Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021
Bỏ ruộng vì giá phân
ANH HÙNG PHẠM TUÂN: "ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN 12 NGÀY ĐÊM LỊCH SỬ"!
Cái tên Phạm Tuân đã đi vào lịch sử khi ông là phi công đầu tiên bắn rơi một máy bay B-52 của Mỹ và trở về an toàn. Hà Nội mùa đông năm 1972 cách đây 47 năm đã chứng kiến 12 ngày đêm khói lửa trong trận chiến Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không với chiến thắng vang dội, đập tan âm mưu của đế quốc Mỹ đưa Hà Nội về thời kỳ “đồ đá”.
Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không đã buộc Mỹ phải xuống thang, ngồi vào bàn đàm phán để ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng thời cũng tạo tiền đề cho cuộc tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975.
Nhắc đến "Điện Biên Phủ trên không" không thể không nhắc tới Anh hùng phi công Phạm Tuân- phi công đầu tiên bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội.
Trở thành phi công từ anh thợ máy
Phạm Tuân quê ở Tiền Hải, Thái Bình. Tháng 9 năm 1965, khi đang học năm cuối cấp III, Phạm Tuân được gọi vào nhập ngũ. Lúc đó chàng thanh niên Phạm Tuân chỉ cao 1,65m và nặng 52kg, không đủ tiêu chuẩn để thi tuyển phi công. Phạm Tuân đi học thợ máy, sửa chữa máy bay. Sau một thời gian ngắn, do thiếu phi công chiến đấu, Phạm Tuân được tuyển lại học phi công và tốt nghiệp trường Không quân Liên Xô năm 1967, về nước chiến đấu năm 1968 cho đến hết chiến tranh.
Giữa năm 1972, ông là một trong 12 phi công được chọn để đào tạo lái tiêm kích bay đêm, chuẩn bị cho việc bắn hạ máy bay B-52 (tiêm kích bay đêm yêu cầu kỹ thuật cao hơn nhiều so với lái tiêm kích ban ngày).
Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng ký ức của ông về trận chiến 12 ngày đêm lịch sử trên bầu trời Hà Nội năm 1972 là ký ức hào hùng nhất.
Đêm 18/12, khoảng 7h tối, địch bắt đầu mở chiến dịch đánh vào Hà Nội. B52 bay ở độ cao khoảng 10km, tốc độ từ 900-950km/giờ. MIG- 21 của Việt Nam khi đó có thể tiêu diệt B52. Tuy hiên, chúng chuẩn bị rất kỹ lưỡng để đưa B52 vào Hà Nội. Mỗi khi xuất kích chiến đấu, B52 thường được nhiều máy bay khác bay cùng để yểm trợ như F4,F100, F111,... Mặt khác, hệ thống làm nhiễu sóng ra đa của các máy bay này rất tốt, nên chúng ta rất khó phát hiện ra B52 để triển khai tấn công.
“Chúng tôi nhận được lệnh của trên là bằng mọi cách phải ngăn chặn. Không quân phải cất cánh, tên lửa phải đánh với mệnh lệnh, nếu không bắn được B52 thì phải xua đuổi để không cho chúng vào Hà Nội. Bảo vệ mục tiêu là trên hết” - Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.
Và cái tên Phạm Tuân đã đi vào lịch sử khi ông bắn rơi một máy bay B-52 của Mỹ, trở thành người đầu tiên bắn hạ được loại máy bay này từ trên không và trở về an toàn.
Máy bay tiêm kích MIG-21 F96 mang số hiệu 5121 do anh hùng Phạm Tuân lái đã bắn hạ siêu pháo đài bay B52.
Máy bay B52 của Mỹ thời đó được coi là “Siêu pháo đài bay”, là một trong 3 loại vũ khí chiến lược của Mỹ lúc bấy giờ, gồm: B52, tàu ngầm nguyên tử và tên lửa hạt nhân. Đó là vũ khí chiến lược, hay còn gọi là “quả đấm thép” của Mỹ để triển khai cuộc chiến tranh hiện đại.
Phi công đầu tiên bắn rơi B52
Khoảng 17h ngày 27/12/1972, Phạm Tuân điều khiển máy bay tiêm kích MIG-21 hạ cánh xuống sân bay Yên Bái. Đến khoảng 22h cùng ngày, Phạm Tuân được lệnh xuất kích từ sân bay này, khi bay qua tầng mây, ông đã nhìn thấy rất nhiều máy bay yểm trợ cho B.52 là F4, nhưng không được đánh và phải bay vòng qua để tìm B52. F4 lúc đó cũng không phát hiện ra MIG-21.
Sau khi vọt qua đội F-4 hộ tống, ông tiếp cận hai chiếc B-52, khi còn cách B-52 khoảng 4 km, dẫn đường mặt đất ra lệnh bắn, nhưng Phạm Tuân chờ thêm mấy giây để tiếp cận gần hơn rồi mới bắn. Chiếc MiG-21 cũng tắt radar và các thiết bị liên lạc để B-52 không phát hiện ra là đang bị áp sát. Ông bắn rơi một chiếc trên vùng trời phía tây Hà Nội bằng 2 quả tên lửa không đối không NHK-8-9-1-2, rồi trở về hạ cánh xuống sân bay Yên Bái.
“Đấy là trận đầu tiên không quân bắn rơi B52. Chúng tôi vui lắm vì không quân đã hoàn thành nhiệm vụ!” - Trung tướng Phạm Tuân kể.
Nói về nguyên nhân vì sao phải đến giai đoạn cuối của chiến dịch 12 ngày đêm "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" - từ tối 18/12/1972 đến ngày 29/12/1972, không quân của ta mới bắn rơi được máy bay B52 của Mỹ, trong khi đó các lực lượng khác đã bắn hạ được B52 rất nhiều, Trung tướng Phạm Tuân cho biết: Trước khi đem B52 ra đánh phá miền Bắc, Mỹ đã nghiên cứu rất kỹ lực lượng, phương tiện của chúng ta. Mỹ nắm rất rõ chúng ta có những loại tên lửa, pháo, máy bay nào… và thuộc từng sân bay của ta. Do đó, Mỹ rất tự tin mang B52 ra ném bom, đánh phá Hà Nội và các tỉnh khác vào cuối năm 1972.
Trong 12 ngày đêm, địch đã xuất kích 663 lần/chiếc máy bay chiến lược B52 và hơn 3.800 lần/chiếc máy bay chiến thuật các loại. Ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B52 và 5 máy bay F11.
Ba lần được phong tặng Anh hùng
Sau chiến công xuất sắc hạ B52 trong trận “Điện Biên Phủ trên không”, phi công Phạm Tuân được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tiếp đó khi từ vũ trụ trở về, ông được Đảng và Nhà nước ta tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Huân chương Hồ Chí Minh. Cũng năm đó (1980), ông vinh dự trở thành một trong những người nước ngoài đầu tiên được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, kèm theo Huân chương Lê-nin khi mới 33 tuổi.
Nhìn lại lịch sử, soi lại quá khứ, Trung tướng Phạm Tuân khẳng định: “Dưới thời đại Hồ Chí Minh, trận Điện Biên Phủ trên không mang ý nghĩa hết sức lớn lao, đánh dấu bước thất bại của Đế quốc Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Nếu như chúng ta không có trận Điện Biên Phủ trên không, chắc chắn cuộc chiến tranh của chúng ta còn kéo dài và sẽ còn những gian khổ, hy sinh nhiều hơn. Chiến thắng này đã buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, đi đến việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973”.
"Sau này, Mỹ đã dùng các loại vũ khí hiện đại đánh ở nhiều nước thuộc khu vực Trung Đông như Syria, Iraq. Họ có lực lượng mạnh hơn Việt Nam nhưng cũng không thể làm nên chiến thắng như Việt Nam đã làm bởi chúng ta có ý chí, có sách lược và nghệ thuật quân sự, tạo thành sức mạnh tổng hợp hết sức to lớn mà ngay cả Mỹ cũng không đánh giá hết được"- Anh hùng Phạm Tuân cho biết.
Trao truyền lịch sử cho thế hệ trẻ
Bước sang tuổi 74, Anh hùng Phạm Tuân đã có 12 năm nghỉ hưu. Nhiều năm tham gia chiến trận, giờ là lúc ông muốn được nghỉ ngơi, đi thăm thật nhiều nơi trên đất nước Việt Nam- những nơi mà trước đây, ông chỉ nhìn thấy từ trên cao. Ông bảo, mình thật may mắn vì đã đi hết chiến tranh mà vẫn còn lành lặn để hưởng không khí hòa bình.
Khi đến nói chuyện với thế hệ trẻ, ông thường rất tự hào khi nói về Không quân Việt Nam, về trận chiến 12 ngày đêm lịch sử, về những kỷ niệm đáng nhớ khi bay vào Vũ trụ, truyền cảm hứng và khát vọng tuổi trẻ cho các em.
Năm nay, đúng dịp kỷ niệm trận Điện Biên Phủ trên không, Trung tướng Phạm Tuân dù không được khỏe do cái chân của ông đang đau, nhưng ông vẫn dành thời gian đến nói chuyện với các em học sinh ở trường THCS Chu Mạnh Trinh- huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
“Tôi muốn các em đừng bao giờ quên lịch sử, nhất là những người trẻ. Chúng ta đã có một quá khứ hào hùng, Hà Nội từng trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt. Tôi muốn kể lại để các em hiểu được, thời đó, cha anh chúng đã sống và chiến đấu thế nào. Tôi muốn các em đừng quên trận chiến Điện Biên Phủ trên không và 12 ngày đêm lịch sử của Hà Nội"- Trung tướng Phạm Tuân cho biết.
Chọn một cuộc sống giản dị khi rời cánh bay, Phạm Tuân- người 3 lần được phong Anh hùng nói rằng: Tôi rất vinh dự khi được nhận những nhiệm vụ trọng đại mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Nhờ có tập thể, nhờ có nhân dân, nhờ có đồng chí, đồng đội, mình đã vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ. Danh hiệu Anh hùng thuộc về nhân dân, về đồng chí, đồng đội mà mình chỉ là người thực hiện mà thôi./.
Môi Trường ST.Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đối ngoại và Đoàn kết quốc tế trong thời kỳ mới
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đối ngoại và Đoàn kết quốc tế trong thời kỳ mới
Ngoại giao Việt Nam trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, triển khai đồng bộ, sáng tạo hiệu quả cao đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại cho Đảng ta và dân tộc ta những di sản vô giá - đó là sự nghiệp giành độc lập cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, là bạn với các quốc gia trên thế giới vì hòa bình độc lập, tiến bộ xã hội và Tư tưởng Hồ Chí Minh – cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế - Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng và đặc sắc trong hệ thống các quan điểm của Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Là người khai sinh ra nền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người. Trước hết tư tưởng đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người đã thể hiện nổi bật trong hệ thống các tác phẩm báo chí, các bức thư, các lời kêu gọi, các tác phẩm chính luận của Người. Các quan điểm đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển, hoàn thiện được thể hiện tập trung trong “Đường cách mệnh” (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (1930), Chương trình 10 điểm của mặt trận Việt Minh (1944), Tuyên ngôn Độc lập (2.9.1945), thể hiện tập trung nhất trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong văn kiện Đại hội, Nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Bộ chính trị từ 1930 đến nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế
Tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh chúng ta không chỉ dừng ở việc nghiên cứu trước tác phẩm của Người trong toàn tập Hồ Chí Minh, Văn kiện Đảng toàn tập, mà một phương pháp rất quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và trực tiếp thực hiện các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người. JeanLacoutute (Giăng Lacutuya) một nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp đã có một nhận định rất sâu sắc: “Qua lăng kính tư tưởng của vị nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Đông Dương, kế đó là Đảng Lao động Việt Nam xuất hiện một hệ thống học thuyết hình thành bởi những hành động hơn bởi những từ ngữ.
Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định sự đúng đắn trong phương pháp tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh từ hành động: “Cụ Hồ là người chứng minh sự vận động bằng đi đứng”, thể hiện lý thuyết bằng hành động: “Xét cho cùng thì hành động, hành động trước sau như một, lắm khi còn trung thành, chân thật hơn là lời nói và câu văn.
Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, tiếp cận từ các hoạt động trực tiếp của Người từ khi ra đi tìm đường cứu nước, trong thời kỳ hoạt động ở Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc… (1911-1941) Bác đã có hàng loạt các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế. Đó là các hoạt động tìm hiểu các dân tộc bị áp bức, bóc lột ở các thuộc địa, tìm hiểu các lực lượng tiến bộ trên thế giới, kể cả ở “mẫu quốc” chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc…; tìm hiểu các thế lực phản động hiếu chiến trong giới cầm quyền của các nước đế quốc, nhất là đế quốc Pháp để hiểu chúng và phân hóa chúng; các hoạt động tuyên truyền, vận động tập hợp lực lượng quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam.
Trong thời kỳ ở Pháp và Nga, các hoạt động đối ngoại của Bác Hồ và các đồng chí của Người đã tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của Đảng cộng sản Pháp, của Hội liên hiệp các tổ chức thuộc địa, của quốc tế cộng sản; các hoạt động thiết lập các mối quan hệ với các lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng. Thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, bằng các hoạt động ngoại giao khôn khéo của Bác và các đồng chí của mình, đã lợi dụng được chính quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của Đảng cộng sản Trung Quốc, nên đã tổ chức ở Côn Minh. “Việt Nam dân chúng hưởng ứng Trung Quốc khẳng định hậu vận hội”, tạo thế hợp pháp cho các hoạt động cách mạng của ta. Tranh thủ chính quyền của Tưởng Giới Thạch để chúng ta lập “Việt Nam độc lập đồng minh hội Hải ngoại biện sự xứ” là cơ quan đại diện của mặt trận Việt Minh ở nước ngoài nhằm duy trì các quan hệ với quốc dân Đảng Trung Quốc và làm nơi liên lạc quốc tế của ta. Với cơ quan đại diện này, cách mạng Việt Nam đã bắt liên lạc được với các lực lượng cách mạng ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.
Trình bày một số vấn đề trên đây giúp chúng ta đi tới một nhận thức: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế hình thành và phát triển gắn chặt với toàn bộ hơn 60 năm hoạt động cách mạng của Người. Do đó khi nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta phải tiếp cận từ các bài viết, bài nói của Người, từ các văn kiện về đường lối, chính sách đối ngoại, đoàn kết quốc tế của Đảng và nhà nước ta, từ các tác phẩm của các học trò xuất sắc của Bác, từ các chiến sĩ cộng sản quốc tế, từ các chính khách, các nhân sĩ tri thức và bạn bè quốc tế viết và nói về Bác; và rất coi trọng tiếp cận các hoạt động trực tiếp của Bác khi Người tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế. Do đó tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về thế giới, về thời đại, về chiến lược sách lược về nghệ thuật ứng xử trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ tiến lên giành thắng lợi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm Châu, là bạn với mọi quốc gia vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Phong cách nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế - tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, phong cách nghệ thuật ngoại giao sau:
- Quan điểm cơ bản – nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tất cả hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước hết. Tất cả phải nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không có gì quý hơn độc lập tự do!
- Không ngừng nâng cao thực lực của cách mạng để nâng cao sức mạnh và hiệu quả của hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”. Tư tưởng ngoại giao rất quan trọng này đã xác định vị trí và mối quan hệ giữa xây dựng thực lực của cách mạng, xây dựng và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh và hiệu quả của hoạt động ngoại giao. Trong mối quan hệ này, hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là rất quan trọng, còn xây dựng thực lực cách mạng có ý nghĩa quyết định.
- Quan điểm coi ngoại giao là một mặt trận, mặt trận ngoại giao cần và có thể triển khai trên khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương, đối tượng do đó phải chủ động tiến công ngoại giao: “Tiến công ngoại giao là một tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Tiến công ở đây là phải chủ động tiến công, phải chủ động lấy cái chính nghĩa, lấy cả nghĩa cả tình (Nghĩa, lý ở đây là chân lý, lẽ phải, là pháp lý, là sự thật…; tình ở đây là khát vọng hòa bình là tinh thần hòa hiếu, hòa giải, khoan dung…) để tiến công, để thuyết phục, để cảm hóa, để tranh thủ, lôi kéo, để tập hợp. Do đó chiến lược ngoại giao phải dựa trên bối cảnh quốc tế, nắm vững đối tác, đối tượng, dự báo đúng các xu hướng phát triển, các quy luật vận động của thế giới, chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, các khu vực, các tổ chức quốc tế, dự báo thời cơ để quyết định các chiến dịch tiến công ngoại giao. Cần xác định kịp thời từng nội dung, từng chính sách ứng xử linh hoạt, khôn khéo để đạt hiệu quả cao.
- Nguyên tắc định hướng mọi hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là: Kiên định vững chắc về mục tiêu chiến lược đồng thời linh hoạt mềm dẻo về sách lược. Nguyên tắc ở đây cần kiên định đó là mục tiêu giành và giữ vững độc lập cho dân tộc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ quốc gia (cả vùng đất, vùng trời, vùng biển), đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước khi tiến hành các hoạt động đối ngoại. Phải rất năng động, mềm dẻo trong thực hiện các phương châm, chính sách ngoại giao, biết nhân nhượng, thỏa hiệp có nguyên tắc, biết lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong nội bộ của đối tượng để lôi kéo, phân hóa, cô lập tối đa đối tượng. Biết vận động thuyết phục, cảm hóa các Đảng phái, các tầng lớp nhân dân các nước đồng tình ủng hộ sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp kháng chiến, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện đúng đắn và hiệu quả nguyên tắc nêu trên khi tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải vận dụng nhuần nhuyễn phương châm: biết mình, biết người, biết thời, biết thế, biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương, biết dừng và biết biến!
- Trong hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với hợp tác quốc tế sẽ kết hợp tối ưu sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đây là mối quan hệ cơ bản có tầm quan trọng hàng đầu trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Ngoại giao độc lập, tự chủ tự cường là một chuẩn mực đảm bảo quyền độc lập thực sự của một quốc gia. Độc lập tự chủ tự cường là “cái gốc”, “cái điểm mấu chốt” của mọi chủ trương, chính sách, là phương thức khơi dậy mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập tự chủ trong ngoại giao không chỉ dừng lại ở việc chủ động hoạch định chính sách, biện pháp mà điều quan trọng hơn phải biết chủ động khai thác nội lực trên tinh thần tự lực, tự cường. Mặt khác, tự lực tự cường không đồng nghĩa với khép kín, đóng cửa, cô lập mà phải chủ động tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế. Bác Hồ từng chỉ rõ một trong những nguyên nhân suy yếu của các dân tộc phương Đông trong lịch sử là sự cô lập, là chính sách bế quan, tỏa cảng”. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Bác Hồ đã chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự cường đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã được lịch sử hơn 90 năm của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Đảng ta khẳng định đây là bài học kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Xây dựng, phát triển và phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là quan điểm tư tưởng rất quan trọng trong phương pháp cách mạng, phương pháp nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.
Ngoại giao phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc
Ngoại giao là một mặt trận đấu tranh cực kỳ quan trọng, là một bộ phận không thể tách rời của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp là phương pháp cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là một bộ phận quan trọng của phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh. Trong suốt 58 năm hoạt động cách mạng (1911-1969), Bác Hồ đã trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển và phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Nhận thức sâu sắc tư tưởng về phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh, khi tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải tiến hành đồng thời hoạt động của các “binh chủng” ngoại giao, các hình thức ngoại giao, phối hợp chặt chẽ các binh chủng, các lực lượng ngoại giao: ngoại giao Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ), ngoại giao Đảng (với các Đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền, các đảng đối lập); ngoại giao nhân dân (với các đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân…), ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng, an ninh… chủ động hội nhập quốc tế.
Ngay sau Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, với tư cách là Chủ tịch chính phủ kiêm Bộ trưởng ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc đồng thời Người rất coi trọng lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức các hoạt động đối ngoại, vận động các nước lớn, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng… công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và thiết lập quan hệ ngoại giao với họ. Bác Hồ rất quan tâm chỉ đạo Việt Nam tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.
35 năm qua, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng… làm tốt vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.
Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới yêu cầu mới nặng nề phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi mục tiêu tổng quát của Đại hội Đảng lần thứ XIII quyết định: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh toàn diện, củng cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại, đẩy mạnh toàn diện đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoại giao Việt Nam trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, triển khai đồng bộ, sáng tạo hiệu quả cao đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế!
NHỮNG LỜI HUẤN THỊ, GIÁO DỤC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁC LỰC LƯỢNG, CÁC QUÂN CHỦNG, BINH CHỦNG TRONG QUÂN ĐỘI TA
Nhớ lại những tình cảm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Quân đội. Sinh thời, Người luôn dành “Muôn vàn
tình thân yêu” cho bộ đội và Bác còn thể hiện sâu sắc ở những lời huấn thị,
giáo dục của Người đối với các lực lượng, các quân chủng, binh chủng trong Quân
đội ta.
Với đội ngũ sĩ quan làm
công tác tham mưu trong quân đội, Bác huấn thị: “Muốn thắng địch phải biết địch
biết ta, nắm chắc ý định cấp trên, có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể. Phải
có mưu trí sáng tạo” (tháng 12-1945).
Với đội ngũ cán bộ chính
trị, Bác chỉ rõ: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người
chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn” (tháng 3-1948).
Với chiến sĩ quân y, Bác
dặn dò: “Một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền” (tháng
3-1948).
Với những người công tác
trong ngành tình báo quân đội, Bác chỉ rõ: “Tình báo là một khoa học. Người làm
tình báo ắt phải có 4 đức tính: Bí mật-cẩn thận-khôn khéo-kiên nhẫn” (tháng
8-1949).
Đối với bộ đội công binh,
Bác đã tặng lực lượng này lá cờ thêu 4 chữ vàng “Mở đường thắng lợi” và nhấn
mạnh: “Quân đội ta ví như cái mác. Bộ binh như mũi mác, công binh như cán mác.
Cán có chắc, mũi có sắc, thì mác mới đâm được giặc” (tháng 3-1951).
Đối với bộ đội vận tải, Bác
nhắc nhở: “Xe, xăng là mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Các chú phải
chăm sóc xe, yêu xe như con, quý xăng như máu” (tháng 3-1951).
Đối với bộ đội hải quân,
Người dặn dò: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng
không được quên những truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên” (tháng
3-1961).
Đối với bộ đội biên phòng,
Người tặng mấy câu thơ: “Non xanh nước biếc trùng trùng/ Giữ gìn Tổ quốc ta
không ngại ngùng gian lao/ Núi cao, sự nghiệp càng cao/ Biển sâu, chí khí ta so
vào càng sâu/ Thi đua ta quyết giật cờ đầu” (năm 1962).
Đối với bộ đội thông tin,
Người khẳng định: “Công tác thông tin liên lạc là một công tác rất quan trọng,
nó như thần kinh, mạch máu của con người” (tháng 7-1966); “Thông tin liên lạc
kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn” (tháng 1-1969).
Đối với bộ đội đặc công,
Bác nêu rõ: “Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải
có cố gắng đặc biệt. Các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt” (tháng
3-1967).
Đối với bộ đội pháo binh,
Bác khen ngợi: “Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt chân đồng vai sắt, đánh
giỏi, bắn trúng” (tháng 4-1967).
Không chỉ có những lời huấn
thị quý giá đối với các lực lượng trong quân đội trực tiếp làm nhiệm vụ cầm
súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, Bác Hồ đã có lời chỉ bảo ân cần, sâu sắc
đối với một “binh chủng đặc biệt”, đó là đội ngũ những người làm công tác báo
chí, xuất bản trong quân đội.
Trên Báo Quân đội nhân
dân ra số đầu tiên ngày 20-10-1950, Bác gửi thư căn dặn cán bộ, phóng
viên: “Nói những điều thật thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết
ngắn, giản dị, vẽ dễ hiểu, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang trang khác”.
Tháng 6-1968, Bác căn dặn cán bộ, biên tập viên Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: “Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Từ nay trở đi trên sách hay báo, các chú nên có câu đó. Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp các chú tiến bộ. Không riêng gì viết sách, báo mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.
Học tập và làm theo tấm gương của Bác, cán bộ, chiến sỹ hôm nay tiếp tục tô thắm truyền thống đội quân anh hùng không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
NHỚ VÀ SUY NGẪM VỀ NHỮNG LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Nhân dịp kỷ niệm 77 năm
ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2021), chúng ta
lại nhớ và suy ngẫm về những lời dạy của Bác Hồ trong buổi chiêu đãi mừng quân
đội ta 20 tuổi (22 tháng 12 năm 1964).
Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân
tộc anh hùng. Mới ra đời, với gậy tầy, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp,
đánh Nhật, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công. Lên mười tuổi thì cùng toàn
dân giành được thắng lợi lớn Điện Biên Phủ, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược
của đế quốc Pháp được Mỹ giúp sức”. Đúng vậy, mặc dù Quân đội ta không
phải một đội quân thiện chiến nhưng buộc phải đứng lên chiến đấu để giành chiến
thắng trên chiến trường bởi mỗi thắng lợi đều có ý nghĩa quyết định đến sự tồn
vong của dân tộc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ, Quân đội
nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác,
tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và đầy hy sinh gian khổ, lập
nên những chiến thắng quan trọng như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
năm 1968, cuộc chiến chống tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở
miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm
1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng
4 năm 1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng
định: “Quân đội ta anh dũng trong
kháng chiến mà cũng anh dũng trong hòa bình”. Minh chứng rõ nhất là Quân
đội làm tốt nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đập tan mọi hành động
khiêu khích, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai. Bảo vệ nền hòa bình mới vừa
giành được trước hết là nhiệm vụ của quân đội quốc gia; chính những cán bộ,
chiến sĩ quân đội hiểu rõ nhất cái giá của hòa bình phải đổi bằng máu, bằng sự
hy sinh của những người đồng cam cộng khổ. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân
cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Năm 2021, đại dịch Covid-19
có nhiều diễn biến phức tạp, Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng quan trọng, đã
sát cánh cùng Nhân dân ứng phó với đại dịch Covid-19 có nhiều diễn biến phức
tạp, đối phó thiên tai, bão lũ. Chính những cán bộ, chiến sĩ là người luôn đi
đầu, hăng hái thực hiện nhiệm vụ và anh dũng hy sinh ngay trong thời bình vì sự
bình yên của Nhân dân là những hình ảnh tốt đẹp trong lòng dân, được lòng dân.
Đó là kết quả của việc học tập và làm theo lời dạy của Bác Hồ về tình quân dân,
“quân và dân như cá với nước, đoàn kết
một lòng, học hỏi giúp đỡ lẫn nhau”, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến
thắng mọi thử thách, đánh thắng mọi kẻ thù. Học theo lời dạy của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về việc “Quân đội ta có tinh
thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả, luôn đoàn kết
với nhân dân và quân đội các nước xã hội chủ nghĩa anh em…”.
Quân đội nhân dân Việt Nam góp phần không nhỏ vào thành công đối với công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Đối ngoại quốc phòng tham gia đóng góp tích cực vào các vấn đề an ninh, quân sự quốc phòng thuộc hiệp hội ASEAN, gắn với lợi ích quốc gia, cũng như lực lượng cử cán bộ tham gia Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan đều để lại nhiều dấu ấn với cộng đồng quốc tế…
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với lực lượng Quân đội vào ngày 22 tháng 12 năm 1964 còn nguyên giá trị. Cán bộ, chiến sĩ hôm nay, kế tục truyền thống ông cha luôn đi đầu trên trận tuyến sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì lời thề: “Quân đội ta trung với Ðảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Tự hào đón nhận cuộc sống hòa bình hiện nay là nhờ công ơn của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ngã xuống cho mảnh đất này. Càng tự hào hơn khi những cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang luôn có mặt ở mọi miền Tổ quốc, luôn có mặt ở những nhiệm vụ khó khăn nhất, giữ chắc cây súng để bảo vệ quốc gia, dân tộc. Luôn đi đầu trước những khó khăn, sống cùng Nhân dân, giúp đỡ Nhân dân lúc khó khăn, cùng Nhân dân xóa đói, giảm nghèo./.
Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021
Đảng viên ở ngoài nước phải luôn tỉnh táo, “tự miễn dịch, đề kháng”
Đảng viên ở ngoài nước phải luôn tỉnh táo, “tự miễn dịch, đề kháng”
Cán bộ Đảng viên ở nước ngoài cần nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng tự miễn dịch, tự đề kháng cao, luôn tỉnh táo, không bị tác động lôi kéo bởi bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào.
Bộ Ngoại giao tổ chức Hội nghị về công tác xây dựng Đảng và công tác Đảng ngoài nước với chủ đề “Tăng cường xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng công tác Đảng ngoài nước, triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội Đảng lần thứ XIII”.
Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn cho biết, ngành Ngoại giao qua các thời kỳ đều đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của công tác xây dựng Đảng cũng như hết sức chăm lo xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ.
Việc thực hiện Quyết định số 209 của Bộ Chính trị khóa XII về hợp nhất Đảng bộ Ngoài nước với Đảng bộ Bộ Ngoại giao tạo nên một sức mạnh mới cho Đảng bộ Bộ Ngoại giao, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn, phức tạp hơn về xây dựng Đảng trong ngành Ngoại giao, nhất là công tác Đảng ngoài nước.
Phát biểu tại hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đánh giá với đặc thù riêng biệt, Đảng bộ Bộ Ngoại giao là một Đảng bộ có số Đảng viên lớn nhất trong Đảng bộ khối cơ quan Trung ương, không chỉ bao gồm các thành phần ngoại giao mà còn cả Đảng viên của các ban bộ ngành và 63 tỉnh, thành đang công tác, lao động, học tập tại nước ngoài. Các tổ chức Đảng và Đảng viên có mặt rộng khắp các châu lục, có điều kiện tiếp cận thành tựu thế giới song cũng dễ bị tác động ảnh hưởng nhiều chiều.
Thường trực Ban Bí thư cho rằng, những đặc điểm ấy vừa là thuận lợi nhưng cũng là khó khăn thách thức cho công tác tổ chức Đảng ngoài nước.
Thường trực Ban Bí thư biểu dương những kết quả mà Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã đạt được, tuy nhiên cũng cho biết cần nhìn thẳng vào hạn chế, yếu kém.
Tại hội nghị cán bộ toàn quốc và hội nghị đối ngoại toàn quốc, Tổng Bí thư đã có 2 bài phát biểu quan trọng toàn diện và sâu sắc, định hướng gợi mở những nhiệm vụ trong công tác đối ngoại thời gian tới. Thường trực Ban Bí thư đề nghị tập trung nghiên cứu, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Tổng Bí thư.
Nhấn mạnh thêm một số nội dung, ông Võ Văn Thưởng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng ngoại giao cần sớm triển khai, nghiên cứu học tập kết luận 21, quy định 27; mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, Đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, tập trung xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng ngành ngoại giao thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, hiện đại, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại, vì khát vọng, mục tiêu, tầm nhìn, nâng cao vị thế đất nước.
Ngay sau hội nghị này, ông Võ Văn Thưởng lưu ý Đảng bộ cần chỉ đạo thực hiện nghiêm công tác kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo như chỉ đạo của Tổng Bí thư.
"Mỗi cán bộ Đảng viên trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt người đứng đầu phải gương mẫu tự giác làm trước, nghiêm túc làm trước, tự phê bình kiểm điểm, tự soi lại mình, gia đình mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu tự gột rửa...
Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình cần chuẩn bị thật chu đáo, chỉ đạo tỉ mỉ, chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó, đạt kết quả cụ thể, thực chất...", ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh.
Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, tư tưởng, đẩy mạnh tuyên truyền, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phục vụ công tác đối ngoại. Cán bộ Đảng viên ở nước ngoài, xa Tổ quốc, càng cần nhận thức đúng, kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng tự miễn dịch, tự đề kháng cao, luôn tỉnh táo, không bị tác động lôi kéo bởi bất cứ âm mưu, thủ đoạn của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.
Không những thế còn phải là chiến sĩ tiên phong tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào ta ở nước ngoài thấy rõ những quan điểm sai trái, xuyên tạc của thế lực thù địch, tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tập trung xây dựng chỉnh đốn Đảng về tổ chức, nhất là đội ngũ cán bộ ngành ngoại giao. Cán bộ ngoại giao cần có trình độ năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, uy tín phong cách, hội đủ tố chất "vừa hồng vừa chuyên", thể hiện bản lĩnh, đạo đức, cốt cách ngoại giao Hồ Chí Minh; luôn tỉnh táo, chủ động phòng ngừa, không để tự diễn biến, tự chuyển hóa, tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, bảo đảm nguyên tắc, quy định của Đảng, phù hợp đặc thù công tác đối ngoại, nhất là hoạt động của tổ chức Đảng, Đảng viên ngoài nước. Công tác Đảng ngoài nước là bộ phận không thể tách rời trong hệ thống tổ chức của Đảng, phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt của Trung ương.
Không ngừng chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, nhất là đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, bí thư cấp ủy có năng lực lãnh đạo, trình độ, khả năng đoàn kết, tập hợp, giáo dục Đảng viên quần chúng.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng trong ngành ngoại giao, sâu sát cơ sở và từng Đảng viên, kịp thời phát hiện thiếu sót, khuyết điểm để khắc phục. Đối với hoạt động của các cấp ủy, tổ chức Đảng ngoài nước, việc Đại sứ làm Bí thư Đảng ủy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Song theo Thường trực Ban Bí thư, phải phân định rõ vai trò, không nhầm lẫn phương pháp công tác, phải đúng vai thuộc bài, tránh độc đoán, chuyên quyền, không nặng công tác chuyên môn, nhẹ công tác Đảng hoặc ngược lại.
Về quản lý Đảng viên đây là vấn đề khó nhất, phải thực hiện tốt phương châm không để Đảng viên nào ra nước ngoài không được sinh hoạt Đảng. Cùng với đó phải quan tâm phát triển Đảng viên mới, tạo nguồn bổ sung sinh lực, chất lượng cho Đảng, chú ý phát hiện bồi dưỡng giúp đỡ, vận động quần chúng ưu tú để kết nạp Đảng.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, Đảng viên đối với công tác kiểm tra giám sát, kỷ luật Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực.
Trong môi trường hoạt động ở nước ngoài thì ý thức tự kiểm tra, giám sát, tự tu dưỡng, tự soi, tự sửa của mỗi cấp ủy, cán bộ Đảng viên là hết sức quan trọng để kịp thời phát hiện từ nội bộ, chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.
Cùng với đó, phải tăng cường công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, bí mật của Đảng và Nhà nước; chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả hoạt động chống phá của thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, đất nước, từ sớm, từ xa.
Các cấp ủy, tổ chức Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các đoàn thể chính trị xã hội vững mạnh trong ngành ngoại giao, cơ quan đại diện đồng thời vận động, tập hợp tổ chức quần chúng, hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài, chăm lo cho đồng bào.
Xuyên tạc vụ việc ở xã Đồng Tâm và cái giá phải trả
Ngày 15/12, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã mở phiên sơ
thẩm xét xử 2 bị cáo Trịnh Bá Phương (SN 1985) và Nguyễn Thị Tâm (SN 1972) cùng
trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội về tội "làm, tàng trữ, phát
tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Lợi dụng mạng xã hội facebook, Trịnh Bá Phương, Nguyễn
Thị Tâm đã phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết trên tài khoản cá
nhân "Trịnh Bá Phương" "Nguyễn Thị Tâm" "Tâm Dương Nội"
các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm.
Những thông tin và nội dung phát tán, chia sẻ này đã
xuyên tạc, bịa đặt tình hình diễn ra tại Đồng Tâm, phỉ báng chính quyền nhân
dân, kích động nhân dân chống đối chính quyền, thóa mạ, hạ uy tín lực lượng chức
năng, xúc phạm uy tín danh dự của người khác, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm
mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các thông tin và nội dung phát tán của Trịnh Bá
Phương, Nguyễn Thị Tâm đã thu hút nhiều lượt người xem, tương tác, chia sẻ,
bình luận có nội dung tiêu cực, phản đối chính quyền, tuyên truyền chống phá Đảng,
Nhà nước.
Ngoài ra, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ một
tài liệu dạng sách gồm 278 trang, trong đó trang bìa có in các dòng chữ
"Phạm Đoan Trang" "Cẩm nang nuôi tù" "Luật Khoa tạp
chí".
Cơ quan tố tụng đã giám định và xác định, các tài liệu
này có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân
dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc,
vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân.
Mở tòa, hội đồng xét xử nhận định, hành vi của các bị
cáo gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và
Nhà nước; đe dọa, phá vỡ sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây ảnh
hưởng đến uy tín và sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân;
gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị của
Nhà nước và từng địa phương.
Các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên
cần thiết phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội 2 lần trở lên" để
xử phạt các bị cáo hình phạt tù nghiêm khắc, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo
và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn
Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Trịnh Bá Phương không
khai nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, chống đối.
Từ nhận định trên, tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt
bị cáo Trịnh Bá Phương 10 năm tù, Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù về cùng tội
"làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm
nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"./.