Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Đại biểu Quốc hội tranh luận về việc trang bị tàu bay cho Cảnh sát cơ động

 

Đại biểu QH tranh luận về việc trang bị tàu bay cho Cảnh sát cơ động

Nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ quan tâm quy định Cảnh sát cơ động được trang bị tàu bay khi thảo luận trực tuyến về dự án Luật Cảnh sát cơ động sáng nay (26/10).

Đại biểu Quản Minh Cường (Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai) cho rằng, việc Cảnh sát cơ động được sử dụng tàu bay đã được quy định trong Pháp lệnh Cảnh sát cơ động. 

Cụ thể, Cảnh sát cơ động được ưu tiên trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, tàu bay, tàu thủy, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ và trang thiết bị đặc chủng chuyên dụng hiện đại. 

Luật Hàng không do Quốc hội thông qua cũng đã nêu về hoạt động của tàu bay công vụ, bao gồm tàu bay quân sự, tàu bay chuyên dụng của lực lượng hải quan, công an và các tàu bay khác sử dụng cho mục đích công vụ nhà nước. 

Theo đại biểu, cách đây hơn 7 năm, Quốc hội đã đưa vào luật là lực lượng Hải quan, Công an có thể sử dụng máy bay, nên dự án luật Cảnh sát cơ động quy định không phải là mới. Thực tế cảnh sát Hoàng gia Thái Lan, Campuchia sử dụng máy bay trực thăng rất nhiều. 

Vừa qua, Thủ tướng và ngành Công an đã thành lập Trung đoàn Không quân trong lực lượng Cảnh sát cơ động. Do đó, vấn đề không phải Cảnh sát cơ động được sử dụng máy bay hay không, mà nếu nhiệm vụ yêu cầu phải sử dụng máy bay thì Cảnh sát cơ động phải sử dụng. 

Ông Cường cho rằng, không nên đặt vấn đề Cảnh sát cơ động sử dụng máy bay sẽ gây tốn kém, lãng phí về mặt tài chính mà vấn đề là sử dụng như thế nào, trong trường hợp nào và với lực lượng ra sao? 

Ngoài ra, khi lực lượng này sử dụng máy bay, cần quy định rõ việc huấn luyện, quy chế phối hợp với lực lượng quân đội, vấn đề quản lý không lưu, đường bay…

“Cảnh sát cơ động phải đối mặt với tội phạm nguy hiểm, sử dụng trang thiết bị hiện đại như tội phạm buôn bán ma túy nên sử dụng máy bay là cấp thiết và cần thiết. 

Không lẽ thành lập Trung đoàn Không quân của Công an lại đi mượn máy bay thì buồn cười quá”, ông Cường nêu ý kiến.

Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam Đỗ Ngọc Thịnh bày tỏ đồng tình Cảnh sát cơ động là lực lượng chống khủng bố, bạo loạn, lực lượng nòng cốt, quan trọng nhất của công an. 

Vì vậy không thể nói vì tiết kiệm mà không trang bị tàu bay, tàu thủy cho lực lượng này, vì khi ngăn chặn được bạo động, khủng bố, cứu người thì giá trị không thể đo đếm được. 

Hơn nữa, kinh nghiệm quốc tế là phải trang bị cho Cảnh sát cơ động hiện đại nhất. Nếu Việt Nam không phản ứng kịp thời thì không theo kịp tình hình chung. 

Cần cân nhắc kỹ

Song, theo đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp), lực lượng phòng không, không quân, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, kiểm ngư đã có tàu bay và tàu biển. 

“Tại sao chúng ta không phối hợp, sử dụng phương tiện kỹ thuật này khi cần thiết? Tôi nghĩ rằng quân đội sẵn sàng hỗ trợ tích cực, đắc lực cho lực lượng công an, lực lượng cảnh sát cơ động để thực hiện nhiệm vụ”, ông Hòa nói.

Đại biểu tỉnh Đồng Tháp băn khoăn rằng nếu chuẩn bị tàu bay, tàu biển cho lực lượng cảnh sát cơ động thì phải trang bị kỹ thuật, sân bay riêng…, trong khi điều kiện đất nước đang rất khó khăn.

Tranh luận với đại biểu Hòa, đại biểu Đặng Hồng Sỹ (Bình Thuận) cho hay nên sử dụng phương tiện tàu bay hiện có của quân đội để thực hiện nhiệm vụ, nhưng ông Sỹ nói "như vậy là không phù hợp" vì nhiệm vụ chính của Cảnh sát cơ động là bảo đảm an ninh trật tự và xử lý các vụ việc mất an ninh trật tự địa phương, chống bạo loạn khủng bố. 

Nếu huy động lực lượng quân đội tham gia thì không phù hợp với nhiệm vụ của lực lượng công an, đặc biệt là Cảnh sát cơ động, vì các thế lực thù địch có thể lợi dụng chống phá. 

Ông Sỹ đề nghị nên giữ nguyên như dự thảo là Cảnh sát cơ động được sử dụng tàu bay, dù kinh phí tốn kém nhưng khi Cảnh sát cơ động tiến lên hiện đại là cần thiết, nhằm chủ động trong các tình huống xảy ra.

Đại biểu Phạm Đức Thắng cũng tranh luận với đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh. Ông Thắng khẳng định cần sử dụng máy bay trong một số tình huống đặc biệt, lực lượng có thể phối hợp với quân đội, các lực lượng khác khi thực hiện nhiệm vụ là phù hợp. 

Tuy nhiên vấn đề là có cần trang bị máy bay riêng hay không là vấn đề khác nhau. Ông Phạm Đức Thắng mong Quốc hội cân nhắc kỹ, có thể lấy ý kiến đại biểu trước khi quyết định vì nó tác động lớn, tiêu tốn nhiều nguồn lực quốc gia. 

“Không phải tiết kiệm là không trang bị, mà có phương tiện tốt rồi thì phát huy công năng nhiều hơn nữa”, đại biểu Thắng nói.

Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho hay, về nhiệm vụ của Cảnh sát cơ động, để đảm bảo tính ổn định và nâng cao hiệu quả, hiệu lực thực thi, dự thảo luật xác định 7 nhóm nhiệm vụ của Cảnh sát cơ động. Trong đó bao gồm nhiệm vụ chủ trì và nhiệm vụ phối hợp để đảm bảo các cơ sở pháp lý cho việc điều động, sử dụng lực lượng Cảnh sát cơ động.

Bộ trưởng Công an lấy ví dụ, những trường hợp của tội phạm lợi dụng các phương tiện này để có thể mang chất nổ, chất hóa học, sinh học phá hoại và gây nguy hại cho các mục tiêu mà lực lượng trực tiếp bảo vệ nhưng do không được quyền ngăn chặn mà chờ lực lượng khác đến xử lý sẽ gây hậu quả nhiều mặt, nhất là các mục tiêu quan trọng về chính trị, ngoại giao. 

Do vậy, để đảm bảo cơ sở pháp lý cho Cảnh sát cơ động trong việc chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ trong trường hợp các phương tiện này trực tiếp tấn công, xâm phạm hoặc đe dọa tấn công, xâm phạm các mục tiêu cần bảo đảm tuyệt đối an toàn các mục tiêu được giao vũ trang canh gác bảo vệ. Cần quy định thẩm quyền này cho Cảnh sát cơ động tại dự thảo luật. 

 

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Trung Quốc bị tố quấy rối Malaysia, Indonesia khai thác dầu khí ngoài khơi

 

Trung Quốc bị tố quấy rối Malaysia, Indonesia khai thác dầu khí ngoài khơi

Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) cho biết, các lực lượng hải cảnh và dân quân biển của Trung Quốc đang ngăn cản, quấy rối Malaysia và Indonesia khai thác dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi.

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng ngày 25/10 dẫn lời AMTI cho hay, tàu thuyền Trung Quốc đã quấy rối các tàu dân sự ở những mỏ dầu khí của Malaysia trên Biển Đông hàng ngày trong suốt 2 năm qua.

Theo Greg Poling, Giám đốc AMTI thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế, hải cảnh Trung Quốc đang hướng tới “kiểm soát” cụm bãi cạn Luconia, nơi công ty dầu khí quốc gia Petronas của Malaysia có một số mỏ dầu và khí đốt. Ông Poling nói, lực lượng Trung Quốc đã quấy rối các tàu tham gia “bất kỳ hoạt động thăm dò hoặc khoan mới nào” tại đây.

Cụm bãi cạn Luconia là một vùng biển gồm nhiều đảo nhỏ và rạn san hô, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế khoảng 400km mà Malaysia tuyên bố chủ quyền ở phía nam Biển Đông. Khu vực cách bờ biển Bintulu ở Sarawak khoảng 200km này là nơi tọa lạc của mỏ khí đốt Kasawari, ước tính trữ lượng  gần 85 tỷ m3, đang được Petronas khai thác.

Tuần trước, Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah nhận định, sẽ có thêm nhiều tàu thuyền Trung Quốc "xâm phạm" vùng biển Malaysia chừng nào Petronas còn khai thác ở Kasawari.

Trong một thư điện tử hồi đáp các câu hỏi của trang This Week in Asia, Giám đốc AMTI nói, các tàu Trung Quốc "đang hành xử một cách nguy hiểm và cố ý tạo nguy cơ va chạm" để ngăn cản các tàu tiếp tế đang phục vụ các giàn khoan của Malaysia. Theo ông Poling, nếu các tàu Malaysia không lùi bước, Trung Quốc sẽ điều động một tàu khảo sát đáy biển bất hợp pháp trong lãnh hải Malaysia dưới sự hộ tống của “một đội đông đảo tàu dân quân biển và một số lượng tàu hải cảnh ít hơn".

Trong năm nay, Chính phủ Malaysia đã 2 lần triệu tập Đại sứ Trung Quốc tại Kuala Lumpur tới để phản đối các hoạt động của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Ngoài ra, theo ông Poling, hải cảnh Trung Quốc gần đây cũng bắt đầu quấy rối các hoạt động khai thác của Indonesia tại mỏ dầu khí tại khu vực lô Tuna ở Natuna. Trước đây, hai nước thường xuyên đụng độ vì quyền đánh bắt cá quanh quần đảo Natuna, một vùng biển giáp ranh với Biển Đông.

Ông Poling thông tin thêm rằng, các cuộc tuần tra của Trung Quốc ở vùng nước nói trên từng ít thường xuyên hơn so với khu vực Malaysia tuyên bố có chủ quyền, vì không có các rạn san hô quan trọng mang tính biểu tượng trong khu vực. Song, tình hình đã thay đổi trong những tháng gần đây và hải cảnh Trung Quốc bắt đầu “quấy rối hoạt động khai thác của Indonesia tại lô Tuna giống như cách họ đã quấy rối các hoạt động khai thác dầu khí của Malaysia và Việt Nam trong nhiều năm”.

 

5 thành viên Chính phủ sẽ trả lời chất vấn

Theo chương trình dự kiến, bốn bộ trưởng sẽ đăng đàn trong phiên chất vấn tại kỳ họp lần này, sau đó Thủ tướng báo cáo Quốc hội và trả lời các vấn đề đại biểu quan tâm. Sáng 26/10, Tổng thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường cho biết 12 nhóm vấn đề dự kiến chất vấn đang được xin ý kiến Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Sau đó, các cấp có thẩm quyền xem xét, bỏ phiếu rút gọn lại còn 5 nhóm vấn đề (tương ứng với lĩnh vực phụ trách của 5 Bộ trưởng) và trình đại biểu Quốc hội lựa chọn 4 Bộ trưởng đăng đàn trong số 5 vị này. Theo ông Cường, sau phiên chất vấn dành cho 4 Bộ trưởng, Thủ tướng sẽ trình bày báo cáo trước Quốc hội và trả lời một số câu hỏi của đại biểu. Trong chương trình kỳ họp, hoạt động chất vấn sẽ diễn ra vào các ngày 10, 11 và sáng 12/11. Nêu ý kiến về nội dung chất vấn tại kỳ họp lần này, Phó chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thị Kim Thúy cho rằng nên chọn các lĩnh vực liên quan nhiều đến phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi kinh tế, như: Lao động, Thương binh và xã hội; Y tế; Giáo dục và đào tạo, Công Thương; Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông Vận tải... Bà Thúy quan tâm đến sự phối hợp giữa các bộ, ngành để không bị đứt gãy chuỗi cung ứng, tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bà nói, đây là năm đầu của kế hoạch 5 năm 2021-2025, cần quan tâm đến các chỉ tiêu trong bối cảnh đại dịch diễn biến phức tạp. "Chúng ta không nên để chỉ tiêu tạo việc làm mới vì chẳng khác nào đếm sao trên trời, không thống kê chính xác được; hay chỉ tiêu giường bệnh trên một vạn dân thì nên thay bằng chỉ tiêu bác sĩ trên một vạn dân", nữ đại biểu nói. Bà Thúy cũng cho rằng lĩnh vực y tế được người dân rất quan tâm, Quốc hội nên dành thời lượng phiên chất vấn để Bộ trưởng Y tế giải trình, thông tin đầy đủ.

HỒ CHÍ MINH - BẬC THẦY LẨY KIỀU

Bác Hồ là người đầu tiên và rất thành công trong việc “lẩy Kiều”, “tập Kiều”, “phỏng Kiều” để tiếp đón, chào mừng, đưa tiễn các nguyên thủ quốc gia, khách quốc tế.

Sau hơn nửa thế kỷ, bây giờ đọc lại vẫn thấy phù hợp và đầy ý nghĩa. Đó là tầm nhìn xa trông rộng ở một người hội tụ được tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây.

Bác vận dụng Kiều để chào mừng, đáp từ các vị khách quốc tế vừa đề cao giá trị nội dung, nghệ thuật của một kiệt tác văn học vừa khẳng định văn hóa đặc sắc của Việt Nam; quảng bá, giới thiệu với bạn bè quốc tế tác phẩm văn chương bất hủ, bách khoa thư của người Việt.

Theo thống kê của chúng tôi, từ năm 1957, khi tiếp Chủ tịch Xô viết - ngài K.E.Vôrôsilốp - và đến sau này, Bác Hồ có 9 lần “lẩy Kiều”, nhiều nhất là các năm 1957, 1963. Đó là chưa nói đến việc sử dụng Kiều trong các bài báo có tính chất quốc tế như: “Kiều bào yêu nước”, “Một tin tức lạ”, “Sẵn sàng giúp đỡ”.

Cho đến nay, khi nói đến “lẩy Kiều” của Bác, nhiều người vẫn luôn nhắc đến bài “nói chuyện tại cuộc mít tinh chào mừng Tổng thống Xu-các-nô” của nước Cộng hòa Indonesia vào năm 1959. Người nói: Nước xa mà lòng không xa/Thật là bầu bạn, thật là anh em.

Nhớ lại trong câu thơ Kiều chỉ nói cái riêng, nghĩa hẹp nhưng khi vận dụng vào bối cảnh này, Người đã nói được cái chung của hai dân tộc, chuyển tải được những nội dung hoàn toàn mới, thắm tình hữu nghị hai nước.

Ngày chia tay, trong “lời tiễn Tổng thống Xu-các-nô tại sân bay Gia Lâm”, Người đã 2 lần sử dụng “lẩy Kiều” với 6 câu thơ rất phù hợp và lý thú! Người nói: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/Trông mòn con mắt phương trời đăm đăm! Rồi nhắc đến tình cảm lưu luyến của Nhân dân Việt Nam với Tổng thống Xu-các-nô: Nhớ nhung trong lúc chia tay/Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo người/Người về Tổ quốc xa khơi/Chúc người thắng lợi, chúc người bình an, thật trọn vẹn nghĩa tình!

Trong “Lời phát biểu đón tiếp đồng chí Nô-vốt-ny, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc vào năm 1963, Bác cũng đã vận dụng Kiều: Trải bao tháng đợi, năm chờ/Chờ người khách quý bao giờ đến thăm. Và khi được gặp gỡ thì: Xuân này, xuân lại thêm xuân/Nước non xa, anh em gần, vui thật là vui, đã diễn tả được tình cảm chân thành khi gặp khách quý.

Trong mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, năm 1963, khi tiếp đoàn đại biểu cấp cao của Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc mấy vần thơ tâm huyết: Bấy lâu cách trở quan hà/Từ nay Lào - Việt rất là gần nhau/Thương nhau mấy núi cũng trèo/Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/Việt - Lào hai nước chúng ta/Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long. Đó là sự khẳng định, lời căn dặn, mong ước và thông điệp cho mai sau.

Năm 1963, trong lời chào mừng đồng chí Lưu Thiếu Kỳ - Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bác đã nói luôn hai câu Kiều: Đến bây giờ mới thấy đây/Mà lòng đã chắc những ngày một hai. Tiếp đến, Bác khẳng định: Mối tình thắm thiết Việt - Hoa/Vừa là đồng chí, vừa là anh em, rất hợp người, hợp cảnh.

Rồi ngày lên đường, Bác đã vận dụng “lẩy Kiều” mới lý thú và ý nghĩa: Tiễn đưa, chẳng muốn chia tay/Bạn về cố quốc nước mây nghìn trùng/Cầm tay lòng lại dặn lòng/Cùng nhau giương ngọn cờ hồng Mác - Lê. Có thể coi đây là một trong những bài “lẩy Kiều” thành công nhất và có sức lôi cuốn, hấp dẫn người nghe.

Từ vận dụng 6 câu thơ Kiều ở các trường đoạn khác nhau (như câu thứ 3187: Thoắt thôi tay lại cầm tay/Càng yêu vì nết, càng say vì tình, lại về câu thứ 1787: Bốn phương mây trắng một màu/Trông vời cố quốc biết đâu là nhà, sau đó trở lại câu thứ 1503: Cầm tay dài ngắn thở than/Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời đã nói lên tất cả nỗi niềm của người trong cuộc.

Và từ câu thơ tưởng như rất riêng ấy đã dặn dò, nói được cái chung để cùng quyết tâm phấn đấu. Phải là người thực sự am hiểu sâu sắc nội dung, câu chữ trong từng trường đoạn của 3254 câu thơ của Truyện Kiều thì mới vận dụng được một cách tuyệt vời như vậy!

Cách “lẩy Kiều” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại không khí văn chương gần gũi, thân mật, thú vị, tăng hiệu quả ngoại giao. Việc “lẩy Kiều”, “tập Kiều”, “phỏng Kiều” trong tiếp đón các nguyên thủ quốc gia, các vị khách quốc tế của Người vừa kế thừa, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, vừa thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

Bác Hồ “lẩy Kiều” giới thiệu văn hoá Việt với thế giới Cần nâng tầm việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dòng họ Nguyễn - Tiên Điền
Bác Hồ “lẩy Kiều” giới thiệu văn hoá Việt với thế giới Nguyễn Du và Truyện Kiều - tài sản tinh thần vô giá của dân tộc
----------------
Phạm Vông st


5 CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PHỔ TUỆ

 1. "Muốn sống lâu trước hết phải sạch sẽ từ thân đến tâm."

2. "Tuổi thọ không phải là thước đo giá trị của đời người. Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo."

3. "Đạo nghĩa Lục hòa vốn là điều căn bản của Phật giáo. Thân hòa cùng ở; miệng hòa không cãi nhau; ý hòa cùng vui vẻ; giới hòa cùng tu; kiến hòa cùng giải - thấy biết kiến thức thì chia sẻ cho nhau hiểu; lợi hòa cùng chia - có của cải, lợi ích thì chia cân nhau không ai tranh tham phần hơn cho mình."

4. "Khi con người về thế giới bên kia thì thân xác bị thối rữa, tại sao người ta lại đem tiền bạc, kinh sách quý chôn theo các xác thối rữa ấy? Không nên."

5. "Sư học đâu cần chùa to, cảnh lớn. Chùa to, giảng đường đẹp, phòng ốc sang dù sao cũng chỉ là phương tiện. Còn linh hồn của nó là thầy và trò trong quan hệ tu tập và hành trì."
-----------------
Phùng Tiến st



NHẬN DIỆN TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Tiêu cực trong cán bộ, đảng viên là những thói hư, tật xấu, khuyết điểm, là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh, có tác dụng xấu của cán bộ, đảng viên, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, uy tín của Đảng, có hại cho nhân dân, cản trở quá trình phát triển của xã hội. “Tiêu cực” có nội hàm rất rộng, với nhiều biểu hiện khác nhau cả trong nhận thức lẫn hành vi, với tính chất, mức độ khác nhau. Việc nhận diện các biểu hiện cụ thể của “tiêu cực” là không đơn giản, nhưng có thể khái quát lại, biểu hiện rõ nét nhất của “tiêu cực” là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Tuy đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn hạn chế. Các biểu hiện tiêu cực diễn ra ở các cấp, ngành, các lĩnh vực, từ cán bộ cấp thấp đến cán bộ cấp cao thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Nghị quyết Đại hội XIII đã thẳng thắn chỉ ra: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ;…Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.

Những hiện tượng tiêu cực đó đã gây bức xúc trong xã hội. Trong các tiêu cực, cán bộ, đảng viên và dư luận xã hội quan tâm, bức xúc nhiều trước một số tình trạng tiêu cực sau:

Một là, lợi ích nhóm. Đây là biểu hiện có trong tất cả các lĩnh vực; trong đó đáng lo ngại nhất là quản lý nhà nước đối với kinh tế, quản lý con người, công tác cán bộ trong hệ thống chính trị. “Lợi ích nhóm” làm cản trở quá trình cải cách tư pháp, hành chính, từng bước làm vô hiệu hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm chệch định hướng phát triển, tăng sự phân hoá trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tiềm ẩn sự mâu thuẫn trong xã hội. “Lợi ích nhóm” từng bước làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức, sai lệch các chuẩn mực xã hội, gây mâu thuẫn nội bộ, làm xói mòn lòng tin giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiêu cực trong công tác cán bộ. Các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ thường thấy là chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm... Biểu hiện là tình trạng đúng quy trình nhưng không chọn được những cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực và uy tín; hợp thức hóa quy trình bằng nhiều cách khác nhau diễn ra ngày càng nhiều. Tình trạng chạy chức, chạy quyền có phần tinh vi hơn, với nhiều thủ đoạn khác nhau, biểu hiện ngày càng phức tạp, khó nhận biết. Không ít người đứng đầu đã bất chấp nguyên tắc, quy trình, quy định để lạm quyền thực hiện công tác cán bộ theo ý của riêng mình. Trên thực tế, ở một số địa phương, đã có tình trạng cán bộ được bổ nhiệm thần tốc, bổ nhiệm theo hiệu ứng domino, bổ nhiệm tràn lan… gây bức xúc trong xã hội.

Ba là, tình trạng tham nhũng “vặt”. Tình trạng này xuất hiện ở nhiều nơi, trong nhiều cơ quan, tổ chức và ở những vị trí khác nhau; xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính; quản lý trật tự giao thông, đô thị; y tế; giáo dục; hải quan; thuế; tuyển dụng, đề bạt, sắp xếp, bố trí, bổ nhiệm cán bộ công chức… và nó “biến tướng” dưới nhiều hình thức nên không dễ phát hiện, xử lý. Tham nhũng vặt tuy giá trị không lớn nhưng nó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho địa phương, đơn vị trong thu hút đầu tư; làm giảm niềm tin của người dân, doanh nghiệp… Đồng thời nó là nguyên nhân dẫn đến vi phạm nghiêm trọng đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng, đạo đức của Đảng nói chung.

Bốn là, tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, tình trạng hối lộ, đề cao đồng tiền, thực dụng chủ nghĩa. Các biểu hiện suy thoái liên quan đến thực thi quyền lực nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của cán bộ, đảng viên rất đa dạng, như nói không đi đôi với làm; nói một đằng, làm một nẻo; tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi; lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực; sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

Năm là, tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống, sống buông thả, hưởng lạc... Những hành vi này tác động không nhỏ đến dư luận xã hội, gây phản cảm trong nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tính tiền phong, gương mẫu của người đảng viên, suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước./.

 

Những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng

  Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) diễn ra trong bối cảnh sau hơn nửa năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từ đầu năm 2021 đến nay, đại dịch COVID-19 với những biến chủng mới, lây lan nhanh và nguy hiểm, tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, khu vực và nước ta; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị, tổ chức hoạt động đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải điều chỉnh định hướng, chiến lược phòng, chống dịch bệnh gắn với phát triển kinh tế - xã hội.

Trong điều kiện đó, Hội nghị lần thứ tư của Đảng đã được tổ chức để thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng như: Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022-2024; chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá XII; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; sửa đổi, bổ sung quy định về những điều đảng viên không được làm...

Lợi dụng vào sự kiện, thời điểm và nội dung thảo luận, quyết nghị những vấn đề quan trọng của Hội nghị, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lập tức tăng cường tuyên truyền xuyên tạc chống phá trên nhiều phương diện, từ chế độ chính trị, công tác phòng, chống dịch bệnh, tình hình kinh tế-xã hội của đất nước.

Những luận điệu mà các đối tượng tung ra xuyên tạc nội dung, ý nghĩa Hội nghị có thể thấy rõ ở mấy điểm sau:

Một là, đằng sau những luận điệu sai trái, xuyên tạc mà các đối tượng xấu tập trung khai thác, lập luận, tuyên truyền, người ta thấy đó là quan điểm dân tuý, cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Với kiểu phê phán bằng mọi cách, cứ như thể chỉ họ mới là lực lượng, những người tiến bộ, dân chủ, quan tâm thực sự đến đời sống người dân, ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây.

Hai là, tung ra các luận điệu sai trái, suy diễn, xuyên tạc Hội nghị Trung ương 4 nhằm mục đích hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, cố tình dẫn dắt dư luận để gieo rắc nhận thức lệch lạc, hạ thấp vị trí, ý nghĩa của Hội nghị, uy tín, niềm tin của Đảng trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng vào tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp để quy chụp nói xấu, xuyên tạc bản chất chế độ xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Ba là, phê phán, phủ nhận thành quả công tác phòng, chống dịch bệnh của hệ thống chính trị của Việt Nam trong suốt thời gian qua. Lấy một số hiện tượng tiêu cực, một số khó khăn, hạn chế ở chỗ này, chỗ khác để quy kết bản chất, từ đó lên án chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về phòng, chống dịch bệnh, an sinh xã hội, cách thức, phương pháp thực hiện của chính quyền địa phương.

Bốn là, làm méo mó hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam trong mắt bè bạn quốc tế, làm suy giảm uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Qua đó họ cố tình bóp méo tình hình Việt Nam, nhất là bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội, nghĩa cử đồng bào, sự đùm bọc, chia sẻ, đoàn kết, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công cuộc phòng, chống dịch bệnh với quyết tâm, nỗ lực ngăn chặn sự ảnh hưởng, hạn chế tác động thấp nhất mà đại dịch gây ra.

Trái ngược thủ đoạn, ý đồ mà các đối tượng rêu rao, Hội nghị Trung ương 4 của Đảng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện các vấn đề để đưa ra quyết nghị đúng đắn. Trên cơ sở đó, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Nhất hô bá ứng”, “tiền hô hậu ủng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt” để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy tốt những thành tựu, kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và bình tĩnh, tỉnh táo xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề khó, chưa có tiền lệ, mới phát sinh trong phòng, chống dịch bệnh; hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp từng bước vượt qua khó khăn; duy trì, phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và đời sống nhân dân./.

 

XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ÐẢNG – GỐC CÓ VỮNG CÂY MỚI BỀN

 


Không phải ngẫu nhiên, từ Đại hội XI, XII, XIII, Ban Chấp hành Trung ương đều chọn Hội nghị lần thứ tư để bàn về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Việc này nhằm đảm bảo sự kế thừa, phát triển mới, từ đó tạo sự thống nhất cao về ý chí, hành động, tránh sự dĩ hòa vi quý, nhụt chí khiến cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng “chùng xuống”.


10 năm trước, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật về “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí…, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XI đã thống nhất ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay” để “thắp lửa”, ngăn ngừa những mối nguy từ “giặc nội xâm”.


TRẬN CHIẾN GIAN NAN


Là Ủy viên Trung ương Đảng từ khóa VIII, IX, X, XI, ông Vũ Trọng Kim, nguyên Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam kể, giai đoạn 2008- 2010, tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra hết sức nghiêm trọng. Đáng lưu ý, các vụ việc có dấu tiêu cực, tham nhũng không còn nhỏ lẻ, mà có tính chất “kết bè”, “kết cánh”, “lợi ích nhóm”. Các vụ việc xảy ra để lại hậu quả rất nặng nề về kinh tế, xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước như: Vinashin, Vinalines…


Thực trạng này, đòi hỏi những đảng viên, nhất là các Ủy viên Trung ương phải có dũng khí để nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Nếu các đảng viên, nhất là đảng viên cấp cao mà bỏ qua mối nguy cơ, không dám nhìn thẳng vào sự thật tức là đã đánh mất đi ý chí chiến đấu, mất đi vị trí lãnh đạo. Vì thế, việc “thắp lửa” lại công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được nêu ra tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XI (cuối năm 2011) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên xác lập lại lập trường của mình trong việc ngăn chặn các biểu hiện suy thoái, tham nhũng, tiêu cực; xác lập cán cân tích cực, tiêu cực trong bản thân mỗi con người.


Từ thực tiễn công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trước đây, nhất là quá trình thực hiện Nghị quyết T.Ư 6 lần 2 (năm 1999) đến việc xây dựng Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, ông Vũ Trọng Kim cho biết, đâu đó cũng có lo ngại, tâm tư lúc đầu rằng “chuyện cũ nói lại, nói mãi, không còn mới”. “Những suy nghĩ đó là không đúng. Thử hỏi, nếu Đảng cứ lơ là, để suy thoái, tham nhũng, tiêu cực lấn át, trượt dài thì đất nước sẽ đi về đâu, vai trò lãnh đạo của Đảng ở đâu”, ông Kim bày tỏ. Theo nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, thử thách khi đó rất lớn. Từng người trong Đảng phải xác nhận lập trường, nếu còn tinh thần chiến đấu thì những nhân tố tích cực sẽ tăng lên như, “cây có khỏe thì rừng mới tốt”. Ngược lại không còn tinh thần chiến đấu, thì có thể sẽ trượt dài trước những cám dỗ về vật chất.


DỰNG “TƯỜNG LỬA” NGĂN VI PHẠM LÂY LAN


Là thành viên Tổ giúp việc của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI, ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ cơ sở Đảng, Ban Tổ chức T.Ư kể, sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ đợt sinh hoạt chính trị, tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng từ trên xuống dưới, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sau hai tháng chuẩn bị báo cáo kiểm điểm của tập thể, cá nhân và tiếp thu nghiêm túc ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc T.Ư và các đồng chí nguyên là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu kiểm điểm để toàn Đảng học tập, noi theo.


Theo ông Vũ Trọng Kim, các đợt kiểm điểm đã tạo ra tinh thần mới, với sức chiến đấu mới, tăng thêm những nhân tố tích cực, đào thải những nhân tố tiêu cực. Từ Trung ương tinh thần đó đã lan tỏa ra trong toàn Đảng và trong hệ thống nhà nước, tới quần chúng nhân dân. “Khi tiếp xúc với nhân dân để xây dựng đề án giám sát và phản biện, phục vụ cho việc xây dựng Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chúng tôi thấy, ai cũng ủng hộ công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Nhân dân bày tỏ mong muốn được tham gia, đóng góp vào công tác này. Chính sự ủng hộ trên giúp cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được vững chãi, không ai có thể đảo ngược được xu thế”, ông Kim kể.


Trong khi đó, ông Vũ Văn Phúc, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương kể: Thời điểm Trung ương ban hành Nghị quyết T.Ư 4, ông đang giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, sau đó được luân chuyển về làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phú Yên. Từ thực tiễn công tác, ông Phúc cho biết, Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI không chỉ nhen đốm lửa mà còn thổi bùng lên “ngọn lửa” đấu tranh trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, vốn bị chững lại trong thời gian dài. Từ Trung ương đến cơ sở, nhất là cán bộ, đảng viên rất ủng hộ.


Cuối nhiệm kỳ khóa XI, khi nhìn lại công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cũng đã có không ít những băn khoăn rằng, “chưa thấy Đảng điểm mặt, chỉ tên một bộ phận không nhỏ ở đâu”, song theo ông Vũ Trọng Kim, điều quan trọng nhất là qua thực hiện đã “thắp lửa” đấu tranh, phê bình và tự phê bình. Từ đó, tinh thần và trách nhiệm xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong mỗi cán bộ đảng viên lớn dần lên. “Khi “cán cân” tích cực đã lớn rồi thì “lợi ích nhóm”, tiêu cực, suy thoái, tham nhũng không thể vượt qua được “bức tường lửa”, “tinh thần thép”, ông Kim bày tỏ quan điểm.


Đặc biệt, để công tác phòng, chống tham nhũng hiệu quả, Hội nghị Trung ương 5 khoá XI (tháng 5/2012) đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng trên phạm vi cả nước. Tháng 2/2013, Bộ Chính trị khoá XI đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo với thành phần gồm những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước. Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc, tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013- 2020, diễn ra vào cuối năm 2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khẳng định, sau khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU CỐ TÌNH XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRÊN TUYẾN ĐẦU CHỐNG DỊCH

Từ khi đại dịch COVID -19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đã được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng bỏng tại các địa phương. Thế nhưng trên không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân thù địch, cơ hội chính trị lại cố tình bóp méo, xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trên tuyến đầu chống dịch COVID-19. Những ngày Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách xã hội, hình ảnh các anh bộ đội đã trở nên quen thuộc. Những người lính không chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền, tuần tra canh gác, phân phát thực phẩm thiết yếu mà còn kiêm luôn việc đi chợ giúp người dân.

Thế nhưng trên mạng xã hội, Internet, một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những kẻ bất mãn mang tâm địa đen tối cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, những vidio, clip... bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Một số kẻ đã đăng phát trên mạng xã hội những bài viết có nội dung suy diễn, chủ quan, phiến diện cố tình xuyên tạc chủ trương đưa Quân đội, Công an vào tham gia phòng, chống đại dich COVID-19 tại TP HCM và các tỉnh phía Nam. Đáng lưu ý, trong một bài viết trên BBC tiếng Việt, có kẻ vẫn nhai lại luận điệu cho rằng việc huy động Quân đội tham gia chống đại dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều chúng rêu rao rằng việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

Khi quân đội huy động các loại phương tiện kể cả máy bay, tàu thủy để vận chuyển lương thực - thực phẩm vào phía Nam giúp nhân dân thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch, thì có kẻ lại hoài nghi nói rằng: số lương thực – thực phẩm ấy phục vụ cho mấy nghìn quân ăn còn chưa đủ lấy đâu ra mà cung ứng, hỗ trợ nhân dân… Trên RFA (Đài Á Châu Tự Do), trong bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?” khi bàn về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân, có kẻ cho rằng: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”. Tác giả bài viết này lý giải: “Bộ đội, công an vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa…”. Khi xem những hình ảnh bộ đội đi chợ giúp dân, mang từng bao gạo, hộp mỳ tôm, chai dầu ăn, chai nước mắm.... đến trao tận tay từng nhà dân, có kẻ lại nói rằng quân đội “làm màu”, “đánh bóng”, “mỵ dân”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; hạ thấp uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội, chia rẽ tình đoàn kết giữa Quân đội với nhân dân.

Chúng ta không vì những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt ấy mà giảm đi tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu chống dịch. Cùng với tuyên truyền đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức, cá nhân thù địch và kẻ xấu, thông qua hoạt động báo chí, truyền thông, cần đẩy mạnh tuyên truyền nhân rộng, tạo sức lan tỏa những việc làm tốt, những nghĩa cử cao đẹp của các lực lượng xung kích trên tuyến đầu chống dịch, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây vừa là việc làm cần thiết để xây dựng niềm tin cho nhân dân, tăng cường tình đoàn kết quân - dân, vừa là biện pháp dùng cái đẹp dẹp cái xấu, dùng dư luận tích cực để lên án, phản bác đấu tranh với những luận điệu tiêu cực, xấu độc, vô lương tâm của những kẻ mang tâm địa xấu xa trên không gian mạng ở cả trong và ngoài nước./.

 

CHẲNG CÓ GÌ MÀ ẦM Ĩ!

 

Một khi công nghệ thông tin phát triển thì bất cứ chuyện gì, dù nhỏ hay to, dù xảy ra ở trong nước mình hay ở tận xứ người thì cũng lan nhanh như tốc độ ánh sáng vậy.


Đứng trước mỗi sự việc xảy ra, thế là kẻ khen người chê. Khen thì cũng khen mãi mà chê thì cũng ỉ ôi không dứt. 


Chẳng có gì phải ầm ĩ, một anh hài sĩ rồi một cô ca  sĩ qua đời, thế là bao nhiêu người tốn thì giờ vào việc đưa thông tin lên mạng, khai thác hết khía cạnh đời tư của họ, rồi khai thác đến đứa con nuôi, rồi khai thác đến những người đi khai thác thông tin có liên quan. Nhiều người rảnh thiệt nhỉ?


Lại một chuyện dai dẳng nữa là bà đại gia kia đối đầu với một nhóm hát sĩ, múa sĩ, hài sĩ… lại là một đề tài được khai thác từ tháng này sang tháng khác; người trong nước có, người ở hải ngoại có; chia phe chia nhóm để đối đầu nhau. Đáng lẽ những chuyện như vậy thì cứ để cho các cơ quan quản lý làm rõ trắng đen, ai phải ai trái, lúc đó ta dành hẳn một ngày để chê, để khen, để chửi cũng chưa muộn. Nhiều người rảnh thiệt. Để thời gian ấy làm cái gì đó sinh lợi cho bản thân, cho vợ, cho con có khi lại tốt hơn.


Cái chuyện có lẽ kéo dài từ năm ngoái cho đến năm nay chưa dứt là chuyện mà có người gọi là “lật sử” hay gì đó. Tôi thấy cũng có bằng ấy người cứ nói đi nói lại mãi một vài khía cạnh của một vấn đề. Thí dụ như ngụy hay không ngụy, kẻ đó có công hay có tội? Nói vậy mà không chán nhỉ?


Còn tôi ấy à? Dứt khoát tôi không phải là kẻ “ăn theo nói leo”, hoặc là dân “ba phải”, cũng không “tát nước theo mưa”, vì tôi không phải là người trong cuộc; tôi thì chỉ tin vào mỗi cơ quan nhà nước, họ có cả một bộ máy, họ có chuyên môn, họ có hiểu biết về lĩnh vực họ phụ trách, cho nên tôi nghe họ. Nếu họ bảo việc đó là sai thì tôi bảo chắc chắn là sai. Lúc đó có chửi cũng chưa muộn.


Tôi không phải là người “ba phải”, tôi chửi những kẻ phản bội, chửi những kẻ ăn cháo đá bat, chửi những kẻ xâm phạm đến sự tồn vong của đất nước mình, tôi chửi những kẻ đó. Những kẻ đó đã được nhà nước vạch mặt chỉ tên. Chửi cả bộ máy lãnh đạo của cái nước đi gây hại cho nước mình, chửi thế mới đã! 


Chứ ai rỗi hơi mà cứ đi bươi móc những chuyện hàng ngày ở trong xã hội giữa người dân với nhau. Chuyện đời tư thì thiếu gì, nhưng chửi thế không đã. Cùng lắm thì chửi vài câu rồi thôi, tội gì mà cứ đai đi đai lại suốt ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác. Có 15 con chó chết thôi mà mãi đến cả tháng rồi vẫn thấy chó còn xuất hiện trên facebook. Tôi tưởng “chó chết là hết chuyện” chứ?


Nhiều người rảnh thiệt! Tôi nói vậy tức là chọc tức khối người, song tôi thấy sao nói vậy. Già rồi nên bớt nói mà chỉ suy ngẫm thôi. Tôi thích câu nói của người xưa nên xin trích ra đây để tự răn mình: “Những kẻ hay than vãn thì luôn tìm thấy những thứ để họ tiếp tục than vãn”./.

NHỮNG ĐỘC ĐÁO ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN

Ngày 23-10-1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đoàn Vận tải biển 759. Ngày 24-1-1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển thành Đoàn 125 Hải quân. Ngay sau khi ra đời, Đoàn 759 đã xác định phương châm vận chuyển: Kết hợp hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp; lấy hoạt động hợp pháp làm phương thức chủ yếu. Trong quá trình vận chuyển, đơn vị phải chủ động, táo bạo, bất ngờ, lợi dụng sơ hở của địch để đưa hàng đến bến; đồng thời phải có các phương án linh hoạt để đối phó khi bị phát hiện. Trong trường hợp bị địch phát hiện, phải kiên quyết chiến đấu bảo vệ hàng; nếu cần thì nổ tàu để giữ bí mật...

Trong suốt 14 năm làm nhiệm vụ vận tải chiến lược quân sự trên biển (1961-1975), Đoàn 125 đã huy động 1.879 lượt tàu, thuyền, vận chuyển gần 153.000 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật, thuốc chữa bệnh và hơn 80.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam, chiến đấu hàng trăm trận với máy bay, tàu chiến của Mỹ và ngụy quân Sài Gòn.

Độc đáo Đường Hồ Chí Minh trên biển

Có thể nói, tuyến vận tải chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành huyền thoại, một kỳ tích của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó không chỉ là phương thức chi viện mới, hết sức quan trọng, trực tiếp bảo đảm cho các chiến trường mà còn là nét độc đáo, sự sáng tạo của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh.

Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến-nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển tạo thành hai tuyến vận tải chiến lược, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, giải quyết nhu cầu của hai hướng chiến lược trên chiến trường Nam Bộ là cánh đông và cánh tây. Mỗi tuyến vận tải chiến lược có vị trí, vai trò khá độc lập, nhưng đặt trong tổng thể đã tạo nên hệ thống giao thông huyết mạch chủ đạo và hoàn chỉnh để chi viện kịp thời, hiệu quả sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng quân thù. Đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đường Hồ Chí Minh trên biển ra đời vào thời điểm khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong khi địch được trang bị các loại vũ khí, thiết bị hiện đại, tối tân, ta mới chỉ có những loại tàu, thuyền nhỏ bé, thô sơ, nhưng với tầm nhìn, bản lĩnh và tài thao lược của Đảng, ý chí và khát vọng độc lập, tự do, thống nhất đất nước của toàn dân tộc, chúng ta đã biết dựa vào khả năng to lớn của nhân dân để vượt qua mọi khó khăn, từng bước đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam trong những thời điểm khó khăn, ác liệt nhất.

Đường Hồ Chí Minh trên biển đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, với một quyết tâm sắt đá không gì lay chuyển, đó là dám đánh, biết đánh và biết thắng Mỹ. Có được điều đó là nhờ Đảng ta đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật giành thắng lợi từng bước trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như trong quá trình thực hiện nhiệm vụ vận tải chi viện chiến lược trên biển. Các lực lượng trong quá trình làm nhiệm vụ, đặc biệt là Quân chủng Hải quân đã nắm chắc tình hình, chủ động xây dựng lực lượng, chuẩn bị phương tiện, huấn luyện chu đáo, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi để công tác vận tải đạt kết quả cao nhất. Các cấp lãnh đạo, chỉ huy quân chủng đã tham mưu đúng, trúng, chỉ huy thống nhất, quyết đoán, linh hoạt, liên tục và bí mật; triệt để tận dụng thời cơ, đa dạng hóa phương pháp vận tải để chuyển hóa thế trận, làm chủ các tình huống.

Trong quá trình mở tuyến vận tải quân sự trên biển, chúng ta còn biết chọn đúng thời cơ; kết hợp hoạt động bí mật và công khai; tàu có thể xuất phát từ nhiều bến (kể cả ở nước ngoài), cập bến ở nhiều điểm; đi trên nhiều cung, tuyến khác nhau, có giai đoạn đi vòng ra biển xa, hải phận quốc tế; địch phong tỏa đường trong ta đi đường ngoài, địch ngăn chặn đường dài ta đi phân đoạn, địch bám đuôi, ta đi ra vùng biển quốc tế, khi địch phát hiện, áp sát tấn công hoặc cướp tàu, ta đánh trả quyết liệt, có lúc phải phá hủy tàu để giữ bí mật...

 

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động liên quan đến việc kỷ luật Ban thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và các cá nhân

Ngày 01/10/2021, tại Trụ sở T.Ư Đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển VN nhiệm kỳ 2015 - 2020 và một số cá nhân. Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra T.Ư, nghe đại diện Quân ủy T.Ư phát biểu, Ban Bí thư kết luận: Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển VN nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã vi phạm rất nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc, quy định của Quân ủy T.Ư, để nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Bên cạnh đó, còn thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để Bộ Tư lệnh và các đơn vị trực thuộc có nhiều vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng trong công tác quản lý, sử dụng tài chính; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm thiết bị kỹ thuật, vật tư, hàng hóa; đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Liên quan đến vấn đề này, các đối tượng phản động đã phát tán nhiều tin bài trên các trang mạng, nội dung phê phán hệ thống chính trị của Việt Nam. Chúng cho rằng “tham nhũng là bản chất của chế độ Cộng sản”, cho rằng Đảng, Nhà nước và Quân đội yếu kém về năng lực lãnh đạo, quản lý để cán bộ, đảng viên vi phạm rất nghiêm trọng. Phải khẳng định đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái. Những kẻ phản động đã lợi dụng những vi phạm, khuyết điểm của một tổ chức đảng và một số cán bộ, sĩ quan trong lực lượng cảnh sát biển để suy diễn chính trị, quy chụp thành bản chất của quân đội, của chế độ. Mưu mô sâu xa hơn là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và bản chất cách mạng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Những luận điệu đó là sự tiếp tục của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta.

Đối với việc Ban Bí thư và UBKT Trung ương thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển VN nhiệm kỳ 2015 - 2020 và một số cá nhân sai phạm, chúng ta phải khẳng định đây là sai phạm của một bộ phận tổ chức đảng và một số cán bộ, sĩ quan chứ không phải là sai phạm của toàn thể quân nhân trong quân đội nhân dân Việt Nam, càng không phải là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc xử lý kỷ luật thể hiện tính nghiêm minh của kỷ luật đảng, pháp luật Nhà nước trong xử lý sai phạm “không có vùng cấm” trong quân đội nói riêng và trong bộ máy nhà nước nói chung. Đó là quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước, toàn dân và toàn quân ta nhằm làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội.

 

PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY

 Từ ngày thành lập đến nay, trải qua hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng vẻ vang, Quân đội nhân dân Việt Nam Đã được Bác Hồ, Đảng, Nhà Nước ta đặt cho nhiều tên gọi khác nhau. Từ buổi đầu thành lập mang tên “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” đến “Việt Nam Giải phóng quân” rồi “Vệ Quốc đoàn”, “Quân đội quốc gia” của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và “Quân đội nhân dân Việt Nam” từ năm 1950 cho đến nay. Tuy tên gọi của quân đội ta đã nhiều lần thay đổi, nhưng nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn đều gọi một cách thân mật, trìu mến cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là “Bộ đội Cụ Hồ”.

          “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quí mà nhân dân Việt Nam dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ và Quân đội nhân dân Việt Nam; gắn với sự suy tôn, kính trọng chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Đó cũng là cách để phân biệt giữa quân đội ta với quân đội khác mà nhân dân ta đã từng biết.

          Nhân dân ta gọi quân đội của mình là “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện sự kính yêu tuyệt đối với lãnh tụ và lòng tin yêu đối với quân đội do người sáng lập và rèn luyện.

Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân ta dành tặng cho quân đội ta còn thể hiện mối quan hệ gắn bó thiêng liêng, ruột thịt giữa lãnh tụ và người lính; giữa quân đội và nhân dân. Trong sâu thẳm lòng dân, “Bộ đội Cụ Hồ” là những người con vất vả chiến đấu hi sinh vì dân, vì nước, coi nhân dân như cha mẹ của mình. Còn đối với quân đội ta, Từ bản chất đến thực tiễn hành động luôn chứng tỏ là một quân đội cách mạng của dân, do dân và vì dân. Điều đó lý giải vì sao hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được khắc sâu trong tâm khảm người dân Việt Nam, từ cụ già đến em nhỏ trên mọi miền Tổ quốc hơn 76 năm qua.

Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; là hình tượng cao đẹp, tập trung những phẩm chất tốt đẹp nhất của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam; là biểu tượng sáng ngời của mối quan hệ gắn bó giữa lãnh tụ, quân đội và nhân dân; sự hòa quyện giữa dân tộc và giai cấp, truyền thống và hiện đại ở tầm cao của bản sắc, tâm hồn và cốt cách Việt Nam; và là một biểu tượng độc đáo của văn hóa quân sự cách mạng.

Được mang danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là niềm tự hào và vinh dự đối với toàn thể Quân đội nhân dân Việt Nam và mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội; đồng thời cũng là trách nhiệm hết sức nặng nề của toàn quân và mỗi quân nhân. Trao tặng cho quân đội danh hiệu cao quí đó, nhân dân không chỉ tin tưởng yêu mến mà còn kỳ vọng danh hiệu đó sẽ được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam gìn giữ, phát huy và làm tỏa sáng; là niềm tin, là sức mạnh, chỗ dựa tin cậy và trung thành của đảng và nhân dân.

Vậy mỗi cán bộ chiến sĩ chúng ta cần phải làm gì để gìn giữ và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

          Trước hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải nhận thức sâu sắc rằng: phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là biểu tượng về giá trị – văn hóa – đạo đức vô giá của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, chính vì vậy, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cần phải được gìn giữ, phát huy làm cho phẩm chất đó mãi mãi tỏa sáng trong xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng an ninh bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước về mọi mặt.

          Hai là, phải coi hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến gìn giữ và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải thường xuyên nghiên cứu, nắm vững nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, tình hình, nhiệm vụ của đơn vị, kịp thời đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy đơn vị những nội dung, biện pháp thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, gắn chặt với việc giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

          Ba là, phải ra sức học tập, rèn luyện, trưởng thành theo phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện có hiệu quả việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh” trong cơ quan, đơn vị.

          Bốn là, tích cực, chủ động đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các biểu hiện tiêu cực về lối sống, đạo đức, văn hóa trong xã hội và trong đơn vị.

 

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng

 

Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay đi đúng hướng và có hiệu quả, cần nhận thức đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách” gắn với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Cụ thể bao gồm: (1) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân gắn liền với cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu... Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; (2) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả; (3) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng; (4) Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.

Điều đó đòi hỏi sự quan tâm của Đảng về xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, tạo môi trường thuận lợi phát huy mặt tích cực trong mỗi con người và tổ chức; để ngăn chặn những yếu tố nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó, coi trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, ý thức chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi con người và tổ chức, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chống quan điểm sai trái thù địch, phản động; chống sự thâm nhập phá hoại tư tưởng, chống lũng đoạn nội bộ làm tha hóa cán bộ, đảng viên của các thế lực thù địch; chống chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa. Vì vậy, cần phải thực hiện tốt các biện pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhấn mạnh:

Một là, kết hợp “xây và chống” để giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa thực hiện dân chủ rộng rãi vừa coi trọng kỷ cương, kỷ luật. Kết hợp chủ động đấu tranh phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với tư tưởng tích cực tiến công làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, xét lại, với tinh thần tích cực, giữ vững bên trong và tự bảo vệ mình là chính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã chiến thắng giặc ngoại xâm, thì hiện nay, không có lý do gì chúng ta lại không thể chữa trị căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và sự cấu kết chống phá của các thế lực thù địch.

Hai là, đổi mới hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho nó thêm đa dạng, phong phú với tất cả các hình thức của công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; các hình thức, biện pháp về hành chính, kinh tế, pháp luật… trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thường xuyên được đổi mới phù hợp với sự phát triển của tình hình.

Ba là, nắm chắc tính chất, đặc điểm của cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay. Từ đó, có biện pháp phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong quá trình đấu tranh. Đây vừa là biện pháp quan trọng, vừa là quan điểm chỉ đạo và yêu cầu cơ bản trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay, đồng thời là hình thức, biện pháp có sức lôi cuốn mạnh mẽ, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn cho công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta, cần được phát huy tốt trong thực tiễn đấu tranh.

Bốn là, chủ động xử lý kịp thời, nghiêm minh, hiệu quả mọi biểu hiện vi phạm đạo đức, tư cách của cán bộ, công chức, viên chức; vi phạm các chế độ quy định, vi phạm pháp luật, đặc biệt là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác… góp phần vào cuộc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan, đơn vị.

Năm là, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là biện pháp trực tiếp ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sức đề kháng, “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, để hoàn thiện phẩm chất, năng lực, tư cách, đạo đức, lối sống, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng./.

 

NHÀ KHOA HỌC QUÂN SỰ XUẤT SẮC

 


Năm 1990, dù tuổi đã cao, nhưng trước yêu cầu nghiên cứu tham mưu chiến lược quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, với tài năng, trí tuệ của mình, Thượng tướng GS, NGND Hoàng Minh Thảo là người đầu tiên được bổ nhiệm Viện trưởng Viện chiến lược quân sự, nay là Viện chiến lược quốc phòng (Bộ Quốc phòng).

Trong 5 năm (1990-1995), ông đã chỉ đạo và trực tiếp tham gia nghiên cứu hoàn thành nhiều công trình, đề tài có tính cấp thiết. Nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu của ông đã được công bố, phát hành, trong đó có cụm 8 công trình về nghệ thuật quân sự: "Học tập khoa học quân sự Xô Viết" (1958); "Tổ tiên ta đánh giặc" (1969); "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa" (1975); "Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng" (1977); "Tìm hiểu một số vấn đề về nghệ thuật chỉ huy" (1987); "Nghệ thuật tác chiến: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn" (1990); "Về cách dùng binh" (1997); "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự (2001)... Đây thực sự là những sản phẩm có hàm lượng khoa học cao để các thế hệ cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp trong quân đội nghiên cứu, học tập, vận dụng vào lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

NGƯỜI THẦY TÂM HUYẾT VÀ UYÊN BÁC TRÊN GIẢNG ĐƯỜNG

 


Sau khi tiếp quản Thủ Đô (10-1954), Thượng tướng, GS, NGND Hoàng Minh Thảo giữ chức vụ Hiệu trưởng Học viện Quân sự liên tục từ 1954-1966. Hơn chục năm làm công tác quản lý giáo dục, đào tạo, vừa chỉ đạo vừa trực tiếp nghiên cứu khoa học quân sự, những bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn được chuyển tải cho những thế hệ cán bộ cao cấp của quân đội. Ông luôn là người đi đầu truyền lửa, truyền thụ không chỉ kiến thức mà phương pháp tư duy cho người học một cách khoa học, sát với thực tiễn.

Từ năm 1977 đến 1990, ông là người giữ cương vị người đứng đầu dài nhất trong lịch sử Học viện Quân sự Cấp cao, ông rất tâm đắc, nhiệt huyết phương pháp vận dụng các quy luật của lịch sử và diễn biến thực tế trên chiến trường để vận dụng vào giảng dạy, kích thích sự khám phá, gợi mở, ham muốn, phát triển trong nghiên cứu khoa học của người học. Đồng thời, gián tiếp loại bỏ phương pháp "thuộc bài" lịch sử máy móc, đơn thuần, khô cứng cho người học.

Với nỗ lực trong giảng dạy và nghiên cứu cứu khoa học không biết mệt mỏi, ngày 12-9-1986, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định đặc cách phong GS cho Thượng tướng Hoàng Minh Thảo. Cuối năm 1988, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng Danh hiệu NGND, đây là danh hiệu cao quý, sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước về những cống hiến của ông đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo cán bộ của quân đội và đất nước.

BA CÔNG LỚN CỦA THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO

 


Cố Trung tướng Phạm Hồng Cư (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) từng nêu rõ: Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người ba công lớn. Thứ nhất, ông là một vị tướng giỏi về trận mạc, uyên thâm về lý luận quân sự, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất tin tưởng và quý trọng. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông Thảo đã thay ông Nguyễn Bình làm Tư lệnh Chiến khu Ba, giải phóng được Móng Cái, Hà Khẩu, tổ chức chống Pháp ở Hải Phòng. Ông tổ chức huấn luyện du kích rất giỏi, sau ông được điều động về làm Tư lệnh Quân khu 4. Thứ hai, ông làm Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, là linh hồn trong Chiến dịch Tây Nguyên. Thứ ba, ông là một trong những người đặt nền móng cho Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng)...

BẬC THẦY NGHỆ THUẬT DỤNG BINH

 


Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (lúc đó là Trung tướng) ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên; đánh xuống đồng bằng ven biển; đánh vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Ý kiến của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo được Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức ủng hộ. Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Quân giải phóng tăng cường hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân lực Việt Nam cộng hòa về phía bắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku, phía Việt Nam cộng hòa mắc mưu, đưa Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn 23 bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Màn nghi binh kinh điển ở Pleiku chính là yếu tố then chốt giúp Quân giải phóng giành thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, làm bàn đạp để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo sau này nhận định: “Ta ghìm địch ở Bắc Tây Nguyên để phá vỡ địch ở đầu yếu là Nam Tây Nguyên. Đó là một thành công trong nghệ thuật dùng mưu”.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều dấu ấn về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là linh hồn với tài nghệ thuật dụng binh. Nguyên lý của ông là: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”.

Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, Hoàng Minh Thảo là vị tướng trẻ, được “cắm chốt nằm vùng” suốt 10 năm ở núi rừng Tây Nguyên. Ông là một vị tướng chiến lược văn võ song toàn. Ông hiểu rõ kẻ địch, có nhiều mưu cao, kế sâu, chủ động dùng chiến thuật nghi binh lừa địch khiến chúng kinh hồn bạt vía, hoang mang hoảng loạn, vội vàng tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Mỗi khi nhắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ người ta thường nhắc đến tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Còn chiến thắng Tây Nguyên vang dội không thể không nhắc đến danh tướng Hoàng Minh Thảo - một nhà cầm quân tài năng, nhà khoa học quân sự đầu ngành của quân đội ta. Tài năng và đức độ của ông được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam.

ĐẠI TÁ QUÂN ĐỘI 27 TUỔI

 


Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang. Năm 1941, Tạ Quang tham gia Việt Minh, rồi được cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Khi ấy, Tạ Quang đã vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là Hoàng Minh Thảo - cái tên như một tiên đoán về cuộc đời và sứ mệnh của vị tướng tài ba xuất chúng trong quân đội này. Theo đó, họ Hoàng là lấy tên của trường Hoàng Phố, đệm và tên là Minh Thảo, dành cho con người thông minh, có tấm lòng tình nghĩa, thảo thơm.

Tháng 10-1945, khi mới 24 tuổi, Hoàng Minh Thảo đã được giao làm Khu trưởng Chiến khu 3, thay tướng Nguyễn Bình vào Nam làm Tư lệnh Nam Bộ. Năm 1948, Hoàng Minh Thảo là đại tá trẻ nhất toàn quân được phong cấp hàm khi mới 27 tuổi. Từ Tư lệnh Chiến khu 3, Hoàng Minh Thảo được cử vào Chiến khu 4 thay tướng Nguyễn Sơn. Năm 1950, Đại tá Hoàng Minh Thảo được cử làm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 - đơn vị bộ đội chủ lực chiến đấu vừa được thành lập. Cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là một bản anh hùng ca gắn liền với những chiến công vang dội. Năm 1975, ông là Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đã giáng đòn điểm huyệt vào quân lực Việt Nam cộng hòa, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, tiếp nối là Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).

CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG GÓP PHẦN ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 


Đáp lại niềm tin tưởng tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quốc dân, đồng bào, trong thời gian đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, theo phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã chỉ đạo giải quyết đúng đắn nhiều công việc quan trọng về đối nội và đối ngoại của đất nước, làm thất bại những âm mưu chống phá của các lực lượng phản động, bảo vệ, giữ vững thành quả cách mạng. Khi được cử làm Đặc phái viên Chính phủ tại Trung Bộ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã hết sức chú trọng tuyên truyền, giải thích và động viên, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến, kiến quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, để giải quyết những khó khăn, thách thức của cách mạng, yêu cầu khách quan là phải củng cố và phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, cùng với Mặt trận Việt Minh, cần phải có một hình thức tập hợp, tổ chức lực lượng mới. Ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập tại Hà Nội nhằm tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào khối đại đoàn kết dân tộc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những người tham gia sáng lập và được tín nhiệm cử làm Hội trưởng Hội Liên Việt. Trên cương vị này, Cụ đã dốc hết nhiệt tâm của mình góp phần mở rộng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong bối cảnh những lực lượng phản động luôn tìm cách chống phá chính quyền cách mạng, ngày 16/7/1946, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội nêu rõ đoàn kết là cần thiết để tập hợp lực lượng kiến thiết nước nhà, để ủng hộ ngoại giao, để xây dựng nền dân chủ cộng hòa; nhưng đoàn kết phải trên tinh thần chân thành, thật thà đoàn kết; không thể vin vào hai chữ đoàn kết mà làm những việc phi pháp, có hại đến đoàn kết toàn dân. Sự linh hoạt, khéo léo về sách lược, nhưng đầy cương trực, cứng rắn về nguyên tắc của Cụ đã góp phần giữ yên tình hình xã hội, đoàn kết nhân tâm trong nước.