Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

 

Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì? 

Sự thật đằng sau những lời kêu gọi

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Bài 2: Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường
 Quyền con người - khát vọng của nhân loại tiến bộ. Ảnh minh họa: TTXVN

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

Sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

 

Sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Thực hiện phương châm của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng “Bộ đội chủ động đến với dân để biết nhân dân cần gì, không để dân phải tìm đến bộ đội”, suốt hai năm qua, hàng trăm nghìn cán bộ, chiến sĩ đã xung phong lên tuyến đầu chống dịch, cứu dân. Sự có mặt của các anh trên khắp các mặt trận, từ công tác y tế đến chăm lo an sinh xã hội đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân...

Từ trụ cột y tế chống dịch...

Ngày 17-11, tại TP Hồ Chí Minh, Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổ trưởng Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ, Trưởng ban chỉ đạo Bộ Quốc phòng về công tác phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, đã gặp gỡ thân mật cán bộ, chiến sĩ quân y các đơn vị phía Bắc hoàn thành nhiệm vụ tăng cường PCD Covid-19. Đây là lực lượng rời vùng tâm dịch trở về muộn nhất sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại trong lòng nhân dân những tình cảm sâu đậm.

Trong thời gian dài bám địa bàn giúp dân PCD, cán bộ, chiến sĩ quân y các đơn vị phía Bắc đã phục vụ điều trị tại nhà cho hơn 76.000 F0; hỗ trợ tiêm vaccine cho hơn 523.000 người; lấy mẫu phẩm, xét nghiệm PCR cho hơn 2,4 triệu lượt người và hỗ trợ các khu điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19 tại các phường, xã, thị trấn... Trong suốt hành trình chống dịch, thủ trưởng Bộ Quốc phòng luôn thấu hiểu, chia sẻ những áp lực, khó khăn, gian khổ mà cán bộ, chiến sĩ phải đối mặt. Chính sự chung sức, đồng lòng ấy đã góp phần khống chế dịch bệnh thành công bước đầu, giúp các địa phương vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, đưa đời sống nhân dân từng bước thích ứng an toàn với Covid-19.

Bài 3: Sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Nhân viên Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga làm việc trong xe labo xét nghiệm SARS-CoV-2 lưu động tại tâm dịch Bắc Giang. Ảnh: SONG SƠN 

Chị Võ Thu Hương, công tác ở Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, ngụ tại khu chung cư trên địa bàn phường Tân Thuận Đông, quận 7, đã dành những tình cảm thân thương, trân quý để nói về những chiến sĩ quân y trong tâm dịch. Khu phố nơi chị sinh sống có nhiều F0 điều trị tại nhà. Hai chiến sĩ quân y là Nguyễn Xuân Quân và Nguyễn Văn Khang (lớp DH50A, Hệ 4, Học viện Quân y) đảm nhiệm điều trị Covid-19 cho các F0, phối hợp giải quyết các tình huống y tế về dịch bệnh tại khu chung cư nơi gia đình chị Hương sinh sống. Quân và Khang còn rất trẻ nhưng đã vào vai, vào việc một cách đầy trách nhiệm, nhiệt huyết.

Chị Hương xúc động kể: “Khó khăn nhất là tư vấn, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho các F0 cao tuổi. Hai chiến sĩ đã thể hiện thái độ lễ phép, nhẹ nhàng, cần mẫn, tỉ mỉ và rất giỏi chuyên môn. Có những lúc nửa đêm về sáng, bệnh nhân khó thở, người nhà gọi điện thoại, chỉ sau ít phút các chiến sĩ có mặt, tiến hành kiểm tra, xử lý kịp thời. Có những phụ nữ mang thai cách ly tại nhà, khi đau bụng cũng phải gọi các chiến sĩ. Chứng kiến các chiến sĩ hỗ trợ đưa các chị đến bệnh viện và sẵn sàng phương án đỡ đẻ dọc đường, chị em chúng tôi không cầm được nước mắt. Quân đội đào tạo, giáo dục con người tuyệt vời quá!”.

Đồng chí Phan Văn Mãi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh trong những lần đi kiểm tra công tác PCD ở cơ sở, chứng kiến cách làm việc của lực lượng quân y, đã bày tỏ sự yên tâm và niềm tin tưởng tuyệt đối. Người đứng đầu UBND thành phố nói rằng, sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ quân y làm việc trong hệ thống bệnh viện, khu cách ly và mô hình Tổ Quân y cơ động đã tăng cường sức mạnh, tiềm lực to lớn cho thành phố chống dịch, giúp TP Hồ Chí Minh thực hiện thành công mô hình cách ly, điều trị F0 tại nhà.

Đồng chí Nguyễn Trường Sơn, Thứ trưởng Bộ Y tế đánh giá cao cách thức tổ chức, duy trì hoạt động của hệ thống bệnh viện dã chiến truyền nhiễm. Nhiều đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã nhường doanh trại, cơ sở vật chất cho ngành y tế thành lập bệnh viện DCTN. Cán bộ, chiến sĩ của đơn vị tham gia phục vụ người dân, bệnh nhân ngay tại các bệnh viện ấy. Việc làm này vừa thể hiện tính chủ động, sáng tạo, vừa khẳng định sinh động tinh thần vì nhân dân phục vụ của Bộ đội Cụ Hồ.

Bài 3: Sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

Vùng 2 Hải quân sử dụng lực lượng, phương tiện vận chuyển hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm hỗ trợ TP Hồ Chí Minh trong đợt cao điểm chống dịch Covid-19. Ảnh: MINH THẮNG. 

Đến chăm lo an sinh xã hội

Ngày 28-10, tại trụ sở Bộ Quốc phòng diễn ra Hội nghị trao đổi tình hình, kết quả phối hợp PCD Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, do Bộ Quốc phòng và Thành ủy TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức. Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố bày tỏ tình cảm tri ân sâu sắc đến Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã nhanh chóng triển khai các lực lượng theo đề nghị của thành phố trong thời điểm dịch Covid-19 bùng phát phức tạp.

Lực lượng của quân đội hỗ trợ TP Hồ Chí Minh được phân công về cơ sở, trực tiếp tham gia thực hiện các nhiệm vụ, lao vào tâm dịch phục vụ nhân dân. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ có mặt ở khắp các mặt trận, từ thực hiện công tác y tế trong PCD đến bảo đảm công tác an sinh xã hội... đã để lại trong lòng dân những tình cảm, ấn tượng vô cùng sâu đậm. Đây là sự ủng hộ, chi viện chí tình, chí nghĩa với trách nhiệm cao nhất, sẵn sàng nhất của Bộ Quốc phòng dành cho TP Hồ Chí Minh.

Lời phát biểu của đồng chí Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh là cái nhìn bao quát, tình cảm bao trùm của Đảng bộ, nhân dân Thành phố mang tên Bác nói riêng, các tỉnh phía Nam nói chung đối với Bộ đội Cụ Hồ. Tình cảm ấy được kết tinh từ hàng vạn hình ảnh, hàng triệu việc làm của những tấm gương bình dị mà cao quý Bộ đội Cụ Hồ trong các vùng tâm dịch.

Trong cao điểm chống dịch, các địa phương thực hiện Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ có tăng cường nhiều nội dung phong tỏa, kiểm soát dịch bệnh, đồng bào được khuyến cáo, yêu cầu “ai ở đâu, ở yên đấy”. Sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ trên từng tuyến đường, góc phố đã làm yên lòng các tầng lớp nhân dân.

Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị lấy trụ sở, trường học, cơ quan quân sự địa phương... làm điểm trú quân, phối hợp với chính quyền và các lực lượng chức năng địa phương chăm lo an sinh xã hội. Bộ đội thường xuyên có mặt trong từng con hẻm, tòa chung cư, đi chợ mua sắm, vận chuyển hàng hóa, cung cấp túi an sinh... cho từng hộ dân. Ở các huyện vùng ven, bộ đội chia thành từng tổ, nhóm về các hộ gia đình giúp dân thu hoạch lúa và hoa màu...

Trung tướng Trần Hoài Trung, Chính ủy Quân khu 7 nhớ lại: “Khi dịch bệnh có chiều hướng diễn biến phức tạp, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 đã chỉ đạo mở chiến dịch cao điểm giúp dân; phát động Phong trào thi đua đặc biệt “Chống dịch, cứu dân”; phát triển chủ trương “Đơn vị, địa phương tuyến sau hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương tuyến trước” thành “Đơn vị, địa phương ngoài vùng dịch hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương trong vùng dịch; vùng có dịch ít giúp đỡ vùng có dịch nhiều”.

Cán bộ, chiến sĩ đã “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, trực tiếp tuyên truyền, vận động kết hợp với thư tay, tờ rơi, sổ tay PCD, các thông tin, số điện thoại hỗ trợ nhu yếu phẩm kèm với “túi an sinh”, “túi y tế”. LLVT Quân khu 7 đã vận động, tiếp nhận hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân (gồm tiền mặt, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, trang thiết bị, vật tư y tế...). Các đơn vị phối hợp tổ chức hoạt động giúp dân với nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, như: “Tất cả vì tuyến đầu chống dịch”, “nhà trọ không đồng”, “gian hàng không đồng”, “phiên chợ không đồng”, “cây ATM gạo nghĩa tình”, “cây ATM khẩu trang”, “hũ gạo tình thương”, “bữa cơm nghĩa tình”...

Chỉ tính riêng LLVT Quân khu 7, trong cuộc chiến “chống dịch, cứu dân” đã huy động gần 87.000 cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ, huy động các nguồn lực được gần 812 tỷ đồng chăm lo cho nhân dân và các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch.

Làm nhiệm vụ trong tâm dịch, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã nén đau thương khi cha, mẹ, người thân qua đời nhưng không thể về chịu tang. Rất nhiều bàn thờ được lập vội tại các địa điểm trên tuyến đầu để các chiến sĩ bái vọng đấng sinh thành, để đồng đội cùng thắp nhang chia sẻ. Những hình ảnh ấy đã chạm đến trái tim, lay động miền xúc cảm sâu xa của hàng triệu người Việt Nam.

Chúng tôi đã có những lần theo lực lượng công tác đặc biệt làm nhiệm vụ xử lý thi hài nạn nhân tử vong do Covid-19. Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện các phần việc cẩn trọng với tinh thần trách nhiệm và sự thôi thúc của trái tim. Đại úy QNCN Lê Minh Sang, lái xe của Phân đội Thiết giáp (Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh), thành viên của lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt này, tâm sự: “Bố mẹ đẻ và bố vợ của tôi đều qua đời do Covid-19 nhưng tôi không thể về chịu tang, dù nhà cách đơn vị không xa.

Tôi biết, có rất nhiều đồng đội ở các đơn vị khác cũng có chung nỗi đau thương, mất mát như tôi. Phận làm con, khi đấng sinh thành từ trần không thể về nhà chịu tang, buồn lắm, day dứt lắm! Nhưng trước nhiệm vụ chính trị thiêng liêng chống dịch cứu dân thì người quân nhân phải biết nén nỗi đau để toàn tâm, toàn ý với công việc”. Đại úy QNCN Lê Minh Sang cũng chia sẻ thêm: “Hơn ai hết, tôi rất thấu hiểu nỗi đau của các gia đình có người thân tử vong. Khi được giao thực hiện nhiệm vụ này, tôi luôn tâm niệm, những thi thể người ra đi cũng như người ruột thịt của mình. Nghĩa tử là nghĩa tận. Mình làm việc này không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là sự thôi thúc của lương tri, của bổn phận người quân nhân, vì nhân dân phục vụ...”.

Bài 3: Sáng đẹp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ
Chiến sĩ dân quân phun khử khuẩn khu vực Bệnh viện dã chiến số 3 tỉnh Đồng Nai. Ảnh: ĐĂNG DUY 

Vượt mọi gian nan, kiên trì bám chốt

Ngay từ những ngày đầu đại dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư, các phóng viên của Báo QĐND đã bám theo các đồng đội tham gia PCD trên các tuyến biên giới. Những ngày được “cùng ăn, cùng ở, cùng trải nghiệm chống dịch” với đồng đội, chúng tôi vỡ ra rất nhiều điều. Hằng ngày, đồng đội phải thích ứng với sự xoay vần đến chóng mặt của thời tiết kiểu “bốn mùa trong một ngày” trên tuyến biên giới Tây Nam. Ban ngày nắng nóng gay gắt, chiều tối mưa như trút nước, đêm khuya về sáng thì trời lại lạnh căm căm. Buổi tối và ban đêm, muỗi bay như vòi rồng thổi qua bãi cát.

Cắm chốt bám đường biên, kiểm soát chặt các đường mòn, lối mở... hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ bộ đội và dân quân phải vất vả chống chọi với thứ “giặc” đặc trưng của miền rừng khắc nghiệt. Nhiều khu vực anh em lập chốt, trạm dã chiến ngăn chặn người nhập cảnh trái phép, bị mưa bão, lốc xoáy đánh sập, cuốn phăng. Áo quần, tư trang, lương thực... bị ướt, toàn thân run rẩy vì rét, đồng đội chia nhau miếng lương khô, nhai mì gói, uống nước suối, vượt mọi gian nan kiên trì bám chốt, ngăn chặn Covid-19 xâm nhập từ đường biên.

Đặc biệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ trong quá trình làm nhiệm vụ đã đối mặt với những thời khắc sinh tử ngặt nghèo. Binh nhất Võ Ngọc Nguyện, chiến sĩ Ban CHQS huyện Châu Thành (Tây Ninh) là một ví dụ điển hình. Anh được tăng cường cho Đồn Biên phòng Cửa khẩu Phước Tân, làm nhiệm vụ canh trực, chốt chặn tại Chốt kiểm soát số 10. Ngày 14-5-2021, trời đổ mưa lớn. Lo ngại các đối tượng nhập cảnh trái phép lợi dụng mưa gió che khuất tầm nhìn của lực lượng chức năng để xâm nhập nội địa, Nguyện leo lên mô đất cao, căng mắt quan sát. Bất ngờ, một tia lửa xé toang màn trời xẹt xuống, tiếp đó là tiếng nổ long trời lở đất. Sét đánh ngay vào mô đất Nguyện đang đứng, hất anh văng ra xa.

Khi đồng đội ào đến thì Nguyện đã nằm bất tỉnh trên nền đất. Sau khi sơ cứu tại chỗ, anh được chuyển đến Trạm y tế xã Thành Long cấp cứu, sau đó chuyển anh về Bệnh xá Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh điều trị. Nguyện trở về từ cõi chết. Sau khi bình phục, dù được chỉ huy cho ở lại đơn vị nghỉ ngơi nhưng anh lại tiếp tục xung phong trở lại biên giới cùng đồng đội chống dịch. Gặp chúng tôi, người chiến sĩ có gương mặt trẻ măng nói vui: “Dù có gặp phải thiên lôi thì tôi vẫn kiên quyết tham gia ngăn chặn virus SARS-CoV-2”. Tinh thần lạc quan cũng chính là nhân tố làm nên bản lĩnh, sức mạnh Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19” đầy cam go, khốc liệt...

NỖ LỰC CÙNG NHAU CHỐNG DỊCH

Khi chúng ta xác định sống thích nghi với dịch trong tình hình mới , tức là chúng ta chấp nhận có thể nay bạn là F0 thì biết đâu mai tôi cũng có thể như vậy.Cho nên rất khó để biết là va đập từ đâu mà chở thành F0 Cốt lõi là mỗi người vẫn phải tự lo cho mình theo khuyến cáo của chính phủ.Hãy là người luôn đủ 5K trong mọi lúc .Khi thấy mình có dấu hiệu thì phải chủ động khai báo, hãy sống thật có trách nhiệm, và chúng ta tuyệt đối không kỳ thị với người không may mắc dịch vì trả biết thế nào. Mong cho covid tan nhanh, để cho đất nước hoàn thành chỉ tiêu phát triển của năm.

CỰU ĐẠI TÁ NGUYỄN HUY VIỆN, ĐÃ THÀNH RẬN CHỦ!

      Nguyễn Huy Viện về hưu với Quân hàm Đại tá, khi còn trong quân đội ông ta làm công tác chính trị, thậm chí đã là Bí thư Chi bộ khoa, thiết nghĩ với cấp bậc Đại ta chức vụ như vậy thì Huy Viện hơn hẳn người khác cái đầu về nhận thức và quan điểm, lập trường Cách mạng…..tuy nhiên, lấy làm tiếc vào trang mạng của ông Đại tá này người ta lầm tưởng Nguyễn Huy Viện là rận chủ với ngôn từ xỉa xói, bôi nhọ, cạnh khóe chính quyền và các cấp lãnh đạo Đảng và nhà nước VN.

Vì thế, hôm nay trong suy nghĩ của nhiều người, Đại Tá Huy Viện chỉ là con rận hạng bét, trước cái nhìn khinh bỉ của người dân, là đảng viên Huy Viện xảo ngôn như lũ rận khi gọi những người đang đấu tranh trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự trong sáng của lịch sử nước nhà là “DLV” bằng những lời lẽ hằn học, cay cú. Tuy nhiên, trong khi dân cư mạng lại cho rằng chính Nguyễn Huy Viện là “dư luận viên” của các thế lực chống phá lại quan điểm của đảng và nhà nước Việt Nam.

Mới đây, đăng trên Stuss của mình, ông Đại tá Huy Viện nói Hiệp định Giơnevơ năm 1953 LHQ công nhận VNCH, chẳng lẽ ông Đại tá chính ủy mà không hiểu về lịch sử, xin hỏi Hiệp định nào, công nhận VNCH khi nó chưa ra đời trước năm 1955? Trong khi Hiệp định này đã ghi rõ: Không một sự suy luận nào, được coi ranh giới quân sự tạm thời, là biên giới của 2 quốc gia.Vì thế, trước năm 1955 làm gì có Quốc gia VNCH để Hiệp định Gionevo công nhận chúng, đúng là “chưa đẻ đã có tên”, chẳng khác nào “sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”…

Đó là cái ngu sử của một kẻ “thùng rỗng kêu to” mang tên Đại tá Nguyễn Huy Viện, trong khi đó, đối với Hiệp định Pari 1973, ta “bất đắc dĩ” chấp nhận đàm phán 4 bên, đó chính là sách lược ngoại giao.… thực chất là đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam, để đánh cho ngụy nhào sau này, rõ ràng trên bàn cờ chính trị 8 năm tại Hội nghị Pa Ri (họp kín đến họp mở), chỉ có VNDCCH với Mỹ…đó là thực tế không thể chối cãi…. làm cán bộ chính trị với hàm ĐT mà tầm hiểu biết rất nông cạn của Nguyễn Huy Viện….. đúng là hoài cơm đảng phí áo dân ?!

Không những thế năm 2021 nhân kỷ niệm ngày chiến thắng 30/4 trong Stus của mình, ông cựu Đại tá chính trị, nhưng lại thoái hóa về chính trị đến nhược tiểu, y tự diễn biến bằng giọng điệu của những kẻ ngụy sử, tư tưởng trở cờ của những kẻ cấp tiến, tư duy của đám ba que và rận chủ khi nói đảng và nhà nước "khuếch trương chiến thắng", rồi "dùng từ nguỵ quân ngụy quyền là miệt thị, hạ nhục" những người anh em phía bên kia… ảnh hưởng đến hòa hợp dân tộc”, có thể nói đến lúc này mới thấy NHV là kẻ trở cờ và vô ơn khi ông ta chỉ nghĩ đến “người anh em phía bên kia” những kẻ tay sai cho quân xâm lược, không nghĩ đến nỗi đau của đất nước bị xâm lăng, bị chia cắt, bị bom tàn phá tan hoang, bởi, quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai của chúng là ngụy quân, ngụy quyền Sài gòn, (NHV) đã xúc phạm cả đến vô ơn và miệt thị sự cống hiến, hy sinh của hàng triệu gia đình cách mạng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, trà đạp lên máu xương hàng chục triệu thương binh liệt sỹ và những người yêu nước đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của tổ quốc…(khi y chỉ nghĩ đến “bên kia” mà không nghĩ cho “bên này”).

Mới đây ông ta có bài đăng "Tôn trọng bên thua cuộc mới là cao thượng và trí tuệ" viết về cuộc nội chiến nước Mỹ giai đoạn 1861-1865 khi hai miền Nam Bắc Mỹ nội chiến và khi phe Nam Mỹ thua cuộc đã chấp nhận ký kết với bên thắng cuộc để hòa hợp thống nhất hai miền. Nhưng đây là cuộc nội chiến thực sự của nước Mỹ không có thế lực ngoại bang nào đứng sau như cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam, ông ta lại rất ngu muội khi đi mượn sự việc này để so sánh với Việt Nam giữa Miền Bắc bên thắng, miền Nam bên thua nhưng không được tôn trọng... Nhưng ông có biết cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam đám ngụy quân, ngụy quyền là tay sai cho đế quốc Mỹ với chiêu bài của Mỹ là dùng người Việt trị người Việt để tránh tai tiếng là người Mỹ xâm lược Việt Nam trước quốc tế và nhân dân tiến bộ Mỹ. Hơn nữa khi giải phóng Miền Nam đám ngụy quân, ngụy quyền vẫn tử thủ, đến khi không thủ được, quân giải phóng vào dinh Độc Lập bắt toàn bộ nội các ngụy quyền và sau khi yêu cầu đầu hàng của quân Giải phóng, khi đó tổng thống bại trận mới tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và quân Giải phóng đã tiếp quản Miền Nam diễn ra trật tự, ôn hòa không có việc trả thù đẫm máu của quân Giải phóng như nhiều người nghĩ. Đến nay dân tộc Việt Nam đang sống trong hòa bình, độc lập và phát triển về mọi mặt, mọi người sống hòa hợp, chỉ có những kẻ cố tình chống phá đất nước, vi phạm pháp luật của Việt Nam mới bị xử lý. Vậy mà ông lại cố tình nhầm lẫn vấn đề này nhằm mục đích để bôi nhọ chế độ, các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và khơi gợi kích động hạn thù, gây chia rẽ xã hội đang ổn định.

Thật, đáng tiếc cho đất nước, dân tộc mình vẫn còn những kẻ có danh tiếng đến tai tiếng, hàng ngày vẫn ăn cơm đảng, mặc áo dân, vẫn hưởng bổng lộc từ chính quyền này lại có những hành vi vô ơn, vô chính trị như Đại tá Huy Viện, ông ta chẳng khác gì đám rận chủ, đang ngày đêm chống phá, bôi nhọ Đảng và chính quyền, đi ngược chủ trương chính sách của đảng và nhà nước, hành vi của Nguyễn Huy Viện thật đáng xấu hổ khi mang quân hàm Đại tá QĐNDVN, lại có những việc làm vô chính trị, vô ơn đáng phỉ nhổ, như là cặn bã của xã hội, hành vi của NHV cần lên án mạnh mẽ.

Dưới đây là những hình ảnh chụp bài viết của ông ta về " Tôn trọng bên thua cuộc..."./.







Yêu nước ST.

Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời kỳ mới

      Con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí của phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là một tiêu chí của tiến bộ, văn minh.

     Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên.

     “Chủ thể xây dựng và phát triển văn hóa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ đóng vai trò quan trọng; nhấn mạnh đến phát huy tối đa các nguồn lực từ Nhà nước và xã hội, từ trong nước và nước ngoài để phát triển văn hóa. Như vậy, nhận thức của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới đã từng bước được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện, toàn diện và sâu sắc hơn. Đây là tiền đề rất cơ bản để chúng ta quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế…”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.

      Trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là "nền tảng tinh thần", "động lực phát triển", và "soi đường cho quốc dân đi"; phát huy giá trị văn hoá và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành Quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

      Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo cốt lõi và xuyên suốt là: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hoá và con người Việt Nam... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Tự phê bình và phê bình - “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng


          Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam cũng như trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không đơn thuần là một Đảng chính trị, thực hiện các chức năng tổ chức, lãnh đạo giai cấp mà Đảng luôn là một cơ thể sống hoàn chỉnh, có đạo đức và trí tuệ - Đảng là “đạo đức, là văn minh”. Vai trò lãnh đạo của Đảng là to lớn, tổ chức của Đảng là chặt chẽ, kỷ luật, đường lối của Đảng là sáng suốt, đúng đắn; đảng viên của Đảng là những người ưu tú nhất song không phải là Đảng không có những sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, những sai lầm, khuyết điểm của Đảng là có thể khắc phục, sửa chữa được, vì Đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, xác định rõ tôn chỉ mục đích là phục vụ nhân dân, đặc biệt là có phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như chiếc gương soi, như người bạn đồng hành, soi đường, chỉ lối cho mỗi cán bộ, đảng viên trong mỗi bước đi để tránh “vết xe đổ” của chính mình và của người khác. Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra quy luật ấy. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định mục đích tự phê bình và phê bình là để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, giữ gìn đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Hồ Chí Minh khẳng định, tự phê bình và phê bình chính là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham nhũng. Để tự phê bình và phê bình đem lại kết quả phải “khéo dùng cái vũ khí sắc bén” ấy, để không bị kẻ xấu lợi dụng vào việc công kích, nói xấu, triệt hạ nhau. Khi gặp khó khăn thì tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động, dũng cảm vượt qua khó khăn. Khi thuận lợi thì tự phê bình và phê bình, để nhận rõ thách thức ở phía trước, không chủ quan “ngủ quên trên vòng nguyệt quế”. Khi mắc khuyết điểm, sai lầm, kể cả tội lỗi xấu xa, đê tiện nhất thì “Phê bình và tự phê bình như uống thuốc xổ. Xổ rồi thì phải uống thuốc bổ. Tháo xe đạp ra chùi cho sạch bụi, lúc lắp vào phải cho dầu mỡ, xe mới chạy được”. Tự phê bình và phê bình là một vấn đề rất nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân và tổ chức. Tâm lý của con người là thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy tín, chức tước, địa vị và thứ bậc nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái. Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín, mất địa vị”. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng muốn tự phê bình và phê bình căn bệnh tham ô đòi hỏi phải có hai yếu tố đặc biệt quan trọng đó là thái độ và phương pháp đúng.

          Thứ nhất, thái độ đúng là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa tham nhũng ngay khi nó còn trong trứng nước, thể hiện ở tinh thần cầu thị, lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông chia sẻ, dũng cảm, kiên trì đấu tranh trên tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ nhau. Nếu thái độ không đúng dễ dẫn đến bao che, giấu giếm khuyết điểm, dễ gây hiềm khích, mất đoàn kết, mất niềm tin đối với đồng chí mình. Nó càng đặc biệt nguy hại khi tự phê bình và phê bình hành vi tham ô bị lợi dụng làm bình phong cho ai đó vì mưu đồ cá nhân, vì lòng hẹp hòi, đố kỵ, hòng hạ bệ đồng chí mình gây mất đoàn kết nội bộ, làm hoang mang mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, tự phê bình và phê bình “phải ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Hồ Chí Minh cũng lưu ý, thái độ khoan dung, nhân ái cần phù hợp với từng đối tượng cụ thể, với tính chất mức độ của khuyết điểm, sai lầm, tuyệt đối không được cào bằng; phải kiên quyết xét rõ công - tội, không thiên tư, thiên vị. Với những cán bộ, đảng viên biết ăn năn, hối cải, Đảng cần khoan dung, độ lượng tạo cơ hội cho họ sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Quan điểm trên không chỉ thể hiện bản chất nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn khơi gợi ý thức tự giác ở mỗi cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

          Thứ hai, phương pháp đúng - đây là vấn đề mấu chốt nhất cần phải có. Theo Hồ Chí Minh, phương pháp hiệu quả nhất đó là phải được duy trì thường xuyên và trên cơ sở đề cao trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bài “Tự phê bình”, Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”. Trong sinh hoạt, mỗi cán bộ, đảng viên phải chỉ ra cho đồng chí mình những tác hại, nguyên nhân dẫn đến khuyết điểm sai lầm. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn, động viên, kiểm tra, theo dõi quá trình sửa chữa khuyết điểm, sai lầm của đồng chí, đồng nghiệp. Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán các biểu hiện hình thức, thiếu nhất quán “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, nặng về hô hào khẩu hiệu, bệnh thành tích… sẽ làm giảm hiệu quả, đôi khi phản tác dụng của việc tự phê bình và phê bình. Để đề cao trách nhiệm nêu gương theo Người cần phải chú trọng nêu gương trong Đảng trước, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ cao cấp. Người chỉ rõ: “Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước”. Bởi vì, “uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”.

          Việc tự phê bình và phê bình hành vi tham ô phải gắn liền với những điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của từng cá nhân trên từng cương vị công tác. Ở mỗi đơn vị, trong từng hoàn cảnh, nội dung, cách thức tiến hành phải phù hợp với điều kiện khi thực hiện tự phê bình và phê bình. Những cán bộ, đảng viên có tinh thần cầu thị sẽ thấy việc tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay để trị bệnh tham ô. Còn đối với những trường hợp suy thoái, nhất là tha hóa, biến chất thì việc phê bình không còn nghĩa lý gì. Do vậy, chỉ phê bình thôi chưa đủ mà cần kết hợp với các biện pháp khác, nhất là việc kiểm soát quyền lực.

 

Việt Nam - quốc gia truyền cảm hứng về phát triển con người

Không chỉ trở thành một trong những quốc gia điển hình về tiến trình thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (LHQ) và Mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam ngày càng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tin cậy bởi tinh thần trách nhiệm với người dân, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang hoành hành.

Đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế

Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020 với tiêu đề “Giới tuyến tiếp theo: Phát triển con người trong kỉ nguyên con người tác động lên khí hậu và môi trường” do Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố hồi trung tuần tháng 12 cho thấy, Việt Nam lần đầu tiên vào nhóm các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trên thế giới. 

Cụ thể, với HDI là 0,704, Việt Nam xếp thứ 117 trong số 189 quốc gia và vùng lãnh thổ và là một trong những quốc gia đã, đang thực hiện tốt bình đẳng giới với chỉ số phát triển giới (GDI) là 0,997 (đứng thứ 65/162 quốc gia và nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới). Như vậy, từ năm 1990 - 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới. UNDP đánh giá rằng, về chất lượng phát triển con người, Việt Nam thực hiện tốt các chỉ số y tế, giáo dục, việc làm và phát triển nông thôn… 

Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, bà Caitlin Wiesen nhận xét: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”.

Trên thực tế, Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay luôn nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Và từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Để đạt được những sự tiến bộ như vậy, trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện hàng loạt biện pháp và điều chỉnh hàng loạt luật, thực hiện tốt các chỉ số về giáo dục, y tế, việc làm, các vấn đề phát triển nông thôn… 

Cũng theo phân tích của các chuyên gia UNDP, những gì Việt Nam đạt được trong đại dịch COVID-19 là minh chứng mới nhất, sống động nhất về tinh thần “vì người dân” cũng như thành tựu bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đáng ghi nhận. “Việt Nam ứng phó thành công đại dịch COVID-19 là một câu chuyện truyền cảm hứng”, trong đó tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và gắn kết xã hội là chìa khóa thành công, bà Caitlin Wiesen nhấn mạnh. 

Cộng đồng quốc tế đã gọi Việt Nam là "điểm sáng", "hình mẫu" về ứng phó hiệu quả với đại dịch. Một số tờ báo phương Tây còn viết rằng: “Với quan điểm nhất quán chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, Chính phủ Việt Nam đã kiên định chiến lược then chốt: Ngăn chặn; phát hiện; cách ly; khoanh vùng dập dịch; điều trị hiệu quả cùng những biện pháp kịp thời, quyết liệt, công khai và phù hợp với điều kiện đất nước…”. Nhà báo chuyên về chính trị Đông Nam Á David Hutt trên đài BBC News nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hành động trách nhiệm và đặt người dân lên làm mối quan tâm hàng đầu”. Đồng quan điểm này, trang liberationnews.org (Mỹ) viết rằng, Việt Nam, một chính phủ xã hội chủ nghĩa "đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế"...

Không bỏ lại ai ở phía sau

Những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được cả thế giới công nhận còn được thể hiện ở việc Việt Nam là một trong những quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ và Mục tiêu phát triển bền vững. 

Cụ thể, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ở mức 14 tỷ USD năm 1985, sau 35 năm, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã tăng gấp gần 19 lần với 262 tỷ USD và trở thành một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Chính phủ Việt Nam chăm lo, thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội; thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 hôm 11/12 cũng cho thấy, mặc dù ngân sách còn nhiều khó khăn nhưng Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã tăng nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo gấp 2 lần so với giai đoạn trước. 21% ngân sách Nhà nước đã dành cho phúc lợi xã hội, là mức cao nhất trong số các quốc gia khu vực Đông Nam Á. 

Trong đại dịch COVID-19, Việt Nam có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho 13 triệu người với nhiều góc độ khác nhau. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách, trong giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam đã giảm từ 9,88% (năm 2015) còn 3,75% vào năm 2019 và dự kiến dưới 3% trong năm 2020, đưa Việt Nam thành quốc gia đầu tiên về đích trước Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ về giảm nghèo. Đến nay 100% các xã đã có đường ôtô đến trung tâm, 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện. 100% đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có bảo hiểm miễn phí. 

Hệ thống giao thông, đặc biệt là ở miền núi, đã rút ngắn thời gian đi lại, thúc đẩy thương mại dịch vụ, tạo việc làm. Nhiều nhà máy, xí nghiệp mọc lên ở nhiều địa phương đã giúp người dân chuyển đổi việc làm, thoát nghèo, “ly nông bất ly hương”. Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí… 

Đặc biệt, phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” thời điểm tháng 10-2020, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam nhận định, các chính sách kinh tế và xã hội của Việt Nam đã giúp đạt được những kết quả to lớn trong mục tiêu giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo của các dân tộc thiểu số Việt Nam tiếp tục giảm xuống là kết quả rất đáng khích lệ. Trong giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ nghèo của nhóm này đã giảm tới 13%, giảm mạnh nhất trong một thập niên vừa qua. 

Những nỗ lực tập trung vào việc tăng cường thu nhập cho các dân tộc thiểu số có thể gia tăng cơ hội cho những nhóm người này và giảm sự bất bình đẳng kéo dài. Còn bà Caitlin Wiesen thì cho hay, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói giảm nghèo những thập kỷ qua. Việt Nam đã nỗ lực rất cao trong sử dụng phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói, giúp xóa đói giảm nghèo một cách toàn diện hơn và ở nhiều khía cạnh hơn không chỉ cải thiện thu nhập.

Như vậy, từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau 75 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập; được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về phát triển con người, thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo; thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. 

Việc đạt được những kết quả ấn tượng này là nhờ tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam mang tính bao trùm, đại đa số người dân được tham gia vào tăng trưởng và hưởng lợi từ quá trình này. Báo cáo Chỉ số hạnh phúc năm 2020 của LHQ dựa vào 6 chỉ số gồm: Thu nhập, tự do, tin tưởng, tuổi thọ, hỗ trợ xã hội và sự hào phóng, cũng cho thấy, Việt Nam đã liên tục thăng hạng và năm nay, tăng 11 hạng so với năm 2019.

MNM

    Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

        Thực hiện mưu đồ "phi chính trị hóa" Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng cho rằng quân đội chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân không cần trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào. Quân đội là của quốc gia, có nhiệm vụ bảo vệ quốc gia chứ không bảo vệ cho tổ chức cá nhân nào v.v. và v.v....
        Chính vì thế, để phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

    Trong mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong lịch sử Đảng ta lãnh đạo quân đội, mặc dù hình thức diễn đạt ở mỗi thời kỳ có khác nhau. Theo đó, Đảng không chia sẻ, ủy quyền lãnh đạo quân đội cho bất kỳ tổ chức, lực lượng, cá nhân nào; không thông qua một khâu trung gian nào. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là toàn diện, trên mọi mặt công tác, mọi nhiệm vụ, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Ở đâu có tổ chức và hoạt động của quân đội, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng.

    Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn liền với sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quân đội. Mọi hoạt động của quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội thành luật pháp, chính sách và tổ chức thực hiện trong thực tế. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quân đội đều nhằm bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữ vững bản chất GCCN, tính nhân dân và tính dân tộc; có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải kiên định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”.

    Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tập trung xây dựng Đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM). Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội chỉ được tăng cường khi bản thân Đảng TSVM. Đây là giải pháp căn cốt nhất để bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, cũng như đối với quân đội. Để Đảng luôn vững mạnh, chúng ta cần kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII và Nghị quyết Đại hội XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng với chỉnh đốn, giữa xây dựng với bảo vệ Đảng; tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Vấn đề then chốt là tập trung xây dựng Đảng bộ quân đội TSVM, mẫu mực, tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần thực hiện quyết liệt các biện pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo đảm mọi tổ chức đảng trong quân đội luôn TSVM về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

    Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người hiểu rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân. Trong thời gian tới, cần tăng cường thông tin, định hướng cho mọi tầng lớp nhân dân quán triệt những quan điểm cơ bản của Đại hội XIII về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội. Làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ những nội dung cơ bản của đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội nhân dân, tư duy mới về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các nhà trường; nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong thời gian tới.

    Chủ động đấu tranh, phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài nhưng rất bức thiết, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực xây dựng nội bộ đơn vị mình, tổ chức mình vững mạnh toàn diện để không có ai dao động trước những thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường; phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí đối với nhiệm vụ đấu tranh phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận nòng cốt, chuyên sâu; tổ chức đấu tranh bằng nhiều hình thức: Trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua hệ thống giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền miệng và trên mạng xã hội, internet.

    Phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng nội bộ vững mạnh là phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch./.

    MNM

    các thế lực thù địch luôn coi việc phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng với chế độ xã hội chủ nghĩa

     Thứ nhất, Chúng tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. So sánh các chế độ, chính sách liên quan đến đời sống nhân dân ta với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ, hòng làm cho người dân thấy như “xã hội Việt Nam đang có vấn đề” dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng về một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Nếu cán bộ, đảng viên chúng ta không vững vàng về tư tưởng, dễ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống.

    Thứ hai, Điều chỉnh thủ đoạn chống phá từ công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không đem lại kết quả. Thủ đoạn mới của chúng là tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Từ đó tác động làm tha hóa từng cán bộ, đảng viên, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    Thứ ba, Chúng sử dụng các cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể.

    Đối với cán bộ, đảng viên, chúng thổi phồng khuyết điểm yếu kém của một số địa phương và một số cá nhân đảng viên, đánh đồng giữa  tập thể, cá nhân tốt với tập thể và cá nhân có khuyết điểm, sai phạm hòng làm cho nhân dân mất niềm tin vào Cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Trước những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá đất nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.