Đại
dịch COVID-19 khởi phát từ cuối năm 2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc và Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) đã đặt tên bệnh này là COVID-19. Đến thời điểm hiện tại, đại
dịch đã ảnh hưởng nặng nề, sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Chỉ sau 2 năm bùng
phát dịch, toàn thế giới đã có 242 triệu ca nhiễm, và đã cướp đi sinh mệnh của
4.91 triệu người.
Đặc
biệt, loại virus gây bệnh này lại liên tục biến chủng. Theo ông Sharon Peacock,
giáo sư về sức khỏe cộng đồng và vi sinh tại Đại học Cambridge, Anh cho biết,
càng nhiều người nhiễm COVID-19 thì virus Sars-CoV-2 càng có nhiều cơ hội phát
triển và đột biến. Khi đột biến, nó lại tăng thêm khả năng tránh hệ miễn dịch
và gia tăng tốc độ lây nhiễm. Ngày 14/5/2021, Hội đồng khoa học cố vấn cho
Chính phủ Anh đã công bố mô hình dự đoán cho thấy, biến thể virus từ Ấn Độ có
mức độ lây nhiễm cao hơn đến 50% so với biến thể được phát hiện tại Anh, mà
biến thể ở Anh cũng đã có mức độ lây nhiễm cao hơn khoảng 60-70% so với virus
SARS - CoV- 2 phát hiện tại Vũ Hán, Trung Quốc hồi đầu năm 2020. Biến chủng
Delta từ Ấn Độ vừa qua có tốc độ lây nhiễm cao hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều
so với các dòng trước đây. Mới đây, đã phát hiện biến chủng Lambda tại Peru và
Nam Mỹ.
Khi đại
dịch xảy ra, đã có những nhận thức và quan điểm rất khác nhau về xử lý dịch
bệnh. Trung Quốc, quốc gia đầu tiên có những ca khởi phát đã che dấu, không
công bố dịch bệnh; Mỹ và châu Âu không đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của Virut
Sars - CoV- 2, coi đó chỉ như bệnh cúm mùa, không cần giữ khoảng cách, kỳ thị
với việc đeo khẩu trang, cho rằng, cứ để cho mọi người tự miễn nhiễm; Ấn Độ và
các nước châu Phi đã chủ quan, tổ chức các sự kiện đông người như lễ hội, các
cuộc vận động chính trị... Hậu quả là sau đó nhiều nước đã và đang phải đối mặt
với tình trạng cực kỳ khó khăn trước sự gia tăng của các ca nhiễm bệnh và số
người chết hàng ngày. Châu Á hiện là khu vực gia tăng nhiều ca nhiễm.
Qua
tình hình dịch bệnh ở một số quốc gia và ngay tại Việt Nam, có thể thấy rõ rằng
virus lây lan hay được kiểm soát đều liên quan đến ý thức và hành vi của con
người. Ở những nơi đông đúc nhưng người dân hiểu biết về dịch bệnh, có ý thức
phòng bệnh tốt hơn thì sẽ giảm thiểu được những nguy cơ lây nhiễm. Ở Trung
Quốc, các thành phố có mật độ dân số rất cao như Bắc Kinh, Thượng Hải, do thực
hiện nghiêm ngặt các quy định phòng dịch, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn nhiều so với
các tỉnh Hồ Bắc, Đại Liên, những nơi có mật độ dân cư thấp hơn. Ở các nước châu
Âu, khi chính quyền áp dụng lệnh phong tỏa, người dân tự giác đeo khẩu trang và
tiêm chủng thì tỷ lệ nhiễm bệnh giảm đáng kể. Song, khi bắt đầu nới lỏng cách
ly, mọi người đi lại nhiều hơn thì lập tức số ca nhiễm lại gia tăng trở lại như
ở Nga, Pháp.
Ở Việt
Nam, khi dịch bùng phát, cả hệ thống chính trị và toàn dân cùng quyết tâm đẩy
lùi dịch bệnh với tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Bộ Y tế liên tục phát
đi khuyến cáo nhắc nhở người dân tự bảo vệ mình và cộng đồng. Trong tình hình
đó, cùng với sự nỗ lực của Chính phủ, của đội ngũ y bác sĩ, và những nguồn lực
vật chất, chúng ta rất cần phải dùng đến sức mạnh của ý thức để cùng đẩy lui
dịch bệnh này.
Như
vậy, ý thức được đề cập ở đây là sự nhận thức và hành động của cá nhân và cộng
đồng để ứng phó trước đại dịch, được xem xét dưới góc độ ý thức xã hội, theo
quan điểm duy vật biện chứng.
Ý thức
xã hội hay ý thức cá nhân đều nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh cơ sở đã
sinh ra nó. Mặt khác, ý thức xã hội cũng có tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã
hội. Nếu ý thức là đúng đắn, nó có tác dụng tích cực, thúc đẩy xã hội tiến lên.
Ngược lại nếu ý thức đó là sai lầm, thì nó sẽ cản trở, kìm hãm, thậm chí phá
hoại những thành quả mà cả cộng đồng đã nỗ lực xây dựng. Trong những trường hợp
nhất định, ý thức có sức mạnh đặc biệt, là yếu tố quyết định tạo nên những kỳ
tích trước những khó khăn cả về điều kiện vật chất và những giới hạn về sức lực
của con người. Qua đó cho thấy, việc phát huy vai trò của ý thức trong bảo vệ cộng
đồng và phòng chống dịch là việc làm cần thiết. Thực chất của việc phát huy vai
trò của ý thức là tìm ra, khơi dậy, nâng cao ý thức tiến bộ, tích cực trong đời
sống xã hội, tạo ra sức mạnh tinh thần cho công cuộc phòng chống dịch hiện nay
ở nước ta.
Để ý
thức xã hội có tác dụng tích cực với đời sống thì phải đảm bảo rằng ý thức đó
là đúng đắn, nghĩa là phản ánh đúng bản chất, quy luật của hiện tượng khách
quan; ý thức ấy phải được phổ biến, thâm nhập vào đông đảo quần chúng nhân dân;
ý thức đó phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc trong đời sống; tính tích cực,
tự giác của chủ thể ý thức (các cá nhân, cộng đồng xã hội và lực lượng đóng vai
trò là trung tâm của thời kỳ lịch sử ấy) cũng quyết định mức độ tác dụng của ý
thức đến tồn tại xã hội.
Như
vậy, khi nhấn mạnh vai trò của ý thức xã hội trong việc phòng chống dịch
COVID-19, trước hết chúng ta phải xây dựng nhận thức đúng, phải phát huy tính
tích cực, sáng tạo, của ý thức, khai thác những xung lực tích cực từ tính độc
lập tương đối của ý thức xã hội, vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Trên cơ sở đó, tìm con đường, biện pháp phát
triển ý thức cá nhân để nâng cao ý thức xã hội, và thông qua ý thức xã hội được
phát triển để điều chỉnh ý thức cá nhân, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao nhất
để đẩy lùi dịch bệnh. Ngoài ra, khi xem xét ý thức của con người chúng ta nên
nhìn nhận ở cả bình diện nhận thức và ứng xử, bởi “chính vì con người quan hệ
với khách thể bằng sự hiểu biết, bằng tri thức, cho nên phương thức quan hệ của
con người đối với thế giới cũng được gọi là ý thức”(1). Lan tỏa những hành động
đúng đắn, cao đẹp, đấu tranh phê phán, loại trừ những hành vi vô ý thức, đi
ngược lại những nỗ lực của cộng đồng cũng là việc làm cần thiết.
Nhìn
lại chặng đường chống dịch vừa qua, có thể thấy rõ những tác động của dịch bệnh
lên ý thức con người, đồng thời cũng thấy rõ những ảnh hưởng của ý thức xã hội,
ý thức cá nhân tới cuộc chiến chống dịch COVID-19 của Việt Nam.
Đại
dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và ý thức phòng chống dịch bệnh dần trở
thành ý thức phổ biến trong toàn xã hội. Người dân thích ứng dần với cuộc sống
thời dịch: đeo khẩu trang khi ra đường, tiết chế chi tiêu phòng lúc khó khăn,
phòng bị trước cho việc phải đi cách ly hoặc phong tỏa. Mọi hoạt động của con
người, từ cách đi lại, làm việc, học tập, giao tiếp, ăn uống cho đến các tập
quán, truyền thống, thói quen... đều phải thay đổi để phù hợp với với việc
“chống dịch như chống giặc” và trạng thái bình thường mới.
Khi
dịch bùng phát mạnh, đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng đã làm việc với cường độ lao
động căng thẳng với nỗ lực tột cùng cả về trí tuệ và sức lực để giành giật sự
sống cho các bệnh nhân. Nhiều cán bộ chiến sĩ, các tình nguyện viên không quản
ngại gian khổ, nguy hiểm tích cực khoanh vùng, truy vết, lập chốt bảo vệ, bố
trí cho người đi cách ly và làm công tác tiếp tế, cứu trợ. Chính ý thức được
nêu cao đó đã góp phần giúp chúng ta kìm chế được sự phát triển của dịch bệnh ở
nhiều tỉnh thành: Hà Nội, Hải Dương, Nha Trang, Đà Nẵng, Bắc Giang, Bắc Ninh...
Song,
bên cạnh đó vẫn còn những bộ phận, cá nhân ý thức kém gây thêm khó khăn cho
công tác chống dịch: Đó là việc thiếu trung thực trong khai báo y tế; không
thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng dịch, chống đối người thi hành công
vụ; trốn cách ly; không thực hiện nghiêm các yêu cầu dãn cách hoặc phong tỏa;
đưa thông tin không đúng về tình hình dịch bệnh gây hoang mang trong dư luận và
gây sức ép với các lực lượng phòng chống dịch; kích động mâu thuẫn trong cộng
đồng, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước… Một số cơ sở y tế lúc đầu còn từ
chối tiếp nhận người bệnh đi về từ vùng dịch hoặc có dấu hiệu nghi nhiễm, để
người dân phải di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều, nguy có lây lan lớn hơn. Cùng
với đó làsự chủ quan, lơ là, thiếu trách nhiệm trong phòng chống dịch từ cấp cơ
sở ở một số địa phương cũng đã xảy ra. Nếu như lực lượng cơ sở “đi từng ngõ, gõ
từng nhà, rà từng người”, quản lý, giám sát được những người từng đi đến vùng
có dịch hoặc kết thúc cách ly tập trung về địa phương thì sẽ không bỏ lọt các
ca gây lây nhiễm. Ngoài ra, cũng phải nói đến sự thiếu chủ động, thiếu cương
quyết chưa linh hoạt trong công tác quản lý ở một số địa phương. Trong quá
trình duy trì trật tự xã hội thời dịch, có cán bộ còn cứng nhắc, yếu kém khi xử
lý tình huống gây bức xúc trong dư luận...
Tóm
lại, thực tế đã cho thấy ý thức tốt hay kém đều tác động trực tiếp đến thành
quả phòng chống dịch của toàn xã hội. Để tháo gỡ những cản trở về tư tưởng, ý
thức, chúng ta cần lưu ý những chỉ dẫn quan trọng của nghĩa duy vật biện chứng:
“Chừng nào hoạt động của con người là có mục đích, tức là hoạt động sống tích
cực của nó được dẫn dắt bởi những quan niệm và hiểu biết về những đặc tính hiện
thực của các khách thể, thì chừng đó con người thoát khỏi và đối lập với hiện
thực khách quan”(2). Khi virus Sars - CoV- 2 còn là cái tất yếu thách thức loài
người thì chỉ khi con người nhận thức đúng và chế ngự được nó thì con người mới
được tự do. Và, khi chúng ta còn đang cần thời gian để làm được điều đó thì cần
phải biết sống an toàn cùng nó. Ph. Ăngghen cũng từng nhấn mạnh: “Nếu như lợi
ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức, thì do đó, cần ra sức làm cho
lợi ích riêng của con người cá biệt phù hợp với lợi ích của toàn thể loài
người”(3)[3]. Theo đó, thì rất cần thiết việc kiên quyết thống nhất ý chí, chấp
hành theo những nguyên tắc chung của cộng đồng, những tất yếu trong xã hội, để
có tự do và an toàn cho tất cả mọi người. Ngoài ra, còn phải kết hợp các biện
pháp để đảm bảo cuộc sống, để động viên, khích lệ, đoàn kết, hỗ trợ để ý thức
của con người được nâng cao và có nhiều sáng tạo mới.