Quan hệ giữa chính trị và dân chủ nói chung và đa nguyên chính trị với dân chủ nói riêng luôn tồn tại những cách hiểu và những cách tiếp cận khác nhau. Bài viết tập trung làm rõ hai cách hiểu về mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị và dân chủ. Một là, coi đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết, là khai mở cho một nền dân chủ. Hai là, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ.
“Đa nguyên chính trị”, “dân chủ”
cũng như mối quan hệ giữa chúng thực chất không quá khó hiểu nhưng thực tiễn
cho thấy, không phải ở nước nào, cá nhân nào cũng hiểu và hành xử vấn đề mối
quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ cho đúng.
Có hai cách hiểu về vấn đề này
như sau:
Một là, coi đa nguyên chính trị
là một điều kiện tiên quyết, là sự khai mở cho một nền dân chủ của xã hội. Số
người có ý kiến này cho rằng, đa nguyên chính trị đối nghịch với nhất nguyên,
chứ không phải chúng thuộc phạm trù triết học cái riêng - cái chung, cũng không
phải là cái “nhất” nằm trong cái “đa” hay cái “đa” bao chứa cái “nhất”. Họ cho
rằng, xã hội nào mà có đa nguyên chính trị thì xã hội ấy tất yếu đi liền với
hiện trạng đa đảng chính trị, thậm chí là có nhiều đảng đối lập với đảng cầm
quyền; rằng, đã đa nguyên chính trị là phải có đa ý thức hệ, là sự thống nhất
trong đa dạng; rằng, đa nguyên chính trị là biểu hiện sự năng động của nền dân
chủ trong xã hội; đa nguyên chính trị là một điều kiện tiên quyết và chính đó
là sự khai mở cần thiết cho việc xây dựng một nền dân chủ cho xã hội, v.v..
Số người có ý kiến này còn cho
rằng, đa nguyên chính trị là một giá trị văn hóa tốt đẹp phổ quát của nhân
loại, khi nhân loại tiến bước mạnh mẽ trên con đường dân chủ, mà đã là dân chủ
thì xã hội mới có sự phát triển được, chứ nhất nguyên chính trị chỉ dẫn đến sự
kìm hãm và bóp nghẹt sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn xã hội đến chỗ nghẹt
thở của chế độ độc tài mà thôi.
Xung quanh vấn đề này, có hai
nhóm ý kiến. Nhóm ý kiến thứ nhất là của một số nhà khoa học, một số nhà hoạt
động chính trị trong và ngoài nước có sự khác nhau về nhận thức chứ không phải
là muốn phủ nhận chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam. Nhóm ý kiến thứ hai
muốn nhân vấn đề mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ để chống phá
Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn xóa bỏ chính thể hiện hành nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, rắp tâm bẻ lái, đưa Việt Nam rẽ sang mục tiêu và con đường
phát triển tư bản chủ nghĩa.
Hai là, xã hội không nhất thiết
phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ. Đã có
một số công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố trên một số tạp chí và báo
trong nước, chủ yếu là ở trong các lực lượng vũ trang, nêu lên lập luận liên
quan vấn đề này. Nhiều bài viết rất công phu, phân tích chặt chẽ. Nhưng cũng có
không ít bài lại dùng lý lẽ Mác - Lênin để đối thoại với cả những người “phá
bĩnh”, trích dẫn cả C.Mác viết như thế này, Ph.Ăngghen viết như thế kia, rồi
V.I.Lênin đã lập luận như vậy, Hồ Chí Minh nói như thế, như thế… Phương pháp
này không hiệu quả.
Sở dĩ xã hội không nhất thiết
phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ là vì:
1. Đa nguyên chính trị, và thậm
chí trong đó có cả đa đảng (đối lập), không phải là một giá trị phổ quát của
nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả các thời kỳ
của một quốc gia - dân tộc
Nói như thế để thấy rằng, đa
nguyên chính trị có thể đúng và phù hợp với quốc gia - dân tộc này nhưng cũng
có thể không đúng và không phù hợp với quốc gia - dân tộc khác. Cũng như vậy,
trong một quốc gia - dân tộc hiện đang có đa nguyên chính trị thì có khi trong
quá khứ và trong tương lai chưa chắc đã có hoặc phải cần đến đa nguyên chính
trị, nó có thể tồn tại trong một thời gian nào đó mà thôi; do đó, nó không phải
là một giá trị vĩnh cửu. Hiện trạng này đang biểu đạt sự phong phú quá trình
vận động của thế giới. Mỗi một quốc gia - dân tộc đều có hoàn cảnh và điều kiện
phát triển riêng; và vì vậy đều có quyền lựa chọn mục tiêu và con đường phát
triển cho quốc gia - dân tộc mình tùy vào những điều kiện nhất định.
Một số nhà khoa học Ấn Độ
cho rằng đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng một nền
dân chủ. Đó là điều kiện và quan điểm của họ. Ấn Độ hiện có khoảng gần 1.800
đảng chính trị (số đăng ký ngay trước mỗi lần tiến hành bầu cử gần đây nhất). Ở
Ấn Độ hiện có nhiều đảng với tên gọi là “đảng cộng sản” (hiện nay có ít nhất
hai đảng: Đảng Cộng sản Ấn Độ - CPI và Đảng Cộng sản Ấn Độ (mácxít) - CPI-M).
Như thế thì lại là có đa nguyên chính trị ngay trong quá trình vận hành của ý
thức hệ cộng sản. Đó cũng là việc của Ấn Độ. Ở một quốc gia cùng một lúc có
nhiều đảng cộng sản thì ngay việc này thôi cũng đã không phù hợp với những
nguyên lý xây dựng đảng vô sản rồi. Việt Nam đã có một thời gian như thế cuối
những năm 20 đầu những năm 30 thế kỷ XX và trên thực tế đã tiến hành hợp nhất
các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam
đầu năm 1930.
Việt Nam cũng đã có thời kỳ đa
đảng chính trị, và thậm chí là đa đảng đối lập những năm 1945-1946. Do đó, có
người cho rằng, ở Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ có đa đảng, và thậm chí
có cả đa đảng đối lập, với Đảng Cộng sản cầm quyền là không đúng. Thực tế là,
những năm 1945-1946, bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương, còn có Việt Nam Quốc
dân đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là
Việt Cách) vốn lưu vong ở Nam Trung Quốc, lúc này theo chân quân đội Trung Hoa
Dân quốc (Tưởng Giới Thạch) vào giải giáp quân đội Nhật Bản đang đóng ở Việt
Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra theo sự phân công quốc tế (riêng quân của Trung Hoa
Dân quốc và thế lực chính trị lưu vong Việt Quốc, Việt Cách còn lợi dụng tình
hình này để thực thi âm mưu “Diệt cộng, cầm Hồ”. Ngay cả bản thân Đảng Xã hội
cũng như Đảng Dân chủ cũng được lập ra do sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông
Dương năm 1946. Đã có Chính phủ liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm
nhiều lực lượng chính trị khác nhau được lập ra ngay sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tuy nhiên, lịch sử đã lựa chọn, sau đó xã
hội Việt Nam không cần đa đảng chính trị, khi các đảng chính trị đối lập (Việt
Quốc, Việt Cách) vốn là tay sai của chính quyền Tưởng Giới Thạch theo chân quân
đội Tưởng Giới Thạch trở về Trung Quốc năm 1946. Còn hai Đảng Xã hội và Dân chủ
với điều kiện hoạt động và hoàn cảnh của mình đã tự giải tán vào năm 1988.
Điều kiện lịch sử của Việt Nam
giai đoạn sau đó và hiện nay cũng như trong tương lai không bao chứa những điều
kiện giống như trước đây (những năm 1945 - 1946). Đó là những điều kiện của
thời kỳ ngay khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa mới được thành lập, nhiều tổ chức chính trị tồn tại trên đất nước, tất
cả các lực lượng đối lập chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tìm
mọi cách kiếm chác quyền lực đối với xã hội với sự giúp đỡ của nhiều thế lực quốc
tế.
Việc lập Chính phủ liên hiệp
trong một xã hội nhiều đảng phái diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt lúc đó để tập
hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết toàn dân tộc xây dựng chế độ mới trong những
buổi đầu của thể chế chính trị mới. Hiện nay, những điều kiện ấy không còn.
Không có lý do gì hiện nay, và chắc chắn trong cả tương lai, Việt Nam lại áp
dụng một cơ chế đa nguyên chính trị và đa đảng, trong đó có những đảng đối lập
với Đảng Cộng sản Việt Nam. Không, lịch sử Việt Nam không lặp lại những điều
kiện và hoàn cảnh như thế. Do đó, nếu ai cứ đòi hiện nay ở Việt Nam phải thực
hiện đa nguyên chính trị và đa đảng thì không những người đó có cái tâm không
lành, mà còn có cái trí không minh và bản lĩnh chính trị thấp. Muốn có dân chủ
thực sự cho đất nước Việt Nam mà lại gắn với đa nguyên chính trị thì đó là phi
thực tế, không phù hợp với điều kiện đất nước.
Bài học nhãn tiền của Đảng Cộng
sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu trong những năm 80-90 thế
kỷ trước đang soi rọi vào tư duy chính trị này. Những đảng cộng sản đó đã trượt
dài trong việc làm xói mòn bản lĩnh chính trị vốn có của một đảng cộng sản cầm
quyền, tự mình xóa bỏ sự lãnh đạo của bản thân mình để tạo ra lực lượng chính
trị đối lập trỗi dậy lấn lướt để triệt tiêu sinh lực chính trị của bản thân.
Những mong cải tổ để có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn, công khai, dân chủ nhiều
hơn, nhưng hại thay và nguy hiểm thay, lại tạo ra những giá trị ảo, mù mờ để
rồi đảng cộng sản không tìm thấy lối ra trong cơn khủng hoảng toàn diện và
nghiêm trọng. Sự sụp đổ của các đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và ở các nước
Đông Âu vào thời kỳ đó do nhiều nguyên nhân khác nữa, cả nguyên nhân sâu xa,
khách quan và chủ quan nhưng điểm mấu chốt nhất vẫn là từ tư duy chính trị sai
lệch trong quan niệm về đa nguyên chính trị và dân chủ.
2. Một đảng duy nhất trong xã
hội và đảng đó đóng vai trò cầm quyền vẫn bảo đảm và phát huy được dân chủ
trong xã hội
Thực tế cho thấy, số lượng các
chính đảng, mà nhiều người hay lấy đó làm tiêu chí để xác định xã hội đó có đa
nguyên chính trị, dân chủ hay không, không ảnh hưởng gì tới nền dân chủ của một
xã hội. Việt Nam hiện nay đang thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đang hội nhập ngày càng sâu và đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu
hóa. Với tình hình đó, ở Việt Nam đang có nhiều thành phần kinh tế khác nhau,
tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân, tôn trọng quyền con người, tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, v.v.. Tất cả những điều đó đã được ghi
nhận trong Hiến pháp và được thể chế hóa trong các luật.
Trong xã hội Việt Nam, tuy vẫn
còn có nhiều ý kiến khác nhau về con đường phát triển của dân tộc nhưng đa số
đều đồng thuận với sự lựa chọn của Đảng. Tuy có những ý kiến khác nhau nhưng
điều này không phản ánh bản chất của chế độ chính trị. Do đó, ở Việt Nam hiện
nay không có đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Cũng đã có những nhận thức
khác nhau về dân chủ, cả ở phạm vi quốc tế và ở cả trong nước. Dân chủ gắn liền
với thiết chế nhà nước và xác định quyền của người dân. Quan điểm của Hồ Chí Minh
là phù hợp nhất đối với Việt Nam: dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm
chủ.
Dân chủ là tự do. Hai giá trị này là khát vọng chung của cả xã hội loài người. Tự do cũng là một yếu tố mà Hồ Chí Minh đã ghi vào tiêu đề văn bản nhà nước (Độc lập - Tự do - Hạnh phúc). Nhưng tự do là gì thì không phải ai cũng dễ có sự thống nhất. Tự do là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Khi con người ta đã nhận thức đúng cái tất yếu và làm theo đúng cái tất yếu đó thì mới có tự do đích thực. Như vậy, đến lúc đó, tự do của cá nhân này không làm phương hại đến tự do của cá nhân khác và tự do cho cả cộng
Các thế lực thù địch luôn cổ súy cho đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, với động cơ chính trị đen tối, đó là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì vậy chúng ta phải cảnh giác
Trả lờiXóa