Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SAI LẠC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

 Trong thời gian gần đây, trước những biến chuyển lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà cũng có những thay đổi đáng kể. Về cơ bản, văn học, nghệ thuật đã phản ánh được cuộc sống muôn màu, góp phần đáng kể trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân và mang đến cho con người những giá trị sống tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng có những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội. Những biểu hiện đó thể hiện trên những phương diện cơ bản như sau:

Thứ nhất, do ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường nên nhiều văn nghệ sĩ đã tuyên truyền lối sống thực dụng, vị kỷ, thích hưởng thụ, coi trọng giá trị vật chất vào đối tượng thanh niên, sinh viên thông qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật giải trí, làm cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng dẫn tới không ít thanh niên, sinh viên khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, chuẩn mực sống và niềm tin của mình vào những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Thứ hai, một số văn nghệ sĩ dễ dàng “chiều” theo thị hiếu của một bộ phận công chúng, tìm cách quảng bá những tác phẩm chống chế độ, xuyên tạc nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của một số lãnh tụ cách mạng tiền bối; cố tình tôn vinh những kẻ đã và đang chống lại, đi ngược đường lối cách mạng của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”.

Thứ ba, một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ, thậm chí có những người trước đây vốn là những nhà văn cách mạng, đã từng có nhiều đóng góp tích cực cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà nhưng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lôi kéo, kích động nên quay sang bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc.

Thứ tư, có một số văn nghệ sĩ lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, hạ bệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc, phủ nhận quan điểm   Mác - Lênin về văn hóa - văn nghệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, miêu tả cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của nhân dân ta như một cuộc nội chiến; chỉ đề cao một chiều các lý thuyết bắt nguồn từ thực tiễn văn học, nghệ thuật phương Tây, gây ra sự lệch chuẩn trong sáng tác cũng như nghiên cứu lý luận, phê bình văn nghệ.

Nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện lệch lạc, sai trái trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật trong thời gian qua không chỉ xuất phát từ nhận thức sai lầm và sự cố chấp của một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ mà còn do sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đối với một số văn nghệ sĩ. Đối tượng văn nghệ sĩ mà các thế lực thù địch thường chú ý lôi kéo gồm: số văn nghệ sĩ do chế độ cũ đào tạo; những văn nghệ sĩ đã từng có vi phạm pháp luật, có quá khứ tham gia nhóm “Nhân văn - Giai phẩm”; nhóm văn nghệ sĩ tuy đã tham gia kháng chiến cứu nước, nhưng hiện nay bất mãn, cực đoan, có sai phạm, lệch lạc trong sáng tác văn học,nghệ thuật; những văn nghệ sĩ trẻ, lập trường không vững vàng, chạy theo cơ chế thị trường trong các sáng tác văn học, nghệ thuật...

Theo thống kê của Bộ Công an, hiện nayở nước ngoài có khoảng hơn 50 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hằng năm, có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng được đưa vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau. 

Một số văn nghệ sĩ, trí thức bị lợi dụng, lôi kéo vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa, phản bội Tổ quốc, chạy trốn ra nước ngoài để truyên truyền chống Đảng, Nhà nước ta; hay có những nhà văn, trí thức đã “tự diễn biến, tự chuyển hóa” thành những kẻ có quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Gần đây, một số văn nghệ sĩ, trí thức có uy tín, từng công tác, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật muốn vận động, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập”. Tổ chức này đã mạo danh chấn hưng nền văn học để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối thông qua các hoạt động bất hợp pháp, chống phá Đảng và chế độ ta. Điều này cho thấy rõ biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. 

Bên cạnh đó, còn có hiện tượng không ít văn nghệ sĩ tận dụng những lợi thế của những trang mạng cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên trang facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, lên án chính quyền, tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta.

Những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị chân - thiện - mỹ. Vì vậy, cần phải có những cách thức phù hợp để đấu tranh với những biểu hiện sai trái, lệch lạc đó nhằm bảo vệ giá trị đích thực của văn học, nghệ thuật đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

CẦN ĐÁNH GIÁ ĐÚNG NỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM

 Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong hai ngày họp, hội nghị tập trung vào những thách thức và cơ hội mà các nền dân chủ đang phải đối mặt, cung cấp một diễn đàn để các nhà lãnh đạo công bố những cam kết, cải cách và sáng kiến nhằm bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền ở trong nước và ngoài nước.

Đáng chú ý, trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra, báo chí quốc tế và nhiều diễn đàn bàn về danh sách khách mời. Với chỉ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ được mời, bản danh sách còn thiếu nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm cả những nước lớn như Nga, Trung Quốc… Từ việc suy diễn Việt Nam không có tên trong danh sách mời, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hào hứng “mở cờ trong bụng”, coi đây là lý do để đẩy mạnh thực hiện các hoạt động công kích, chống phá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng trở thành cái cớ để các đối tượng tấn công, quy chụp rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền.

Thực tế, Hội nghị này do Mỹ đứng ra tổ chức nên việc mời quốc gia nào, mời bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người tổ chức. Ngược lại, việc quốc gia được mời có tham gia hay không tham gia cũng không phải là tiêu chí để đánh giá nền dân chủ của một quốc gia.

Theo Tổng thống Biden, đây là sự cần thiết phải thể hiện rằng “các nền dân chủ có thể thành công thông qua việc cải thiện đời sống của người dân nước mình và bằng việc giải quyết những vấn đề lớn nhất mà toàn thế giới rộng lớn đang phải đối mặt”. So với các hội nghị khu vực, hội nghị toàn cầu khác như Hội nghị thượng đỉnh G7, Hội nghị thượng đỉnh G20, Hội nghị cao cấp Á Âu… thì hội nghị do một quốc gia đơn phương đứng ra tổ chức chưa thể hiện được vai trò và tác động đối với quốc tế.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ đã giúp cho Mỹ lật đổ chính quyền hoặc can thiệp vào một số quốc gia nhưng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao.

Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam còn có những tồn tại, khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ, vì vậy mỗi người dân cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. 

Quan hệ Việt - Mỹ đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục phát triển ổn định, đi vào chiều sâu trên cơ sở, nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và cùng có lợi”. Đặc biệt, hai bên đã phối hợp để tìm hiểu, đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền, thu hẹp những quan điểm khác biệt. Mới đây, Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ - Việt Nam lần thứ 25 được tổ chức ngày 9/11 tại Thủ đô Washington.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân.

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Trước hết, về mặt nhận thức, tư tưởng, cần xác định rõ: Chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Họ đã và đang tiến hành chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Do đó, chống “Diễn biến hòa bình” thực sự là “cuộc chiến” không khoan nhượng, diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hết sức quyết liệt, phức tạp. Trong đó, đối tượng mà họ nhằm vô hiệu hóa, trước hết “phi chính trị hóa” là lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Đây là lực lượng có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của họ nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất chỗ dựa vững chắc, mất vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và, một khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị vô hiệu hóa, bị xóa bỏ, thì tất nhiên chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ sụp đổ. Để hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và đạt mục tiêu nêu trên, các thế lực thù địch sử dụng mọi lực lượng, phương tiện, tiền bạc, vật chất và tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi “chiêu bài” xảo quyệt, tinh vi, thâm độc, nhưng nhìn chung các hoạt động diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Nội dung mà họ tập trung tuyên truyền chống phá là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Quân đội ta từng bước rời bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, để chống mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đạt hiệu quả cao thì trước hết và quan trọng nhất là phải chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cốt yếu là nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, cả lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo,… với phương pháp tiến hành (cách thức) linh hoạt, chủ động và có hệ thống giải pháp đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong “cuộc chiến” quyết liệt này.

Về lực lượng, cần có lực lượng đấu tranh rộng rãi là toàn dân và lực lượng nòng cốt được tổ chức thành hệ thống trong các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường…; trong đó, Quân đội, Công an đóng vai trò xung kích của lực lượng nòng cốt. Những người trong lực lượng nòng cốt phải gồm các nhà nghiên cứu, khoa học có trình độ lý luận chính trị cao, kiến thức rộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương tiện, gồm các phương tiện truyền thông, đấu tranh trên Internet, các trang mạng xã hội, Blog,… kết hợp với các phương thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình và đối tượng. Đối với các cơ quan báo chí, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, định hướng kịp thời, phân công và phân cấp tuyên truyền về các sự kiện một cách phù hợp; trong đó báo chí quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh chống quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương pháp đấu tranh, cần phải chủ động, linh hoạt, tránh thụ động khi có sự việc phức tạp xảy ra mới tổ chức tuyên truyền, đấu tranh. Quá trình thực hiện phải coi trọng đấu tranh trực diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng làm phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hoặc kích động gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ giữa Quân đội với Công an và Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp đấu tranh tuyên truyền chống các luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội một cách thường xuyên với tuyên truyền theo đợt (cao điểm), nhất là vào thời điểm tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Quân đội.

Về chính sách và cơ chế, cần có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm động viên, khuyến khích và bảo vệ những người viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời, có cơ chế cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền kịp thời và quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí và sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

NHẬN RÕ BỘ MẶT CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

 

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) tiến hành thảo luận về Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; Quy định về những điều đảng viên không được làm. Đây là công việc hệ trọng, cấp bách, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Thế nhưng, trên các trang mạng xã hội các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lại rêu rao rằng: “Việc này chẳng có gì mới, không cần thiết, chỉ là bổn cũ soạn lại”, từ đó họ cố tình xuyên tạc bôi nhọ, nói xấu cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.hntw4kh13810

Thực tiễn đã minh chứng hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho Nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trải qua các kỳ đại hội công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng được tiến hành chặt chẽ nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, nhưng vẫn chưa thể nói là thành công hoàn toàn. Trên thực tế, hàng loạt vụ việc tham nhũng, tiêu cực, gây thất thoát tài sản, ngân sách nhà nước đã được phát hiện, xử lý những năm qua, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, cán bộ cao cấp trong Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang, theo đúng tinh thần: không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Đó là những vụ việc đã phát hiện; tuy nhiên, còn nhiều vụ việc khác đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đấu tranh, loại bỏ những cán bộ suy thoái ra khỏi bộ máy làm cho Đảng trong sạch.

 Thời gian gần đây, trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, nhiều lãnh đạo địa phương có biểu hiện suy thoái, không dám làm, không có sự sáng tạo vì sợ liên đới trách nhiệm; một số cán bộ địa phương lợi dụng để tham nhũng, làm giàu cho mình. Nhiều người để được tiêm vắc xin sớm phải chi tiền lót tay cho cán bộ cơ sở để được chen ngang, lựa chọn vắc xin,…

 Trước sự cám dỗ của vật chất nhiều cán bộ, đảng viên đã bị sa ngã, biến chất nên Đảng phải thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ, loại bỏ những cán bộ cơ hội, rẽ ngang. Trên con đường phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ có không ít cán bộ, đảng viên thoái hóa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đây chính là những trở ngại, khó khăn nếu không đấu tranh, chỉnh sửa, hoàn thiện tổ chức, không loại bỏ những cán bộ tiêu cực, thoái hóa, biến chất ra khỏi hệ thống thì Đảng sẽ không còn sức mạnh chiến đấu. Những biểu hiện tiêu cực của đảng viên nếu không sớm được ngăn chặn sẽ nuôi những mầm mống thoái hóa, biến chất, phá hoại Đảng, có nguy cơ làm sụp đổ chế độ.

 Vì vậy, vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng tiếp tục được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) thảo luận và đưa ra các giải pháp đồng bộ, quyết liệt hơn nhằm ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đó là việc làm phù hợp, đúng quy luật khách quan; Đảng ta xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt. Do vậy, mọi luận điệu mà các phần tử cơ hội chính trị đưa ra đều nhằm bôi nhọ, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, tiến tới mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

TIẾP TỤC QUÁN TRIỆT SÂU SẮC VÀ THỰC HIỆN ĐÚNG ĐẮN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, HÒA BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN


Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng diễn ra sáng 14/12/2021. Đây là hội nghị toàn quốc đầu tiên do Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo tổ chức để bàn về công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và của cả hệ thống chính trị. Hội nghị nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần chủ động quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhất là chủ trương, đường lối, định hướng về đối ngoại với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Hội nghị đánh một dấu mốc mới và tạo nên bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa cho công tác đối ngoại, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

XÂY DỰNG “VĂN HOÁ TỪ CHỨC”.

Chúng ta thường nghe câu cửa miệng của cán bộ “theo sự phân công của Đảng”. Đúng thế, tổ chức đảng, cấp ủy, chính quyền quyết định bổ nhiệm, giao nhiệm vụ cho cán bộ và khi tổ chức nói người cán bộ đó không làm, thì họ không làm nữa - nghỉ việc hoặc nghỉ hưu. Lâu nay, trách nhiệm không rõ, chưa có căn cứ rõ ràng nên vấn đề từ chức rất hiếm.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng ( về kinh tế ) thì được nhận diện, phát hiện đấu tranh phòng, chống quyết liệt, tạo chuyển biến tích cực, đạt kết quả cụ thể, trở thành phong trào, không ai đứng ngoài cuộc, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các vụ án, vụ việc bị xử lý kỷ luật Đảng và pháp luật của nhà nước chủ yếu là về kinh tế. Nhưng phòng, chống tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, thì chúng ta làm chưa mạnh.

KHẨU B41 CỦA “BÔNG SEN THÉP” HOÀNG ĐĂNG MIỆN

 Anh hùng, liệt sĩ Hoàng Đăng Miện sinh năm 1953 tại Thôn Đông Bình, xã Thịnh Đức, huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc (nay là Thôn Đông Bình- Thị trấn Gia Bình - Huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).

Năm 1971, khi vừa tròn 18 tuổi, Hoàng Đăng Miện đã gác lại bút nghiên, tạm xa gia đình, quê hương kinh Bắc để vào chiến trường vì lý tưởng cao đẹp quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Những ngày đầu tháng 6/1971, tân binh Hoàng Đăng Miện được điều động sang chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thuộc nước bạn Lào và biên chế trong đội hình của Đại đội 12, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312.
Sau đó, anh được biên chế vào khẩu đội Đại liên của Sư đoàn. Vốn là người nhanh nhẹn, hoạt bát, ham học hỏi, Hoàng Đăng Miện có khả năng sử dụng thành thạo các loại súng khiến đồng đội rất thán phục.
Một thời gian sau, anh được điều sang Đại đội 9, trở thành xạ thủ súng phóng lựu B40, B41… Và khẩu B41 được trang bị cũng chính là khẩu súng theo anh chiến đấu đến giây phút cuối cùng trong cuộc đời người lính.
40 năm là khoảng thời gian đủ dài để con người ta quên đi nhiều thứ giữa vòng xoáy cuộc đời, nhưng với Cựu chiến binh Nguyễn Quang thì những ký ức về chiến tranh, về người đồng đội Hoàng Đăng Miện vẫn còn nguyên vẹn, tươi mới như ngày hôm qua.
Trong một lần đến tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, được tiếp xúc với cán bộ sưu tầm, ông đã chia sẻ những ký ức về người đồng đội của mình. Ông Quang nói:
"Hoàng Đăng Miện có nét mặt thanh tú, điển trai, nụ cười tươi rói, hiền lành nhưng khi ra trận chiến đấu rất lỳ và gai góc đến lạ, cậu ấy có biệt tài sử dụng thành thạo súng B41, mỗi lần bóp cò là mục tiêu bị diệt gọn".
Trong một chiến dịch có mật danh "Z139", Hoàng Đăng Miện thuộc biên chế Sư đoàn 312 đã đạt nhiều thành tích xuất sắc khi tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, góp phần vào thắng lợi chung của đơn vị. Anh nổi lên như một ngôi sao và được đồng đội tặng cho biệt danh là "bông sen thép", loài hoa mang tính biểu tượng cho ý chí, sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Tháng 4/1971, Sư đoàn 312 rời chiến trường Lào về nước, đến tháng 6/1972 thì tham gia bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong chiến dịch tiến công Trị - Thiên, một trong ba chiến dịch lớn trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.
Mặt trận Trị Thiên từ những ngày cuối tháng 6 cho đến tháng 9/1972, chiến sự diễn ra phức tạp, giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Các đơn vị bảo vệ thị xã và Thành cổ Quảng Trị đã kiên cường giữ vững trận địa dưới hỏa lực bom đạn cực kỳ ác liệt, trong điều kiện tương quan lực lượng chênh lệnh không có lợi cho ta.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, Hoàng Đăng Miện đã sử dụng súng B41 bắn 30 quả đạn, phá hủy 20 mục tiêu, diệt 70 tên địch.
Trong các trận đánh tại Như Lệ và trận đồi Cây mít, Hoàng Đăng Miện vẫn là xạ thủ B41 dày dặn kinh nghiệm. Ngày 9/9/1972, trong khi tiến công Đồi Cháy, một điểm cao nằm ở phía Đông Nam Như Lệ (Hải Lệ, Hải Lăng, Quảng Trị) Hoàng Đăng Miện đã kiên cường chiến đấu đến cùng và anh dũng hy sinh khi anh vừa lên thay chỉ huy đại đội.
Khi hy sinh, đôi tay anh vẫn giữ chặt lấy khẩu B41 như sắp nhả đạn về phía quân thù. Trong trận chiến ấy, quân ta đã làm chủ Đồi Cháy nhưng Hoàng Đăng Miện đã mãi mãi nằm lại nơi này khi mới 19 tuổi. Máu thịt của anh hòa vào đất mẹ để ươm mầm cho cây hòa bình hôm nay được mãi mãi xanh tươi. Tổ quốc đời đời ghi nhớ những hy sinh quả cảm của anh.
Cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Đăng Miện chỉ vẻn vẹn 19 tháng nhưng những cống hiến của anh đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc hết sức to lớn, là tấm gương sáng để đồng chí, đồng đội noi theo, góp phần không nhỏ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng.
Dấu ấn tuổi hai mươi của Hoàng Đăng Miện sẽ sống mãi với non sông, đất nước.
Với những thành tích đạt được qua 19 tháng chiến đấu trong quân ngũ, Hoàng Đăng Miện đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 1 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, 2 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.
Ngày 23/9/1973, Hoàng Đăng Miện được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng.
Khẩu B41 của anh hùng, liệt sĩ Hoàng Đăng Miện có số đăng ký: 6526 - K3/1653 đang được Bảo tàng Lịch sử Quân sư Việt Nam lưu giữ, bảo quản. Tháng 7/2017, khẩu súng B41 được lựa chọn trưng bày tại triển lãm "Nghĩa tình đồng đội" do Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2017)./.




YÊU CẦU HOA KỲ DỪNG NGAY VIỆC CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM!

      Hoa Kỳ, chủ nô của đám tự nguyện làm vong nô lại ngang ngược can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc Phạm Đoan Trang vi phạm pháp luật Việt Nam được xét xử khách quan theo pháp luật Việt Nam, phù hợp công pháp quốc tế và được toàn dân Việt Nam ủng hộ, Hoa Kỳ không có tư cách gì để "lên án" hay đòi hỏi Việt Nam thả kẻ phạm tội! Và dạy thêm cho các người rằng: Phạm Đoan Trang đã bị tước thẻ, không còn tư cách nhà báo từ lâu, và hiện nay là tội phạm!

Hoa Kỳ hãy lo cho dân Hoa Kỳ, khi mỗi ngày có tới hơn trăm nghìn ca mắc Covid và hơn 2.000 người tử vong, năm nay có tới 5 vạn người bị giết vì súng đạn trong đó hơn 1.000 người bị cảnh sát giết trong các trường hợp hoàn toàn không đáng sử dụng vũ lực. Đặc biệt, yêu cầu Hoa Kỳ và Anh quốc hãy trả tự do ngay cho Julian Assange, công dân Úc, người đang bị Anh giam giữ vô nhân đạo và dẫn độ sang Mỹ nhằm sát hại ông trong tù một cách đê hèn. Assange có quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ quan điểm mà không lo sợ bị trả thù!

Nếu Hoa Kỳ tiếp tục ngang ngược can thiệp, hãy cút ngay khỏi Việt Nam với mớ vaccine hết date của các người! Hoặc sau này sẽ phải tiếp tục tự đi tìm hài cốt cả mới và cũ mà đem về!

Với những người dân Hoa Kỳ tiến bộ, muốn làm bạn hãy đến đây làm bạn, soải chân trần trên đất nước chúng tôi. Với những kẻ vẫn ôm mộng đế quốc trong cơn suy tàn, sẽ được nhận những gì chúng bay đáng phải nhận!



Yêu nước ST.

PHẢN BỘI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, CÁI GIÁ PHẢI TRẢ QUÁ ĐẮT!

      Chúng ta đều biết, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đã trở thành khoa học. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản có một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường; chủ nghĩa Mác từ “một bóng ma ám ảnh châu Âu” đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, có uy tín, vị thế và chiếm vị trí thống trị phong trào công nhân từ những năm 40 của thế kỷ XIX. Đảng Cộng sản - Bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp vô sản, theo đó cũng đã ra đời, là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học và phong trào công nhân quốc tế.

Điểm vượt trội của chủ nghĩa Mác so với các học thuyết của các bậc tiền bối và đương thời là ở chỗ: nghĩa Mác là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, lực lượng, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (năm 1917) do V. I. Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích (b) lãnh đạo, lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội mới tốt đẹp đã được thiết lập trên 1/6 diện tích trái đất. Sau Thế chiến thứ 2, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã ra đời. Sự thật này ai cũng biết, sử sách còn ghi chép. Thế nhưng, do sai lầm của những người lãnh đạo của một số Đảng Cộng sản, chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ. Đó là một tổn thất nặng nề cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị triệt để lợi dụng cơ hội này, đã bám lấy sự kiến ấy để quy kết, buộc tội, cố tình “chứng minh sự sai lầm” của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội để khẳng tính phổ quát và thời mới của chủ nghĩa tư bản đang đến. Có phải như vậy không? Phải chăng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu đã “cáo chung cho một lý luận khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin?

Sự thật đã bác bỏ những giả định sai lầm ấy. Không bao giờ có chuyện sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu lại là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng. Từ sự kiện này, nó nhắc nhở ai đó “đừng vơ đũa cả nắm”, đừng “nhìn cây mà không thấy rừng”; phải xem xét sự việc một cách khách quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử, thực tiễn và theo quan điểm phát triển để tránh bị rơi vào chủ quan duy ý chí, giáo điều, kinh viện, bị mắc sai lầm bởi phương pháp tư duy siêu hình, lầm lẫn với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa hoài nghi, bi quan. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu là sự thật; song cũng chính từ đây, nó nhắc nhở chúng ta rằng, bất cứ Đảng Cộng sản nào nếu xa rời lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc vi phạm những nguyên tắc mácxít - lêninnít thì tất yếu đều dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại và giáo điều, vô cùng nguy hại, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, sụp đổ.

Rõ ràng, chỉ có Đảng Cộng sản nào trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, được vũ trang bằng một lý luận tiên phong thì mới hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong; mới xứng đáng là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân; mới làm tròn sứ mệnh lịch sử toàn thế giới: lãnh đạo giai cấp công nhân đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ xã hội mới - chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.

Qua các biến cố thăng trầm của lịch sử và từ sự thật: chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; thêm một lần nữa, nó đã và đang chứng minh đầy thuyết phục tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nó nói rõ rằng, trong thời đại ngày nay, bất cứ một Đảng Cộng sản nào, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản nào, nếu vi phạm những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trà đạp lên giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì Đảng Cộng sản ấy, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản ấy phải trả giá đắt bởi những sai lầm nghiêm trọng của mình. Điều đó chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là một khoa học, cách mạng có sức sống mãnh liệt; nó luôn là “công cụ nhận thức vĩ đại”, “vũ khí sắc bén” để giai cấp công nhân và loài người tiến bộ nhận thức và cải tạo thế giới vì lợi ích chính đáng của mình. Những phát minh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã chứng minh “C. Mác đúng”; loài người không thể có tương lại, nhân loại không thể phát triển nếu không có chủ nghĩa Mác -Lênin soi sáng, dẫn đường.

Với những khuyết tật của một mô hình chủ nghĩa xã hội đã định sẵn và những sai lầm do chủ quan, duy ý chí của một bộ phận lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở Đông Âu, chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng từ công sức, mồ hôi, xương máu của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ và nhân dân đã bị sụp đổ, làm cho chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới lâm vào tình cảnh thoái trào. Đó là điều vô cùng đáng tiếc!

Chính điều đó khẳng định rõ rằng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, những người cộng sản chúng ta phải biết trân trọng, nâng niu và kiên quyết, kiên trì bảo vệ những thành quả cách mạng mà chính chúng ta và nhân dân đã giành được; phải thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng sáng tạo học thuyết ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên; không được coi thường, vi phạm những nguyên tắc mácxít -lêninnít, làm trái quy luật khách quan, mắc “bệnh” chủ quan, duy ý chí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ai đó, tổ chức đảng nào đó, nếu bị mắc phải sai lầm nghiêm trọng ấy thì tất yếu, sớm hay muộn, tổ chức đảng ấy sẽ mất vai trò lãnh đạo, chủ nghĩa xã hội ở nơi có sai lầm ấy sẽ bị sụp đổ, nhân dân ở nơi ấy sẽ mất quyền sống làm người, thành quả cách mạng sẽ bị tước đoạt, cảnh “nồi da nấu thịt” sẽ xảy ra.

Lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới chỉ ra rằng, những người cộng sản chân chính trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, phải luôn luôn tỉnh táo và sáng suốt để tìm kiếm con đường, biện pháp mới nhằm quy tụ, tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng tiếp tục giải quyết các mâu thuẫn mới nảy sinh trong xã hội cũng như tự đổi mới cho phù hợp với thời cuộc; phải thực hiện đúng lời dạy của V. I. Lênin: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ.

Chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc lời dạy của V.I. Lênin: xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp vĩ đại, nó chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên các Đảng Cộng sản phải hết sức cẩn trọng. Vì vậy, trên bước đường đi tới hạnh phúc, chắc chắn nó sẽ gặp đầy dẫy những khó khăn, thử thách, nhất là sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch. Đó là điều không thể tránh khỏi. Người chỉ rõ: Mọi kẻ thù đều đáng sợ nhưng sợ nhất là trong một điều kiện nào đó, hoàn cảnh nào đó, nội bộ Đảng Cộng sản bị phân liệt, mất đoàn kết, những người cộng sản tự hủy hoại mình. Đó là nguy cơ tồi tệ nhất có thể dẫn đến sự đổ vỡ của một cuộc cách mạng, và lúc ấy, thành quả cách mạng mà nhân dân xây đắp nên bằng xương máu của mình “sẽ bị đánh cắp”. Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu cuối thế kỷ XX thật là đau sót; song nó đã phản ánh rõ những sai lầm của những người cộng sản nắm quyền lãnh đạo tối cao trong Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, cái điều mà V.I. Lênin đã cảnh báo trước đây về sai lầm của những người cộng sản là hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta cần suy ngẫm và thấm thía sâu sắc lời cảnh báo của V.I. Lênin về nguy cơ suy thoái, tha hóa, biến chất của một Đảng Cộng sản.

Cho đến ngày nay và mai sau, mãi mãi vẫn sẽ là như vậy, không có học thuyết nào, chủ nghĩa nào có thể vượt qua chủ nghĩa Mác - Lênin bởi giá trị, ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân đạo của nó. Kẻ thù “lớn và nhỏ” của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt và tàn ác đã và đang thực hiện nhiều chiêu trò “ma quỷ” từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, đến thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa”, “dân chủ hóa” lực lượng vũ trang nhằm mục đích cuối cùng là hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Làm việc sai trái đó, chính các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã thừa nhận sự yếu thế, hoang mang và hoảng loạn tinh thần của chúng và trên thực tế là thừa nhận sự nguy hiểm, sự đe dọa của một học thuyết khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên con đường đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền hòa bình thế giới, C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin luôn ở bên chúng ta, cổ vũ, động viên về mặt tư tưởng và dẫn dắt chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng và cách mạng Việt Nam cũng như của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Nghiên cứu lịch sử ra đời, phát triển và sự truyền bá lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin vào phong trào công nhân quốc tế; sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực và nguyên nhân của sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu gần 30 năm trước (1991-2021) là cơ sở khoa học để chúng ta bác bỏ mọi sự xuyên tạc, bôi nhọ và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đồng thời, là cơ sở khoa học vững chắc giúp mỗi người chúng ta hiểu rõ điều kiện, hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị khoa học và cách mạng của từng luận điểm để vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp. Đây cũng là điều kiện tốt để mỗi người giải thích và hiểu đúng đắn lý do vì sao Đảng ta lại quyết định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam./.

Yêu nước ST.

RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG THEO TƯ TƯỞNG CỦA BÁC

 

Thời gian qua, trên các lĩnh vực, nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động trong các môi trường phức tạp, dịch bệnh Covid-19 hay trong điều kiện khó khăn đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm nhiều cách làm mới, đạt hiệu quả cao, được quần chúng tin yêu, ca ngợi, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thoái hoá, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng, dao động trước những tác động từ bên ngoài, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, của lợi ích nhóm… nên đã không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng, thậm chí gây ra những tổn thất lớn cho sự nghiệp cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, trong hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng ta, đại bộ phận cán bộ, đảng viên phát huy được phẩm chất, đạo đức cách mạng. Đa số cán bộ, đảng viên luôn trau dồi và giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, yêu nước, yêu dân, chí công, vô tư, gương mẫu, có lối sống trong sạch, lành mạnh. Tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên vững vàng trước những biến động trong nước và thế giới, hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt, nhiều cán bộ, đảng viên hoạt động trong các môi trường phức tạp, điều kiện khó khăn đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm nhiều cách làm mới, đạt hiệu quả cao, được quần chúng tin yêu, ca ngợi, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tuy vậy, bên cạnh những cán bộ, đảng viên mẫu mực, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thoái hoá, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng, dao động trước những tác động từ bên ngoài, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, của lợi ích nhóm… nên đã không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng, thậm chí gây ra những tổn thất lớn cho sự nghiệp cách mạng.
Để đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần và rèn luyện đạo đức cách mạng hiệu quả, thiết thực, trong những năm qua, cấp ủy các cấp đã và đang triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Đồng thời ban hành các quy định nhằm rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, như: Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương về “Những điều đảng viên không được làm” và Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW ngày 29/11/2021 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định những điều đảng viên không được, Quy định 101-QÐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 124-QĐ/TW về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”, Quy định 109-QĐ/TW về “Công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên” và gần đây nhất là Quy định 08-QĐ/TW về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương"...

Tại mỗi tổ chức cơ sở đảng, bằng cách gắn thực hành đạo đức cách mạng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đã nâng cao được nhận thức và hành động cho mỗi cán bộ, đảng viên, phát huy tích cực, đẩy lùi tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu; góp phần quan trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Rèn luyện đạo đức cách mạng là việc phải làm thường xuyên, liên tục, suốt đời; là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống và đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy, việc rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi. Quá trình rèn luyện đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong mọi mối quan hệ với tổ chức và cá nhân; và phải được giám sát bởi cấp ủy, bởi nhân dân trên tinh thần: dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tu dưỡng đạo đức bằng những hành động cụ thể trong đời sống hàng ngày và khi thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường để làm mẫu mực cho quần chúng. Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống và phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh./.


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC “NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, tấm gương hy sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Bác đã để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh và đặc biệt là đạo đức Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập, rèn luyện và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam từng nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Để làm tròn nhiệm vụ đó, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, bởi vì: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản là: Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Tựu trung lại: “Đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”… Ngay từ những ngày chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ cách mạng, bao gồm 23 điều răn: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”. Sau đó, ở trong những thời điểm khác nhau, Người nói nhiều về các phẩm chất đạo đức, song nhấn mạnh đạo đức cách mạng biểu hiện cụ thể ở những phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng… Cùng với đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cách mạng phải có tài. Bởi theo Người, có đức mà không có tài thì vô dụng, nhưng nếu có tài mà không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy, người cán bộ, đảng viên cũng không quy tụ, lãnh đạo được nhân dân. Do đó, đạo đức phải gắn liền với năng lực; với việc trau dồi năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ...

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự mình rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân để quy tụ và hấp dẫn được quần chúng; từ đó, lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW ngày 29/11/2021 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm./.


ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ĐƯỜNG LỐI CƠ BẢN, XUYÊN SUỐT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

      Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" thật sự là bài học rất có giá trị của cách mạng Việt Nam với những phân tích, đánh giá và tổng kết hết sức đầy đủ, rõ ràng về lý luận và thực tiễn trong hoạt động hơn 90 năm qua của Đảng Cộng sản Việt

Nam, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua đều bắt nguồn từ sự kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh, khát vọng và niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đây là một trong những bài học lớn và cũng là di sản vô giá của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.

Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản ViệtNam đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam trải qua những chặng đường lớn. Đó là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kéo dài 21 năm, thống nhất đất nước năm 1975, sau đó là cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, cùng nhân dân Campuchia lật đổ bè lũ diệt chủng Pôn Pốt và xây dựng đất nước trong bối cảnh bị bao vây cấm vận. Trong suốt quá trình đấu tranh gian khổ này, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên định với mục tiêu và con đường chủ nghĩa xã hội.

Năm 1986 có thể coi là mốc thời gian nổi bật khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới. Sau Đại hội VI - Đại hội “đổi mới” (tháng 12/1986), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1991) được tiến hành trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trật tự thế giới bị thay đổi.

Ở trong nước, tình hình hết sức khó khăn bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, tìm mọi cách thực hiện “diễn biến hòa bình”, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, hậu quả do sự “bao vây cấm vận”... nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn xác định: lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, phù hợp với điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng là: Lãnh đạo nhân dân xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Đây thật sự là sự sáng tạo hết sức mới mẻ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam

(tháng 01/2011) một lần nữa khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.24). Đại hội cũng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Để đưa đất nước phát triển đi lên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, có quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các nước trên thế giới.

Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là “một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người... sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội... hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”. Nội dung trên không chỉ là mục tiêu mang tính nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ là khát vọng của nhân dân Việt Nam, không chỉ là tôn chỉ để cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu, trưởng thành, mà còn là vũ khí để đập tan sự xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng cản trở sự phát triển của Việt Nam theo con đường đã chọn.

Báo cáo chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2021) nhấn mạnh: “35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử...”. (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.25)

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 343,6 tỷ đô-la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỷ lệ nghèo mỗi năm giảm 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ. Hơn 97 triệu người dân Việt Nam, gồm 54 dân tộc, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn được hưởng phúc lợi xã hội từ công cuộc đổi mới. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 1980 và cải thiện đáng kể đời sống nhân dân.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân... Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.

Là một nước láng giềng có quan hệ truyền thống hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với Việt Nam, Campuchia rất vui mừng chứng kiến những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam đã và đang đạt được. Tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, nhân dân Việt Nam sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Bài viết của đồng chí KEO BAPHNOM - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Trưởng Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia./.

Yêu nước ST.

 

VIỆT NAM QUYẾT THẮNG ĐẠI DỊCH

 Đại dịch COVID-19 đã và đang đe dọa nghiêm trọng an toàn và sức khỏe của nhân dân ta. Xã hội bị xáo trộn, kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là với những người dân nghèo. Rất nhiều gia đình đã mất việc làm, hoặc thu nhập rơi vào tình trạng hết sức bấp bênh... Đặc biệt hiện nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn đầy thách thức khi dịch bệnh bùng phát trở lại với cường độ mạnh hơn, tốc độ lây nhiễm của chủng mới tăng gấp nhiều lần. Sau những thành công ở những giai đoạn đầu, trong những ngày vừa qua, chúng ta ghi nhận hàng trăm rồi đến hàng nghìn ca nhiễm mới mỗi ngày. Đợt bùng phát dịch bệnh lần này rất nguy hiểm do chủng virus mới đang lây lan rất nhanh... Chính vì vậy, mọi người đừng kỳ thị với người F0, bởi vì họ cũng đâu có muốn bản thân mình bị như vậy. Omicron nó lây lan quá nhanh... Chúng ta đâu biết mình là F mấy đâu? Biết đâu lại rơi vào mình! Vì vậy thay vì nói F0, trách F1, F2 thì hãy cổ vũ mọi người cố lên! Cùng nhau cố gắng để vượt qua giai đoạn khó khăn này, và yêu quê hương tôi, đất nước tôi.!! Không biết chắc chắn thì xin hãy im lặng, chứ đừng tung tin đồn sai sự thật để làm hoang mang dư luận. Thời buổi kinh tế khó khăn chẳng ai muốn góp quỹ 10 tr, 20tr cho cái tội tung fake news đâu. Đừng hoang mang, hãy tin tưởng và thực hiện theo khuyến cáo 5K của Bộ Y tế, Ban Chỉ đạo phòng chống dịch các cấp. Hơn lúc nào hết, chỉ có mình mới tự giúp mình bằng cách tiêm đủ mũi vaccine Ý THỨC. Hy vọng mọi người cùng nhau đoàn kết vượt qua đại dịch. 



TRAO TẶNG GIẢI THƯỞNG LENIN CHO TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Chiều 15/12, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã long trọng diễn ra Lễ trao tặng Giải thưởng Lenin của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Đồng chí Lê-ô-nhít Ka-lát-xnhi-cốp, Phó Chủ tịch Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề về khối Cộng đồng các quốc gia độc lập, Liên kết Á-Âu và Kiều bào của Duma Quốc gia Nga, đã thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng Giải thưởng cao quý nhất của Đảng Cộng sản Liên bang Nga và Đảng Cộng sản Liên Xô.


Cùng dự buổi lễ có Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, ông Võ Văn Thưởng – Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng và các cơ quan, tổ chức liên quan của Việt Nam; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền và lãnh đạo các cơ quan hợp tác về quốc phòng, văn hóa, khoa học của Liên bang Nga tại Việt Nam. Trước đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp thân mật đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên bang Nga.


Giải thưởng Lenin là phần thưởng cao quý nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga. Việc Đảng Cộng sản Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Giải thưởng cao quý này nhân dịp 150 năm kỷ niệm ngày sinh của Lenin thể hiện sự trân trọng và ghi nhận đối với những đóng góp xuất sắc của Tổng Bí thư – nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, được đánh giá cao tại Nga và trên thế giới, trong việc phấn đấu vì công bằng, nhân văn và tiến bộ xã hội; vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và nghiên cứu làm phong phú lý luận và thực tiễn cho việc phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin, cũng như những nỗ lực không ngừng nhằm củng cố quan hệ hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga.


Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung cho biết: “Giải thưởng Lenin là giải thưởng cao quý nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Liên bang Nga trao tặng cho các tổ chức, cá nhân ưu tú có những đóng góp to lớn và xuất sắc trong việc thúc đẩy tiến bộ, công bằng trong xã hội cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như là trong vấn đề kết luận thúc đẩy lý luận và qua thực tiễn để thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa Mác-Lenin”.


Phát biểu tại buổi tiếp và tại Lễ Trao tặng Giải thưởng Lenin cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Lê-ô-nhít Ka-lát-xnhi-cốp khẳng định, thành công của Việt Nam là minh chứng sinh động cho chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa.


Đảng Cộng sản Liên bang Nga luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp với Đảng Cộng sản Việt Nam và mong muốn hợp tác giữa hai Đảng tiếp tục được tăng cường, góp phần thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga phát triển toàn diện vì lợi ích của nhân nhân hai nước, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ sự xúc động và cảm ơn Đảng Cộng sản Liên bang Nga đã trao tặng Giải thưởng mang tên Lenin cao quý, coi đó không chỉ là sự ghi nhận đối với cá nhân ông mà còn là sự trân trọng và tình cảm của Đảng Cộng sản Liên bang Nga, đất nước và nhân dân Nga đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; đồng thời thể hiện truyền thống quan hệ đặc biệt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.


Đánh giá cao những thành tựu mà Liên bang Nga đạt được trong phát triển đất nước, nâng cao vị thế quốc tế và những sự phát triển của Đảng Cộng sản Liên bang Nga, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây chính là nguyên nhân, là ngọn cờ tư tưởng và giúp nhân dân Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước trước đây, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.


“Đây cũng là dịp nhắc nhở chúng tôi sẽ tiếp tục củng cố, tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp truyền thống suốt bao nhiêu năm qua giữa nhân dân hai nước chúng ta. Chúng tôi hứa sẽ tiếp tục làm hết sức mình để củng cố quan hệ hữu nghị đoàn kết anh em, đồng chí giữa nhân dân Liên bang Nga và nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên bang Nga và sự nghiệp của chúng ta sẽ phát triển hết sức lâu dài và đầy triển vọng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 



Nhân dịp này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng bày tỏ chân thành cảm ơn sự giúp đỡ to lớn, chí tình, hiệu quả mà nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay luôn dành cho nhân dân Việt Nam;  khẳng định cùng Đảng Cộng sản Liên bang Nga và các đối tác Nga tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga, quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước./.


Văn Hiếu/VOV