

Hàng chục doanh nghiệp phía Nam tôi quen buộc phải thu hẹp quy mô hoặc tiếp tục tạm dừng sản xuất bởi cùng lý do: thiếu người làm. Trong dòng người từ Sài Gòn cuồn cuộn đổ về các tỉnh hai tuần trước có công nhân của nhà máy chúng tôi. Suốt đợt dịch, chúng tôi đã cố gắng hết sức bù đắp cho nhân viên trong khu phong tỏa bằng những đợt hỗ trợ định kỳ. Họ cảm động, nhưng chưa đủ, gần một nửa số công nhân đã hồi hương ngay trước ngày khởi động lại sản xuất. Công ty tôi thuộc số ít may mắn nhờ hơn nửa số công nhân còn lại. Nhưng hoạt động của chúng tôi và các đối tác, từ việc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho đến thị trường đầu ra bị đảo lộn. Các bạn hàng đang phải thông cảm cho nhau vì cùng cảnh thiếu người. Người lao động hồi hương đã kéo theo hệ lụy về năng suất lao động trong dài hạn. Không dễ để đào tạo được một công nhân lành nghề. Để họ thạo việc, doanh nghiệp cần ít nhất một năm. Để có lao động tay nghề cao cần ít nhất năm năm hay 10.000 giờ làm việc. Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO, năng suất lao động của công nhân Việt Nam đứng gần cuối bảng trong các nước ASEAN. Nếu giữ được mức tăng trưởng 5%-6% như trước dịch, Việt Nam chỉ hy vọng đạt trình độ tương đương với Phillippines vào năm 2038 và Thái Lan năm 2069. Sự chuyển đổi công việc mới sau hồi hương với tỷ lệ không nhỏ công nhân sẽ đòi hỏi tay nghề mới. Kỹ năng cũ của người thợ coi như xóa bài làm lại, và "hạn chót" để năng suất lao động cân bằng với các quốc gia lân cận thêm nguy cơ lùi xa hơn. Tình trạng khan hiếm nhân công còn ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Kịch bản giành giật lao động sẽ dẫn đến chi phí nhân công tăng vọt trước mắt và định hình mặt bằng mới cao hơn về lâu dài. Đã từng có tiền lệ như trong ngành tài chính ngân hàng, cơn sốt trên thị trường nhân lực hơn 10 năm trước để lại di chứng tới tận ngày nay. Từ thâm tâm, tôi mừng khi công nhân hồi hương. Gia đình là bệ đỡ và làm dịu những sang chấn tâm lý họ phải chịu đựng sau hơn 100 ngày phong tỏa. Nhưng tôi cũng cảm thấy có điều gì đó chưa ổn. Mỗi lao động chưa tìm thấy chỗ dựa từ chính doanh nghiệp, chế độ của mình. Trong nỗi lo toan về công việc, tôi tìm được một niềm vui. Tôi có cơ duyên kết bạn với tỷ phú Peter Vesterbacka, một trong 100 người có sức ảnh hưởng nhất thế giới năm 2011 của Time. Hơn năm năm qua, Peter dồn lực xây dựng đường hầm dưới biển dài hơn 100 km, nối liền Phần Lan và Estonia, tạo lên khu vực vịnh Finest - trung tâm phần mềm lớn dự kiến sẽ thu hút chất xám khắp thế giới. Tôi được ông chia sẻ kế hoạch dài hơi của chính phủ và bản thân để thu hút nguồn nhân lực cho đất nước. Phần Lan chỉ có dân số bằng một nửa TP HCM. "Mỗi cư dân luôn là tài sản quốc gia", ông nói, "ở Mỹ có đồng hồ hiển thị nợ công thì Phần Lan có đồng hồ dân số luôn công khai". Ông đang tìm kiếm và trao tặng những suất học bổng toàn phần cho học sinh quốc tế đến Phần Lan học trung học nhằm nhận lại nguồn nhân lực cao cấp trong 10 năm tới. Ông làm tôi nghĩ về vốn quý nhân lực, điều mà chúng ta chưa coi trọng đúng mức khi Việt Nam hôm nay còn đang ở cơ cấu dân số vàng. Hơn 30 năm mở cửa, hàng trăm ngàn doanh nghiệp mới và quy luật cung cầu trên thị trường lao động đã từng bước đẩy cao "mặt bằng lương tối thiểu". Nhưng lương chỉ là một yếu tố, người lao động xứng đáng được nhiều hơn thế, như điều kiện lao động và sự tôn trọng. Đáng tiếc, vẫn còn không ít doanh chủ chỉ coi người lao động như một công cụ đơn thuần. Vài năm trước, tôi cộng tác với công ty lớn trong ngành vật liệu xây dựng. Nhìn dàn xe sang của ban giám đốc, người ta rất dễ nghĩ họ là công ty thành đạt. Nhưng khi thăm nhà máy, tôi giật mình, công nhân không có đủ khẩu trang che bụi và trang thiết bị an toàn tối thiểu. Trong bữa tối tại nhà hàng sang trọng, họ lắc đầu khi tôi hỏi ngân sách mỗi năm cho đào tạo nhân sự. Vẫn còn không ít ông chủ nghĩ mọi thành bại chỉ do chính họ quyết định. Điều này không hẳn sai, nhưng chưa đủ. Nếu nhân viên được đối đãi tốt, sự cam kết lâu dài của họ làm mức thu nhập doanh nghiệp vượt khoảng 26% so với trung bình ngành, theo kết quả khảo sát của tổ chức nghiên cứu Taleo, Mỹ. Nhưng không thể chỉ trách các doanh chủ. Khu vực công nghiệp đóng góp gần 56% và dịch vụ đóng góp 35,7% vào GDP. Liệu sẽ có chính sách mới nào từ Tổng Liên đoàn Lao động hay Bộ Lao động Thương binh và xã hội khiến các công nhân muốn gắn bó với công xưởng? Sự thiếu hụt nhân công hiện giống như đoạn phim tua nhanh về tương lai, mô phỏng cho nhà nước và doanh nghiệp về tình trạng thiếu nguồn lao động Việt Nam phải đối mặt trong 15-20 năm nữa, khi trở thành "quốc gia già". Ở khía cạnh tích cực, tôi nghĩ đây là viên thuốc đắng nhưng dã tật. Thuốc liệu có giúp nhiều người ngộ ra về giá trị của nhân viên, coi trọng từng người làm công như người cộng sự?

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT!

 


V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.


Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.


Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.


Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.


Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:


1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.


2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.


4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.


5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta.

              XT st

Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19


          Đại dịch COVID-19 khởi phát từ cuối năm 2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đặt tên bệnh này là COVID-19. Đến thời điểm hiện tại, đại dịch đã ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Chỉ sau 2 năm bùng phát dịch, toàn thế giới đã có 242 triệu ca nhiễm, và đã cướp đi sinh mệnh của 4.91 triệu người.

         Đặc biệt, loại virus gây bệnh này lại liên tục biến chủng. Theo ông Sharon Peacock, giáo sư về sức khỏe cộng đồng và vi sinh tại Đại học Cambridge, Anh cho biết, càng nhiều người nhiễm COVID-19 thì virus Sars-CoV-2 càng có nhiều cơ hội phát triển và đột biến. Khi đột biến, nó lại tăng thêm khả năng tránh hệ miễn dịch và gia tăng tốc độ lây nhiễm. Ngày 14/5/2021, Hội đồng khoa học cố vấn cho Chính phủ Anh đã công bố mô hình dự đoán cho thấy, biến thể virus từ Ấn Độ có mức độ lây nhiễm cao hơn đến 50% so với biến thể được phát hiện tại Anh, mà biến thể ở Anh cũng đã có mức độ lây nhiễm cao hơn khoảng 60-70% so với virus SARS - CoV- 2 phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc hồi đầu năm 2020. Biến chủng Delta từ Ấn Độ vừa qua có tốc độ lây nhiễm cao hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều so với các dòng trước đây. Mới đây, đã phát hiện biến chủng Lambda tại Peru và Nam Mỹ.

          Khi đại dịch xảy ra, đã có những nhận thức và quan điểm rất khác nhau về xử lý dịch bệnh. Trung Quốc, quốc gia đầu tiên có những ca khởi phát đã che dấu, không công bố dịch bệnh; Mỹ và châu Âu không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của Virut Sars - CoV- 2, coi đó chỉ như bệnh cúm mùa, không cần giữ khoảng cách, kỳ thị với việc đeo khẩu trang, cho rằng, cứ để cho mọi người tự miễn nhiễm; Ấn Độ và các nước châu Phi đã chủ quan, tổ chức các sự kiện đông người như lễ hội, các cuộc vận động chính trị... Hậu quả là sau đó nhiều nước đã và đang phải đối mặt với tình trạng cực kỳ khó khăn trước sự gia tăng của các ca nhiễm bệnh và số người chết hàng ngày. Châu Á hiện là khu vực gia tăng nhiều ca nhiễm.

          Qua tình hình dịch bệnh ở một số quốc gia và ngay tại Việt Nam, có thể thấy rõ rằng virus lây lan hay được kiểm soát đều liên quan đến ý thức và hành vi của con người. Ở những nơi đông đúc nhưng người dân hiểu biết về dịch bệnh, có ý thức phòng bệnh tốt hơn thì sẽ giảm thiểu được những nguy cơ lây nhiễm. Ở Trung Quốc, các thành phố có mật độ dân số rất cao như Bắc Kinh, Thượng Hải, do thực hiện nghiêm ngặt các quy định phòng dịch, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so với các tỉnh Hồ Bắc, Đại Liên, những nơi có mật độ dân cư thấp hơn. Ở các nước châu Âu, khi chính quyền áp dụng lệnh phong tỏa, người dân tự giác đeo khẩu trang và tiêm chủng thì tỷ lệ nhiễm bệnh giảm đáng kể. Song, khi bắt đầu nới lỏng cách ly, mọi người đi lại nhiều hơn thì lập tức số ca nhiễm lại gia tăng trở lại như ở Nga, Pháp.

          Ở Việt Nam, khi dịch bùng phát, cả hệ thống chính trị và toàn dân cùng quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh với tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Bộ Y tế liên tục phát đi khuyến cáo nhắc nhở người dân tự bảo vệ mình và cộng đồng. Trong tình hình đó, cùng với sự nỗ lực của Chính phủ, của đội ngũ y bác sĩ, và những nguồn lực vật chất, chúng ta rất cần phải dùng đến sức mạnh của ý thức để cùng đẩy lui dịch bệnh này.

          Như vậy, ý thức được đề cập ở đây là sự nhận thức và hành động của cá nhân và cộng đồng để ứng phó trước đại dịch, được xem xét dưới góc độ ý thức xã hội, theo quan điểm duy vật biện chứng.

          Ý thức xã hội hay ý thức cá nhân đều nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh cơ sở đã sinh ra nó. Mặt khác, ý thức xã hội cũng có tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã hội. Nếu ý thức là đúng đắn, nó có tác dụng tích cực, thúc đẩy xã hội tiến lên. Ngược lại nếu ý thức đó là sai lầm, thì nó sẽ cản trở, kìm hãm, thậm chí phá hoại những thành quả mà cả cộng đồng đã nỗ lực xây dựng. Trong những trường hợp nhất định, ý thức có sức mạnh đặc biệt, là yếu tố quyết định tạo nên những kỳ tích trước những khó khăn cả về điều kiện vật chất và những giới hạn về sức lực của con người. Qua đó cho thấy, việc phát huy vai trò của ý thức trong bảo vệ cộng đồng và phòng chống dịch là việc làm cần thiết. Thực chất của việc phát huy vai trò của ý thức là tìm ra, khơi dậy, nâng cao ý thức tiến bộ, tích cực trong đời sống xã hội, tạo ra sức mạnh tinh thần cho công cuộc phòng chống dịch hiện nay ở nước ta.

          Để ý thức xã hội có tác dụng tích cực với đời sống thì phải đảm bảo rằng ý thức đó là đúng đắn, nghĩa là phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện tượng khách quan; ý thức ấy phải được phổ biến, thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân; ý thức đó phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc trong đời sống; tính tích cực, tự giác của chủ thể ý thức (các cá nhân, cộng đồng xã hội và lực lượng đóng vai trò là trung tâm của thời kỳ lịch sử ấy) cũng quyết định mức độ tác dụng của ý thức đến tồn tại xã hội.

          Như vậy, khi nhấn mạnh vai trò của ý thức xã hội trong việc phòng chống dịch COVID-19, trước hết chúng ta phải xây dựng nhận thức đúng, phải phát huy tính tích cực, sáng tạo, của ý thức, khai thác những xung lực tích cực từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Trên cơ sở đó, tìm con đường, biện pháp phát triển ý thức cá nhân để nâng cao ý thức xã hội, và thông qua ý thức xã hội được phát triển để điều chỉnh ý thức cá nhân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao nhất để đẩy lùi dịch bệnh. Ngoài ra, khi xem xét ý thức của con người chúng ta nên nhìn nhận ở cả bình diện nhận thức và ứng xử, bởi “chính vì con người quan hệ với khách thể bằng sự hiểu biết, bằng tri thức, cho nên phương thức quan hệ của con người đối với thế giới cũng được gọi là ý thức”(1). Lan tỏa những hành động đúng đắn, cao đẹp, đấu tranh phê phán, loại trừ những hành vi vô ý thức, đi ngược lại những nỗ lực của cộng đồng cũng là việc làm cần thiết.

          Nhìn lại chặng đường chống dịch vừa qua, có thể thấy rõ những tác động của dịch bệnh lên ý thức con người, đồng thời cũng thấy rõ những ảnh hưởng của ý thức xã hội, ý thức cá nhân tới cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Việt Nam.

          Đại dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và ý thức phòng chống dịch bệnh dần trở thành ý thức phổ biến trong toàn xã hội. Người dân thích ứng dần với cuộc sống thời dịch: đeo khẩu trang khi ra đường, tiết chế chi tiêu phòng lúc khó khăn, phòng bị trước cho việc phải đi cách ly hoặc phong tỏa. Mọi hoạt động của con người, từ cách đi lại, làm việc, học tập, giao tiếp, ăn uống cho đến các tập quán, truyền thống, thói quen... đều phải thay đổi để phù hợp với với việc “chống dịch như chống giặc” và trạng thái bình thường mới.

          Khi dịch bùng phát mạnh, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng đã làm việc với cường độ lao động căng thẳng với nỗ lực tột cùng cả về trí tuệ và sức lực để giành giật sự sống cho các bệnh nhân. Nhiều cán bộ chiến sĩ, các tình nguyện viên không quản ngại gian khổ, nguy hiểm tích cực khoanh vùng, truy vết, lập chốt bảo vệ, bố trí cho người đi cách ly và làm công tác tiếp tế, cứu trợ. Chính ý thức được nêu cao đó đã góp phần giúp chúng ta kìm chế được sự phát triển của dịch bệnh ở nhiều tỉnh thành: Hà Nội, Hải Dương, Nha Trang, Đà Nẵng, Bắc Giang, Bắc Ninh...

          Song, bên cạnh đó vẫn còn những bộ phận, cá nhân ý thức kém gây thêm khó khăn cho công tác chống dịch: Đó là việc thiếu trung thực trong khai báo y tế; không thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng dịch, chống đối người thi hành công vụ; trốn cách ly; không thực hiện nghiêm các yêu cầu dãn cách hoặc phong tỏa; đưa thông tin không đúng về tình hình dịch bệnh gây hoang mang trong dư luận và gây sức ép với các lực lượng phòng chống dịch; kích động mâu thuẫn trong cộng đồng, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước… Một số cơ sở y tế lúc đầu còn từ chối tiếp nhận người bệnh đi về từ vùng dịch hoặc có dấu hiệu nghi nhiễm, để người dân phải di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều, nguy có lây lan lớn hơn. Cùng với đó làsự chủ quan, lơ là, thiếu trách nhiệm trong phòng chống dịch từ cấp cơ sở ở một số địa phương cũng đã xảy ra. Nếu như lực lượng cơ sở “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, quản lý, giám sát được những người từng đi đến vùng có dịch hoặc kết thúc cách ly tập trung về địa phương thì sẽ không bỏ lọt các ca gây lây nhiễm. Ngoài ra, cũng phải nói đến sự thiếu chủ động, thiếu cương quyết chưa linh hoạt trong công tác quản lý ở một số địa phương. Trong quá trình duy trì trật tự xã hội thời dịch, có cán bộ còn cứng nhắc, yếu kém khi xử lý tình huống gây bức xúc trong dư luận...

          Tóm lại, thực tế đã cho thấy ý thức tốt hay kém đều tác động trực tiếp đến thành quả phòng chống dịch của toàn xã hội. Để tháo gỡ những cản trở về tư tưởng, ý thức, chúng ta cần lưu ý những chỉ dẫn quan trọng của nghĩa duy vật biện chứng: “Chừng nào hoạt động của con người là có mục đích, tức là hoạt động sống tích cực của nó được dẫn dắt bởi những quan niệm và hiểu biết về những đặc tính hiện thực của các khách thể, thì chừng đó con người thoát khỏi và đối lập với hiện thực khách quan”(2). Khi virus Sars - CoV- 2 còn là cái tất yếu thách thức loài người thì chỉ khi con người nhận thức đúng và chế ngự được nó thì con người mới được tự do. Và, khi chúng ta còn đang cần thời gian để làm được điều đó thì cần phải biết sống an toàn cùng nó. Ph. Ăngghen cũng từng nhấn mạnh: “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người”(3)[3]. Theo đó, thì rất cần thiết việc kiên quyết thống nhất ý chí, chấp hành theo những nguyên tắc chung của cộng đồng, những tất yếu trong xã hội, để có tự do và an toàn cho tất cả mọi người. Ngoài ra, còn phải kết hợp các biện pháp để đảm bảo cuộc sống, để động viên, khích lệ, đoàn kết, hỗ trợ để ý thức của con người được nâng cao và có nhiều sáng tạo mới.