Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

TỰ HÀO CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

Sáng 20/12, tại Hà Nội, Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương để cho ý kiến về các nội dung quan trọng mà Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã triển khai, thực hiện thời gian qua; xác định mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ, giải pháp công tác trọng tâm thời gian tới... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dự, phát biểu ý kiến chỉ đạo. Dự hội nghị còn có Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Minh Hưng; đại diện lãnh đạo các ban của Đảng, Văn phòng Chính phủ,... Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Công an chủ trì Hội nghị.

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2021

Covid hôm nay 20-12: Hà Nội F0 tăng kỷ lục; Hải Dương xuất hiện ổ dịch tại doanh nghiệp

 

Số ca mắc mới tăng mạnh tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó Hà Nội đứng đầu cả nước số F0 mới ghi nhận trong ngày, với 1.405 ca; Hải Dương xuất hiện ổ dịch mới tại Công ty TNHH Freedom Footwear Vina, tại xã Phúc Thành (huyện Kim Thành).

 

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI VỀ CHÍNH TRỊ

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Để chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá quân đội ta về chính trị, tư tưởng, mọi cán bộ chiến sỹ cần nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ những thủ đoạn hết sức xảo quyệt, tinh vi của các thế lực thù địch như sau:

Lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” là thủ đoạn vô cùng hiểm độc mà chúng sử dụng hòng đánh lạc hướng, gây kích động cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Thông qua phát tán tài liệu, sách báo phản động, đặc biệt thông qua các trang mạng xã hội như facebook, youtube, blogger… kẻ địch tung ra các luận điệu cho rằng “chế độ đảng trị” là nguyên nhân gây trở ngại phát triển nền dân chủ ở Việt Nam. Chúng đòi Đảng ta thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phải “chuyên nghiệp hóa quân đội” thì xã hội mới có dân chủ. Chúng cũng luôn xăm xoi tìm mọi kẽ hở, thiếu sót trong tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, lôi kéo, kích động quân đội can dự vào những vấn đề nhạy cảm đó.

Tìm cách nói sấu, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội để tạo dư luận sấu, mất niềm tin cho cán bộ chiến sỹ. Để bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, các thế lực thù địch tìm mọi cách bịa đặt thông tin về gia đình, tài sản, quan hệ xã hội của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, mâu thuẫn nội bộ trong Đảng, xây dựng các nhân vật trong tiểu thuyết, tác phẩm văn học nghệ thuật đặc tả giống với các đồng chí lãnh đạo, tạo dư luận tiêu cực trong quần chúng nhân dân; chúng dùng mọi thủ đoạn xảo trá để hòng xóa nhòa truyền thống, phẩm chất và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Xuyên tạc quan điểm đổi mới của Đảng ta về nền kinh tế thị trường, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sai lệch về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Thực hiện đường lối Đổi mới, hơn 30 năm qua, những quan điểm  của Đảng về phát triển nền kinh tế đã đưa đất nước từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử và ngày càng phát triển bền vững. Song, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, lừa mị, nhằm cản trở, chống đối quan điểm đổi mới của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng lặp đi lặp lại luận điệu cũ rích rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, phải gắn với chủ nghĩa tư bản; không thể dung hợp kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội. Thậm chí, chúng còn cố bịa đặt, suy diễn, coi định hướng xã hội chủ nghĩa “chỉ mang ý nghĩa thuần túy quyền lực”…

Những quan điểm, luận điệu phản động trên được chúng tìm mọi cách để thâm nhập vào tư tưởng, niềm tin và hành động của cán bộ, chiến sĩ, hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ quân đội ta theo mô hình quân đội tư sản, mà chúng cho đó là phù hợp với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Do vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nâng cao cảnh giác, xem xét, phân tích, đánh giá để vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác trong cuộc chiến “không tiếng súng” nhưng đầy cam go, phức tạp và quyết liệt này.

XUYÊN TẠC BÓP MÉO LỊCH SỬ DÂN TỘC, THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

(tiếp theo 3)

Cũng nhân sự kiện này các vị lại rùm beng về cuộc "hải chiến HS 1974" đây là nổi đau của dân tộc và là nổi nhục của chế độ ngụy SG. Vì sao mất HS? Ai giao Hoàng Sa cho TQ? Và cuộc hải chiến hay ngụy chiến? Sự thật đây chỉ là cuộc ngụy chiến để che dấu âm mưu Mỹ đã thoã hiệp giao Hoàng Sa cho TQ để TQ ép ta không giải phóng miền Nam mà thành lập ở miền Nam chính phủ liên hiệp ba thành phần, Mỹ cút nhưng ngụy không nhào. Còn trận hải chiến đó có thể kết luận tàu HQ4, HQ5 cùng 7 tàu TQ đánh chìm hai tàu HQ10 và HQ16, chỉ tiếc rằng HQ 16 không chìm và trở thành nhân chứng của sự phản bội đồng đội và bán rẽ một phần biển đảo thân yêu của Tổ quốc, Mỹ giao Hoàng Sa cho TQ và ngụy phải chấp hành . Đừng bao giờ đặt vấn đề ngụy SG bảo vệ Tổ quốc vì Tổ quốc họ đã bán cho Mỹ và Mỹ bảo giao họ phải bàn giao. Một lý lẽ đơn thuần vậy mà sao các vị cố tình thay đổi trắng đen. (còn nữa)

XUYÊN TẠC BÓP MÉO LỊCH SỬ DÂN TỘC, THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Để bảo vệ cái sai các vị còn núp dưới danh nghĩa yêu nước, để xuyên tạc lịch sử quy tội cho cố Thủ tướng Phạn Văn Đồng và ngụy biện rằng có thừa nhận chính quyền SG độc lập thì ta mới có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng sa, Trường sa . Mới nghe thì tưởng các vị yêu nước thật song các vị đang lợi dụng sự thiếu thông tin của mọi người để xuyên tạc bức Thư của Cụ Phạm Văn Đồng gởi Ông Chu Ân Lai, vậy xin hỏi trong bức thư  ấy có dòng nào? chữ nào? nói về Hoàng sa, Trường sa và nói về việc VN giao Hoàng sa, Trường sa cho TQ hay là một bức thư với ngôn từ khôn khéo tránh mọi lý lẽ dể dẫn đến mất chủ quyền biển đảo mà không mất đi quan hệ hữu nghị và sự giúp đỡ to lớn của TQ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Các vị đã theo đuôi TQ để gián tiếp lên án cố Thủ tướng Phạn Văn Đồng bán đảo cho họ, (VNDCCH không thể giao cái mà họ không quản lý) phải chăng vì động cơ đẩy chế độ tay sai bán nước lên thành quốc gia độc lập mà các vị nghĩ ra cái cách này. Các vị có dám khẳng định chỉ cần công nhận VNCH độc lập có chủ quyền thì TQ sẽ trả lại Hoàng sa, Trường sa cho chúng ta không? Chác các vị thừa biết đó là điều không tưởng và cùng với cách lý giải của các vị sẽ tạo cho TQ có cớ không bao giờ trao trả Hoàng sa, Trường sa cho VN, khi đất nước này còn là nước CHXHCNVN vì TQ sẽ nói CHXHCNVN sẽ không thể đòi cái mà họ không quản lý mà sẽ trao trả cho VNCH ... Tất cả đều là một số lý luận ngụy biện phi lý cả . Chỉ có một lý luận duy nhất đúng : Của người VN thì phải trả lại cho người VN dù chế độ chính trị nào đi nữa, Pháp quản lý, Nhật quản , Mỹ quản hay ai quản lý đi nữa , thì của dân tộc VN phải trả lại cho dân tộc VN, đó là chân lý. Cho nên các vị đừng lợi dụng lòng yêu nước để rửa tội cho chế độ Sài gòn tay sai, bán nước.

XUYÊN TẠC BÓP MÉO LỊCH SỬ DÂN TỘC, THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thứ hai, từ việc bỏ cụm từ này để thay vào một cụm từ không chính danh (chế độ Sài gòn, quân đội Sài gòn) đã dẫn đến một hệ quả: Danh không chính nên ngôn cũng không thuận , càng giải thích càng sai và càng bị cộng đồng gồm những người tôn trọng lịch sử, yêu nước, yêu chế độ lên án. Sai lầm đó thể hiện trên một số vấn đề sau:

 Các vị cho rằng VNCH là một thực thể tồn tại độc lập khách quan trong 21 năm ở miền Nam (riêng thời gian đã sai rồi, VNCH chỉ tồn tại 19 năm thôi) đứng góc độ nghiên cứu về chủ thể, khách thể thì các vị nói đúng họ là thực thể có tên gọi, có bộ máy hết sức chặt chẽ không chỉ tồn tại độc lập mà còn là đối lập sống còn vi chế độ VNDCCH (họ tuyên bố không đội trời chung với Cộng sản để khẳng định sự trung thành với chủ Mỹ), song mục đích các vị không dừng ở đó mà độc lập theo nghĩa hết sức ngụy biện và phản động đó là: Ở VN sau năm 1954 có hai quốc gia, hai chế độ song song tồn tại độc lập: VNDCCH với thủ đô Hà nội ở miền Bắc và VNCH với thủ đô Sài gòn ở miền Nam, chính quyền này được LHQ và nhiều nước công nhận ...(ai đó do không hiểu lịch sử nước nhà nghe bọn phản động xuyên tạc thì còn có thể tha thứ, còn các vị lại làm cái việc đổi trắng thay đen, đảo lộn sự thật thì nên gọi các vị sao đây cho đúng?) Ai cho phép các vị thừa nhận VNCH là một quốc gia độc lập lại còn song song cùng VNDCCH? VNCH được LHQ công nhận lúc nào? Trong khi nội dung Bộ sử các vị khẳng định VNCH là do Mỹ dựng nên, là chính quyền bù nhìn thì giải thích các vị nói ngược lại là quốc gia độc lập , các vị vô tình hay cố ý đứng về kẻ bán nước hại dân? Thiết nghĩ chắc các vị không quên một chân lý đã được Bác Hồ khẳng định: Nước VN là một , dân tộc VN là một. Sông có thể cạn , núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi! Thế nhưng các vị rất dũng cảm trong khi sông chưa cạn, núi vẫn chưa mòn mà các vị dám thay đổi thì làm sao chúng tôi không phản đối cho được! (còn tiếp)

XUYÊN TẠC BÓP MÉO LỊCH SỬ DÂN TỘC, THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Xuyên tạc, bóp méo lịch sử là một trong những thủ đoạn thâm độc nhất của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, mục đích của chúng nhằm làm cho một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân nhẹ dạ, cả tin, nghi ngờ tính chân chính của lịch sử, từ đó cổ súy cho tư tưởng phản động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng với Nhân dân. Để góp phần làm rõ sự thật  về mưu đồ của chúng. Chúng ta xem lại câu chuyện của Đồng chí Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn  viết lại, nội dung của nó thể hiện ý chí chiến đấu kiên cường , một tinh thần quả cảm dứt khoát đấu tranh không khoan nhượng trước kẻ thù. Xin được viết lại nội dung câu chuyện:

Vừa qua tôi có buổi làm việc với hai đồng chí: GS, TS , Viện trưởng Viện VN học và PGS,TS Nguyễn Quang Ngọc , nguyên Viện trưởng VN học , PCT Hội KHLSVN trên tinh thần thẳng thắng , chân tình và sau khi làm việc tôi có hứa sẽ nói lại cho rõ quan điểm của tôi về một số phát biểu gần đây của một số sử gia, nhà nghiên cứu xoay quanh việc công bố phát hành Bộ lịch sử VN vừa được ông Trần Đức Cường họp báo giới thiệu.

Việc đầu tiên các đồng chí đó nhờ tôi nói lại cho Cộng đồng mạng biết là GS, NGND Phan Huy Lê không tham gia chỉ đạo, biên tập Bộ lịch sử này mà người trực tiếp là ông PGS, TS Trần Đức Cường làm Chủ nhiệm, kiêm Tổng chủ biên Bộ sử và Cộng đồng mạng đã nhầm lẫn nên phê phán Cụ Lê là oan cho Cụ.

Việc thứ hai chúng tôi đã trao đổi quan điểm xoay quanh việc bỏ cụm từ ngụy quân, ngụy quyền trong Bộ sử, chúng tôi đã thống nhất việc bỏ là không phù hợp và do không phù hợp nên danh không chính dẫn đến ngôn không thuận, từ đó càng giải thích càng sai càng làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phản đối ngày càng mạnh, các đồng chí đó hứa sẽ có bài nói rõ vấn đề này.

Tôi cũng nói rõ vừa qua trên bài viết của tôi, tôi không phê phán GS Phan Huy Lê mà chỉ phê phán quan điểm giải thích của các vị sử gia, nhà nghiên cứu xoay quanh việc bỏ cụm từ ngụy quân , ngụy quyền trong Bộ sử ... Cách giải thích của các vị rất sai trái buộc tôi vì bảo vệ sự thật, bảo vệ thanh danh của người chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ và giá trị hy sinh của hàng triệu liệt sĩ phải lên tiếng. Vậy tôi phê phán những vấn đề nào.

Thứ nhất, Tôi không đồng tình bỏ cụm từ ngụy quân, ngụy quyền "để tránh mang ý miệt thị và để mọi người chấp nhận ". Tôi cho rằng cách nhìn nhận này không tôn trọng lịch sử bởi vì viết sử là viết sự thật, đã là sự thật thì sẽ khách quan, xét về ngữ nghĩa, từ " ngụy " chính là "giả" là không " thật " trái nghĩa với từ " chính " do đó cái gì không "chính danh" thì gọi là "nguỵ" và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược cụm từ ngụy quân, ngụy quyền ra đời sau khi Thực dân Pháp dựng nên chính quyền bù nhìn tay sai Bảo Đại cùng với quân đội tay sai bán nước dưới mỹ từ "Quân đội quốc gia " và sau năm 1954 Mỹ hất cẳng Pháp thay tên đổi họ cho bọn ngụy này bằng cái tên Việt Nam cộng hoà và quân đội VNCH hay còn gọi tên của Quân đội quốc gia VN. Và nếu không gọi ngụy quân, ngụy quyền thì chỉ có thể gọi đó là chế độ tay sai bán nước VNCH và quân đội tay sai bán nước VNCH , cách gọi này quá dài nên gọn nhất chính là: ngụy quân, ngụy quyền ...

Còn lập luận tránh mang ý miệt thị thì thật buồn cười, đây là chế độ phản dân, hại nước nếu xét về tội ác có thể nói: Trời không dung, đất không tha (chặt đầu , mổ bụng , mọi gan , cắt vú, đóng đinh ...) cớ sao các vị nói đừng miệt thị, trong kháng chiến đồng bào ta không những miệt thị mà còn đổ bao máu xương để xoá bỏ nó, đáng lẽ những kẻ cầm đầu bộ máy tay sai này phải được đưa ra xét xử như những tên tội phạm chiến tranh đồng loã với Mỹ gây nên tội ác hủy diệt trên đất nước ta, thế nhưng Đảng và nhân dân ta đã khoan dung không xét xử vậy mà bây giờ các vị nhân danh ai đòi tránh miệt thị họ?

XUYÊN TẠC BÓP MÉO LỊCH SỬ DÂN TỘC, THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Với lập luận bỏ cụm từ “ ngụy quân”, “ ngụy quyền” để hoà giải, hoà hợp dân tộc ... Vậy xin hỏi các vị vì sao có cụm từ này? Trong khi Đảng ta và Bác Hồ kính yêu lúc nào cũng giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân lại không kêu gọi đoàn kết mà phải kêu gọi tiến hành hoà giải hoà hợp dân tộc ? Đó là thời điểm trước và sau khi ký Hiệp định Pari Mỹ sẽ rút quân, trong bối cảnh tương quan lực lượng lúc bấy giờ, ngụy quân, ngụy quyền nắm trong tay gần hai triệu binh lính và viên chức với một khối lượng vũ khí khổng lồ, do đó chúng ta cần hoà bình, tránh đổ máu xương nên chung ta giương cao ngọn cờ hoà giải, hoà hợp dân tộc, thực thi nghiêm chỉnh Hip đinh Pari. Đây là chủ trương đúng đắn thể hiện khát vọng hoà bình của nhân dân ta, song chính ngụy quyền SG đã không chấp nhận hoà giải ... mà Nguyễn Văn Thiệu hung hăng tuyên bố: Không bao giờ có hoà hợp hoà giải với Cộng sản, chỉ có đánh và đánh... Chúng ta không thể ngồi chung một bàn, ăn chung một mâm với CS" Và ngụy quyền đã thực hiện Chiến dịch tràn ngập lãnh thổ, đánh phá quyết liệt vùng giải phóng gây cho ta tổn thất hết sức nặng nề ... Còn bây giờ họ còn cái gì để mặc cả đòi hoà giải, hoà hợp dân tộc (họ chỉ còn một nhóm vong nô  với một tổ chức khủng bố Việt Tân và một lũ xôi thịt tập họp nhau lại dưới nhiều danh xưng hô hào chống Cộng , quậy phá ổn định của đất nước) họ có tư cách gì đòi ta hoà hợp. Chấp nhận hoà hợp với chúng là chấp nhận bọn khủng bố thành một thực thể chính trị,  bắt tay với chúng là chấp nhận đa nguyên, đa đảng, hậu quả đẩy đất nước đi về đâu chắc các vị thừa hiểu . Ngày nay chúng ta chỉ có Đại đoàn kết toàn dân tộc  ai ủng hộ mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng , văn minh thì đất nước mở rộng vòng tay đón về lòng dân tộc. Chính nhờ chính sách đúng đắn đó hơn 40 năm qua mọi người dân VN đã đoàn kết chung sức chung lòng dựng xây và bảo vệ đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Ngay cả các cựu thù cũng trở thành đối tác toàn diện, đối tác chiến lược của VN và cũng không vì là đối tác mà ta lại gạch bỏ hai chử xâm lược trước đây của Pháp, của Nhật và của Mỹ.

Đôi dòng tâm huyết, nói lại cho rõ về lịch sử hy vọng góp một tiếng nói tập họp sự đoàn kết chung quanh Đảng ta, kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng mà bao người đã hy sinh làm nên trong lịch sử, đồng thời cảnh tỉnh cho ai đó có âm mưu trở cờ lật sử để gây bất ổn chế độ, tạo sự phân tâm tiếp tay cho "DBHB" làm thay đổi chế độ hãy biết rằng: Hương hồn của các liệt sĩ vẫn vang vọng đến hôm nay, Họ không cho phép điều đó xãy ra .

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong đời sống xã hội, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá Việt Nam

 

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong đời sống xã hội, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá Việt Nam

Để làm rõ những giá trị cụ thể của nguồn lực tôn giáo tại Việt Nam, Báo VietNamNet tổ chức tọa đàm "Phát huy nguồn lực tôn giáo trong đời sống xã hội”. Phát huy nguồn lực tôn giáo không chỉ là câu chuyện của Nhà nước hay các tổ chức tôn giáo, bởi khi người dân và cộng đồng xã hội ủng hộ, đồng tình thì các nguồn lực sẽ được phát huy một cách tốt nhất. 

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước và truyền thống văn hóa. 

Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau. Cả nước có hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số.

Nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thời gian qua tín đồ các tôn giáo luôn có những đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Để tôn giáo luôn "đồng hành cùng dân tộc”, có nhiều đóng góp thiết thực hơn nữa thì việc phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo trong đời sống xã hội và phát triển đất nước là rất quan trọng.

Để làm rõ những giá trị cụ thể của nguồn lực tôn giáo tại Việt Nam, Báo VietNamNet tổ chức tọa đàm "Phát huy nguồn lực tôn giáo trong đời sống xã hội” với sự tham gia của hai khách mời:

Tiến sĩ Lê Thị Liên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Chu Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. 

Nhà báo Diệu Thúy:Thưa PGS.TS Chu Văn Tuấn, xin ông có thể làm rõ những khía cạnh và giá trị cụ thể của nguồn lực tôn giáo tại Việt Nam hiện nay? 

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Về nguồn lực tôn giáo, đây là một chủ đề mà giới nghiên cứu lý luận cũng như nghiên cứu tôn giáo đã có sự quan tâm từ lâu. Tôi cho rằng, nguồn lực tôn giáo có ba khía cạnh: nguồn lực vật chất, nguồn lực tinh thần và nguồn lực con người.

Thế nào là nguồn lực vật chất của tôn giáo? Các tôn giáo không chỉ có tinh thần, niềm tin, đức tin hay các giáo lý, giáo luật mà còn là một thực thể xã hội. Những cơ sở vật chất, tài sản tôn giáo như đất đai, cơ sở thờ tự hay những nguồn lực về tài chính mà các tôn giáo đã thu hút được sự đóng góp của toàn xã hội thì từ góc độ nghiên cứu, chúng tôi cho rằng đấy là nguồn lực vật chất.

Nguồn lực tinh thần là tất cả những giá trị tôn giáo, tư tưởng, triết lý tôn giáo, giáo lý, giáo luật tôn giáo về đạo đức, về điều chỉnh hành vi của con người rồi những giá trị văn hóa, ví dụ như những di sản mà các tôn giáo để lại. 

Thứ ba là nguồn lực con người. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam có khoảng 26,5 triệu tín đồ. Đây là các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận. Nếu tính cả những loại hình tín ngưỡng thì con số còn lớn hơn. Nguồn lực con người là tất cả chức sắc, chức việc, nhà tu hành của các tôn giáo, các tín đồ tôn giáo và kể cả những người có cảm tình với tôn giáo, sẵn sàng đóng góp cho hoạt động tôn giáo. 

Chức sắc, tín đồ, nhà tu hành là người được đào tạo, có niềm tin tôn giáo, có những kiến thức, kỹ năng trong cuộc sống. Bản thân họ và các tín đồ còn là lực lượng có thể đóng góp rất tốt cho sự phát triển xã hội. Nếu chúng ta biết khai thác, phát huy được vai trò, sức mạnh, niềm tin của họ và cả các tín đồ thì đó là nguồn lực rất quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Đánh giá khách quan để ứng xử phù hợp

Nhà báo Diệu Thúy:Xin hỏi TS Lê Thị Liên, tại sao chúng ta cần nhận thức đúng đắn về nguồn lực tôn giáo?

TS Lê Thị Liên: PGS.TS Chu Văn Tuấn vừa nói rất rõ về nguồn lực tôn giáo. Những nguồn lực này trong quá trình tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, trong quá trình tôn giáo phát triển biểu hiện ở hoạt động xã hội của tôn giáo và hoạt động tôn giáo nói chung.

Khi chúng ta đánh giá khách quan về hoạt động tôn giáo thì chúng ta sẽ ứng xử phù hợp. Khi ứng xử phù hợp, chúng ta sẽ có những cơ chế, chính sách phù hợp, từ đó khơi thông nguồn lực tôn giáo và phát huy được nguồn lực tôn giáo vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời chúng ta cũng khẳng định giá trị của tôn giáo trong lòng xã hội. 

Đất nước ta là đa dạng tôn giáo. Để nhận thức đúng, chúng ta cần hiểu rõ từng tôn giáo và thế mạnh của tôn giáo ấy. Tôi muốn ví dụ như có những tôn giáo có nguồn lực bền vững, có tôn giáo nguồn lực ở mức độ vừa phải, có tôn giáo với nguồn lực đủ mạnh để tham gia vào hệ thống an sinh xã hội của đất nước, thậm chí với tư cách là chủ đầu tư, quản lý nhưng cũng có tôn giáo hoạt động ở mức độ từ thiện, nhân đạo…

Như vậy, cần đánh giá đúng để có lộ trình pháp lý trong công tác tham mưu ban hành chính sách. Từ đó khơi dậy, phát huy nguồn lực tôn giáo, đồng thời cũng hạn chế những hoạt động có thể lợi dụng tôn giáo.

Các nhận thức đúng và đánh giá khách quan nguồn lực tôn giáo là hết sức quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi Đảng, Nhà nước ta đã xem tôn giáo là nguồn lực. Dĩ nhiên không phải bây giờ chúng ta mới phát huy giá trị đạo đức của tôn giáo bởi những đóng góp của tôn giáo đối với đời sống xã hội đã có từ rất lâu. Tôi nghĩ rằng, việc nhận thức đúng đắn nguồn lực tôn giáo rất quan trọng cho cả phía khách thể và chủ thể. 

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Chúng ta phải nhận thức đầy đủ từ cả hai góc độ để thấy được các giá trị, vai trò của nguồn lực tôn giáo với đời sống xã hội và sự phát triển đất nước. Đồng thời để biết được những hạn chế và có thể phát huy tốt hơn nguồn lực này.

Phát huy nguồn lực tôn giáo là chủ trương của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên trong thực tế triển khai, có những nơi nhận thức tốt và phát huy tốt nguồn lực tôn giáo nhưng cũng có những nơi, những lúc chúng ta phát huy chưa tốt. Do vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để không bị lãng phí các nguồn lực xã hội nói chung, đặc biệt là nguồn lực tôn giáo. 

Nhà báo Diệu Thúy:Để đánh giá thực trạng nguồn lực tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS Chu Văn Tuấn có chia sẻ gì, thưa ông?

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Không phải bây giờ khi chúng ta đặt ra câu chuyện nguồn lực tôn giáo thì các tôn giáo mới có sự đóng góp. Nhiệm vụ hay đúng hơn là bản thể vốn có của tôn giáo là luôn tham gia vào đời sống xã hội, giúp đỡ cho sự phát triển xã hội, cho cộng đồng và con người.

Mỗi tôn giáo đóng góp một vai trò khác nhau, có tôn giáo mạnh về lĩnh vực này, có tôn giáo mạnh về lĩnh vực khác. Ví dụ, có tôn giáo mạnh về giáo dục, lại có những tôn giáo mạnh về y tế. Có những tôn giáo rất tích cực trong xây dựng đời sống dân cư như xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực có nhiều người nghèo, nông thôn, miền núi... Các ví dụ để thấy, mỗi tôn giáo đều có thế mạnh riêng.

Chúng ta cần đánh giá đầy đủ, hệ thống và khoa học để hiểu rõ mỗi tôn giáo có thế mạnh gì và có thể tham gia đóng góp đến đâu, như thế nào vào những lĩnh vực của đời sống xã hội. Có những nghiên cứu bài bản thì chúng ta mới và phát huy tốt nhất được nguồn lực tôn giáo. 

Sức mạnh mềm của tôn giáo

Nhà báo Diệu Thúy:Thưa TS Lê Thị Liên, là một chuyên gia nghiên cứu kỳ cựu về chính sách tôn giáo và các hoạt động tôn giáo, bà có thể cho biết nguồn lực của các tôn giáo trong việc xây dựng nền tảng văn hóa, tinh thần của xã hội cũng như trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường...? 

TS Lê Thị Liên: Chúng ta có nguồn lực tôn giáo biểu hiện bằng ba khía cạnh, như PGS.TS Chu Văn Tuấn đã nói từ đầu.

Về tinh thần, chính tinh thần của tôn giáo đã thể hiện rất rõ vai trò của tôn giáo đối với xây dựng, phát triển văn hóa. Tôn giáo là một phần của văn hóa. Nếu chúng ta chưa thể nói rằng tôn giáo là thành tố văn hóa thì chính giá trị đạo đức của tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước ngày càng ngày hội nhập quốc tế, tiến sâu hơn vào toàn cầu hóa.

Đất nước phát triển nhưng cùng với đó cũng có lệch chuẩn, sụt giảm hay mai một về giá trị văn hóa truyền thống. Những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo rất gần và có nhiều điểm chung với văn hóa dân tộc. Khi tôn giáo phát huy được giá trị đó thì đã bồi bổ, làm phong phú thêm và góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc. 

Bản thân tôn giáo chính là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa dân tộc. Có thể với đại chúng, chúng ta chưa nghiên cứu nhiều nhưng khi đến những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ thấy các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số lại được chính các tôn giáo lưu giữ rất nhiều. 

Bên cạnh đó, sinh hoạt tôn giáo chính là cách lưu truyền, giao lưu văn hóa và đạo đức dân tộc. Khi tôn giáo phát triển, cùng với các hoạt động tôn giáo, văn hóa dân tộc cũng được phát triển. Không chỉ các bộ, ban ngành mà chính các tổ chức tôn giáo cũng góp phần đưa văn hóa dân tộc đi khắp nơi, đến những vùng sâu, vùng xa, kể cả ở nước ngoài.

Đó là điều tuyệt vời của giá trị đạo đức tôn giáo và giá trị ấy rất bền vững trải qua các thời kỳ của đất nước, qua bao nhiêu thay đổi và ngày càng được khẳng định trong đời sống. Khi giá trị tôn giáo được khơi dậy, phát huy trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa mới, trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc thì tôi nghĩ rằng giá trị đó rất tốt đẹp. Tôn giáo chính là sức mạnh mềm. 

Trong lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo thì bản thân tôn giáo sinh ra đã có tính hướng thiện và giúp đỡ mọi người. Tuy nhiên, sự thể hiện của các tôn giáo khá khác nhau nhưng tựu trung lại có 2 lĩnh vực mà tôi muốn nhấn mạnh trong các hoạt động y tế, giáo dục của tôn giáo.

Thứ nhất là nguồn lực tôn giáo có thể phát huy hệ thống an sinh xã hội. Những tôn giáo có tiềm năng, tiềm lực, đông tín đồ và huy động nguồn lực xã hội để trở thành nguồn lực tôn giáo và lấy nguồn lực đó để đóng góp lại cho xã hội bằng hệ thống an sinh xã hội.

Thứ hai là hoạt động từ thiện. Hoạt động này có thể do bất cứ tôn giáo nào thực hiện, không hẳn là những tôn giáo được Nhà nước công nhận mà cả những tôn giáo chưa được công nhận hay những người có tình cảm tôn giáo… 

Ví dụ trong đại dịch Covid-19 vừa qua, sự đóng góp của các tổ chức tôn giáo thật sự không còn ranh giới giữa dân tộc hay tôn giáo, giữa người có tôn giáo hay không. Tất cả đều tham gia hoạt động thiện nguyện, đóng góp nguồn lực vật chất, kể cả sự hy sinh tính mạng con người. Các tu sĩ, những nhà tu hành rồi các tín đồ đều tự nguyện tham gia tuyến đầu chống dịch cùng với các bộ, ban, ngành và thực tế nhiều người đã không trở về. Tất cả đều làm từ tâm và từ sự thôi thúc của chính giá trị tôn giáo, giá trị của dân tộc “Lá lành đùm lá rách’’.

Sự đồng lòng chung tay rất quan trọng nhưng nếu chúng ta nắm rõ để khơi thông, phát huy nguồn lực tôn giáo thì cần một cơ chế rõ ràng hơn để không bị lãng phí nguồn lực và nguồn lực đó đến đúng địa chỉ, đến đúng nơi cần đến cũng như các giá trị của tôn giáo ngày một lan tỏa hơn trong quá trình tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, phát triển đất nước. 

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Có thể thấy, đối với việc xây dựng và bảo tồn nền văn hóa truyền thống thì các tôn giáo ở Việt Nam, đặc biệt là các tôn giáo có lịch sử du nhập lâu dài đều góp phần làm phong phú thêm những giá trị văn hóa Việt Nam.

Bên cạnh đó, trong quá trình tồn tại, phát triển tại Việt Nam, bản thân các tôn giáo với những thiết chế văn hóa của mình cũng tạo ra những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, những công trình tôn giáo và các di tích. Chính những tài sản tôn giáo, những bảo vật tôn giáo đều là những di sản văn hóa rất quý báu của dân tộc, lưu giữ đến nay và trở thành vô giá. 

Các tôn giáo còn góp phần xây dựng và điều chỉnh văn hóa, đạo đức xã hội. Các tôn giáo hiện nay không chỉ là tham dự vào hoạt động an sinh, từ thiện mà còn đóng góp rất quan trọng vào công tác bảo vệ môi trường.

Trong các tôn giáo có rất nhiều những giáo lý, giáo luật quy định phải sống thân thiện với môi trường, con người phải hài hòa và yêu thương thiên nhiên. Các tôn giáo khuyến khích tín đồ cũng như tất cả mọi người hãy bảo vệ môi trường hoặc bản thân các tôn giáo cũng tham gia vào chương trình bảo vệ môi trường của Nhà nước. 

Tôi còn nhớ tại Hội nghị toàn quốc do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ và rất nhiều cơ quan tổ chức năm 2014, tất cả các tôn giáo ở Việt Nam đã tham gia và ký kết một văn bản để đồng hành với Nhà nước, với xã hội trong việc bảo vệ môi trường. Câu chuyện về ứng phó biến đổi khí hậu cũng như vậy khi nhiều nguồn lực và hoạt động của tôn giáo đều tham gia. 

Tôi muốn đề cập thêm về vai trò của tôn giáo đối với việc chăm sóc sức khỏe nhân dân. Người bệnh, đặc biệt là những người mắc các bệnh phong, HIV, chất độc da cam… thường bị người đời xa lánh, kỳ thị. Họ mắc bệnh hiểm nghèo rất cần sự an ủi, chăm sóc không chỉ về vật chất mà còn cả tinh thần. Chính các tôn giáo với sự tận tâm chăm sóc đã góp phần xóa đi nỗi đau thể chất, nỗi đau tinh thần của họ. Đây là điều xã hội phải ghi nhận và đánh giá đúng vai trò của tôn giáo. 

TS Lê Thị Liên: Trong những năm gần đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động phòng trào và hiện có 63 tỉnh, thành phố ký kết chương trình tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Các tôn giáo có những cách làm rất hay. Đó là họ tác động đến nhận thức trước, sau đó mới bắt đầu tác động thay đổi hành vi, từ hành vi cá nhân rồi tới gia đình, cộng đồng… tạo ra sự lan tỏa để chúng ta có môi trường sống bền vững. Ngoài ra, tôn giáo tham gia vào lĩnh vực bảo trợ xã hội và cũng đã mang lại hiệu quả rất cao. 

Nhà báo Diệu Thúy:Vậy có thể khái quát về vai trò của nguồn lực tôn giáo đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai như thế nào, thưa bà?

TS Lê Thị Liên: Bản thân tôn giáo và các giá trị tôn giáo đã là bền vững, tôi đánh giá tôn giáo có bốn vai trò với sự phát triển đất nước.

Thứ nhất là giá trị đạo đức tôn giáo góp phần vào xác lập các giá trị xã hội và ảnh hưởng trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, kể cả trong hoạt động kinh tế.

Thứ hai là tôn giáo tham gia nâng đỡ, bồi bổ các giá trị đạo đức, văn hóa xã hội. Đặc biệt trong phát triển bền vững hiện nay thì phát triển văn hóa cực kỳ quan trọng. Tiếp đến là những đóng góp của tôn giáo về vật chất và nguồn nhân lực góp phần cùng với Nhà nước thúc đẩy hệ thống an sinh xã hội. 

Thứ ba là đoàn kết dân tộc. Tôn giáo nào cũng có mục tiêu hướng thiện, yêu chuộng hòa bình, tránh xa những điều ác. Ở đâu có tổ chức tôn giáo tốt thì vấn đề tự quản ở đó cũng rất tốt. Bản thân tôn giáo có giáo lý, giáo luật, những điều răn đã thấm sâu vào mỗi tín đồ tôn giáo. Như vậy, khi các giá trị đó được thực hiện tốt sẽ khiến vai trò của tôn giáo trong đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo cũng rất tốt, tạo dựng sự đồng thuận xã hội.

Cuối cùng là vai trò khẳng định chủ trương, chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam khi nguồn lực của tôn giáo được phát huy, khi tôn giáo được bày tỏ.

Bốn vai trò này là rất quan trọng với sự phát triển bền vững của đất nước ta hiện nay. 

Cần cơ chế khơi thông nguồn lực tôn giáo

Nhà báo Diệu Thúy:Theo PGS.TS Chu Văn Tuấn, chúng ta cần những điều kiện gì để phát huy mạnh mẽ và tương xứng với tiềm năng, với nguồn lực tôn giáo hiện có?

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Chúng ta đã có nhận thức, đã có những chủ trương về phát huy nguồn lực tôn giáo nhưng vấn đề là làm thế nào để phát huy?

Đầu tiên, chúng ta phải có cơ chế chính sách để các tôn giáo tham gia vào nhiều lĩnh vực hơn và làm thế nào để gỡ được những nút thắt hạn chế sự phát huy nguồn lực tôn giáo. 

Theo tôi, cần phải xem cơ chế là yếu tố quan trọng đầu tiên. Dĩ nhiên còn nhiều yếu tố khác, ví dụ nhận thức của tất cả hệ thống chính trị, xã hội, các cơ quan làm công tác tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo... Tiếp đó là bản thân các tôn giáo cũng nhận thức đầy đủ hơn về nguồn lực của mình và vai trò, trách nhiệm của mình đối với sự phát triển đất nước, từ đó phải chuẩn bị những điều kiện để có thể phát huy. 

Phát huy nguồn lực tôn giáo không chỉ là câu chuyện của Nhà nước, hay của các tổ chức tôn giáo mà còn của cả người dân, cộng đồng xã hội. Bởi lẽ, khi các tôn giáo và Nhà nước đã có chủ trương như vậy, nếu người dân ủng hộ, đồng tình thì nguồn lực tôn giáo sẽ được phát huy một cách tốt nhất. 

Nhà báo Diệu Thúy:Thưa TS Lê Thị Liên, bà có thể cho biết việc phát huy nguồn lực tôn giáo của nước ta hiện đang gặp những thách thức như thế nào? 

TS Lê Thị Liên: Thách thức lớn nhất của chúng ta, theo tôi có hai khía cạnh.

Thứ nhất là sự nhận diện đầy đủ về nguồn lực tôn giáo, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều nghiên cứu và khảo sát. Do vậy, chúng ta cần có sự khảo sát đầy đủ, đánh giá rất khách quan về nguồn lực tôn giáo. Đôi lúc, nhận thức của chúng ta bị đập vào những con số nhưng thực chất khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát thật kỹ thì thấy rằng con số ấy không hẳn là như vậy.

Thứ hai là cơ chế chính sách. Có những người nhận thức về nguồn lực tôn giáo hạn hẹp, chỉ ở mức độ là tham gia từ thiện nhân đạo, an sinh xã hội để phát triển tôn giáo. Hoặc cũng có nhận thức quá tô hồng khi nhìn những con số, về khả năng của tôn giáo và vô hình trung, chúng ta gây áp lực cho chính mình và áp lực cho các tổ chức tôn giáo. 

Một thách thức nữa là đa số hoạt động an sinh xã hội của các tổ chức tôn giáo đan xen với hoạt động tôn giáo, chưa có sự tách bạch. Do vậy, khi chúng ta khảo sát hay nhìn nhận, đánh giá sẽ vướng quy định này, điều luật kia. Đây là thách thức rất lớn trong phát huy nguồn lực tôn giáo hiện nay. 

Nhà báo Diệu Thúy:Vậy chúng ta cần làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, thưa bà? 

TS Lê Thị Liên: Về luật pháp liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo, tôi nghĩ rằng chúng ta đã làm rất tốt. Trong giai đoạn tới cần làm tốt hơn hoặc có thể điều chỉnh, bổ sung quy định.

Về phía quản lý nhà nước về tôn giáo, theo tôi là đã đủ điều kiện để đảm bảo cho hoạt động tôn giáo cũng như thúc đẩy các hoạt tôn giáo đóng góp nguồn lực cho xã hội. Khi chúng ta đảm bảo được quyền tự do tín ngưỡng của các tổ chức tôn giáo và chủ động trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo thì sẽ tạo ra niềm tin của tổ chức và cá nhân tôn giáo đối với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đây là sự tương giao, mối tương quan trong quản lý và trong công tác hỗ trợ tôn giáo cũng như hoạt động tôn giáo. 

Làm tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo giáo chính là một động lực thúc đẩy hoạt động tôn giáo và cũng để hạn chế những bất cập. 

Nhà báo Diệu Thúy:Theo PGS.TS Chu Văn Tuấn, để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng tôn giáo, chúng ta cần phải làm gì?

PGS.TS Chu Văn Tuấn: Nếu chúng ta không có cơ chế, chính sách, nhất là những quy định không đầy đủ, rõ ràng thì sẽ có những câu chuyện lợi dụng việc phát huy nguồn lực tôn giáo nhằm trục lợi.

Để phát huy tốt nguồn lực tôn giáo thì ngoài công tác quản lý nhà nước, chúng ta cần hoàn thiện công tác tôn giáo nói chung của cả hệ thống chính trị bởi việc phát huy nguồn lực tôn giáo liên quan đến rất nhiều các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.

Chúng ta cũng phải có sự đồng bộ từ góc độ quản lý, từ công tác tôn giáo và từ nhận thức của mọi người. Nhằm khắc phục những hạn chế hay lợi dụng hoạt động tôn giáo để trục lợi, theo tôi phải có những quy định, nguyên tắc, chế tài, thậm chí là các văn bản quy định pháp luật chặt chẽ mới có thể là phòng ngừa, ngăn chặn. Đây cũng là thách thức chúng ta phải tính đến trong quá trình phát huy nguồn lực tôn giáo.

 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 

Vấn đề đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam luôn bị các thế lực cơ hội, thù địch quan tâm, chống phá. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, đặc biệt là vào những thời điểm khó khăn. Mục tiêu sâu xa của chúng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta dày công xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng; thông qua việc chống phá, gây mất ổn định, mất lòng tin, làm cho kinh tế không phát triển, xã hội tất yếu dẫn tới rối loạn, khủng hoảng và sụp đổ; hoặc làm cho chính trị rối loạn, đất nước không ổn định, kinh tế không phát triển, tất yếu cũng dẫn tới xoá bỏ chế độ chính trị.

Về đổi mới kinh tế, chúng tấn công thẳng vào những vấn đề mang tính ý thức hệ, như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chúng phủ định  quy luật này, “lớn tiếng” rằng, các nước tư bản chủ nghĩa không thừa nhận quy luật này nhưng vẫn phát triển, hay quy luật này chỉ đúng thời của Mác-Lênin, khi khoa học và công nghệ chưa phát triển; ngày nay người lao động gắn bó với tư bản, có cổ phần trong các doanh nghiệp tư bản, không bị bóc lột như trước đây, được quan tâm nhiều đến lợi ích, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều điều chỉnh, do đó không còn mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Từ đó, chúng cho rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lỗi thời.

Vấn đề sở hữu công cộng dưới hai hình thức toàn dân và tập thể vẫn là một trong những nội dung các thế lực xuyên tạc, chống phá. Lợi dụng một số yếu kém trong quản lý kinh tế ở một số nước đi lên chủ nghĩa xã hội; tình trạng tham nhũng, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình hình một số doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thất thoát tài sản, tình trạng khiếu kiện đông người vẫn diễn biến phức tạp liên quan đến đất đai; đất nơi thờ tự, đất tôn giáo, đất quốc phòng, an ninh sử dụng lãng phí, tiêu cực…, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu rằng, còn duy trì sở hữu công cộng, nguồn lực đất nước còn lãng phí, sẽ không chống được tham nhũng, lãng phí, kinh tế tiếp tục chậm phát triển.

Về các thành phần kinh tế, chúng nhấn mạnh rằng, cho dù đến nay, chế độ cộng sản đã có những đổi mới về kinh tế, các thành phần kinh tế, nhưng không căn bản, không thực chất, do vẫn giữ kinh tế nhà nước có vị trí chủ đạo. Lập luận của chúng là các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, nhưng trên thực tế, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn bị phân biệt đối xử, không công bằng trong môi trường kinh doanh, trong tiếp cận nguồn lực. Cơ chế phân chia lợi ích chưa rõ ràng ngay trong doanh nghiệp nhà nước, trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp đối với xã hội của các thành phần kinh tế. Tuy coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, nhưng kinh tế tư nhân vẫn bị phân biệt đối xử, chưa minh bạch trong chính sách, vẫn còn tình trạng “vỗ béo để thịt”, bị sách nhiễu, kiểm tra, vòi vĩnh vô lý.

Về chính trị và đổi mới chính trị, đây là vấn đề các thế lực thù địch thường xuyên chống phá, “một mất, một còn”. Ở Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch bên trong, bên ngoài vẫn tập trung vào phê phán chế độ một đảng, coi đó là “đảng trị”, mất dân chủ, đòi phải đa nguyên, đa đảng. Hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, chính phủ, quốc hội, các tổ chức chính trị- xã hội chỉ là hình thức, theo đuôi đảng. Đảng đứng trên luật pháp, quyền lực xã hội tập trung vào một số ít người. Rằng chỉ có tam quyền phân lập mới giám sát được quyền lực, hoạt động của Nhà nước mới hiệu quả, mới chống được tham nhũng. Nói là xây dựng Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng, nhiều vụ việc thực hiện theo sự chỉ đạo của đảng, “ đảng cử dân bầu”, “quân xanh quân đỏ”, “án bỏ túi”, đã có sự chỉ đạo từ trước.

Cho rằng, chủ nghĩa xã hội là mất dân chủ, tình trạng khiếu kiện, điểm nóng xảy ra thường xuyên; các tôn giáo, người dân tộc bị đàn áp; các tổ chức chính trị do đảng thành lập ra, hoạt động kém hiệu quả, là “sân sau” của quan chức, không có vai trò đại diện cho quần chúng, làm cho bộ máy cồng kềnh, tốn tiền thuế của người dân. Chúng bóp méo sự thật khi cho rằng có tình trạng bưng bít thông tin tràn lan, báo chí bị kiểm duyệt, không có báo tư nhân; những người bất đồng chính kiến thì bị bắt, bị tra tấn, đánh đập; vẫn còn phân biệt đối xử theo lý lịch, miền Bắc, miền Nam, trong và ngoài nước. Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị đều do đảng chi phối, do vậy mất đi sự sáng tạo.

Bên cạnh đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình phát triển đất nước cũng đặt ra nhiều vấn đề các thế lực thù địch, cơ hội chống phá. Quá trình nhận thức về sự phù hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam không phải đã có tiền lệ, nhiều vấn đề mới phải qua thực tiễn kiểm nghiệm; không ít những hạn chế, yếu kém do nhận thức và thực hiện của bộ máy hành chính trong quá trình chuyển đổi, dẫn đến sự trì trệ ở một số lĩnh vực, thiếu sáng tạo, khách quan, đôi khi có biểu hiện chính trị hoá một số vấn đề kinh tế cụ thể. Bởi vậy, các thế lực cơ hội, thù địch cho rằng, đó là sự nửa vời, đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị tương ứng, kinh tế nhiều thành phần nhưng chính trị lại độc đảng, đó là sự pha trộn giữa “nước với lửa”, chắc chắn sẽ kém hiệu quả. Rằng, phải từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, sử dụng các lý thuyết, trường phái kinh tế học mới tránh được sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào vận hành của nền kinh tế thị trường, tránh được sự can thiệp của chính trị vào kinh tế. Rằng, không có khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ là giống nhau, chỉ khác là cách thực hiện, vận dụng; dân chủ là phi chính trị, phi giai cấp, không đảng phái, là tự do tranh cử..

Chúng lập luận rằng, việc chấp nhận kinh tế thị trường đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn khiên cưỡng, nửa vời. Đã chấp nhận kinh tế thị trường, tuân thủ theo quy luật thị trường lại còn “ định hướng xã hội chủ nghĩa”, trên thực tế chưa rõ về mô hình, hoặc chỉ danh nghĩa, thực chất đã chuyển sang theo mô hình chủ nghĩa tư bản. Một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhìn chung đó là sự mâu thuẫn.

PHAI KHẮT - NÀ NGẦN: 2 TRẬN THẮNG ĐẦU TIÊN CỦA QĐND VIỆT NAM

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị, Đội xây dựng kế hoạch tổ chức một trận đánh để “cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của cả một dân tộc đang bị nô lệ, đang sục sôi ý chí vùng lên”, đồng thời “khắc phục tình hình thiếu vũ khí trang bị”.


BÁC HỒ TRONG LÒNG DÂN VÀ TRONG TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH

 Bác đi vào cõi vĩnh hằng đã hơn 1/2 thế kỷ nay, thương nhớ Bác ta thêm một lần nhận rõ “Bác vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc” (Chế Lan Viên), Bác vẫn đang ở bên ta, cổ vũ, động viên mỗi việc tốt ta làm, nhắc nhở, uốn nắn chúng ta từ những việc làm sai, làm hỏng. Bác vẫn thường nhắc nhở chúng ta, phải thường xuyên tự phê bình và phê bình như một thói quen “rửa mặt hàng ngày”, phải “giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Sự quan tâm của Người - ân cần và chu đáo. Tình thương yêu của Người - rộng lớn và sâu xa, luôn thắp sáng trong ta ngọn lửa của đức tin và niềm hy vọng. Sức cảm hóa đầy thuyết phục của Người làm muôn người xúc động, bởi Người rất đỗi chân thành. Thần thái của Người luôn toát lên sự thấu hiểu, thấu cảm nỗi lòng, tâm trạng và ý nguyện của mỗi chúng ta. Người nói tự trái tim mình, chạm vào trái tim ta, nên chân lý hóa thành đạo lý, lẽ phải hòa trong tình thương, cảm nhận trực giác không cần giải thích.