Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ: NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG SOI SÁNG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM
TÁM CÁI TÊN – MỘT NIỀM TIN, MỘT Ý CHÍ
Tổ gồm tám đồng chí, mỗi người một việc khác nhau nhưng có cùng nhiệm vụ: Bảo vệ Bác Hồ. Cả tám đồng chí được Bác đặt tên vào một sáng mùa xuân (tháng 3-1947): Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi.
30 NĂM SAU SỰ SỤP ĐỔ CỦA ĐCS LIÊN XÔ - BÀI HỌC XƯƠNG MÁU CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng trong thời kỳ mới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề xây dựng, củng cố và phát triển nền tảng tư tưởng xã hội, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, coi đó là một trong 3 bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng Đảng và được xác định ở vị trí hàng đầu, nhằm tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và quân ta.
Tư tưởng và công tác tư tưởng
luôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của lịch sử xã hội.
Quốc gia dân tộc nào có nền văn
hóa phát triển cao, một hệ tư tưởng tiến bộ và bền vững thì quốc gia dân tộc đó
có được sức mạnh bền vững và sự phát triển toàn diện.
Trong thời đại ngày nay, khi
cuộc cách mạng khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, xu thế toàn cầu tácđộng
đến tát cảcác quốc gia dân tộc trên thế giới, thì các vấn đề về văn hóa -tư
tưởng, như bản sắc văn hóa, nền tảng tư tưởng trở thành vấn đề lớn của mọi quốc
gia.
Để xã hội bảo đảm định hướng
phát triển theo đúng mục tiêu đãxác định, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong
đó yếu tố nền tảng tư tưởng xã hội là yếu tố quyết định.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của
vấn đề xây dựng, củng cố và phát triển nền tảng tư tưởng xã hội, trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa, coi đó là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị và tư tưởng
- văn hóa). Bởivậy, công tác tư tưởng- văn hóa luôn là một bộ phận quan trọng
trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng từ khi thành lập cho đến nay.
Trong thời kỳ đổi mới, công tác
tư tưởng của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình phức tạp, trong đó nổi lên
là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm phá hoại thành quả
cách mạng của Đảng, phá hoại sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa của Đảng và dân tộc ta. Để bảo vệ thành quả cách mạng, thựchiện công cuộc
xây dựng, phát triển đât nước, công tác tư tưởng của Đảng luônđược đặt lên hàng
đầu.
Xuất phát từ tư tưởng của C.Mác:
“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán của vũ khí,
lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận
cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng”(1),
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc
quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”(2),
Đảng ta đã hình thành hệ thống quan điểm chỉ đạo công tác tư tưởng.
Một là, công tác
tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động
của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế
độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm
vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị,
lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, công tác
tư tưởng phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư
tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá
trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới
chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.
Ba là, công tác
tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp uỷ
các cấp và đồng chí bí thư cấp uỷ, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia,
đóng góp của nhân dân, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm
công tác tư tưởng, lý luận, báo chí của Đảng; phải phát huy dân chủ, khai thác
mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Đảng và toàn xã hội để tạo bước phát triển mạnh
mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí.
Bốn là, công tác
tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức
tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ,
phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự
tự nguyện, giữa lý trí và tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và
“chống”, lấy “xây” làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực; phải gắn bó mật
thiết và phục vụ có hiệu quả công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao đời
sống và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Năm là, báo chí
là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn
của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà nước
và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân
thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo
chí.
Giải pháp mới, hiệu quả mới trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong thời gian gần đây, lợi dụng mạng xã hội các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nhất là những sự kiện chính trị, xã hội lớn của nướcta để xuyên tạc, bịa đặt, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, biểu tình chống đối chính quyền, tập dượt bạo loạn, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Để công tác công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc ngày càng có hiệu quả trong thời gian tới, thiết nghĩ các cấp ủy đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
Một
là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các
thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Phải luôn
chủ động nâng cao kiến thức xã hội về mọi mặt, nhằm xây dựng cho mình nhận thức
chính trị đúng đắn để xem xét, tiếp cận thông tin một cách khách quan, đầy đủ,
chính xác từ những nguồn thông tin chính thống, tránh tiếp cận thông tin phiến
diện, một chiều. Cảnh giác trước các nguồn thông tin sai trái, thù địch, trái
với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Bên
cạnh đó phải có ý thức tự giác, phát huy tính kỷ luật của người cán bộ, đảng
viên trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền
thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp
cận Thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng; những điều Đảng viên không được
làm…
Hai
là, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên khi tham gia mạng xã hội cần biến
trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên,
chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đồng
thời, chủ động phân tích, bình luận, chia sẻ, cung cấp những thông tin chính
thống, tuyên truyền quảng bá về hình ảnh đẹp của mảnh đất và con người Thăng
Bình. Tăng cường đăng tải các thông tin về thành tựu phát triển kinh tế -xã
hội; quốc phòng, an ninh, gương điển hình người tốt, việc tốt;những mô hình
mới, cách làm hay trong các phong trào thi đua yêu nước, học tập và làm theo tư
tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh. Cùng với đó phải tố giác và sẵn sàng
tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật, kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý.
Ba
là, phát huy vai trò, tính chủ động của Ban Chỉ đạo 35 huyện về bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch; đẩy mạnh tuyên truyền đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên chia sẻ những
thông tin chính thống để cùng tuyên truyền vận động bạn bè, người thân, đồng
nghiệp, cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp; bên cạnh đó cần định
hướng những trang thông tin, những tài khoản facebook chính thống để cán bộ,
công chức, đảng viên theo dõi, cập nhật thông tin.
Bốn
là, các cấp ủy, chính quyền cơ sở thường xuyên nắm bắt tình hình tư
tưởng, định hướng kịp thời dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên; lắng nghe ý
kiến phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân địa phương, thường
xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm
mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù
địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn
của cấp ủy cấp trên để tổ chức cung cấp nhanh cho cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức, người lao động những luận cứ, thông tin xác đáng và dựa vào đó, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc trên mạng xã
hội. Tích cực, chủ động xử lý nghiêm các đối tượng cá nhân, tổ chức thuộc địa
bàn, đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, vi phạm quy định của pháp luật và
công khai các kết quả xử lý để răn đe, cảnh tỉnh các đối tượng khác.
Tin tưởng rằng, với những kết quả đạt được cùng với sự cố gắng, nỗ lực của mỗi cán bộ, đảng viên, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ góp phần lan toả những thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác tin giả, tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội, góp phần làm thất bại các âm mưu, hoạt động phản động của các thế lực thù địch, góp phần chung tay giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội.
Ba2505
Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong những năm gần đây, thực tiễn đã có nhiều biến đổi, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những âm mưu ngày càng thâm độc, những thủ đoạn ngày càng tinh vi. Trước tình hình đó, việc nhận diện các quan điểm sai trái thù địch là yêu cầu có tính quyết định để từ đó giúp Đảng, Nhà nước ta có phương thức đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi trong thực tiễn.
Có thể hiểu quan điểm sai
trái, thù địch là những quan điểm thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý
luận cũng như nhận thức thực tiễn hoặc là những quan điểm, lập trường có chủ
đích đi ngược lại và đối lập hoàn toàn với quan điểm, lập trường chính thống
của Đảng Cộng sản Việt Nam, là những quan điểm phủ nhận và đối lập với lập
trường giai cấp công nhân, với lợi ích của quốc gia, dân tộc Việt Nam, nhằm
chống lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt
Nam, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Các quan điểm sai trái, thù
địch rất đa dạng, với nhiều luận điệu và màu sắc khác nhau, có thể chia thành
những nhóm quan điểm như sau:
Thứ nhất, những
quan điểm sai trái do các thế lực thù địch tác động tuyên truyền
Một số xu hướng mà các thế
lực thù địch thực hiện truyền bá những quan điểm sai trái:
Một là, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào
nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Các quan điểm sai trái, thù
địch chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin: Về lý luận, các thế lực thù địch, phản
động đang ra sức phủ định tính khoa học, cách mạng, nhân văn và các giá trị cốt
lõi phù hợp với thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tập trung tấn công
vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như: về hình thái
kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân...Về thực tiễn, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện
thực ở Liên Xô và Đông Âu, chúng rêu rao lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai
lầm, ảo tưởng, rêu rao chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của nhân loại, sẽ tồn tại
vĩnh hằng.
Các quan điểm sai trái, thù
địch chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh: Các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí
Minh theo hai hướng: Một mặt, các thế lực thù địch phủ nhận nội dung, giá trị
của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng đây chỉ là “mớ lý thuyết hỗn độn nhằm đề
cao, sùng bái cá nhân”, là “một di hại to lớn của lịch sử”, “Hồ Chí Minh chỉ
tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”... Mặt khác,
chúng lại ra sức tuyên truyền, đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa chủ nghĩa
Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Hai là, quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào sự lãnh đạo của
Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nướcbằng các luận điệu xuyên tạc như:Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng
cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của
cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự
lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”,
đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam
quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm
mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà
nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc,
phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế
lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự
“chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một
đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”
Ba là, lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc
bản chất Đảng. Loại quan điểm này luôn luôn lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm
của Đảng ta; lợi dụng những khó khăn, hạn chế của chúng ta, hay lợi dụng tình
trạng có một số đảng viên có chức quyền tham nhũng, quan liêu để qua đó nói
xấu, xuyên tạc bản chất của Đảng, cho Đảng ta là quan liêu, tham nhũng, xa dân,
không vì lợi ích của Nhân dân; gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng sự
sụp đổ, khó khăn của chủ nghĩa xã hội để phủ định con đường lên chủ nghĩa xã
hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những
khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của
Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán
thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.
Bốn là, phủ nhận thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử dưới sự
lãnh đạo của Đảng, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa, phê
phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ
nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa.
Chúng hạ thấp những thành
tựu phát triển của đất nước: phủ nhận kết quả đạt được của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận sự thay đổi tích cực trên tất cả
các mặt của đất nước và đời sống xã hội của nhân dân, phủ nhận vị thế và uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Chúng xuyên tạc cuộc
đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phủ nhận những cố gắng, nỗ lực trong công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua đó, trực tiếp phủ định chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng ca ngợi các nước đi theo
con đường tư bản chủ nghĩa, ca ngợi tự do kiểu phương Tây, ca ngợi dân chủ
phương Tây, ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ, ca ngợi những giá trị của
phương Tây, ca ngợi văn hóa thực dụng phương Tây, tuyên truyền cho lối sống
hưởng thụ, thực dụng, ngoại lai vào nước ta… làm Nhân dân ta dao động.
Thứ hai, những quan
điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn
gây ra
Đối tượng này là một số cán
bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn thể trong hệ thống chính trị bị tha hóa;
những phần tử chống đối, phản cách mạng đã từng bị xử lý nuôi tham vọng chờ cơ
hội phục thù, những nhân sỹ, trí thức, các chức sắc tôn giáo, văn nghệ sỹ, thậm
chí có cả một bộ phận trí thức trẻ, có nguồn gốc xuất thân từ các thành phần xã
hội phức tạp, thiếu tu dưỡng rèn luyện, nặng về hưởng thụ, lãng quên trách
nhiệm với cộng đồng…
Chúng lợi dụng sự phát
triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt, tác động
mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng và xã hội; chúng sẵn sàng phủ nhận
thành tựu, sự nỗ lực cố gắng của cả một dân tộc. Chúng hô hào tập hợp lực
lượng, kéo bè kéo cánh nhằm phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới dưới sự
lãnh đạo của Đảng; tìm kiếm, bới móc và hả hê trước những khuyết điểm, thiếu
sót của cán bộ, chính quyền các cấp; tuyên truyền, nói xấu chế độ, nói xấu
Đảng, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo, chống phá Nhà nước Việt
Nam.. .
Thứ ba, những quan
điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị chưa cao
Đồng bào ở các vùng chiến
lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân
tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó
khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số
nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù
địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý.
Do tác động nhiều mặt,
trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo
lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền
thống. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy,
phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không được kiểm
chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai
trái. Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiếu định hướng tư tưởng gây
ảnh hưởng xấu trong dư luận.
Trong khi đó, một số cơ
quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu
cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, không công bằng…. Không ít cán bộ,
đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những tác phẩm này,
không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất
lòng tin và suy thoái về chính trị. Các thế lực thù địch còn rất quan tâm lôi
kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là
lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp
trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư
tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai.
Nhận diện các quan điểm sai
trái, thù địch để chúng ta luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích,
xuyên tạc của các thế lực thù địch. Qua đó chúng ta luôn tự hào trước những
thành tựu mà đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng và luôn tin theo
sự lãnh đạo của Đảng, vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng
lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng
đường tiếp theo.
Mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị và dân chủ
Quan hệ giữa chính trị và dân chủ nói chung và đa nguyên chính trị với dân chủ nói riêng luôn tồn tại những cách hiểu và những cách tiếp cận khác nhau. Bài viết tập trung làm rõ hai cách hiểu về mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị và dân chủ. Một là, coi đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết, là khai mở cho một nền dân chủ. Hai là, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ.
“Đa nguyên chính trị”, “dân chủ”
cũng như mối quan hệ giữa chúng thực chất không quá khó hiểu nhưng thực tiễn
cho thấy, không phải ở nước nào, cá nhân nào cũng hiểu và hành xử vấn đề mối
quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ cho đúng.
Có hai cách hiểu về vấn đề này
như sau:
Một là, coi đa nguyên chính trị
là một điều kiện tiên quyết, là sự khai mở cho một nền dân chủ của xã hội. Số
người có ý kiến này cho rằng, đa nguyên chính trị đối nghịch với nhất nguyên,
chứ không phải chúng thuộc phạm trù triết học cái riêng - cái chung, cũng không
phải là cái “nhất” nằm trong cái “đa” hay cái “đa” bao chứa cái “nhất”. Họ cho
rằng, xã hội nào mà có đa nguyên chính trị thì xã hội ấy tất yếu đi liền với
hiện trạng đa đảng chính trị, thậm chí là có nhiều đảng đối lập với đảng cầm
quyền; rằng, đã đa nguyên chính trị là phải có đa ý thức hệ, là sự thống nhất
trong đa dạng; rằng, đa nguyên chính trị là biểu hiện sự năng động của nền dân
chủ trong xã hội; đa nguyên chính trị là một điều kiện tiên quyết và chính đó
là sự khai mở cần thiết cho việc xây dựng một nền dân chủ cho xã hội, v.v..
Số người có ý kiến này còn cho
rằng, đa nguyên chính trị là một giá trị văn hóa tốt đẹp phổ quát của nhân
loại, khi nhân loại tiến bước mạnh mẽ trên con đường dân chủ, mà đã là dân chủ
thì xã hội mới có sự phát triển được, chứ nhất nguyên chính trị chỉ dẫn đến sự
kìm hãm và bóp nghẹt sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn xã hội đến chỗ nghẹt
thở của chế độ độc tài mà thôi.
Xung quanh vấn đề này, có hai
nhóm ý kiến. Nhóm ý kiến thứ nhất là của một số nhà khoa học, một số nhà hoạt
động chính trị trong và ngoài nước có sự khác nhau về nhận thức chứ không phải
là muốn phủ nhận chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam. Nhóm ý kiến thứ hai
muốn nhân vấn đề mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ để chống phá
Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn xóa bỏ chính thể hiện hành nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, rắp tâm bẻ lái, đưa Việt Nam rẽ sang mục tiêu và con đường
phát triển tư bản chủ nghĩa.
Hai là, xã hội không nhất thiết
phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ. Đã có
một số công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố trên một số tạp chí và báo
trong nước, chủ yếu là ở trong các lực lượng vũ trang, nêu lên lập luận liên
quan vấn đề này. Nhiều bài viết rất công phu, phân tích chặt chẽ. Nhưng cũng có
không ít bài lại dùng lý lẽ Mác - Lênin để đối thoại với cả những người “phá
bĩnh”, trích dẫn cả C.Mác viết như thế này, Ph.Ăngghen viết như thế kia, rồi
V.I.Lênin đã lập luận như vậy, Hồ Chí Minh nói như thế, như thế… Phương pháp
này không hiệu quả.
Sở dĩ xã hội không nhất thiết
phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ là vì:
1. Đa nguyên chính trị, và thậm
chí trong đó có cả đa đảng (đối lập), không phải là một giá trị phổ quát của
nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả các thời kỳ
của một quốc gia - dân tộc
Nói như thế để thấy rằng, đa
nguyên chính trị có thể đúng và phù hợp với quốc gia - dân tộc này nhưng cũng
có thể không đúng và không phù hợp với quốc gia - dân tộc khác. Cũng như vậy,
trong một quốc gia - dân tộc hiện đang có đa nguyên chính trị thì có khi trong
quá khứ và trong tương lai chưa chắc đã có hoặc phải cần đến đa nguyên chính
trị, nó có thể tồn tại trong một thời gian nào đó mà thôi; do đó, nó không phải
là một giá trị vĩnh cửu. Hiện trạng này đang biểu đạt sự phong phú quá trình
vận động của thế giới. Mỗi một quốc gia - dân tộc đều có hoàn cảnh và điều kiện
phát triển riêng; và vì vậy đều có quyền lựa chọn mục tiêu và con đường phát
triển cho quốc gia - dân tộc mình tùy vào những điều kiện nhất định.
Một số nhà khoa học Ấn Độ
cho rằng đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng một nền
dân chủ. Đó là điều kiện và quan điểm của họ. Ấn Độ hiện có khoảng gần 1.800
đảng chính trị (số đăng ký ngay trước mỗi lần tiến hành bầu cử gần đây nhất). Ở
Ấn Độ hiện có nhiều đảng với tên gọi là “đảng cộng sản” (hiện nay có ít nhất
hai đảng: Đảng Cộng sản Ấn Độ - CPI và Đảng Cộng sản Ấn Độ (mácxít) - CPI-M).
Như thế thì lại là có đa nguyên chính trị ngay trong quá trình vận hành của ý
thức hệ cộng sản. Đó cũng là việc của Ấn Độ. Ở một quốc gia cùng một lúc có
nhiều đảng cộng sản thì ngay việc này thôi cũng đã không phù hợp với những
nguyên lý xây dựng đảng vô sản rồi. Việt Nam đã có một thời gian như thế cuối
những năm 20 đầu những năm 30 thế kỷ XX và trên thực tế đã tiến hành hợp nhất
các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam
đầu năm 1930.
Việt Nam cũng đã có thời kỳ đa
đảng chính trị, và thậm chí là đa đảng đối lập những năm 1945-1946. Do đó, có
người cho rằng, ở Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ có đa đảng, và thậm chí
có cả đa đảng đối lập, với Đảng Cộng sản cầm quyền là không đúng. Thực tế là,
những năm 1945-1946, bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương, còn có Việt Nam Quốc
dân đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là
Việt Cách) vốn lưu vong ở Nam Trung Quốc, lúc này theo chân quân đội Trung Hoa
Dân quốc (Tưởng Giới Thạch) vào giải giáp quân đội Nhật Bản đang đóng ở Việt
Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra theo sự phân công quốc tế (riêng quân của Trung Hoa
Dân quốc và thế lực chính trị lưu vong Việt Quốc, Việt Cách còn lợi dụng tình
hình này để thực thi âm mưu “Diệt cộng, cầm Hồ”. Ngay cả bản thân Đảng Xã hội
cũng như Đảng Dân chủ cũng được lập ra do sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông
Dương năm 1946. Đã có Chính phủ liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm
nhiều lực lượng chính trị khác nhau được lập ra ngay sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tuy nhiên, lịch sử đã lựa chọn, sau đó xã
hội Việt Nam không cần đa đảng chính trị, khi các đảng chính trị đối lập (Việt
Quốc, Việt Cách) vốn là tay sai của chính quyền Tưởng Giới Thạch theo chân quân
đội Tưởng Giới Thạch trở về Trung Quốc năm 1946. Còn hai Đảng Xã hội và Dân chủ
với điều kiện hoạt động và hoàn cảnh của mình đã tự giải tán vào năm 1988.
Điều kiện lịch sử của Việt Nam
giai đoạn sau đó và hiện nay cũng như trong tương lai không bao chứa những điều
kiện giống như trước đây (những năm 1945 - 1946). Đó là những điều kiện của
thời kỳ ngay khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa mới được thành lập, nhiều tổ chức chính trị tồn tại trên đất nước, tất
cả các lực lượng đối lập chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tìm
mọi cách kiếm chác quyền lực đối với xã hội với sự giúp đỡ của nhiều thế lực quốc
tế.
Việc lập Chính phủ liên hiệp
trong một xã hội nhiều đảng phái diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt lúc đó để tập
hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết toàn dân tộc xây dựng chế độ mới trong những
buổi đầu của thể chế chính trị mới. Hiện nay, những điều kiện ấy không còn.
Không có lý do gì hiện nay, và chắc chắn trong cả tương lai, Việt Nam lại áp
dụng một cơ chế đa nguyên chính trị và đa đảng, trong đó có những đảng đối lập
với Đảng Cộng sản Việt Nam. Không, lịch sử Việt Nam không lặp lại những điều
kiện và hoàn cảnh như thế. Do đó, nếu ai cứ đòi hiện nay ở Việt Nam phải thực
hiện đa nguyên chính trị và đa đảng thì không những người đó có cái tâm không
lành, mà còn có cái trí không minh và bản lĩnh chính trị thấp. Muốn có dân chủ
thực sự cho đất nước Việt Nam mà lại gắn với đa nguyên chính trị thì đó là phi
thực tế, không phù hợp với điều kiện đất nước.
Bài học nhãn tiền của Đảng Cộng
sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu trong những năm 80-90 thế
kỷ trước đang soi rọi vào tư duy chính trị này. Những đảng cộng sản đó đã trượt
dài trong việc làm xói mòn bản lĩnh chính trị vốn có của một đảng cộng sản cầm
quyền, tự mình xóa bỏ sự lãnh đạo của bản thân mình để tạo ra lực lượng chính
trị đối lập trỗi dậy lấn lướt để triệt tiêu sinh lực chính trị của bản thân.
Những mong cải tổ để có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn, công khai, dân chủ nhiều
hơn, nhưng hại thay và nguy hiểm thay, lại tạo ra những giá trị ảo, mù mờ để
rồi đảng cộng sản không tìm thấy lối ra trong cơn khủng hoảng toàn diện và
nghiêm trọng. Sự sụp đổ của các đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và ở các nước
Đông Âu vào thời kỳ đó do nhiều nguyên nhân khác nữa, cả nguyên nhân sâu xa,
khách quan và chủ quan nhưng điểm mấu chốt nhất vẫn là từ tư duy chính trị sai
lệch trong quan niệm về đa nguyên chính trị và dân chủ.
2. Một đảng duy nhất trong xã
hội và đảng đó đóng vai trò cầm quyền vẫn bảo đảm và phát huy được dân chủ
trong xã hội
Thực tế cho thấy, số lượng các
chính đảng, mà nhiều người hay lấy đó làm tiêu chí để xác định xã hội đó có đa
nguyên chính trị, dân chủ hay không, không ảnh hưởng gì tới nền dân chủ của một
xã hội. Việt Nam hiện nay đang thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đang hội nhập ngày càng sâu và đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu
hóa. Với tình hình đó, ở Việt Nam đang có nhiều thành phần kinh tế khác nhau,
tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân, tôn trọng quyền con người, tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, v.v.. Tất cả những điều đó đã được ghi
nhận trong Hiến pháp và được thể chế hóa trong các luật.
Trong xã hội Việt Nam, tuy vẫn
còn có nhiều ý kiến khác nhau về con đường phát triển của dân tộc nhưng đa số
đều đồng thuận với sự lựa chọn của Đảng. Tuy có những ý kiến khác nhau nhưng
điều này không phản ánh bản chất của chế độ chính trị. Do đó, ở Việt Nam hiện
nay không có đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Cũng đã có những nhận thức
khác nhau về dân chủ, cả ở phạm vi quốc tế và ở cả trong nước. Dân chủ gắn liền
với thiết chế nhà nước và xác định quyền của người dân. Quan điểm của Hồ Chí Minh
là phù hợp nhất đối với Việt Nam: dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm
chủ.
Dân chủ là tự do. Hai giá trị này là khát vọng chung của cả xã hội loài người. Tự do cũng là một yếu tố mà Hồ Chí Minh đã ghi vào tiêu đề văn bản nhà nước (Độc lập - Tự do - Hạnh phúc). Nhưng tự do là gì thì không phải ai cũng dễ có sự thống nhất. Tự do là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Khi con người ta đã nhận thức đúng cái tất yếu và làm theo đúng cái tất yếu đó thì mới có tự do đích thực. Như vậy, đến lúc đó, tự do của cá nhân này không làm phương hại đến tự do của cá nhân khác và tự do cho cả cộng
Tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu, đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân tộc và thời đại, cho nên Đảng được thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc, thể hiện được năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị, có nhiều đảng viên của Đảng là những tấm gương, những tượng đài bất tử trong lòng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, chỉ có một đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, có trí tuệ, phấn đấu vì mục tiêu “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Lịch sử đã cho thấy, trong quá
trình đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, không chỉ có Đảng Cộng sản
Việt Nam là đảng chính trị duy nhất có mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách
thống trị của ngoại bang. Sau khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược
Việt Nam (9-1858), các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần
Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị
đàn áp đẫm máu và lần lượt tan rã. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà
Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1895) đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của
giai cấp phong kiến Việt Nam.
Sau khi phong trào Cần Vương
thất bại, những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại
liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912)
do Phan Bội Châu khởi xướng; Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908);
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều
nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại bởi sự
khủng bố khốc liệt của kẻ thù.
Cuối những năm 20, đầu những năm
30 thế kỷ XX, dưới ách đô hộ, bóc lột tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp và
phong kiến Nam triều, nhiều tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được
thành lập. Các tổ chức, đảng phái này đều có khuynh hướng, mục tiêu đấu tranh
đòi độc lập dân tộc:
Việt Nam Nghĩa đoàn: tổ chức
của một nhóm (17 người) với nòng cốt là những sinh viên yêu nước của trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội, do Tôn Quang Phiệt, Phạm Thiều, Đặng Thai Mai, Nguyễn Quốc
Túy… đứng ra thành lập vào ngày 25-1-1925, tại nhà số 4 đường Giôrêghiberi, Hà
Nội (nay là đường Quang Trung). Tuy Việt Nam Nghĩa đoàn đã có chương trình sơ
lược và 10 lời thề nhưng không thật rõ ràng về chủ trương nên tồn tại không
được bao lâu, một số thành viên rời bỏ tổ chức. Một số phần tử trung kiên do
Tôn Quang Phiệt đứng đầu sau đó kết hợp với nhóm các chính trị phạm ở Trung Kỳ
để thành lập Hội Phục Việt.
Hội Phục Việt: do
Tôn Quang Phiệt, Lê Văn Huân, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Thai Mai và
một số nhân sĩ, trí thức, sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội thành lập
ngày 14-7-1925. Mục đích của Hội là đoàn kết các lực lượng yêu nước, tiến bộ để
làm cách mạng đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, lật đổ bè lũ vua quan bán nước, đem
lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào. Tuy nhiên, Hội không đưa ra
được đường lối, phương pháp, tổ chức, cách thức tiến hành cách mạng. Các hội
viên chỉ mới thống nhất và đưa ra được ba điểm: tuyên truyền phát triển Đảng;
liên lạc với những người cách mạng ở Thái Lan và Trung Quốc; chuẩn bị đại hội
để chính thức thành lập Đảng.
Chính vì vậy, khi đánh giá về tổ
chức Phục Việt, Sở mật thám Đông Dương, trực tiếp là Quyền Cục trưởng Cục Chính
trị và Liêm phóng Lui Mácty (Louis Marty) có vẻ coi thường. Ông ta cho rằng,
thông qua việc đưa ra tôn chỉ mục đích, chứng tỏ: “Những nhà cách mệnh ấy chẳng
biết tí gì về tình hình Đông Dương. Họ cũng không thảo nổi một chương trình
hoạt động thích nghi với tình thế”(1). Tất nhiên, viên Chánh mật thám Đông
Dương chẳng bao giờ có thể nhận xét một cách khách quan và thiện cảm về một tổ
chức cách mạng Việt Nam. Song, phải thừa nhận rằng, về nhận thức cách mạng và
trình độ chính trị, các yếu nhân của Phục Việt lúc bấy giờ còn ấu trĩ, non nớt.
Năm 1926, đồng chí Lê Duy Điếm
(sau đó là đồng chí Trần Phú) được Hội Phục Việt cử sang Quảng Châu liên lạc
với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi bắt được liên lạc và tham gia
khóa huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy, đồng chí Lê Duy Điếm trở về nước và áp dụng
chương trình, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động của Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên vào Hội Phục Việt, làm cho Hội Phục Việt chuyển hóa từ một tổ
chức yêu nước thành một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng vô sản (sau này trở
thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng
Cộng sản Việt Nam).
Đảng Thanh niên Việt Nam do
Trần Huy Liệu, Nguyễn Trọng Hy... thành lập ở Sài Gòn (tháng 3-1926). Dù có
tiếng là tiến bộ, nhưng đến khi: “Ban trị sự đã chính thức thành lập, nhưng
chương trình, điều lệ vẫn không có và cũng chẳng ai hỏi đến... càng chưa nghĩ
đến Đảng Thanh niên theo chủ nghĩa gì”(2). Hoạt động của Đảng chỉ sôi nổi nhất
thời, trong đó có các hoạt động tiêu biểu như tổ chức mít tinh đón Bùi Quang
Chiêu nhưng lại chống tư tưởng “Pháp - Việt đề huề” của Đảng Lập hiến do Bùi
Quang Chiêu đứng đầu, đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh... Khi những người
đứng đầu bị nhà cầm quyền thực dân bắt giữ, Đảng Thanh niên Việt Nam nhanh
chóng tan rã.
Việt Nam Quốc dân Đảng do
Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Tuấn Tài... thành lập
tháng 12-1926 tại Hà Nội. Đây là Đảng của giai cấp tư sản Việt Nam. Mục tiêu
của Đảng là: “Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực
dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp
đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc
biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên”(3). Đảng viên của Việt Nam Quốc dân
Đảng bao gồm các thành phần trí thức, nông dân, địa chủ, thương gia, công chức,
sinh viên, học sinh, công nhân và binh lính người Việt yêu nước trong quân
đội Pháp. Tuy mang danh là “Đảng cách mạng” nhưng không có cơ sở trong nhân
dân, tổ chức lỏng lẻo nên có nhiều phần tử mật thám, chỉ điểm của thực dân Pháp
trong hàng ngũ. Mặt khác, hoạt động của Đảng chủ yếu dùng hành động ám sát cá
nhân nên ít được ủng hộ. Tháng 2-1930, Việt Nam Quốc dân Đảng phát động khởi
nghĩa, biết rằng khó thành công nhưng như Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học đã nói:
“Không thành công thì cũng thành nhân”. Quả nhiên, khởi nghĩa thất bại, hầu hết
những lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng bị bắt và bị đưa đi hành quyết ở Yên
Bái. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái là tiếng vọng cuối cùng của giai cấp tư sản Việt
Nam trên vũ đài chính trị. Ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuyển hẳn vào
tay giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam(4).
Thanh niên Cao vọng Đảng do
Nguyễn An Ninh - chủ bút tờ La Cloche félée (Chuông rè), thành lập và hoạt động
từ năm 1923 đến năm 1928 tại Sài Gòn. Tôn chỉ, mục đích và hoạt động của Đảng
là tuyên truyền nâng cao dân trí. Tiêu chuẩn để được kết nạp vào Đảng là phải
biết chữ Quốc ngữ, phải cắt tóc ngắn. Tổ chức của Thanh niên Cao vọng rất đơn
giản, không có cấp trung ương, cấp tỉnh, trụ sở là nhà riêng của chí sĩ Nguyễn
An Ninh. Sau khi nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và một số người đứng đầu bị bắt,
Thanh niên Cao vọng Đảng nhanh chóng tan rã.
Tổ chức Hội kín Nam Kỳ ra đời
rất sớm, tính từ năm 1914 đến năm 1918 ở Nam Kỳ có từ 70 đến 80 hội kín được
thành lập và hoạt động với mục đích là lật đổ chính quyền thực dân. Tư tưởng
triết lý của các hội kín khá phức tạp, gồm cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo. Các tổ chức hội kín hoạt động độc lập, không có hệ thống chỉ huy chung và
hầu như tất cả đều suy tôn Phan Xích Long (tức Phan Phát Sanh) làm Hoàng
đế. Mỗi hội đều có một hội chủ (gọi là Ông chủ). Hội chủ thường chia hội viên
ra từng nhóm nhỏ (khoảng vài chục người) gọi là “kèo”. Trong khi hoạt động,
giữa các “kèo” không được biết nhau, khi cần gặp nhau hội viên phải dùng ngôn
ngữ và dấu hiệu do hội chủ quy định. So sánh với tổ chức Thiên Địa hội (ở
Trung Quốc), Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu đã nhận xét rằng, tuy cũng uống
máu ăn thề, nguyện tuyệt đối trung thành với nhau, với hội và qua thử thách xem
có đủ can đảm không, song trong Hội kín Nam Kỳ không hề có đẳng cấp với
tính chất phong kiến và tôn giáo như trong Thiên Địa hội. Về tổ chức, Hội kín
Nam Kỳ cũng đơn giản hơn nhiều, vì tính chất bình đẳng, huynh đệ là cơ bản. Khi
quân Pháp tổ chức lùng sục, bắt bớ đã thu được nhiều bài “Phú hoài cổ” (của nhà
giáo Võ Trường Toản) và các “bùa chú”. Nội dung bài “Phú hoài cổ” đề cao tư
tưởng “trung, hiếu”, “xả thân thủ nghĩa”. Còn “bùa chú” là do các hội viên tin
rằng nó có thể làm tăng thêm sức mạnh và giúp họ tránh được mọi hiểm nguy khi
lâm trận. Một tổ chức chính trị, có khuynh hướng “cách mạng” mà lại mang màu
sắc tôn giáo, huyền bí như vậy, cho nên khi bị khủng bố đã mau chóng tan rã.
Ngoài các tổ chức, đảng phái nói
trên, còn có một số tổ chức và đảng phái chính trị ra đời sau Đảng Cộng sản
Việt Nam như: Nhóm Trốt kít với các đại biểu là Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần
Văn Thạch..., là một tổ chức chính trị “mượn danh” mácxít, du nhập vào Việt Nam
khoảng những năm 30 thế kỷ XX. Đến giữa những năm 30, Mặt trận Bình dân Pháp
thắng thế lên cầm quyền, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương nới lỏng chính
sách, cho phép một số tổ chức, đảng phái chính trị được hoạt động công khai.
Những người Trốt kít Việt Nam đã tham gia tranh cử vào Hội đồng Quản hạt Nam
Kỳ; Viện Dân biểu Trung Kỳ v.v.. Tuy nhiên, khi chính quyền thuộc địa trở mặt,
đàn áp các đảng phái chính trị, tổ chức Trốt kít đã tan rã nhanh chóng. Người
ta cho rằng, Trốt kít là những người “cách mạng đầu lưỡi”, sớm bộc lộ bản chất
“cơ hội cách mạng”, do đó chỉ mang tính nhất thời, không được nhân dân ủng hộ.
Ra đời sau Đảng Cộng sản Việt
Nam còn có Việt Nam Cách
mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) được thành lập năm 1940 ở Trung
Quốc. Đầu năm 1942, Việt Cách cùng với Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc - lấy
tên theo Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học), đã tổ chức đại hội, thành
lập Việt Nam Giải phóng Hội, do Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công, Vũ Hồng
Khanh, Nghiêm Kế Tổ... lãnh đạo. Năm 1945, hai tổ chức Việt Cách và Việt Quốc
theo chân 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp
quân Nhật, thực chất là thực thi kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” nhằm “diệt Cộng,
cầm Hồ”, lật đổ chính quyền cách mạng. Nhưng mưu đồ của họ bất thành. Mặc dù
với chính sách đoàn kết dân tộc, họ đã được nhường 70 ghế trong Quốc hội (không
thông qua bầu cử); những người đứng đầu của Việt Quốc và Việt Cách tham gia như
Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó Chủ tịch nước, Vũ Hồng Khanh làm Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng, Nguyễn Tường Tam làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao... trong Chính phủ
Liên hiệp. Tuy nhiên, sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), quân đội của Tưởng Giới
Thạch rút về nước, dù không ai đuổi nhưng Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh...
chạy theo “quan thầy”, bỏ nước, bỏ dân.
Như vậy, thực tiễn lịch sử đã
cho thấy, dù không ai tranh giành, không ai gạt bỏ, nhưng tất cả các đảng phái,
tổ chức chính trị ở Việt Nam (ngoại trừ Đảng Cộng sản) đều không nắm được quyền
lãnh đạo cách mạng. Các đảng phái, tổ chức chính trị dù là đảng của các nhân sĩ
trí thức yêu nước nhiệt thành, hay là đảng của giai cấp tư sản dân tộc... cơ
bản đều chưa có đường lối chính trị rõ ràng, thiếu hệ thống tổ chức chặt chẽ,
có những đảng viên của các tổ chức, đảng phái chính trị nói trên thiếu bản
lĩnh, cơ hội... Vì thế, không đảng phái nào đủ năng lực và uy tín chính trị
lãnh đạo cách mạng. Cho dù có những đảng được phép hoạt động công khai, thậm
chí còn nhận được sự giúp đỡ của các thế lực ngoại bang cả về phương diện tổ
chức lẫn tiền bạc (như Việt Quốc, Việt Cách...) đều thất bại và tan rã nhanh
chóng.
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng
của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, thành lập ngày 3-2-1930 - so với
nhiều đảng phái chính trị khác có thời gian ra đời muộn hơn. Nhưng ngay từ khi
ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm được quyền lãnh đạo cách mạng, được các
giai tầng xã hội thừa nhận vai trò lãnh đạo cách mạng.
Lý giải vấn đề này, nhiều sử gia
và nhiều nhà phân tích chính trị trong và ngoài nước đều thống nhất nhận định
rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã đề ra được chủ trương, đường
lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Mặt khác, Đảng có
phương pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động, phương pháp vận động quần chúng khoa
học, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Từ những yếu tố đó, Đảng tạo
lập được uy tín đối với nhân dân, được nhân dân hết lòng ủng hộ. Sức mạnh của
Đảng bắt nguồn từ niềm tin của hết thảy nhân dân đối với Đảng. Có được niềm tin
ấy, dù Đảng tồn tại dưới hình thức nào (bí mật hay công khai), dù có bao nhiêu
đảng phái, tổ chức khác tham gia trên vũ đài chính trị thì quyền lãnh đạo cách
mạng vẫn thuộc về Đảng Cộng sản. Có thể khẳng định uy tín chính trị là yếu tố
căn bản trong việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến trình
cách mạng Việt Nam.
Song, sẽ là thiếu tính thuyết
phục và phiến diện nếu chỉ lấy tiêu chuẩn năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị
của Đảng làm tiêu chí khẳng định tính ưu việt của Đảng Cộng sản Việt Nam so với
các đảng phái khác. Thực tế ngay khi mới ra đời, Đảng Cộng sản đã nắm được
quyền lãnh đạo cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam
thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Sở dĩ như vậy, là bởi Đảng Cộng sản Việt
Nam sớm biết giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều đó có
nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu đã xác định được mục
tiêu cách mạng, đáp ứng được những đòi hỏi và nguyện vọng cấp bách nhất của
toàn thể dân tộc Việt Nam (độc lập dân tộc), đồng thời, mục tiêu đó còn phù hợp
với xu thế phát triển tất yếu của thời đại (thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã
hội). Cùng với đó, Đảng đã xây dựng được đường lối và phương pháp cách mạng
đúng đắn. Với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt... do lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930), những vấn
đề cơ bản mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam đã được giải quyết. Bên
cạnh đó, những cán bộ, đảng viên của Đảng được huấn luyện, thử thách, rèn luyện
trong phong trào cách mạng, luôn bám sát thực tiễn, có đủ năng lực lãnh đạo và
uy tín chính trị, không phụ lòng tin của nhân dân. Những tấm gương kiên trung
của Đảng đã tỏ rõ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên quyết
hy sinh phấn đấu làm tròn sứ mệnh lịch sử giao phó. Trong tiến trình lịch sử,
Đảng đã lãnh đạo dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi Cách mạng
Tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, quân và dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, làm nên những thắng lợi vĩ đại
trong thế kỷ XX.
Hoàn thành trọng trách lãnh đạo
sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng
sản Việt Nam với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền đã lãnh đạo nhân dân ta
tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới.
Sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh
đạo của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang
phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã
hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và
uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được
cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Thực tiễn đó đã khẳng
định một chân lý, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài
Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng
lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của
dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(5).
Tất nhiên, trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, có lúc Đảng ta bị quân thù khủng bố ác liệt, toàn bộ Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và Xứ ủy đều bị bắt, các tổ chức, cơ sở Đảng bị đánh phá
dữ dội, thiệt hại nặng nề. Nhưng vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng chưa khi
nào bị đứt quãng, bị các đảng phái chính trị khác tiếm quyền. Bởi trong những
giờ phút khó khăn, ác liệt nhất đã có lớp lớp đảng viên của Đảng Cộng sản Việt
Nam hy sinh oanh liệt vì sự nghiệp cách mạng. Các đồng chí Tổng Bí thư Trần
Phú, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong và các nhà lãnh đạo của Đảng như
Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ... đã trở thành tượng đài bất tử trong lòng
nhân dân, tạo nên niềm tin giữa dân với Đảng mà không một kẻ thù nào, không một
thế lực nào có thể chia lìa. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là sức mạnh làm
nên mọi chiến thắng của dân tộc ta. Chính niềm tin là cơ sở quan trọng nhất duy
trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Rõ ràng, chỉ một Đảng cách mạng
chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, trí tuệ, phấn
đấu vì mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân yêu mến, thừa
nhận quyền lãnh đạo, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng
Việt Nam.
Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội
Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là trụ cột có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội. Bài viết tập trung luận giải mối quan hệ giữa dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng và dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội ở nước ta hiện nay.
Nước ta hiện nay đang đẩy mạnh
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu
hóa. Vấn đề dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội trở thành vấn đề lớn, quan
trọng, mang tính quyết định. Nó vừa là mục tiêu, nội dung, phương thức, vừa là
động lực phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đại hội XIII của
Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc,
sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam... tạo động lực mạnh mẽ cho
phát triển nhanh và bền vững”(1). Để phát huy dân chủ, đoàn kết và đồng thuận
xã hội, trước hết Đảng ta phải là một tổ chức dân chủ, đoàn kết, thống nhất ý
chí và hành động. Có thể khái quát mối quan hệ trên như sau:
Một là, yếu
tố quyết định dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là Đảng luôn giữ vững bản
chất giai cấp công nhân; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xây
dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân; đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động
và cả dân tộc; quan điểm, tư tưởng, đường lối và chủ trương, chính sách của
Đảng xuất phát từ lập trường của giai cấp công nhân; trong bất cứ hoàn cảnh
nào, Đảng cũng phải bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đảng phấn đấu cho lợi
ích giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động và cả dân tộc. Chính
điều đó quy định bản chất của Đảng ta là đại biểu trung thành lợi ích của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Xác định rõ lập trường giai
cấp, trung thành với lợi ích giai cấp và dân tộc, nhận diện và đấu tranh chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là bảo
vệ vững chắc sự đoàn kết thống nhất trong Đảng - hạt nhân của đồng thuận trong
xã hội.
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, là cơ sở quan trọng nhất
để mở rộng và phát huy dân chủ, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng cả
về chính trị, tư tưởng và tổ chức; siết chặt kỷ luật; phòng ngừa và khắc phục
sự độc đoán, chia rẽ nội bộ. Trong điều kiện hiện nay, cần thực hiện nghiêm
túc, thực chất nguyên tắc tự phê bình và phê bình, sự nêu gương của những người
lãnh đạo trong thực hành dân chủ, củng cố đoàn kết thống nhất trong từng tổ
chức đảng và trong toàn Đảng, trong các cơ quan, tổ chức được giao phụ trách.
Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ
phẩm chất, năng lực và uy tín, bố trí đúng cán bộ chủ chốt, đặc biệt người đứng
đầu, là yếu tố có tính quyết định để phát huy dân chủ, củng cố và tăng cường
đoàn kết thống nhất trong Đảng. Thực tiễn chứng minh, người đứng đầu có năng
lực, phẩm chất đạo đức và uy tín là yếu tố quyết định mọi thành công. Trong
nhiều trường hợp, sự quyết đoán, trí tuệ và quyết tâm của người đứng đầu đã giúp
địa phương chớp được thời cơ, giành thắng lợi. Ngược lại, do dự, dựa dẫm tập
thể, lẩn tránh trách nhiệm cá nhân dẫn đến mất dân chủ, mất đoàn kết, mất thời
cơ. Chính vì thế, bố trí đúng người, đúng việc là một khâu quan trọng, tiền đề
cho sự ổn định và phát triển. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục xây
dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của
Đảng;... xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán
bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang
tầm nhiệm vụ”(2).
Hai là, Đảng
lãnh đạo cách mạng để giành độc lập dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân, làm
cho nhân dân là người chủ của xã hội, để nhân dân đoàn kết, đồng thuận thực
hiện nghĩa vụ người chủ của mình
Mục tiêu trở thành động lực thôi
thúc đảng viên và các tầng lớp nhân dân quyết liệt đấu tranh, tạo thành sức
mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và quyết định thành công của
công cuộc xây dựng CNXH. Trong chế độ xã hội mới, nền dân chủ XHCN là dân chủ
của số đông, của đa số nhân dân lao động. Bao nhiêu lợi ích là của dân, bao
nhiêu quyền cũng là của dân, thuộc về dân, quyền hành và lực lượng đều ở trong
dân, sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân, do nhân
dân thực hiện. Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân
thành luật pháp, biến đường lối, chủ trương của Đảng thành luật pháp và chính
sách phục vụ nhân dân; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị tổ chức lực lượng nhân
dân thành sức mạnh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chế độ mới, đem lại
hạnh phúc cho nhân dân.
Đảng lãnh đạo phát huy quyền làm
chủ của nhân dân để gây hạnh phúc cho nhân dân là định hướng chính trị tổng
quát và bao trùm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, là mục đích trực tiếp
và sâu xa của sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để đạt được mục đích trực tiếp,
Đảng phải lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện thành công cuộc đấu tranh chống
quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn
xã hội.
Mất dân chủ, mất đoàn kết thống
nhất trong Đảng sẽ làm tổn hại tới lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Quyền
lực nhà nước phải thực sự thể hiện được quyền lực của nhân dân, quyền lực đó
được sử dụng vào mục đích phục vụ nhân dân, bảo đảm cho nhân dân có cuộc sống
vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn
minh tiến bộ. Phải làm cho mỗi người dân được thụ hưởng các quyền và lợi ích
chính đáng; làm cho mỗi người đều có cơ hội như nhau để phát huy mọi năng lực
sáng tạo của mình. Dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội phải được đặt trên nền
tảng ấy mới vững chắc, lâu bền.
Trong điều kiện hiện nay, phải
thực hiện chế độ phân phối hợp lý và khoa học, xóa bỏ cơ chế xin - cho và độc
quyền trong kinh tế. Chế độ phân phối không phù hợp với quy luật khách quan là
một nguyên nhân gây mất dân chủ, mất đoàn kết. Phải thường xuyên nghiên cứu,
hoàn thiện các chế độ phân phối, bảo đảm kịp thời, khoa học, khuyến khích người
làm việc hăng hái, người có nhiều cống hiến cho xã hội. Trong đó, phải có chế
độ đãi ngộ thỏa đáng đối với các đối tượng chính sách, khuyến khích người tài;
tôn vinh xứng đáng những anh hùng, chiến sĩ thi đua, người tốt, việc tốt. Điều
này càng cần được thực hiện trong những hoàn cảnh khó khăn, như khi cả nước dồn
sức phòng, chống dịch Covid-19 như chống giặc hiện nay.
Ba là, dân
chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội là yêu cầu để xây dựng, củng cố dân chủ,
đoàn kết thống nhất trong Đảng
Phát huy dân chủ, xây dựng đoàn
kết, đồng thuận xã hội là củng cố cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng,
Nhà nước. Nếu tạo được dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội thì cơ sở đó
ngày càng vững chắc và ngược lại. Nhưng, đoàn kết, đồng thuận xã hội không thể
tự có, và luôn chịu tác động nhiều chiều từ các yếu tố khách quan, chủ quan cần
được không ngừng xây dựng, vun đắp, củng cố. Do vậy, Đảng lãnh đạo thực hiện
đường lối chiến lược, hiện thực hóa khát vọng, ý chí của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn dân tộc, đồng thời không ngừng phát huy dân chủ, quan
tâm chăm lo đời sống thiết thực của mỗi người dân. Nhân dân rất sáng suốt, nên
sẽ nhận thức được những thành quả do Đảng, Nhà nước mang lại cho nhân dân và
luôn là nền tảng vững chắc cho sự tồn tại của Đảng và hệ thống chính trị, của
chế độ XHCN.
Sự đồng thuận xã hội càng đạt
được ở mức độ cao sẽ càng tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho Đảng, Nhà
nước. Mối liên hệ giữa dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng với dân chủ,
đoàn kết, đồng thuận xã hội ngày càng được gắn kết chặt chẽ và thể hiện trong
thực tiễn ở thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân, trong sạch vững mạnh.
Bốn là, công
cuộc đổi mới đất nước có điều kiện, tiền đề, động lực là dân chủ, đoàn
kết thống nhất trong Đảng và dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta
luôn gắn dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội với việc từng bước xây dựng
nền dân chủ XHCN ở nước ta. Dân chủ hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội là con đường tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thuận xã
hội. Đổi mới đã thực sự mở đường và đặt cơ sở cho một xã hội dân chủ, đoàn kết,
đồng thuận. Tư tưởng dân chủ mang ý nghĩa giải phóng con người và giải phóng xã
hội và cũng từ đó mà ngày càng có điều kiện tinh thần và vật chất tốt hơn, tạo
cơ sở vững chắc cho đoàn kết, đồng thuận trong xã hội vững chắc.
Năm là, dựa
vào nhân dân để xây dựng Đảng đoàn kết thống nhất, trong sạch, vững mạnh, có đủ
sức mạnh để lãnh đạo xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân
Xây dựng Đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm
quyền và sức chiến đấu của Đảng, phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên là
nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Song, điều đó chỉ trở nên thực chất và phản ánh
sự trưởng thành của toàn Đảng về ý thức dân chủ và trách nhiệm xã hội khi Đảng
thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Dựa vào nhân dân, thắt
chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, làm cho Đảng không ngừng
tăng cường sinh lực, khắc phục bệnh quan liêu là giải pháp chiến lược của công
tác xây dựng Đảng. Cũng tương tự như vậy, Nhà nước chỉ mạnh lên và tăng cường
được hiệu lực, hiệu quả quản lý nếu Nhà nước thực sự là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.
Trong công cuộc đổi mới, dân chủ
hóa cần có những biện pháp để Đảng thu nhận được những thông tin trung thực
nhất của nhân dân, những ý kiến phản biện, khuyến nghị với Đảng về những quyết
sách, kể cả những vấn đề lớn lao, hệ trọng như đường lối, tổ chức, cán bộ ở cấp
cao.
Để xây dựng một xã hội dân chủ,
đoàn kết và đồng thuận, các quan hệ nhân dân với Đảng, Đảng với nhân dân, công
dân với Nhà nước, Nhà nước với công dân, công dân với công dân là những quan hệ
được duy trì trong vùng kiểm soát của pháp luật và được hỗ trợ bằng dư luận xã
hội, với sức mạnh của văn hóa và đạo đức công dân.
Xã hội vận động theo xu hướng
dân chủ hóa, các mối quan hệ xã hội sẽ định hình bởi cấu trúc phân công - hợp
tác - kiểm tra và kiểm soát, được điều chỉnh bằng luật pháp, cũng như tự điều
chỉnh. Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là
phương thức, chỗ dựa để thực hiện dân chủ trong xã hội. Sự vững mạnh của Nhà
nước pháp quyền XHCN và sự trưởng thành của công dân về vai trò của cá nhân, ý
thức nghĩa vụ của chính mình dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ đem lại những thành
quả dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.
Sáu là, tăng
cường kiểm soát quyền lực, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng
phí
Quyết tâm kiểm soát quyền lực,
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí tiếp tục được Đại hội XIII của
Đảng khẳng định mạnh mẽ: “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Kiểm soát quyền lực đối với Nhà nước theo cơ
chế Đảng ban hành đường lối, chủ trương, lãnh đạo để Nhà nước cụ thể hóa bằng
chính sách, pháp luật; nhân dân làm chủ, kiểm soát, giám sát hoạt động của Nhà
nước. Đảng giới thiệu đảng viên ứng cử giữ các chức vụ quan trọng của Nhà nước
để thực thi đường lối, chính sách của Đảng. Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước
thông qua việc kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên thực hiện chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đảng viên trong các cơ quan nhà nước
có thể bị cách chức bất cứ lúc nào nếu quan liêu, tham nhũng, vi phạm pháp luật
đến mức bị xử lý kỷ luật đảng


