Thứ Tư, 3 tháng 11, 2021

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - giá trị vượt thời đại trong tư tưởng về quyền con người và quyền dân tộc tự quyết

Việc phát triển khái niệm quyền con người (QCN) thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện cô đọng trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của lý luận về QCN cũng như của luật quốc tế về QCN, khi lần đầu tiên trong lịch sử khái niệm quyền sống, quyền tự do của các dân tộc được mở rộng từ quyền sống, quyền tự do của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những luận đề hiển nhiên, được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; đồng thời, đưa ra sự khẳng định đầy tinh tế và sâu sắc: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Người dẫn tiếp bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một kết luận: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Bằng việc mở rộng QCN chỉ với tính cách cá nhân lên QCN với tính cách quốc gia - dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một tầm cao mới, trên tinh thần thế giới quan khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử và xã hội loài người, phản ánh chân thực quá trình lịch sử và thực tiễn tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc bị nô dịch và áp bức trên toàn thế giới. Sự mở rộng chủ thể quyền với nội hàm được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc của cá nhân thành của quốc gia - dân tộc là một bước tiến nhảy vọt về lý luận, nhất là vào thời đại các nước thực dân, đế quốc cố tình hạ thấp, chà đạp và tước bỏ phẩm giá của một dân tộc để tôn vinh phẩm giá của kẻ đi bóc lột và nô dịch. Vì thế, ý nghĩa của “sự suy rộng ra” cùng với việc khẳng định quyền được sống của quốc gia - dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại một quan niệm hết sức đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa tự do cá nhân và tự do của cộng đồng, giữa giải phóng con người và giải phóng xã hội. Trong sự thống nhất đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò giải phóng con người về mặt cá nhân. Người khẳng định rằng, muốn giải phóng toàn bộ những lực lượng xã hội, muốn cho xã hội phát triển, thì trước hết phải giải phóng toàn diện cá nhân, tạo ra những tiền đề cho việc phát huy cao độ khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân. Và chỉ khi đó, QCN mới được hiện thực hóa.

Bản Tuyên ngôn Độc lập được kết thúc bằng luận điểm đanh thép, hùng hồn, như một lời hiệu triệu quyết tử để bảo vệ quyền tự do vốn có, thiêng liêng và tối thượng của mỗi người và của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Lời tuyên thệ bất hủ ấy cho thấy khát vọng cháy bỏng về tự do và tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện. Tư tưởng về quyền tự do, dân chủ của bản Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành nguyên tắc hiến định. Các quyền và tự do cơ bản của mỗi người luôn gắn liền với các quyền độc lập và tự do của dân tộc, quốc gia, không ngừng được mở rộng về khái niệm và nội hàm thông qua các bản hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, với sự phát triển vượt bậc các chế định về QCN. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,... cũng chính là thực hiện và phát triển những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QCN.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền và tự do cơ bản của con người trước hết là giá trị nhân văn cao quý của loài người, dù chủ thể của quyền là những con người khác nhau về chủng tộc, màu da, lãnh thổ,... Điều này đã được thể hiện rõ trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương”: “Hỡi những người Pháp!... Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do. Lòng yêu nước thương nòi này làm vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người... Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, QCN là giá trị nhân văn, mang tính phổ biến đối với mỗi người, mỗi dân tộc, là sự khẳng định những giá trị thiêng liêng, cố hữu và bất khả xâm phạm. Giá trị nhân văn sâu sắc của QCN không phải do một lực lượng siêu nhiên nào ban phát hay tước đi, mà được sản sinh ra từ trong lịch sử hình thành, đấu tranh và phát triển của con người, hay là kết quả của lịch sử con người, lịch sử nhân loại mà có.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về QCN là sự thể hiện, đúc rút và kế thừa biện chứng giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, giá trị dân tộc và nhân loại. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “quyền được an ninh và chống áp bức” được nhấn mạnh ở đây chính là quyền dân tộc tự quyết, bất khả xâm phạm, không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ một dân tộc, quốc gia nào, tức là khẳng định quyền dân tộc thiêng liêng và hiển nhiên. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và mở rộng nội hàm của khái niệm “nhân quyền”, nâng khái niệm “nhân quyền” lên tầm cao mới về chất khi được áp dụng cho thành tố quan trọng, không thể tách rời của QCN là quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc.

Quyền con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập ở đây hoàn toàn không phải là sự sáng tạo của đấng tạo hóa theo nhãn quan của các nhà tư tưởng phương Tây chịu ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa hữu thần, mà là việc đem trả lại cái bản thể nguồn cội của QCN là thuộc về mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc và toàn thể nhân loại. Cái bản thể ấy được cô đọng từ giá trị nền tảng, bao gồm phẩm giá, bình đẳng, không phân biệt, tự do và độc lập. Chính những giá trị ấy đòi hỏi con người cần phải được đối xử một cách bình đẳng, được thừa nhận, tôn trọng sự tự trị và tính toàn vẹn với tính cách là một cá nhân độc lập, trong mối quan hệ với những cá nhân khác và với xã hội. Với một quốc gia - dân tộc, trước hết là sự mở rộng của tập hợp cộng đồng bao chứa các cá nhân, đồng thời là sự khái quát hóa và tổng hòa của những cá nhân với những giá trị cố hữu của họ. Theo lô-gíc ấy, đặc tính về phẩm giá, tự do, tính tự trị, tự quyết (độc lập) của mỗi cá nhân cũng chính là đặc tính của mỗi quốc gia - dân tộc. Quốc gia - dân tộc là sự mở rộng của các cá nhân. Do đó, yêu sách về tự do cho mỗi cá nhân là yêu sách về giải phóng dân tộc, là tự do, độc lập cho dân tộc.

MNM

ĐÀN ÁP CÁC DÂN TỘC NHỎ BÉ, MÀ CHÚNG TA ĐÃ HỨA GIẢI PHÓNG - ĐÓ LÀ MỘT SỰ PHẢN BỘI KINH TỞM NHẤT!

      Ngày 3/10/1945, 10.000 quân Pháp (1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đội thủy quân) do Leclerc chủ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 9/10/1945, Pháp Anh ký thỏa hiệp tại Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vĩ tuyến 16. Đêm ngày 10/10/1945, bộ đội Việt Nam tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Việt Nam giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến. Lực lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của Việt Nam sau hai tuần chiến đấu liên tục. 


Ngày 16/10/1945, quân kháng chiến nam bộ phải ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn do lực lượng Anh, Pháp, Nhật quá mạnh. Không quân Hoàng gia Anh và không quân Nhật tiếp tục ném bom vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam.


Phản ứng trước việc Anh dùng quân đội Nhật tấn công lực lượng Việt Minh, tướng Mac Arthur phát biểu: "Nếu có gì đó làm máu tôi sôi lên thì đó là việc tôi thấy các nước Đồng Minh của chúng ta ở Đông Dương và Java sử dụng quân Nhật để đàn áp các dân tộc nhỏ bé này mà chúng ta đã hứa giải phóng. Đó là một sự phản bội kinh tởm nhất."


Hài hước thay không lâu sau đó, chính Mỹ cũng tham gia vào sự phản bội này./.

Hình ảnh lính Anh trang bị tiểu liên Thompson (Mỹ sản xuất) tham chiến ở Việt Nam.

Môi Trường ST.

MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT!

     V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, theo lão nông cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.

4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.

5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta./.

Vla-đi-mia I-lích Lê-nin.

Yêu nước ST.

TƯ DUY PHẢN BIỆN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC LỊCH SỬ Ở ĐÂU?

      GIẢI ĐỘC TÀN DƯ HẬU DUỆ 3 CÀNG

  MẠNG NGỤY THỜI NGỤY RẺ BÈO

       MÀ NAY MA NGỤY LẠI LEO LÊN ĐẦU

            HỎI RẰNG SỬ HỌC Ở ĐÂU?

Cái mạng của cả gia đình "tổng thống" ngụy quyền chỉ có từng này thôi: 6 triệu tiền ngụy! Trần Văn Đôn xơi 3 triệu, 3 triệu còn lại chi cho quân cán hết 1.550.000, hẳn ... một nửa, còn lại thì không biết thằng nào xơi nốt! Những thằng trực tiếp lấy mạng nhà Diệm sau cũng sớm ra ma hết!

Ai chi ra khoản 6 triệu đó?

Theo cuốn “Việt Nam 1954 - 1975, những sự thật chưa hề nhắc tới” do Hoàng Lạc và Hà Mai Việt xuất bản ở Mỹ năm 1990, trang 247 nói về việc lúc 13h30 ngày 1-11-1963, điệp viên CIA Lucien Conein đến bộ Tổng Tham mưu ngụy, vai trò của Lucien ngày hôm đó như sau:

“Lucien ngồi trên ghế bành lớn của Đại Tướng Tỵ, gác chân lên bàn, bên cạnh là khẩu Magnum 44, dưới chân bàn là hai túi xách tay trong đựng sáu triệu đồng bạc Việt Nam. Số tiền này sau được phát cho Tướng Đôn ba triệu, phần còn lại chia cho các tướng khác”.

Số phận anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được quyết định bằng một câu tiếng Pháp, mà Lucien nói với các tướng lĩnh phe đảo chính: "On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs" (Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những quả trứng).

4 giờ chiều 2-11-1963, khi được tin báo anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã bị bắn chết, Đại sứ Mỹ Cabot Lodge vui vẻ thốt lên bằng tiếng Pháp: "C’est formidable! C’est formidable!" (Thật là tuyệt diệu. Tuyệt diệu).

Như vậy là Hoa Kỳ đã dùng tiền hậu thuẫn và lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm với nền Cộng hòa đệ nhất tại miền Nam Việt Nam, nhưng cũng chính Hoa Kỳ với chủ trương “thay ngựa giữa dòng” và bằng tiền của mình, đã chấm dứt sự tồn tại của chế độ Ngô Đình Diệm, mở đầu cho những bước phiêu lưu quân sự tại miền Nam Việt Nam những năm sau đó.

Trong những giờ phút cuối cùng, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu vẫn tin tưởng vào những viên tướng và đơn vị quân đội trung thành với mình như Tướng Trần Văn Đôn, Tướng Tôn Thất Đính, Quân đoàn 3, Sư đoàn 5 bộ binh, Sư đoàn tăng thiết giáp.... Tuy nhiên, đến lúc bị bắn chết, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu vẫn không hề biết rằng, những đơn vị và những viên tướng trung thành với gia đình họ Ngô cuối cùng đã nhận tiền của người Mỹ, trở cờ đứng về phe quân đảo chính"./.




Yêu nước ST.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.

Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet.

Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, QP, AN trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.

Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị TSVM. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

Yêu nước ST.

Dịch bệnh có nguy cơ bùng phát tại Hà Nội

 

Dịch bệnh có nguy cơ bùng phát tại Hà Nội

Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội nhận định, thành phố có nguy cơ bùng phát dịch Covid-19 do số lượng người đến/về gia tăng và tâm lý chủ quan của người dân khi đã tiêm đủ 2 mũi vaccine…

Thông tin nêu trên được Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chử Xuân Dũng nhấn mạnh tại hội nghị giao ban trực tuyến Ban Chỉ đạo thành phố với Ban Chỉ đạo các quận, huyện, thị xã về công tác phòng, chống dịch Covid-19 vào chiều 3/11.

Theo ông Dũng, Hà Nội có nguy cơ bùng phát dịch Covid-19 do số lượng người đến/về thành phố gia tăng và tâm lý chủ quan của người dân khi đã tiêm đủ 2 mũi vaccine… 

Chính vì vậy, lãnh đạo Hà Nội yêu cầu các địa phương cần tiếp tục làm tốt công tác quản lý người từ tỉnh, thành khác đến/về địa phương. Tuyên truyền, vận động người dân cùng vào cuộc trong công tác giám sát, kiểm soát người dân từ vùng khác về địa phương; kịp thời phản ánh đến tổng đài 1022.

"Phải kiểm soát tốt người dân đi/đến thì thành phố mới có thể thích ứng an toàn với dịch bệnh" - ông Dũng nói.

Tiếp đó, Phó Chủ tịch Hà Nội đề nghị triển khai nghiêm túc các nội dung tại Kế hoạch số 243/KH-UBND về thực hiện Quy định tạm thời "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19"; tăng cường xử lý vi phạm liên quan đến công tác phòng, chống dịch; xây dựng kế hoạch, tổ chức các đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch.

Đồng thời, tiếp tục tăng cường nâng cấp hệ thống y tế cơ sở, chuẩn bị sẵn sàng các khu cách ly tập trung, cơ sở thu dung điều trị. Các địa phương tiếp tục kiện toàn liên quan đến việc truy vết, cách ly, xét nghiệm và sàng lọc nơi nguy cơ cao.  Đặc biệt, giao Sở Y tế thành lập tổ công tác khi xuất hiện chùm ca bệnh tại cộng đồng để khẩn trương dập dịch…

Đối với việc mở cửa lại trường học, ông Dũng chỉ đạo các đơn vị sẵn sàng mọi điều kiện theo đúng quy định. Đặc biệt, giao Sở Giáo dục phối hợp Sở Y tế xây dựng hướng dẫn cho các đơn vị khi có các tình huống xảy ra và chú trọng đến công tác y tế học đường nhằm đảm bảo sức khỏe cho học sinh khi đến trường…

Về việc một số đối tượng học sinh tại 18 huyện, thị xã được quay trở lại trường học vào ngày 8/11 theo dự kiến, cần sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị từ thành phố đến các huyện, thị xã… Đặc biệt, nếu tình hình dịch có chiều hướng xấu hơn, số ca mắc tăng lên thì thành phố sẽ có điều chỉnh linh hoạt chủ trương cho học sinh đến trường.

Trước đó, báo cáo tại hội nghị, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Trần Thế Cương cho biết, đến nay, các giáo viên hoàn thành tiêm mũi 1 đạt 97,06%; tiêm mũi 2 đạt 72,85%. Thời gian vừa qua, Sở đã phối hợp Sở Y tế bàn các giải pháp tiêm vaccine cho học sinh. Trước mắt, sẽ tiêm vaccine cho học sinh khối lớp 12 (17 tuổi), tiếp theo là lớp 11 và 10.

 

Hà Nội 7 chùm ca bệnh mới tại cộng đồng

 

Hà Nội 7 chùm ca bệnh mới tại cộng đồng

Báo cáo về tình hình dịch Covid-19, Phó Giám đốc Sở Y tế Nguyễn Cao Cương cho biết, trong đợt dịch thứ 4 (từ ngày 27/4 đến nay), Hà Nội ghi nhận 4.857 ca mắc, trong đó có 1.449 ca tại cộng đồng; 2.254 ca trong khu cách ly tập trung, 864 ca tại khu phong tỏa; 77 trường hợp nhập cảnh; 213 trường hợp mắc tại các bệnh viện trước ngày 30/9.

Hiện thành phố đang có 7 chùm ca bệnh mới phát sinh trong cộng đồng, gồm: Chùm ca bệnh tại Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa; Chùm ca bệnh tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai; Chùm ca bệnh tại Lê Đức Thọ, quận Nam Từ Liêm; Chùm ca bệnh tại An Khánh, huyện Hoài Đức; Chùm ca bệnh tại Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm; Chùm ca bệnh tại Sài Sơn và thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai và chùm ca bệnh tại thôn Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh.

 

Nâng cao cảnh giác, đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam hiện nay

 

Nâng cao cảnh giác, đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam hiện nay

Tôn giáo là một trong những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã. Tôn giáo đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ ngĩa xã hội. Giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Các quyền này đã được nêu rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước Việt Nam, trong đó có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Một số nước vẫn còn có các nhóm người công khai, lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo đến công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, hàng năm có hàng chục phái đoàn vào “tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam”, trong đó vẫn có những nhân vật lợi dụng hoạt động này để nắm bắt tình hình, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá Việt Nam. Trong cái gọi là “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế” hằng năm, họ thường xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, trong đó có những thông tin cố tình làm sai lệch và phản ánh không đúng tình hình như ở Tây Nguyên mấy năm trước và một số địa phương trong những tháng đầu năm nay.

Những phương thức chủ yếu của bọn đế quốc trong việc lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng:

Thứ nhất, chúng tìm mọi cách để đưa giáo hội vào các cuộc chiến chính trị. Một mặt chúng thúc giục các giáo hội ủng hộ các đảng phái đồi lập hoạt động chống Ðảng Cộng Sản. Mặt khác thông qua hoạt động của các đảng phái đối lập để lôi kéo, tập hợp, kích động các chức sắc, giáo sĩ, tín đồ chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, xúi giục các giáo hội đòi lập khu tôn giáo tự trị. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn đế quốc chú trọng đến việc xây dựng các khu tôn giáo tự trị ngay trên lãnh thổ các nước xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn ở Trung quốc, đã một thời xuất hiện khu tự trị Phật Giáo Tây Tạng. Mục đích của việc hình thành các khu tự trị tôn giáo này là: Tăng thêm tính độc lập của giáo hội đối với nhà nước; tạo thế và lực cho giáo hội hoạt động chống nhà nước; tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động can thiệp trực tiếp khi giáo hội yêu cầu.

Thứ ba, khơi dậy, khoét sâu những mâu thuẫn, những vấn đề tôn giáo và dân tộc; kích động các cuộc chiến tranh mang màu sắc tôn giáo, sắc tộc, làm suy yếu tiến tới làm sụp đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay và trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch

Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về công tác tôn giáo, từ thực trạng vấn đề tôn giáo trong lịch sử thế giới và ở nước ta, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam như sau:

Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật, hình thành chủ nghĩa vô thần cho toàn dân mà trực tiếp là đồng bào các dân tộc theo đạo.
Nội dung tuyên truyền phải toàn diện, tổng hợp. Trước hết, cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng thừa nhận rằng: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; tôn giáo có những giá trị văn hóa đạo đức phù hợp với chế độ mới; Đảng và Nhà nước tôn trọng và bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng; tuyên truyền cho đồng bào hiểu rõ: chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề tôn giáo không có mục đích nào khác là nhằm thúc đẩy quá trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy toàn diện quá trình đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Hai là, triển khai thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Đồng thời hết sức quan tâm giải quyết một số vấn đề bức xúc về kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào theo đạo.
Hiện nay, nhiệm vụ chính trị trọng đại của cả dân tộc ta lúc này là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Trên tiền đề có đường lối đúng, việc phát huy cho được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có gần một phần tư dân số theo 6 tôn giáo lớn là một động lực mạnh nhất của quá trình phát triển để đạt mục tiêu vừa nêu. Việc giải quyết vấn đề tôn giáo phải góp phần phục vụ cho nhiệm vụ chính trị căn bản đó.

Trong những năm trước mắt, liên quan tới vấn đề vừa nêu, cần đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh đô thị hoá. Bởi lẽ, một khi đời sống mọi mặt đồng bào được bảo đảm, thì dù thế lực thù địch bên trong và bên ngoài có muốn gây rối bằng việc lợi dụng vấn đề tôn giáo của đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo cũng không thể thực hiện được.

Ba là, củng cố và từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc, cán bộ an ninh, cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ. Đây là điều kiện bảo đảm nắm được quần chúng đồng thời làm nòng cốt cho công tác phòng ngừa, đấu tranh, giáo dục cảm hoá, cải tạo những phần tử xấu, trừng trị những kẻ lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để hoạt động trái pháp luật, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở còn phải chú trọng chất lượng cán bộ làm công tác an ninh, công tác tôn giáo, dân tộc, hướng vào đối tượng người dân tộc thiểu số tại chỗ. Ở cấp cơ sở cơ bản không có cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo, cán bộ kiêm nhiệm không ổn định; họ thiếu thông tin, nhiều người chưa nắm vững nội dung các văn bản của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo. Sự yếu kém, hẫng hụt từ đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay có thể nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém của công tác này. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, trước hết cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ đang làm công tác này. Mấy năm nay, trong sự phối hợp của các đơn vị làm công tác tôn giáo, nhiều loại lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và công tác tôn giáo được mở cho hàng ngàn cán bộ ở các cấp, ngành, các đoàn thể. Đây là một chuyển biến lớn, góp phần nâng cao nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo cho toàn hệ thống chính trị.
Bốn là, triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt công tác phòng, chống và giải quyết “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn.

Phải tôn trọng các tôn giáo có tư cách pháp nhân, tranh thủ giáo sĩ, thực lòng quan tâm đến đồng bào các tôn giáo, dân tộc để vận động đồng bào tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đối với đồng bào không theo tôn giáo thì giáo dục để giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thực hiện các hình thức tín ngưỡng truyền thống, làm vô hiệu hoá hoạt động truyền đạo trái pháp luật. Đối với những người thực sự có nhu cầu theo tôn giáo, cần giáo dục để đồng bào hiểu rõ và thực hiện đúng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân dân cả nước tiếp tục luôn nêu coo cảnh giác, tuyền truyền, tích cực đấu tranh chống các thế thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta, góp phần tích cực bảo vệ và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

HỌC SỬ ĐỂ BIẾT ÔNG CHA TA ĐÃ TỪNG GIAN KHỔ NHƯ THẾ NÀO

     Có 1 ông cụ, thân hình gầy gò ốm yếu vì trải qua nhiều cơn đau, những căn bệnh, đó là di chứng để lại của chiến tranh. Năm đó, ông bị thương nặng lắm, nằm lại chiến trường cùng đồng đội đã hi sinh, ông cũng nghĩ ông đã hi sinh, nhưng may mắn, ông còn sống. Sống để kể lại cho con cháu ông nghe mình đã đi qua cuộc chiến như thế nào, thanh xuân ông, bạn bè ông đã nằm lại chiến trường như thế nào. Đối với ông, cái ch./.ết thật là tầm thường. 


Nhưng gần đây, khi mà ông đã đến cái tuổi sắp được gặp lại những người đồng đội cùng vào sinh ra tử với mình, ông lại bắt đầu sợ, "ông lại sợ ch./.ết".


Vẫn như mọi năm, ông tới nghĩa trang, thăm lại những người bạn của mình, nhớ về thời oanh liệt mà cũng đầy đau thương ấy. Chỉ biết tâm sự với họ rằng:

"Bây giờ tao sợ chết lắm bọn mày ạ. Tao sợ một ngày tao ch./.ết đi, thế hệ chúng ta ch./.ết đi, người ta sẽ quên tao, quên bọn mày, quên tất cả những người đã hi sinh thanh xuân của mình để dành độc lập. Rồi một ngày nào đó, người ta sẽ quay lại biết ơn Pháp, Mỹ hay Trung Quốc, những kẻ đã dẫm đạp lên m.ồ m.ả tổ tiên chúng ta, rồi thờ phụng và tôn vinh chúng. Lúc đó thì chúng ta thật sự đã ch./.ết hoàn toàn rồi"

 

"Một dân tộc mà quên đi lịch sử đất nước, đó là một dân tộc ch./.ết và không có tương lai"./.


Môi Trường ST.