Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2021

ĐỪNG SO SÁNH VỚI HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG!

     Trong ít ngày qua tại nhiều diễn đàn lịch sử đã có những bài viết gây tranh cãi đến từ việc so sánh Quan Vũ với Trần Hưng Đạo.

Những người này cho rằng Quan Vũ tài giỏi hơn Trần Hưng Đạo nên được thờ cúng nhiều hơn, người Việt thờ Quan Vũ nhiều hơn, coi trọng sức ảnh hưởng của Quan Vũ hơn, Quan Vũ là vị tướng cao nhất của nhà Thục Hán, có nhiều chiến công lừng lẫy hơn Trần Hưng Đạo. Quan Vũ được tôn là “Võ Thánh”, là người nhà trời, khi chết còn quay lại báo thù, là vị tướng duy nhất được thờ riêng trong Đế Vương Miếu tại Cố cung Bắc Kinh, hơn cả Nhạc Phi, Địch Công, Lưu Bá Ôn... vì thế Hưng Đạo Đại Vương không bằng được.

Tại Việt Nam, Quan Vũ có sức ảnh hưởng nhất định, cả về mặt văn hóa, tín ngưỡng của một bộ phận nhỏ người dân Việt Nam, đến phim ảnh, trò chơi điện tử… Việc thờ phụng Quan Vũ, cơ bản là không sai. Tuy nhiên, nhiều người đem so Quan Vũ với Đức Thánh Trần, tôn vinh Quan Vũ thái quá và hạ thấp Đức Thánh là một việc rất sai, nếu không muốn là đi vào “vết xe xét lại lịch sử”.

Theo đánh giá của mình, phàm là người Việt mà lại đánh giá Quan Vũ cao hơn Đức Thánh Trần là những người không hề có kiến thức về lịch sử, thiếu tự tôn dân tộc, chỉ nghiên cứu lịch sử bằng dã sử dưới con mắt thần thánh hóa của La Quán Trung.

Về xuất thân, theo lịch sử, Quan Vũ xuất thân nghèo khó, làm nhiều nghề nhưng không giỏi nghề nào. Thậm chí xuất thân của Quan Vũ còn không bằng được Trương Phi, khi Trương Phi được sinh ra trong gia đình giàu có, học văn - võ đầy đủ, thông minh, vẽ đẹp, còn La Quán Trung khi khắc họa Trương Phi thì như là một gã thổ phỉ, lỗ mãng…

Còn Trần Hưng Đạo là con thứ ba của Khâm Minh đại vương Trần Liễu và Thiện Đạo quốc mẫu, gọi vua Trần Thái Tông là chú ruột, mẹ nuôi của ông là Thụy Bà công chúa…. Họ hàng, anh em đều là dòng dõi vua quan, vương giả, học thức đầy đủ.


Kèo này, Trần Hưng Đạo ăn điểm.

Về học thức, Đức Thánh Trần là tác giả của hai bộ binh pháp nổi tiếng là Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Binh thư yếu lược, đây là hai tác phẩm đặt nền móng cho ngành nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngoài ra còn một tác phẩm Hịch tướng sĩ, có giá trị văn học, cổ động, tuyên truyền và ý nghĩa lịch sử to lớn.


Còn Quan Vũ thì…


Kèo này, Trần Hưng Đạo lại ăn điểm.

Về thái độ với bề tôi, Trần Hưng Đạo tin dùng những vị quan văn võ như Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu… mặc cho xuất thân của những vị này đều không có gì quá đặc biệt. Bản thân quyền cao chức trọng, nhưng Trần Hưng Đạo chưa từng phong tướng cho những người này để tránh lời thị phi. Bản thân ông cũng là người cư xử đức độ, được bề tôi kính yêu, tôn trọng, bề tôi hết mực trung thành, xả thân vì nước.

Còn Quan Công thì tự coi mình “thượng đẳng” trong Ngũ Hổ Tướng, khinh Hoàng Trung và Mã Siêu, vốn được xếp ngay phía dưới Quan Vũ. Coi quân lính và bề tôi dưới quyền như cỏ rác, như My Phương và Sỹ Nhân, bị bề tôi làm phản, rồi phải nhận cái chết.

 

Kèo này, Đức Thánh lại hơn.

Về thái độ với vua, Đức Thánh Trần gạt bỏ hết mọi hiềm khích từ đời cha, hết lòng phò tá vua Trần. Ngay cả khi nắm đại quyền trong tay, ông vẫn trung thành hết mực, không có tư tưởng làm phản, chấn chỉnh tư tưởng phản nghịch với cả con cái.

Nói về Quan Vũ, từng tuyên bố không thờ hai chủ, nhưng sau khi Lưu Bị chưa rõ sống chết thế nào thì về cùng Tào Tháo, biết tin Lưu Bị còn sống thì rời đi. Lại còn sĩ diện ở trận Xích Bích, tha cho Tào Tháo, gián tiếp khiến sau này đại cục Thục Hán không thành. Đồng ý rằng việc quy hàng Tào Tháo nhằm bảo vệ gia quyến Lưu Bị, nhưng việc tha bổng cho Tào chỉ vì hai chữ “nghĩa khí”, lại làm hỏng việc nước. Tầm Quan Vũ còn chưa chắc đã ngang bằng với Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng.


Kèo này, không cần phải nói cũng biết ai hơn ai.

Về chiến công, nói ngắn gọn thế này, tham gia và lãnh đạo trực tiếp đánh bại quân Nguyên - Mông tận 3 lần. Hồi ấy, quân Nguyên - Mông đơn giản là vô đối thế giới.

Còn những chiến công của Quan Vũ? Cần phải nói rằng những chiến công của Quan Vũ đều được thổi phồng, không thực tế. Quan Vũ chỉ duy nhất hạ gục được Nhan Lương, võ nghệ còn không bằng Lữ Bố, còn lại mười mấy chiến công khác đều được thổi phồng. Những gì mà Quan Vũ làm được, còn không sánh vai được với Trần Bình Trọng, Phạm Ngũ Lão…


Kèo về chiến công, Đức Thánh Trần hơn là rõ.

Người ta ca ngợi Quan Vũ là nghĩa khí, oai phong, trọng tình huynh đệ? Nhưng Quan Vũ lại khinh thường chiến tướng ngang bằng như Mã Siêu, Hoàng Trung, tự coi con gái mình là “giống hổ”, còn con của Tôn Quyền là “giống cún”... Chính vì thói kiêu căng, ngạo mạn, Quan Vũ đã để mất Kinh Châu, gián tiếp khiến Trương Phi nóng báo thù mà chết, Lưu Bị cũng đi theo, đại cục Thục Hán chấm dứt.

Còn Đức Thánh vì đại cục thiên hạ, bỏ qua tội thông dâm cho Trần Khánh Dư, đưa ông trở lại làm tướng, chủ động làm hòa và giữ thái độ đúng mực với Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Khi đạt được nhiều vinh quang, thành tựu, ông không hề kiêu căng hay tỏ ra bề trên, hết mực dạy quân sĩ khiêm tốn và rèn luyện. Bản thân ông cũng là người có tư tưởng “lấy dân làm gốc”, khoan thư sức dân, khiến cho các triều đại sau học tập.

Tại Việt Nam, việc thờ Quan Công tương đối phổ biến, nhưng đó là các nơi thờ nhỏ lẻ, không đại diện cho đại đa số người dân. Còn việc thờ cúng Hưng Đạo Vương đã trở thành tín ngưỡng của dân tộc, được người Việt hết sức coi trọng. Trong dân gian Việt Nam có câu nói “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, “cha” ở đây chính là Đức Thánh.


Quay trở lại câu hỏi tiêu đề, Quan Vũ có tuổi gì mà so sánh với Hưng Đạo Đại Vương?

Môi Trường ST.

VẠCH MẶT ÂM MƯU LẬT SỬ, XUYÊN TẠC VỀ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA!

     Đằng sau ánh hào quang đó, có nhiều phần tử thù địch, cơ hội chính trị đã tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga nhằm phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái sự phát triển của nhân loại theo con đường tư bản chủ nghĩa.


Luận điệu của những kẻ “trở cờ”

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới-thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù cuộc cách mạng có tầm ảnh hưởng rất lớn, có ý nghĩa vạch thời đại nhưng ngay khi đó, các học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của nó. Họ cho rằng Cách mạng Tháng Mười chỉ là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, là “sự chệch hướng lịch sử”... Có kẻ còn cáo buộc sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sau Cách mạng Tháng Mười là “quái thai của lịch sử”...

Nguy hại hơn, không chỉ có những kẻ đứng trên lập trường tư sản mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản Liên Xô cũng lên tiếng phủ nhận, xuyên tạc giá trị của Cách mạng Tháng Mười. Điển hình là A.Yakovlev-Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, người có vai trò là một trong những “kiến trúc sư” trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong những năm cải tổ, A.Yakovlev lộ rõ bản chất của một kẻ chống cộng với tuyên bố Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”.

Theo ông ta, vì Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa và toàn bộ lịch sử Liên Xô kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Đây thực chất là luận điệu “lật sử”, “trở cờ” của A.Yakovlev. Ông ta đã phản bội lại lịch sử của dân tộc, phản bội lại cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại mà chính ông ta đã từng tham gia.

Hơn 100 năm đã trôi qua nhưng chủ đề về Cách mạng Tháng Mười Nga chưa bao giờ “hạ nhiệt”. Có không ít kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Nhất là khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, họ lại được dịp hả hê, coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng này. Họ cho rằng việc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công hướng lái nước Nga theo con đường xã hội chủ nghĩa là trái với quá trình “lịch sử-tự nhiên” mà Karl Marx đã chỉ ra.

Gần đây, trên các diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những phần tử phản động, cơ hội chính trị, trong đó có Trần Quốc Quân-kẻ đã viết bài đăng trên BBC lên tiếng coi “Cách mạng Tháng 10 Nga thực chất là một cuộc bẻ ghi đường tàu, khiến một phần nhân loại rẽ sang “đường vòng”. “Đường vòng” mà chúng nhắc đến là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhiều nước đang hướng đến.

Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”, các đối tượng này còn lên tiếng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội nói chung; rêu rao rằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là “đẻ non”, “chín ép” và đã đến “hồi kết thúc”...

Bản chất của sự xuyên tạc ấy không chỉ nhắm vào một sự kiện lịch sử cụ thể mà sâu xa hơn nữa là phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho thấy sự nguy hại lớn của những luận điệu xuyên tạc này vì nó gây ra sự xáo trộn về tư tưởng chính trị, hoài nghi về mục tiêu và phản bội lại lý tưởng cách mạng. Do đó, chúng ta không thể coi thường, xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn tinh vi của những kẻ “lật sử”, “trở cờ”!


Sức sống trường tồn

Cho đến nay, mặc dù Cách mạng Tháng Mười Nga đã diễn ra hơn một thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn rất sâu đậm trong đời sống chính trị-xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ 20; trở thành biểu tượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra đã đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cấp thiết của lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa để xây dựng một chế độ xã hội mới-chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Để có được thắng lợi vang dội đó, những người Bolshevik Nga dưới sự lãnh đạo của V.I.Lenin đã chuẩn bị về mọi mặt như chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự...

Dưới ánh sáng của “Luận cương tháng Tư” và sự chỉ đạo của V.I.Lenin, những người Bolshevik xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất cho toàn Đảng là phải lôi cuốn đông đảo giai cấp công nhân và nhân dân lao động về phía cách mạng; thành lập đội quân chính trị đông đảo đủ sức mạnh đánh bại lực lượng phản cách mạng; thành lập lực lượng vũ trang cách mạng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chính trị và chủ động đối phó với sự thay đổi của tình hình. Do đó, không thể nói thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự “ăn may” mà nó được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng và hội tụ đầy đủ cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. “Sắc lệnh hòa bình” và “Sắc lệnh ruộng đất” được ban hành ngay sau khi cách mạng thành công đáp ứng được ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc.

Sự thống nhất về mặt lợi ích của giai cấp vô sản với nhân dân lao động đã hình thành và phát triển một nguyên tắc đạo đức mới, đó là chủ nghĩa tập thể. Vì thế, những luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Mười Nga là “cuộc bẻ ghi đường tàu”, “đưa một phần nhân loại vào đường vòng”, vào “khúc quanh của lịch sử” là hoàn toàn phiến diện, xuất phát từ dã tâm của những kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử và chống phá sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân Liên Xô.

Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười đối với phong trào cách mạng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, ngay từ những năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang ở bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thế giới”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga; luôn kiên định với con đường cách mạng vô sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã lựa chọn. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ 20, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” .

Sự kiên định đó cũng chính là tình cảm, là niềm tin dành cho Cách mạng Tháng Mười Nga và là luận cứ để phản bác những luận điệu của những kẻ cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa to lớn của cuộc cách mạng này./.












(Ảnh: ngày 7/11/2021, lễ kỷ niệm 104 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã diễn ra trên Quảng trường Đỏ tại thủ đô Moskva của Liên bang Nga).

Yêu nước ST.

Cơn khát tàu điện Cát Linh - Hà Đông

Nhà chức trách được dịp nhìn thấy nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng của Hà Nội là khủng khiếp, để nhìn về tương lai. Tâm điểm sự chú ý của người dân Hà Nội cuối tuần qua chính là tuyến đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông chính thức mở cửa miễn phí cho hành khách trải nghiệm. Là một người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, nhà chỉ cách ga Cát Linh chưa đầy một km, tôi cũng rất háo hức được trực tiếp thử cảm giác được ngồi tàu điện - loại phương tiện công cộng hiện đại bậc nhất tại Việt Nam bây giờ. Có mặt tại ga Cát Linh từ khá sớm, khoảng 8h sáng chủ nhật 7/11, tôi đã rất bất ngờ khi lượng người tập trung về đây đông khủng khiếp. Người ta xếp hàng dài dằng dặc cả trăm mét từ tầng dưới lên tầng trên, người này đứng sát người kia, nhích từng bước để chờ đến lượt lên tàu. Không lạ cho tâm lý háo hức của phần đông người dân sinh sống và làm việc tại thủ đô vì đơn giản chúng tôi đã phải chờ đợi giây phút này từ quá lâu. Người dân xếp hàng đông nghịt chờ trải nghiệm tàu Cát Linh - Hà Đông. Video: Lộc Chung - Anh Phú. Người ta cứ "ném đá", chê bai khi dự án này bị chậm tiến độ, đội vốn qua nhiều năm, nhưng thực sự nó vẫn là nỗi mong chờ của người Hà Nội. Lần đầu tiên người Việt được trải nghiệm cảm giác đi trên một phương tiện công cộng hiện đại như thế. Và sự kỳ vọng càng nhân lên gấp bội sau quãng thời gian dài đằng đẵng phải chờ đợi để dự án chính thức được vận hành. Xin bỏ qua những vấn đề lo ngại liên quan đến an toàn phòng dịch Covid-19 khi lượng người tập trung về đây quá đông trong hai ngày cuối tuần qua, không đảm bảo khoảng cách an toàn. Bởi tôi cho rằng đây là trách nhiệm của ban điều hành nhà ga, các cơ quan chức năng, cũng như ý thức của người dân. Tất cả các bên đều cần phải rút kinh nghiệm và có thay đổi để tránh làm tăng nguy cơ lây nhiễm. Nhưng nếu xét về mặt tích cực, giữa thời điểm dịch bệnh này, người ta vẫn đổ về đây tham quan, trải nghiệm, cho thấy một sự hưởng ứng lớn từ phía người dân với giao thông công cộng, rất đáng để lạc quan. >> Tôi chấp nhận đi bộ 2 km để dùng tàu điện Cát Linh - Hà Đông Có người nói: "Chẳng qua vì đang mở cửa miễn phí nên người ta theo tâm lý đám đông hùa nhau đi check-in này nọ", nhưng tôi không nghĩ như vậy. Theo quan sát của tôi, những người tới trải nghiệm tàu Cát Linh - Hà Đông thuộc đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Họ đến đây không chỉ để ngắm cảnh, chụp ảnh, mà còn hỏi han rất kỹ về cách thức đi lại, thủ tục lên tàu, làm quen với các bảng hiệu chỉ dẫn trong quá trình di chuyển, ghi nhớ điểm lên xuống, bàn luận với nhau về thiết kế, tiện nghi, tốc độ và những điểm chưa hài lòng với dự án... Chừng đó đủ cho thấy nhiều người thực sự nghiêm túc với tương lai của loại phương tiện mới này. Nên nhớ rằng, người Hà Nội chưa bao giờ ngó lơ các phương tiện công cộng. Tôi chưa thấy xe buýt ngày nào vắng khách, thậm chí những giờ cao điểm, tôi phải chờ hai, ba chuyến xe mới có chỗ trống để lên là chuyện bình thường. Nhu cầu sử dụng phương tiện công cộng không hề giảm đi trong những năm qua mà thậm chí ngày càng lớn hơn. Hầu như những ai suốt ngày lên tiếng chê bai xe buýt bất tiện thế nào, chất lượng dịch vụ kém thế kia đều là những người chẳng bao giờ đi xe buýt. Thế nên với họ, chê luôn dễ hơn khen và ủng hộ. Chứ thực tế, với không ít người, xe buýt làm một phần không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật. Và tôi tin, với những trải nghiệm ban đầu không hề tệ, theo cảm nhận của tôi và những người xung quanh nhận xét, tàu điện trên cao sẽ sớm trở thành một phương tiện thân thiện, nhận được nhiều sự ủng hộ của người dân thủ đô, giống như xe buýt. Thứ mà tôi hy vọng chính là chất lượng dịch vụ sẽ được đảm bảo và nâng cấp trong suốt quá trình khai thác, cũng như thành phố sớm có thêm những công trình công cộng khác để kết nối và mở rộng hạ tầng giao thông, phục vụ người dân đi lại trên những chặng dài hơn. Nhìn dòng người xếp hàng tại ga hôm nay, mới thấy dự án này quan trọng và cần thiết thế nào. Sau hàng chục năm chờ đợi, cuối cùng người dân Hà Nội cũng đã được đi tàu điện trên cao. Chúng ta đang đi đúng hướng vì tương lai của giao thông công cộng. Không dám đi thì làm sao đến đích? Chậm dứt khoát còn hơn không

Quốc hội thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và phòng chống Covid-19

 Bắt đầu tuần làm việc trực tiếp trong đợt họp thứ hai của Kỳ họp thứ 2, ngày 8/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội và phòng chống Covid-19.

Cụ thể, Quốc hội thảo luận về: Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; Báo cáo về công tác phòng, chống dịch Covid-19 và tình hình thực hiện Nghị quyết số 30/2021/QH15 về Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV; Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2022 và Kế hoạch tài chính- ngân sách nhà nước 3 năm 2022-2024 (trong đó có việc bổ sung dự toán thu, chi vốn viện trợ nước ngoài năm 2021 của tỉnh Quảng Nam; lùi thời điểm cải cách chính sách tiền lương).

Trình bày Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội năm 2021 tại Phiên khai mạc Kỳ họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, nhằm khắc phục những khó khăn do tác động nghiêm trọng của dịch Covid-19, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương vừa phải quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quốc hội, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các nghị quyết, chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ; phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác trong chỉ đạo, điều hành; tập trung giải quyết khó khăn, tháo gỡ vướng mắc, vượt qua thách thức; nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực.

Báo cáo của Chính phủ đánh giá, năm 2022 là năm có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025. Dự báo tình hình quốc tế, trong nước có những thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn. Dịch Covid-19 có thể xuất hiện phức tạp, nguy hiểm hơn. Tăng trưởng kinh tế thế giới không đồng đều, chưa vững chắc và thấp hơn năm 2021; rủi ro tiếp tục gia tăng.

Trong nước, kinh nghiệm, năng lực, khả năng ứng phó dịch bệnh tiếp tục được nâng lên, nhưng sức chống chịu và nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân giảm sút. Nguy cơ chậm phục hồi kinh tế, suy giảm tăng trưởng vẫn còn tiềm ẩn nếu không kiểm soát được dịch bệnh một cách cơ bản để mở cửa trở lại nền kinh tế; rủi ro lạm phát gia tăng; thiên tai, biến đổi khí hậu là nguy cơ luôn tiềm ẩn.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã đề ra 16 chỉ tiêu chủ yếu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; trong đó tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt khoảng 6 - 6,5%; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; bội chi ngân sách Nhà nước so với GDP khoảng 4%.

Để đạt được các mục tiêu này, Chính phủ đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội; triển khai hiệu quả Chiến lược tổng thể về phòng, chống dịch, có lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cấp, các ngành ngay từ đầu năm 2022.

Các địa phương vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng không trái với định hướng của Trung ương; tiếp tục mở rộng độ bao phủ, tăng tốc chiến dịch tiêm vaccine cho người dân; nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là điều trị và ở cơ sở; tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch.

Nguồn: Dân trí.

Hồi phục hình chữ U

Một ngày mưa tầm tã hiếm thấy ở Hà Nội, chúng tôi lắng nghe các ý kiến về khôi phục nhịp đập kinh tế trong bình thường mới. Tại hội nghị tham vấn của CIEM đầu tháng 11, các chuyên gia và nhà quản lý đã tập trung vào câu hỏi chính: Việt Nam sẽ phục hồi trong ngắn hạn thế nào. Đồng thời, làm gì để chuyển đổi nền kinh tế theo con đường tăng trưởng xanh bền vững dựa trên khả năng chống chịu trong bối cảnh dễ bị tổn thương, tính phức tạp và mơ hồ cao hơn. Sau những xáo trộn, nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục trong tháng 10. Tôi đồng tình với đa số diễn giả trong hội nghị về dự báo GDP giữ được tốc độ tăng trưởng dương, vào khoảng 2% - 2,5% trong năm 2021. Dù đó là mức thấp nhất từ hơn 10 năm qua, nhưng vẫn là dấu hiệu tích cực khi nhiều nền kinh tế đã tăng trưởng âm trong đại dịch. Nông nghiệp, may thay, vẫn là trụ đỡ đáng tin cậy của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực và đóng góp đáng kể vào xuất khẩu. Tôi cho rằng, quá trình phục hồi kinh tế tới đây có thể diễn ra theo nhịp độ khác nhau, thể hiện qua mô hình đồ thị tăng trưởng GDP theo hình các chữ V, U, W hay L. Hồi phục kinh tế theo hình chữ V là lý tưởng nhất. GDP bị giảm sút trong đại dịch được phục hồi ngay với tốc độ nhanh, nền kinh tế chạm đáy rồi đi lên được ngay. Kết quả này đòi hỏi phải kiểm soát tốt dịch bệnh, khôi phục đội ngũ lao động, kết nối được chuỗi giá trị bị đứt gãy, chuyển dịch sớm sang cơ cấu kinh tế tối ưu. Hồi phục hình chữ U có nghĩa nền kinh tế phải tiếp tục vật lộn dưới đáy, có thể tăng trưởng thấp một thời gian nhất định rồi mới có thể tăng tốc trở lại tùy khả năng kháng thương của nó. Hồi phục theo hình chữ W là quá trình vất vả, gượng dậy trong thời gian nhất định rồi lại giảm sút để rồi lại hồi phục. Quá trình này đang diễn ra ở một số nước khi virus lây lan nhanh hơn, sau một thời gian mở cửa lại phải nâng cấp các biện pháp cách ly và phòng ngừa khiến kinh tế trồi sụt. Ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, dịch bệnh đang bùng phát, rất có thể mô hình này sẽ xuất hiện. Quá trình hồi phục theo hình chữ L là tệ hại nhất. Việt Nam cần hết sức tránh vì GDP giảm sút sâu rồi tiếp tục bò ngang dưới đáy, không tăng trưởng được trong một thời gian đáng kể. Nó đòi hỏi những biện pháp can thiệp rất mạnh để thoát khỏi trì trệ. Thực chất, mô hình chữ L là không hồi phục, sẽ mang lại nhiều hệ lụy nặng nề về kinh tế, xã hội. Quan sát ở nhiều nước thời gian qua, tôi thấy có sự pha trộn nhất định giữa các mô hình hồi phục, thường là theo chữ U hay W, ít khi thấy được quá trình hồi phục thần kỳ theo chữ V như trong lý thuyết. Mô hình chữ U có lẽ phù hợp với Việt Nam lúc này hơn cả. Chúng ta phải làm gì? Tương tự như khi chữa cho bệnh nhân ốm nặng, cơ thể suy nhược cần liều thuốc để khôi phục sức đề kháng. Tác giả Huỳnh Thế Du đã tổng hợp và so sánh các gói cứu trợ của các nước. Việt Nam hiện mới thực chi cho các gói cứu trợ được khoảng 1% GDP. Trong khi đó, Trung Quốc đã chi 4,7%, Phillipines 5,7%, Indonesia 7,9%, Thái Lan 10%, Malaysia 16,3%, Anh 17,8%, Australia 19%, Pháp 23%, Mỹ 26%, Đức đã chi hơn 39% GDP cho các gói cứu trợ và Nhật Bản cao nhất thế giới với 56,1%. Rõ ràng, nền kinh tế cần một gói cứu trợ đủ lớn để hồi phục. Tôi cũng như nhiều chuyên gia ủng hộ một gói kích thích khoảng 800.000 tỷ đồng, tức tương đương khoảng 9%-10% GDP để giúp đỡ người lao động, trợ giúp doanh nghiệp và thúc đẩy đầu tư công. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Việc trợ giúp phải bao gồm cả khu vực kinh tế tư nhân và các hộ gia đình. Nhưng theo tôi, điều quan trọng là giải ngân kịp thời, công khai minh bạch, chịu trách nhiệm giải trình dưới sự giám sát của các tổ chức có chuyên môn nghiệp vụ để tránh lạm dụng bởi lợi ích nhóm dẫn đến hỗ trợ nhầm. Cải cách thể chế là một trọng tâm cải cách của Đảng và Nhà nước, song vẫn có những trục trặc khiến kết quả chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển. Tôi hoan nghênh một số đại biểu Quốc hội đã nêu trực tiếp tình trạng "sáng đúng chiều sai, ngày mai lại đúng, anh em lúng túng chẳng biết đúng, sai" của nhiều địa phương. Việc thực hiện giãn cách xã hội, kiểm soát dịch bệnh, phương châm biến mỗi xã, phường thành một pháo đài chống dịch đã bị hiểu lầm và biến tướng thành "12 sứ quân". Mỗi địa phương đòi hỏi những giấy phép con khác nhau "ngăn sông cấm chợ", làm tăng chi phí vận tải, thời gian và tiền bạc của dân chúng. Các trục trặc này không thể lặp lại. Mặt khác, đại dịch đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang kinh tế số, "qua mạng" đã trở thành từ khóa quen thuộc với mọi người. Chỉ ba năm trước, những từ như chính phủ điện tử, học qua mạng, shipper, đặt hàng, giao hàng... vẫn còn mới lạ. Công nghệ thông tin đã thâm nhập vào từng gia đình, từng cá nhân già hay trẻ, gồm cả thế hệ U 80 chúng tôi. Điều này có nghĩa chiến lược phát triển kinh tế quốc gia quý tư và 2022 phải đặt trong bối cảnh xã hội số hóa và thế hệ công dân điện tử (e.citizen) đã hình thành. Và còn rất nhiều việc khác cũng có thể số hóa, giảm bớt nhọc nhằn cho người dân. Ví dụ, giấy phép con được cắt giảm nhiều những năm 2000, song sau đó, chúng lại mọc ra dưới nhiều hình thức tinh vi hơn và hiện đã lên đến 5.000 giấy phép các loại. Vận dụng công nghệ thông tin, kinh tế số và chính phủ điện tử, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể công khai các quy trình hướng dẫn doanh nghiệp và người dân thay cho các giấy phép, như công khai cụ thể đề nghị của doanh nghiệp A đang được chuyên viên B xử lý, dự kiến ngày nào trả lời. Bà Đại sứ Thụy Điển, người bạn tốt của Việt Nam, mới đây rất hào hứng kể với chúng tôi kỷ niệm họp với Chính phủ, đối thoại với các quan chức và vui mừng về sự năng động đã trở lại với Việt Nam. Tôi cũng thấy đã xuất hiện những sáng kiến như sản xuất đi cùng chăm sóc y tế, có doanh nghiệp chịu lỗ để nâng tiền lương, thêm phúc lợi thu hút lao động trở lại, nhiều công ty số hóa thành công... Không ít doanh nghiệp dệt may, da giày đã ký được hợp đồng đến hết năm 2021 và sang 2022. Sản xuất được, chúng ta sẽ khôi phục được chuỗi giá trị. Tái cơ cấu kinh tế mới là một vế, như tôi đã nói nhiều lần, vế quan trọng bao trùm vẫn là đẩy mạnh cải cách chính sách và thể chế, tạo ra động lực cho từng công chức và doanh nghiệp. Có thế, chúng ta mới có thể biến đau thương thành sức mạnh.

Thủ tướng: 'Chống dịch theo hướng quản lý rủi ro'

Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam đã thay đổi tư duy và cách chống dịch theo hướng quản lý rủi ro, chứ không theo đuổi chính sách "zero Covid". Phát biểu tại phiên họp Chính phủ thường kỳ chiều 6/11, Thủ tướng nhấn mạnh thông điệp trên, nói rõ thực hiện chiến lược mới từng bước thận trọng, chắc chắn, rút kinh nghiệm và mở rộng dần. Khi chuyển trạng thái, có thể xảy ra vấn đề, nhưng quan trọng nhất là phát hiện, điều chỉnh kịp thời, bởi "không có lựa chọn hoàn hảo mà chỉ có lựa chọn tối ưu". Các địa phương tiếp tục tập trung dập dịch theo hướng cách ly nhanh, hẹp, nghiêm ngặt nhất. "Một tổ dân phố có dịch thì cả phường, cả xã phải lo; một phường, một xã có dịch thì cả huyện phải lo; một huyện có dịch thì cả tỉnh phải lo; một tỉnh có dịch thì cả khu vực phải lo", ông nói và lưu ý Bộ Công an, Quốc phòng cùng tham gia hỗ trợ các địa phương. Trước thách thức dịch bệnh, Thủ tướng cho rằng phải đẩy nhanh tốc độ tiêm vaccine, tập trung cho các địa bàn trọng điểm như miền Tây Nam Bộ. "Hiện nay chúng ta đã có hơn 120 triệu liều vaccine mà mới tiêm được 88 triệu", ông đưa ra con số và yêu cầu tiêm hết số vaccine trong tháng 11. Thủ tướng thông tin, trong chuyến tham dự COP26 và thăm Anh, Pháp, các tổ chức như Astra Zeneca, chương trình Covax cam kết tiếp tục cung cấp vaccine cho Việt Nam. "Khi tới Paris, tôi đã gặp Giám đốc điều hành Chương trình Covax, bà hứa tháng 11 cung cấp đủ cho chúng ta hơn 38 triệu liều", ông nói. Tại phiên họp, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết so với một tháng trước, số ca nhiễm cộng đồng và tử vong đã giảm hơn 60%. Điều này thể hiện rõ hiệu quả của chiến dịch tiêm vaccine. Đến nay, Việt Nam đã có hợp đồng và thỏa thuận cung ứng 195 triệu liều vaccine, trong đó 124 triệu liều đã về Việt Nam. Hôm 5/11, tốc độ tiêm đạt tới 2 triệu mũi trong ngày. 19 tỉnh, thành phía Nam đã có gần 95% dân số trưởng thành được tiêm mũi một; hơn 50% tiêm đủ hai mũi. Tất cả địa phương tiêm cho trẻ 12-17 tuổi đều an toàn, không có trường hợp phản ứng nặng. Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn kiến nghị tạo điều kiện tối đa cho giao thương, đi lại giữa các vùng, thúc đẩy phục hồi kinh tế ở vùng trọng điểm.

Hôm nay Quốc hội thảo luận kinh tế - xã hội

Hôm nay (8/11), Quốc hội bước vào đợt hai của kỳ họp cuối năm với thời lượng 6 ngày, chủ yếu dành cho thảo luận kinh tế - xã hội và chất vấn thành viên Chính phủ. Các đại biểu sẽ cho ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước và công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong hai ngày 8 và 9/11. Quá trình thảo luận, thành viên Chính phủ phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu nêu. Tại phiên khai mạc kỳ họp lần này, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm đạt 5,64%, tuy nhiên quý 3 giảm 6,17% do ảnh hưởng nghiêm trọng của đợt dịch thứ tư; tính chung 9 tháng GDP tăng 1,42%. Thời gian còn lại của năm 2021, Chính phủ xác định tập trung cao nhất cho chống dịch, đồng thời khẩn trương xây dựng các phương án, kịch bản phù hợp với thực tế. "Mọi nguồn lực sẽ được khơi thông cho chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội; sớm đưa học sinh trở lại trường an toàn", Thủ tướng nói. Từ ngày 10 đến sáng 12/11, Quốc hội sẽ chất vấn các thành viên Chính phủ. Bốn Bộ trưởng đăng đàn gồm Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Lao động Thương binh Xã hội Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Chí Dũng và Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo Nguyễn Kim Sơn. Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ báo cáo làm rõ thêm các vấn đề đại biểu quan tâm và trả lời chất vấn. Hoạt động chất vấn được tổ chức theo cách thức lấy nhóm vấn đề làm trọng tâm, vấn đề thuộc trách nhiệm của cá nhân nào thì người đó có trách nhiệm trả lời, với phương thức "hỏi nhanh, đáp gọn". Mỗi lượt 3-5 đại biểu đặt câu hỏi, mỗi đại biểu không quá một phút; người trả lời sẽ giải trình không quá 3 phút cho một chất vấn. Nếu đại biểu không đồng ý với câu trả lời thì có thể sử dụng bảng đăng ký tranh luận, thời gian tranh luận không quá 2 phút. Thông tin tranh luận phải chính xác, đúng phạm vi chất vấn; không đăng ký tranh luận để đặt câu hỏi và không tranh luận giữa các đại biểu với nhau. 1,5 ngày còn lại của chương trình kỳ họp, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 2 dự án luật và một số dự thảo Nghị quyết. Đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê. Các Nghị quyết gồm: Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế; Nghị quyết về quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2021 - 2025); Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2022; phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2022... Quốc hội họp phiên bế mạc sáng 13/11, thông qua nghị quyết về hoạt động chất vấn và nghị quyết kỳ họp. Trước đó, đợt họp đầu tiên theo hình thức trực tuyến kết thúc vào ngày 30/10, sau 11 ngày làm việc. Trong đợt hai này, ngoài đoàn TP HCM và Kiên Giang, tất cả đoàn đại biểu các tỉnh, thành đều họp tập trung tại nhà Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM được phép họp trực tuyến đợt 2 do có 2 thành viên là F0. Các đại biểu đoàn Kiên Giang đang cách ly y tế theo quy định của tỉnh vì tiếp xúc với một F0. Những đại biểu của hai đoàn nói trên công tác ở Trung ương vẫn dự trực tiếp tại Nhà Quốc hội.

Thủ tướng kêu gọi người dân 'không vì tiêm vaccine mà chủ quan'

Các tỉnh, thành đẩy mạnh vận động người dân thực hiện nghiêm 5K, không vì đã tiêm vaccine mà lơ là, chủ quan. Tối 7/11, Văn phòng Chính phủ gửi công điện đến các địa phương, truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng yêu cầu tiếp tục tăng cường phòng, chống Covid-19. Theo đó, các địa điểm nguy cơ cao như bệnh viện, chợ, siêu thị, nhà ga, sân bay, bến xe... tăng cường kiểm tra phòng, chống dịch; các vi phạm liên quan sẽ bị xử lý nghiêm. Tỉnh, thành thực hiện nghiêm quy định của Chính phủ về thích ứng an toàn và các giải pháp phòng, chống dịch như xét nghiệm nhanh, cách ly kịp thời, điều trị hiệu quả..., gắn với thực hiện tốt việc khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội. Các địa phương nâng cao năng lực hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở; chuẩn bị sẵn sàng thành lập ngay trạm y tế lưu động ở những nơi dịch bùng phát, địa bàn dịch phức tạp; tổ chức tiêm chủng nhanh, kịp thời, hiệu quả ngay sau khi được phân bổ vaccine. Thủ tướng giao Bộ Y tế phân bổ khẩn trương số vaccine đã tiếp nhận. Hai bộ Y tế, Quốc phòng tổ chức lực lượng hỗ trợ tiêm chủng. Hôm 6/11, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10, Thủ tướng khẳng định Việt Nam đã thay đổi tư duy và cách chống dịch theo hướng quản lý rủi ro, chứ không theo đuổi chính sách "zero Covid". Ông nói khi chuyển trạng thái, có thể xảy ra vấn đề, nhưng quan trọng nhất là phát hiện, điều chỉnh kịp thời, bởi "không có lựa chọn hoàn hảo mà chỉ có lựa chọn tối ưu". Ngày 7/11, Bộ Y tế ghi nhận 7.631 ca nhiễm Covid-19 ở 56 tỉnh, thành; 61 ca tử vong; 1.301 người khỏi bệnh. Việt Nam đã tiêm được gần 90 triệu liều vaccine, trong đó tiêm mũi một gần 61 triệu liều; tiêm mũi hai gần 19 triệu liều.

NGƯỜI “TRUYỀN LỬA” PHẢI THỰC SỰ CÓ “LỬA”

 “Bệnh” ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Trung ương đã chỉ ra. Đây cũng là một thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ngại học lý luận chính trị, trong đó có những bất cập trong công tác giảng dạy hiện nay...

Bất cập thứ nhất là không ít người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị chưa thực sự say nghề, chưa đầu tư nhiều trí tuệ, công sức vào việc chính của mình nên kiến thức chưa sâu, chưa đủ tầm để phân tích, chứng minh nội dung một cách thuyết phục; phương pháp truyền đạt chủ yếu là... đọc theo giáo án (hoặc có trình chiếu Powerpoint nhưng... toàn chữ như giáo án), người học chép mỏi tay! Kiểu giảng dạy như vậy khiến người học rất chán.

Cần làm gì để giảng viên lý luận chính trị thực sự say nghề, giỏi nghề? Trong rất nhiều giải pháp như: Lựa chọn người giỏi lý luận, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ... thì vấn đề có tính quyết định là phải thực sự quan tâm, có chế độ đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích, tạo động lực cho những người làm công tác này. Người xưa đã dạy “có thực mới vực được đạo”.

Thực tế những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị chỉ có thu nhập từ lương, phụ cấp (vì ít có dạy thêm, làm thêm); trong khi những cán bộ tuổi đời, trình độ tương đương (thậm chí thấp hơn, là học trò) thì có chức quyền và cuộc sống khấm khá... đã tác động không nhỏ tới động lực phấn đấu của không ít giảng viên, nhất là giảng viên trẻ.Thậm chí, có những thầy vốn rất tâm huyết, giỏi về lý luận chính trị, nhưng bị áp lực, nỗi lo "cơm áo, gạo tiền, đặc biệt là chuyện nhà đất"... khiến dần giảm nhiệt huyết. Người “truyền lửa” mà “thiếu lửa” thì không thể “tiếp lửa” cho người học. Chưa kể, điều rất đáng lo ngại là có những thầy còn bột phát “buông” lời thể hiện sự tủi thân, bất mãn trước học viên.

Bất cập thứ hai là nhiều giảng viên lý luận chính trị thiếu kiến thức thực tiễn nên ít có ví dụ, tình huống thực tế để liên hệ, chứng minh, vận dụng nội dung lý luận, khiến nội dung giảng dạy khô cứng, người học khó tiếp thu. Nhiều ví dụ cũ từ hàng chục năm trước được thầy nêu ra không còn phù hợp với hiện thời. Được biết, các học viện, nhà trường đều có quy định cử giảng viên lý luận chính trị đi thực tế, nhưng vì thời gian ngắn nên chưa nắm bắt được nhiều. Đặc biệt, việc đi thực tế ở nước ngoài thì... vô cùng hiếm, trong khi nhiều thầy phải giảng dạy các nội dung trực tiếp liên quan đến thực tế ở các nước.

Một trong những yêu cầu của nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị là phải gắn với thực tiễn, chống lý thuyết suông. Vì vậy, cần tăng cường tổ chức cho đội ngũ giảng viên dạy lý luận chính trị đi thực tế cơ sở, luân chuyển làm cán bộ, nhân viên ở các cấp; cử đi công tác, tìm hiểu ở nước ngoài để phục vụ giảng dạy những nội dung liên quan... Bên cạnh đó, các học viện, nhà trường cần tăng cường mời chuyên viên, chuyên gia, nhà lãnh đạo có trình độ lý luận gắn với kiến thức thực tiễn tham gia giảng dạy một số nội dung cho phong phú, sinh động, hấp dẫn người học...

Bất cập thứ ba là nội dung giảng dạy lý luận chính trị có sự trùng lặp ở các cấp học (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và một số nội dung trùng giữa các bộ môn, khiến người học ở các cấp học sau, môn học sau có cảm giác phải học lại, giảm hứng thú. Bên cạnh đó, khá nhiều giảng viên kết cấu bài giảng nặng về giải thích các khái niệm, các quan điểm liên quan và những nội dung có tính hàn lâm; trong khi thời gian dành cho bài giảng có hạn nên đến phần trọng tâm của bài mà người học rất cần (gồm những quan điểm, vấn đề cốt lõi và liên hệ, vận dụng vào thực tiễn công tác) thì thầy lại giảng lướt hoặc nhắc học viên tự nghiên cứu tài liệu vì đã hết giờ lên lớp. Để khắc phục tình trạng này, Hội đồng Lý luận Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo rà soát lại các giáo trình lý luận chính trị để hạn chế sự trùng lặp giữa các cấp học, môn học. Các học viện, nhà trường cần rà soát nội dung bài giảng, giáo án theo hướng tăng cường phần liên hệ, vận dụng lý luận vào thực tiễn; giảm những khái niệm không cần thiết (nhất là khi giảng dạy cho học viên trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Vì những khái niệm đơn giản thì cơ bản đối tượng này đã nắm được) và giảm những nội dung nặng tính hàn lâm (chỉ những người nghiên cứu chuyên sâu về lý luận mới cần học kỹ nội dung này).

Bất cập thứ tư là không ít giảng viên lý luận chính trị thiếu nghiệp vụ sư phạm, giảng với giọng đều đều, động tác và lời giảng không có điểm nhấn, thiếu sinh động dẫn đến người học dễ... buồn ngủ! Nội dung lý luận chính trị vốn khô khan mà người giảng không có phương pháp sư phạm tốt thì không thể tạo hứng thú cho học viên, người học rất khó tiếp thu. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên lý luận chính trị, các học viện, nhà trường cần xem xét chuyển những giảng viên không thể có phương pháp sư phạm tốt (do cố tật, sở đoản) sang làm việc khác phù hợp hơn. Bên cạnh đó, một giải pháp hiệu quả các trường cần vận dụng là tổ chức ghi hình những bài giảng mẫu của giảng viên giỏi rồi trình chiếu cho học viên xem, sau đó tổ chức nghiên cứu, thảo luận... 

Bất cập thứ năm cần sớm khắc phục là tình trạng chưa coi trọng phát huy sự chủ động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học; quá trình giảng dạy lý luận thường thông tin một chiều kiểu thầy nói-trò nghe và thầy đọc-trò chép; giảng viên ít gợi mở để người học suy nghĩ, phát biểu ý kiến của mình dẫn đến người học thụ động, không hưng phấn. Cùng với đó, thời gian dành cho thảo luận còn ít nên số học viên được phát biểu không nhiều, những ý kiến phản biện chưa có điều kiện làm rõ, phần vì hết thời gian, phần vì không phải giảng viên nào cũng có khả năng giải thích, kết luận rõ ràng, thuyết phục. Thực tế, sau giờ thảo luận vẫn có những học viên băn khoăn, thắc mắc vì chưa được giảng viên giải đáp thỏa đáng, nhất là với những vấn đề thực tế đang diễn ra đã có những điểm khác so với nội dung giáo trình, giáo án. Vì vậy, việc giảm thời gian giảng dạy, tăng thời gian cho học viên nghiên cứu, trao đổi, thảo luận và người dạy kết luận rõ ràng, thuyết phục đối với từng nội dung là rất cần thiết để tránh hiện tượng sau khi học xong mà học viên vẫn còn băn khoăn, chưa “tâm phục, khẩu phục”.

Cuối cùng là thời gian học lý luận chính trị cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cho hợp lý, không nên tổ chức học tập trung kéo dài và học theo kiểu “nhồi nhét” dẫn đến người học căng thẳng, hiệu quả không cao. Việc đào tạo lý luận chính trị ở bậc trung, cao cấp cần theo hướng gợi ý, nêu vấn đề và gửi các tài liệu cần thiết để người học tự nghiên cứu trước; các buổi học tập trung chủ yếu dành cho thảo luận, giải đáp những nội dung khó mà người học chưa hiểu rõ. Việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học lý luận chính trị nên theo hướng đề mở, đưa ra các tình huống thường gặp, người học vận dụng kiến thức đã tích lũy được để giải quyết; hạn chế tối đa kiểu kiểm tra học thuộc lòng lý thuyết và không nên yêu cầu viết bài kiểm tra quá dài (kể cả viết bài thu hoạch, tiểu luận, luận văn); cần khuyến khích học viên hiểu bản chất vấn đề lý luận và biết vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác. 

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải học lý luận chính trị, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”; “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, đường lối và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Tuy nhiên, để cán bộ, đảng viên nói riêng và người học nói chung không ngại học lý luận chính trị thì rõ ràng những bất cập trong công tác giảng dạy lý luận chính trị cần phải được khắc phục. Đặc biệt, việc quan trọng nhất là cần quan tâm chăm lo, có chính sách thỏa đáng để tạo động lực cho đội ngũ giảng viên luôn tâm huyết với nghề, đồng thời thu hút người giỏi làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, vì người “truyền lửa” có làm tốt vai trò “tiếp lửa” thì người học mới nắm chắc, thấm nhuần lý luận và biết vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Đó cũng là một trong những giải pháp hàng đầu phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

TIA CHỚP

Giám đốc Bệnh viện Thủ Đức bị bắt

TP HCMÔng Nguyễn Minh Quân, 48 tuổi, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức bị cáo buộc thông đồng với doanh nghiệp để mua thiết bị vật tư y tế, gây thiệt hại cho Nhà nước. Ngày 7/11, ông Quân và Nguyễn Văn Lợi (35 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Sản xuất Nguyễn Tâm) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an bắt tạm giam về hành vi Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 222 Bộ luật Hình sự. Lệnh khám xét nơi ở và nơi làm việc của hai bị can cũng được thực thi trong chiều hôm qua. Động thái này được nhà chức trách đưa ra sau quá trình điều tra, xác định ông Quân đã thông đồng, cấu kết với Lợi để thực hiện trái quy định của Luật đấu thầu trong việc mua sắm vật tư trang thiết bị y tế tại Bệnh viện TP Thủ Đức. Hành vi này được cho là "gây thiệt hại nghiêm trọng" tài sản Nhà nước. Tuy nhiên, sai phạm cụ thể của ông Tâm chưa được công bố. Ngoài hai bị can trên, Bộ Công an đang mở rộng điều tra, làm rõ vi phạm của những người liên quan, thu hồi tài sản cho Nhà nước và người bệnh. Ông Quân được phân công làm Giám đốc, Bí thư Đảng ủy Bệnh viện quận Thủ Đức từ năm 2007, khi mới 34 tuổi. Năm 2009, đơn vị này được nâng cấp thành bệnh viện hạng 2 với 23 chuyên khoa. Hai năm sau, Bệnh viện Thủ Đức là cơ sở y tế tuyến quận huyện duy nhất trên cả nước được xếp loại bệnh viện hạng 1. Đến năm 2016, Bệnh viện quận Thủ Đức vào nhóm 10 bệnh viện dẫn đầu về chất lượng điều trị và độ hài lòng từ người bệnh trên địa bàn TP HCM. Ông Quân được xem là một trong những người có đóng góp lớn, nâng tầm bệnh viện này.

Đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự

 Đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự

Các thế lực chống phá tìm cách đánh tráo bản chất các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó kêu gọi Nhà nước Việt Nam cần “huỷ bỏ Điều 117, Bộ luật Hình sự”.

Pháp luật là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội loài người, phản ánh ý chí của Nhà nước, giai cấp thống trị. Sự xuất hiện của Nhà nước hay nói cách khác là giai cấp cầm quyền cũng chính là nguyên nhân cho sự ra đời của pháp luật, hoạt động quản lý Nhà nước bằng pháp luật dựa trên ý kiến tổng hợp, đóng góp của người dân, từ đó đưa ra các qui định chung điều chỉnh, quản lý xã hội. Như vậy, pháp luật ra đời gắn liền với lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của những người dân trong xã hội đó. Pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đại diện cho ý chí, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mang lại lợi ích chung cho toàn dân tộc. Thế nhưng, đi ngược lại với lợi ích của đại đa số người dân, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước tìm cách tác động, hướng lái, tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ một số điều trong Hiến pháp, pháp luật, trong đó có Bộ luật Hình sự (BLHS) nhằm thay đổi bản chất, giá trị; bình luận sai lệch một số điều luật và sự điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trước khi diễn ra phiên tòa phúc thẩm xét xử các đối tượng Cấn Thị Thêu (SN 1962, thường trú tại Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội); Trịnh Bá Tư (SN 1989, trú tại Đại Đồng, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 BLHS, các đối tượng phản động, chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ điều luật này. Không chỉ riêng Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, mà một số đối tượng như Phạm Chí Dũng (SN 1966, quê Đồng Tháp, thường trú tại phường 1, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh), Nguyễn Văn Công Em (SN 1971, cư trú tại Mỹ Thạnh, Giồng Trôm, Bến Tre), Nguyễn Tường Thụy (SN 1950, cư trú tại Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội), Nguyễn Thị Cẩm Thúy (SN 1976, thường trú tại Cam Thành Bắc, Cam Lâm, Khánh Hòa)… cũng đã vi phạm quy định của điều luật trên và cơ quan chức năng đã và đang tiến hành các biện pháp tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để xử lý hành vi phạm tội.

Chính vì những “tổn thất” trong hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, các đối tượng chống đối trong, ngoài nước ra sức đòi yêu sách với đề nghị xóa bỏ Điều 117, BLHS.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này. Điều 117, BLHS quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung từ Điều 88 BLHS năm 1999 với một số điểm mới về tên điều luật, nội dung điều luật theo hướng qui định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi khách quan của tội này. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện BLHS nói chung, Điều 88 của BLHS cũ nói riêng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, các mặt khách quan trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trước đó, Điều 88 BLHS năm 1999 cũng là điều luật mà các đối tượng chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, yêu cầu xóa bỏ. Sau khi điều luật này được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo Điều 117, BLHS 2015 thì các phần tử chống đối cũng không từ bỏ âm mưu, mà tiếp tục “bài ca” kêu gọi xóa bỏ nhằm đạt được âm mưu, ý đồ chống phá Nhà nước với mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Liên quan đến hoạt động kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, BLHS là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”. Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS với nội dung qui kết rằng: “Điều 117 vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”. Đặc biệt, khi “nghe tin” phiên tòa xét xử các bị cáo Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang sắp diễn ra, số thành phần bất mãn, chống đối chính trị trong, ngoài nước lại tiếp tục kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS với luận điệu “Điều 117 là hạn chế và cản trở quyền công dân qui định tại điều 25 Hiến pháp…”. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các đối tượng chống phá Nhà nước không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xóa bỏ Điều 117, BLHS để đạt được các mục tiêu, ý đồ phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao các đối tượng phản động, chống phá lại kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS?

Kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS, các đối tượng phản động, chống phá nhằm tác động trực tiếp đến nền tư pháp Việt Nam. Các lập luận, quan điểm xóa bỏ Điều 117, BLHS nhằm tạo ra kẽ hở về mặt pháp lý cho các phần tử phản động, chống phá có thời cơ để tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Có thể nói rằng, muốn có cơ hội cho hoạt động tuyên truyền, tán phát các tài liệu chống phá Nhà nước mà không bị các cơ chế pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên các đối tượng cần phải kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS cũng là lý do để tuyên truyền, xuyên tạc, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, vu cáo Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, can thiệp vào quyền “tự do ngôn luận” nói lên tiếng nói của công dân. Các hoạt động kêu gọi xóa bỏ điều luật nhằm tạo cơ hội cho các đối tượng chống phá nhà nước tuyên truyền, can thiệp vào các lĩnh vực nhạy cảm của đời sống xã hội của Việt Nam trong vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, những mục tiêu mà các đối tượng phản động, chống đối đặt ra là có thời cơ, điều kiện thuận lợi để tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, BLHS nói riêng, BLHS nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, BLHS đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Bên cạnh đó, không thể cho rằng Điều 117, BLHS là “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, bởi lẽ trên thực tế ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ và đó cũng là quyền cơ bản của công dân theo qui định của Hiến pháp. Tuy nhiên, ở đây cần phải hiểu rằng, quyền tự do ngôn luận luôn gắn với nghĩa vụ của công dân, gắn với chế độ chính trị của từng quốc gia, do đó cần phải hiểu đúng các qui định về vấn đề này. Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các giới hạn, quy định riêng về các quyền tự do ngôn luận để phù hợp với đặc thù của chế độ xã hội, tình hình chính trị, văn hóa của các quốc gia đó. Bàn về vấn đề này, năm 1993, Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Vienna (Áo), đại diện các quốc gia đã khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”…

Các lập luận, viện dẫn các thông tin cho rằng Điều 117, BLHS “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” là hoàn toàn không có cơ sở, thiếu căn cứ để ràng buộc. Rõ ràng, đằng sau âm mưu kêu gọi hủy bỏ Điều 117, BLHS của các đối tượng phản động, chống đối nhằm hướng đến mục đích, ý đồ xâm phạm an ninh quốc gia, đe dọa đến sự tồn tại của chế độ, của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự Đại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam

 

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự Đại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Sáng 7/11, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã dự Đại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (07/11/1981 - 07/11/2021). Buổi lễ được tổ chức trực tuyến từ điểm cầu Hà Nội đến 63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

 Các đồng chí: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gửi Lẵng hoa chúc mừng. Cùng dự buổi lễ có các đồng chí: Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Bùi Thị Minh Hoài,  Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương. Dự lễ tại các điểm cầu có các vị chư tôn đức Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự; Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức, Tăng Ni tại nhiều địa phương trong cả nước.

 Đây là Đại lễ kỷ niệm đặc biệt nhất trong lịch sử phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tinh thần tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên; đồng thời, thể hiện tinh thần nhập thế theo phương châm: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội - sợi chỉ đỏ xuyên suốt chặng đường 40 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 

Cách đây 40 năm, tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), Trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay, Đại hội Đại biểu của 9 tổ chức Giáo hội, hệ phái và tổ chức Phật giáo trong cả nước đã họp và nhất trí tuyên bố thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.  

Trong diễn văn kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Trị sự  Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định, chặng đường 40 năm trưởng thành, phát triển, hội nhập cùng đất nước, chưa bao giờ Phật giáo Việt Nam có được tiền đồ như ngày nay ở trong nước và trên thế giới. Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xiển dương đạo pháp, phụng sự nhân sinh, tốt đời đẹp đạo, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thành tựu Phật sự trong 40 năm qua, đó là nền tảng, động lực để hoàn thành chương trình Phật sự nhiệm kỳ 8 và các nhiệm kỳ tiếp theo của Giáo hội tầm nhìn đến năm 2045. Đồng hành cùng khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại để xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng giàu mạnh.

Tại Đại lễ, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh, Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP.HCM đã tuyên đọc Thông điệp của Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh gửi Tăng ni, Cư sĩ  Phật tử nhân Đại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội.

Thông điệp mong muốn các cấp Giáo hội, các Ban, Viện ở trung ương và địa phương, các sơn môn, hệ phái, Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử hãy tiếp tục nêu cao truyền thống nhập thế của Phật giáo Việt Nam, trưởng dưỡng đạo tâm để trang nghiêm Giáo hội. Phát huy hơn nữa truyền thống hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam. Không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân, ngoại giao văn hóa, tôn giáo, chăm lo đời sống văn hóa tâm linh cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thông qua đó giới thiệu tới bạn bè quốc tế sâu rộng hơn về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Việt Nam, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định nhằm xây dựng và phát triển đất nước, giữ vững chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, lịch sử hơn 2.000 năm Phật giáo Việt Nam là lịch sử của những người Phật giáo yêu nước. Tiếp nối dòng chảy của Phật giáo yêu nước cho tới thời đại Hồ Chí Minh ngày nay, ở thời kỳ nào, dù trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hay hòa bình phát triển đất nước, Phật giáo Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử dân tộc. Đặc biệt, từ khi có Đảng lãnh đạo cách mạng nước ta, Phật giáo luôn nêu cao truyền thống đi đầu trong đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc và tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo lời kêu gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đã có hàng nghìn tăng ni, phật tử trở thành những chiến sĩ yêu nước, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc. Nhiều ngôi chùa trở thành cơ sở cách mạng. Nhiều nhà sư đã anh dũng chiến đấu, hy sinh trong kháng chiến, góp phần vào thắng lợi chung của cả đất nước.

Trong thời bình, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng các tăng ni tích cực hưởng ứng, vận động phật tử tham gia các phong trào thi đua yêu nước do các cấp chính quyền, MTTQ và đoàn thể phát động như xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, khu dân cư văn hóa mới, đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội, tham gia bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, phòng, chống dịch bệnh với nhiều cách làm hay, mô hình tiêu biểu.

Đặc biệt, từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, hưởng ứng lời kêu gọi “chống dịch như chống giặc" của Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã gương mẫu chấp hành nghiêm quy định về phòng, chống dịch bệnh; chủ động, kịp thời chỉ đạo dừng, hoãn nhiều hoạt động sinh hoạt tôn giáo để bảo đảm an toàn sức khỏe cho tăng ni, phật tử và xã hội, đồng thời ủng hộ nguồn kinh phí lớn cho Quỹ vaccine, hỗ trợ mua trang thiết bị, vật tư y tế, lương thực, thực phẩm.

Hay hưởng ứng phong trào “cởi áo nâu, khoác áo blue” do Giáo hội phát động, hàng ngàn tăng ni, phật tử cùng với các chức sắc, tín đồ của các tôn giáo tình nguyện tham gia tuyến đầu, vào các bệnh viện giữa tâm dịch TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam để góp sức cùng với đội ngũ y, bác sỹ chăm sóc người bệnh. Nhiều cơ sở thờ tự Phật giáo trở thành nơi điều trị, chăm sóc bệnh nhân nhiễm COVID-19 hoặc tiếp nhận tro cốt của những người qua đời vì dịch bệnh để thờ cúng cho đến khi thân nhân đến nhận. Qua đó, góp phần làm an lòng những gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn, mất mát người thân trong dịch bệnh, góp phần ổn định tư tưởng xã hội.  

Đánh giá cao và nhiệt liệt chúc mừng những kết quả quan trọng mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tăng ni, phật tử cả nước đã đạt được trong những năm qua, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến tôn giáo và công tác tôn giáo, ban hành nhiều chính sách, pháp luật liên quan đến tôn giáo; luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, bảo đảm sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực trong truyền thống dân tộc, tôn vinh những người có công với đất nước và nhân dân, không ngừng chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho đồng bào có đạo và chức sắc các tôn giáo thực hiện tốt việc tu hành chân chính và làm tròn bổn phận của công dân đối với Tổ quốc.

Chủ tịch nước mong mốn và đặt nhiều niềm tin Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng tăng ni, Phật tử cả nước sẽ tiếp tục thể hiện vai trò, uy tín của mình trong việc tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các tôn giáo; phát huy sức mạnh của tôn giáo, của tín ngưỡng, của văn hóa để phát triển đất nước; tiếp tục là cầu nối quan trọng giữa đồng bào Phật giáo ở trong và ngoài nước trong ngôi nhà chung Giáo hội; thực hiện đoàn kết giữa đồng bào Phật giáo với đồng bào các tôn giáo khác và nhân dân cả nước, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng thế giới hòa bình, thịnh vượng. Đồng thời, tiếp tục chung tay đóng góp để xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…

Tại Đại lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã trao Huân chương Độc lập hạng Nhất tặng Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Nhân dịp này, thông qua Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trao số tiền 1 tỷ đồng ủng hộ công tác phòng chống dịch COVID-19.