Việc phát triển khái niệm
quyền con người (QCN) thành quyền dân tộc cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh được
thể hiện cô đọng trong bản Tuyên ngôn
Độc lập năm 1945, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của lý luận về
QCN cũng như của luật quốc tế về QCN, khi lần đầu tiên trong lịch sử khái niệm
quyền sống, quyền tự do của các dân tộc được mở rộng từ quyền sống, quyền tự do
của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên
ngôn Độc lập bằng những luận đề hiển nhiên, được cộng đồng quốc tế
thừa nhận rộng rãi: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ
những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; đồng thời, đưa ra sự khẳng định đầy
tinh tế và sâu sắc: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là:
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Người dẫn tiếp bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và
phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ hai bản Tuyên ngôn nổi
tiếng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một kết luận: “Đó là những lẽ phải
không ai chối cãi được”.
Bằng
việc mở rộng QCN chỉ với tính cách cá nhân lên QCN với tính cách quốc gia - dân
tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng vấn đề quyền tự nhiên của con người lên một
tầm cao mới, trên tinh thần thế giới quan khoa học của chủ nghĩa duy vật biện
chứng về lịch sử và xã hội loài người, phản ánh chân thực quá trình lịch sử và
thực tiễn tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc bị
nô dịch và áp bức trên toàn thế giới. Sự mở rộng chủ thể quyền với nội hàm được
sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc của cá nhân thành của quốc gia - dân
tộc là một bước tiến nhảy vọt về lý luận, nhất là vào thời đại các nước thực
dân, đế quốc cố tình hạ thấp, chà đạp và tước bỏ phẩm giá của một dân tộc để
tôn vinh phẩm giá của kẻ đi bóc lột và nô dịch. Vì thế, ý nghĩa của “sự suy
rộng ra” cùng với việc khẳng định quyền được sống của quốc gia - dân tộc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đem lại một quan niệm hết sức đúng đắn về mối quan hệ biện
chứng giữa tự do cá nhân và tự do của cộng đồng, giữa giải phóng con người và
giải phóng xã hội. Trong sự thống nhất đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn
mạnh tới vai trò giải phóng con người về mặt cá nhân. Người khẳng định rằng,
muốn giải phóng toàn bộ những lực lượng xã hội, muốn cho xã hội phát triển, thì
trước hết phải giải phóng toàn diện cá nhân, tạo ra những tiền đề cho việc phát
huy cao độ khả năng tiềm tàng trong mỗi cá nhân. Và chỉ khi đó, QCN mới được
hiện thực hóa.
Bản Tuyên
ngôn Độc lập được kết thúc bằng luận điểm đanh thép, hùng hồn, như
một lời hiệu triệu quyết tử để bảo vệ quyền tự do vốn có, thiêng liêng và tối
thượng của mỗi người và của dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc
Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ
vững quyền tự do và độc lập ấy”. Lời tuyên thệ bất hủ ấy cho thấy khát vọng
cháy bỏng về tự do và tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh là người đại diện. Tư tưởng về quyền tự do, dân chủ của bản Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành nguyên
tắc hiến định. Các quyền và tự do cơ bản của mỗi người luôn gắn liền với các
quyền độc lập và tự do của dân tộc, quốc gia, không ngừng được mở rộng về khái
niệm và nội hàm thông qua các bản hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 1992 và
Hiến pháp năm 2013, với sự phát triển vượt bậc các chế định về QCN. Việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,... cũng chính là thực hiện và
phát triển những tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QCN.
Với
Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền và tự do cơ bản của con người trước hết là giá trị
nhân văn cao quý của loài người, dù chủ thể của quyền là những con người khác
nhau về chủng tộc, màu da, lãnh thổ,... Điều này đã được thể hiện rõ trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương”:
“Hỡi những người Pháp!... Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập.
Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do. Lòng yêu nước thương
nòi này làm vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người...
Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”. Như vậy,
đối với Hồ Chí Minh, QCN là giá trị nhân văn, mang tính phổ biến đối với mỗi
người, mỗi dân tộc, là sự khẳng định những giá trị thiêng liêng, cố hữu và bất
khả xâm phạm. Giá trị nhân văn sâu sắc của QCN không phải do một lực lượng siêu
nhiên nào ban phát hay tước đi, mà được sản sinh ra từ trong lịch sử hình
thành, đấu tranh và phát triển của con người, hay là kết quả của lịch sử con
người, lịch sử nhân loại mà có.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh về QCN là sự thể hiện, đúc rút và kế thừa biện chứng giữa giá
trị truyền thống và giá trị hiện đại, giá trị dân tộc và nhân loại. Với Chủ
tịch Hồ Chí Minh, “quyền được an ninh và chống áp bức” được nhấn mạnh ở đây
chính là quyền dân tộc tự quyết, bất khả xâm phạm, không can thiệp vào công
việc nội bộ của bất kỳ một dân tộc, quốc gia nào, tức là khẳng định quyền dân
tộc thiêng liêng và hiển nhiên. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển và
mở rộng nội hàm của khái niệm “nhân quyền”, nâng khái niệm “nhân quyền” lên tầm
cao mới về chất khi được áp dụng cho thành tố quan trọng, không thể tách rời
của QCN là quyền dân tộc tự quyết, quyền của các dân tộc.
Quyền
con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập ở đây hoàn toàn không phải là sự
sáng tạo của đấng tạo hóa theo nhãn quan của các nhà tư tưởng phương Tây chịu
ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa hữu thần, mà là việc đem trả lại cái bản thể
nguồn cội của QCN là thuộc về mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc và toàn
thể nhân loại. Cái bản thể ấy được cô đọng từ giá trị nền tảng, bao gồm phẩm
giá, bình đẳng, không phân biệt, tự do và độc lập. Chính những giá trị ấy đòi
hỏi con người cần phải được đối xử một cách bình đẳng, được thừa nhận, tôn
trọng sự tự trị và tính toàn vẹn với tính cách là một cá nhân độc lập, trong
mối quan hệ với những cá nhân khác và với xã hội. Với một quốc gia - dân tộc,
trước hết là sự mở rộng của tập hợp cộng đồng bao chứa các cá nhân, đồng thời
là sự khái quát hóa và tổng hòa của những cá nhân với những giá trị cố hữu của
họ. Theo lô-gíc ấy, đặc tính về phẩm giá, tự do, tính tự trị, tự quyết (độc lập)
của mỗi cá nhân cũng chính là đặc tính của mỗi quốc gia - dân tộc. Quốc gia -
dân tộc là sự mở rộng của các cá nhân. Do đó, yêu sách về tự do cho mỗi cá nhân
là yêu sách về giải phóng dân tộc, là tự do, độc lập cho dân tộc.
MNM