Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

Thường xuyên chăm lo xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

 Khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, mặc dù so sánh về tiềm lực kinh tế, quân sự cũng như trình độ tác chiến của ta còn kém địch, song bằng thế trận được tạo lập và xây dựng rộng khắp, hiểm hóc, linh hoạt, chúng ta đã kìm chân, tiêu hao, tiêu diệt và đập tan chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, buộc địch phải đánh lâu dài, sa lầy và thất bại.

Vận dụng bài học đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới” và Nghị định số 21/2019/NĐ/CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh vững chắc. Tập trung xây dựng đồng bộ, toàn diện các tiềm lực trong khu vực phòng thủ; trong đó, quan tâm xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần. Thực hiện tốt việc kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn trọng điểm, chiến lược, biên giới, biển, đảo, nhằm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Quan tâm ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, xây dựng công trình phòng thủ trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ then chốt, sở chỉ huy các cấp, chốt chiến dịch gắn với phòng thủ dân sự, tạo lập thế trận rộng khắp, liên hoàn, hiểm hóc, vững chắc giữa các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố với phòng thủ quân khu và trên từng hướng chiến lược, sẵn sàng cho các tình huống quốc phòng, an ninh.

Quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản, nhất quán trong đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, thể hiện tập trung, sâu sắc quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, quan điểm thực tiễn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải được quán triệt, nhận thức đúng. Quan điểm này xác định lực lượng quần chúng và yếu tố chính trị - tinh thần là sức mạnh to lớn quyết định thắng lợi của chiến tranh. Chính vì vậy, cần chú trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, phát huy nhân tố con người, đồng thời từng bước đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng quốc phòng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân hiện nay cần gắn với tổ chức, bố trí lực lượng với xây dựng các tiềm lực của đất nước, sẵn sàng triển khai, chuyển hóa các tiềm lực thành thực lực quốc phòng một cách đồng bộ theo ý định, kế hoạch chiến lược trên toàn lãnh thổ, bảo đảm thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc. Trên các hướng, địa bàn chiến lược, cần bố trí lực lượng cân đối, hợp lý giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động, lực lượng của địa phương và bộ đội chủ lực, giữa các quân chủng, binh chủng, lực lượng, ngành; tạo thế trận tổng hợp, vững chắc, phát huy tối đa sức mạnh của các lực lượng, bảo đảm khả năng tác chiến trên mọi môi trường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kỷ niệm Ngày toàn quốc kháng chiến năm nay trong điều kiện thời gian đã lùi xa, tình hình thế giới, trong nước đã có nhiều thay đổi, song giá trị, ý nghĩa cùng những bài học rút ra từ Toàn quốc kháng chiến đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến, không chỉ là cơ sở để xây dựng niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền thống yêu nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là động lực, quyết tâm để chúng ta phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhất là các phương châm, giải pháp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

  Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân; trong đó, Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Vì thế, khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, với khoảng thời gian rất ngắn, chúng ta đã hình thành được 27 trung đoàn ở miền Bắc và 30 đơn vị vũ trang tập trung cấp chi đội và tiểu đoàn ở Nam Bộ với quy mô trên 85 nghìn người. Đây thực sự là cơ sở, tiền đề quý giá để lực lượng vũ trang ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh; là nhân tố giữ vai trò quyết định thắng lợi ngay từ những ngày đầu và suốt quá trình kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bài học về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ), trong đó tập trung xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân luôn được giữ vững và phát huy. Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Chú trọng xây dựng Quân đội cả về con người và vũ khí, trang bị; trong đó, xây dựng con người là trung tâm, nhân tố quyết định trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, phù hợp với sự phát triển của nghệ thuật quân sự, vũ khí, trang bị và điều kiện của đất nước; đồng thời, phát triển cân đối giữa các lực lượng, phù hợp với thế trận phòng thủ trên các vùng, miền và hướng chiến lược của đất nước. Trong đó, ưu tiên quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, đơn vị làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tiếp tục xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, bảo đảm chất lượng, nhất là chất lượng về chính trị, khả năng tác chiến trong các tình huống. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo phương châm “vững mạnh, rộng khắp”; có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng về chính trị; tổ chức biên chế tinh, gọn, chặt chẽ; trang bị, vũ khí phù hợp; được giáo dục chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương, cơ sở.

Các cơ quan, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo theo Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18/01/2019 của Quân ủy Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo. Thực hiện tốt phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp huấn luyện, diễn tập, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu; sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, tổ chức biên chế, sự phát triển của vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự Việt Nam và  yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật, xây dựng niềm tin vào cách đánh, vũ khí, trang bị hiện có. Đặc biệt, tập trung tạo sự chuyển biến về chất lượng huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại; huấn luyện, diễn tập tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, diễn tập đối kháng trong các môi trường và tác chiến khu vực phòng thủ, làm cơ sở để nâng cao trình độ, khả năng tác chiến của Quân đội. Cùng với đó, Quân đội phải thực hiện tốt chức năng “Đội quân chiến đấu, Đội quân công tác” trong thời bình, sẵn sàng cùng với nhân dân ứng phó kịp thời, hiệu quả với những thách thức an ninh phi truyền thống, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc.

 Đoàn kết vốn là truyền thống quý báu và là sức mạnh vô cùng to lớn của dân tộc. Trong bối cảnh nước ta vừa mới giành được độc lập, tiềm lực kinh tế, quân sự còn nhỏ bé,… nguy cơ thù trong, giặc ngoài đe dọa thì đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn vong của dân tộc. Vì thế, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của toàn dân tộc, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân cho cuộc kháng chiến. Bằng sức mạnh tổng hợp đó, chúng ta đã kìm chân địch trong các đô thị thời gian dài, tạo điều kiện cho các cơ quan của Trung ương, Chính phủ và các tổ chức di chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng bài học quan trọng này trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân; trong đó, tập trung xây dựng và phát huy các tiềm lực: chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại của nền quốc phòng toàn dân. Vấn đề cốt lõi là, cùng với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, phải tập trung xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên các khu vực, địa bàn, nhất là trên các địa bàn chiến lược.

Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng “thế trận lòng dân” phải hết sức coi trọng xây dựng và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, khơi dậy lòng yêu nước, tự tôn, tự hào dân tộc và trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi công dân. Để làm được điều đó, các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở; tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thường xuyên gần dân, trọng dân, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân, chăm lo lợi ích chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Muốn vậy, các cấp, các ngành phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cho toàn dân nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho mọi người dân nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động; từ đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Toàn quân phải thực hiện tốt công tác dân vận, củng cố, nâng cao mối quan hệ đoàn kết quân dân; đồng thời, coi trọng kỷ luật dân vận nhằm giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và Quân đội. Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

 Trong thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, do sớm hoạch định đường lối kháng chiến, kiến quốc đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc. Tinh thần đó được thể hiện rõ trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”; đó cũng là cơ sở quan trọng để Đảng ta lãnh đạo lực lượng vũ trang và toàn dân thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần vận dụng bài học này vào quá trình xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Trước hết, tiếp tục thực hiện nghiêm túc, triệt để cơ chế Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng. Đồng thời, đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý, điều hành đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; kịp thời chuyển hóa thế trận quốc phòng toàn dân thành thế trận chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Những chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải được quán triệt sâu sắc đến mọi cấp, mọi ngành, lĩnh vực, cả hệ thống chính trị và toàn dân. Cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp cần đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời và hiệu quả; phát huy vai trò của cơ quan tham mưu, phụ trách công tác quân sự, quốc phòng ở cơ quan, đơn vị, địa phương, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quan trọng này.

Hiện nay, mục tiêu xuyên suốt, không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cùng với xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, toàn quân phải nêu cao tinh thần cảnh giác, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và toàn dân chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Phải chú trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt của các thế lực thù địch; từ đó, có biện pháp phòng, chống hiệu quả, đảm bảo giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam trong công cuộc đổi mới

 Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới. Để khắc phục, sửa chữa những hạn chế, sai lầm, Đảng đã tỏ rõ thái độ, bản lĩnh của mình là “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.

Đại hội VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều bất lợi cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. CNXH ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Trong sự dao động của không ít những người cộng sản, Đảng ta đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định giữ vững định hướng XHCN. Quan điểm của Đảng rõ ràng: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”. Đồng thời, Đảng nêu lên điểm mới về nền tảng lý luận - tư tưởng của cách mạng, đó là “cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong Cương lĩnh, Đảng ta nói rõ khát vọng về CNXH, trong đó chứa đựng những nhân tố tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, con người, quan hệ các dân tộc trong nước, quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước. Đảng có niềm tin trên cơ sở khoa học, nhận thức đúng quy luật và hành động theo quy luật: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”. Những quan điểm đó tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2021). Bổ sung quan trọng là Đảng ta nêu hệ mục tiêu trong khát vọng phát triển là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng ta xác định, Cương lĩnh của Đảng là ngọn cờ chiến thắng vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên CNXH, “thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, tại Đại hội XIII, Đảng rút ra một số bài học kinh nghiệm, có những khía cạnh liên quan trực tiếp tới ý chí và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, như: phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, năng động sáng tạo, tích cực.

Một trong những khía cạnh trong mục tiêu tổng quát thể hiện khát vọng của Đảng và dân tộc ta là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cơ sở của niềm tin thực hiện khát vọng mà Đảng ta nêu lên chứa đựng cả lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động. Về lý luận, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn và hành động, Đảng chỉ rõ phải chủ động, nhạy bén nắm chắc thời cơ, quyết vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế, khơi dậy ý chí, tiềm năng, nguồn lực cho phát triển. Phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, dân chủ XHCN, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chính là nguồn động lực mới, to lớn để đất nước phát triển nhanh, bền vững hơn.

Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh tới bản lĩnh, ý chí kiên cường, quyết tâm và khát vọng của cả dân tộc “vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ thuận lợi, thời cơ, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Nhất quán mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta khẳng định: “Với định hướng đúng đắn, khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ lập nên thành tựu phát triển mới vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta”.

Hồ Chí Minh - biểu tượng sáng ngời cho ý chí, bản lĩnh và khát vọng Việt Nam

 Ngay từ thời thiếu niên, Nguyễn Tất Thành rất khâm phục lòng yêu nước, chí căm thù giặc và khát vọng giành độc lập của các phong trào chống Pháp và các thủ lĩnh từ Phan Đình Phùng cuối thế kỷ XIX đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám đầu thế kỷ XX. Với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, lúc trạc 13 tuổi còn trên ghế trường tiểu học, Người đã hoài nghi đằng sau những từ Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Từ thuở ấy, Người đã “rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”.

Không chỉ muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau các chữ Pháp, Người muốn đi ra ngoài xem cho rõ, đến tận nơi xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào. Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

Việc Nguyễn Tất Thành ở tuổi 21 quyết định đi ra nước ngoài để về giúp đồng bào là tỏ rõ ý chí, khát vọng giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu “Đông du” và “muốn đưa anh và một số thanh niên sang Nhật, nhưng anh không đi”. Người “thấy rõ và quyết định con đường nên đi”, không “Đông du” mà lại “Tây du”. Điều này cho thấy tính độc lập, bản lĩnh và trí tuệ sáng suốt của Nguyễn Tất Thành.

Tuy chưa có sự hiểu biết khoa học, lý tính như sau này khi có ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi rọi, nhưng sự hoài nghi tuổi trẻ như Nguyễn Tất Thành là rất đáng khâm phục. Hai từ “văn minh” và những chữ Pháp Tự do - Bình đẳng - Bác ái là những khái niệm rất đẹp, phản ánh giá trị phổ quát của nhân loại mà các dân tộc và mọi người hướng tới. Nhưng, vấn đề là ở chỗ, Người “muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”, bởi trên thực tế đất nước ta lúc bấy giờ chẳng thấy tự do, bình đẳng, bác ái đâu, mà chỉ thấy nô dịch, bóc lột, đầy rẫy áp bức, bất công, nhà tù nhiều hơn trường học. Đoạn văn sau đây do nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam kể lại khi được tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc ở Mátxcơva năm 1923 cho thấy sự tìm hiểu, hoài nghi của Nguyễn Tất Thành là có cơ sở để từ đó Người tìm ra vũ khí để giúp đồng bào: “Đồng chí nói tiếng Pháp - tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê hương đồng chí. Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “văn minh” một cách đầy khinh bỉ”.

Tháng 6-1911 là bước khởi đầu hành trình khát vọng “tìm đường” (1911-1920) cứu đồng bào của Người. Sau mười năm “mở đường” (1921-1930), Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, Người cùng Đảng thực hiện sứ mệnh “dẫn đường” (1930-1945). Đây là một trong những quãng thời gian nhiều cam go, thử thách nhất trong cuộc đời cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trong việc thực hiện sứ mệnh giải phóng Tổ quốc. Người không những bị đế quốc Anh bắt giam, tù đày hơn 18 tháng (6-6-1931 - 28-12-1932), mà còn chưa được Quốc tế Cộng sản hiểu, đánh giá đúng về tư tưởng và hoạt động của mình với tư cách là một người cộng sản chân chính, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng, chính trong gian lao, thử thách, nhân cách của người cách mạng cộng sản Nguyễn Ái Quốc càng bộc lộ một cách rõ rệt nhất. Người vẫn chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc để làm cách mạng giải phóng dân tộc. Gần sáu năm từ khi được trả tự do, về Liên Xô hoạt động, học tập, nghiên cứu, làm được nhiều việc có ích cho phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa và Quốc tế Cộng sản, nhưng Người vẫn coi đó là thời gian trong “tình trạng không hoạt động”, “như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”, một “tình cảnh đau buồn”.

Không có gì ngăn cản được ý chí, bản lĩnh và khát vọng giải phóng của Nguyễn Ái Quốc. Sau khi rời khỏi biên chế của Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, trong lộ trình về nước, khi nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (ngày 20-6-1940), Nguyễn Ái Quốc phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.

Ngày 28-01-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới cột mốc 108 biên giới Việt - Trung. Sống trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, chỉ với “cháo bẹ, rau măng”, nhưng Nguyễn Ái Quốc nhận ra rằng “cuộc đời cách mạng thật là sang” và sẵn sàng “hai tay xây dựng một sơn hà”.

Khó khăn lớn nhất của cách mạng lúc này là “dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật”. Trước sức mạnh của kẻ thù hung bạo Pháp - Nhật và tay sai của chúng, Hồ Chí Minh và Đảng ta thể hiện bản lĩnh cách mạng phi thường “thay đổi chiến lược”. Ý chí, bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng giải phóng của Hồ Chí Minh và Đảng ta thể hiện rõ: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trong thư Kính cáo đồng bào, Người nói rằng, trước tình cảnh đau đớn, xót xa, dân ta quyết không chịu khoanh tay chờ chết. Hơn 20 triệu con Lạc, cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi. Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm… Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.

Hồ Chí Minh truyền quyết tâm, tín tâm, đồng tâm và cảm hứng cho cả dân tộc “Đoàn kết vững bền như khối sắt/Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Người thổi bùng ngọn lửa đánh Pháp, đuổi Nhật, đặng giải phóng Tổ quốc, xây nước non nhà:

“Việt Nam độc lập đồng minh

Có bản Chương trình đánh Nhật, đánh Tây

Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:

Làm cho con cháu Rồng Tiên,

Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta”.

Với Hồ Chí Minh, “trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do?”. Vì vậy, “muốn nên sự nghiệp lớn/Tinh thần càng phải cao”; “gian khó không lùi vẫn tiến lên/Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên/Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị/Nhất định thành công sẽ có phen”.

Khát vọng, tin tưởng, lạc quan là nguồn mạch vô tận ở Hồ Chí Minh. Cho nên, ở trong tù nhưng Người luôn nghĩ tới ngày mai tươi đẹp, quy luật cuộc sống cũng như quy luật tự nhiên “Sự vật vần xoay đã định sẵn/Hết mưa là nắng hửng lên thôi… /Người cùng vạn vật đều phơi phới/Hết khổ là vui vốn lẽ đời”. Trong lúc sốt cao, ốm nặng, Người vẫn nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Cách mạng Tháng Tám thành công. Đó là sự thắng lợi của sức dân, lòng dân, trí dân, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cho nên, chúng ta không những phải được tự do, phải được độc lập, mà còn có quyền hưởng tự do và độc lập. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp, thì vấn đề không chỉ có quyền hưởng tự do và độc lập mà điều quan trọng là “toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Ý chí, bản lĩnh và khát vọng ấy của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập được chuyển tải cho toàn dân tộc khi thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Người nói: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào. Chúng ta phải đứng lên!”. Khi cuộc kháng chiến ở giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, “có người cho rằng: Cuộc kháng chiến của ta là “châu chấu đấu voi”. Nhưng, Hồ Chí Minh với cách nhìn biện chứng, “quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

Nay tuy châu chấu đấu voi

Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”.

Khi cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở đỉnh cao của ác liệt, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Viết Di chúc năm 1965, Người khẳng định: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. Năm 1969, Người khẳng định lại ý chí, quyết tâm và niềm tin chắc chắn thắng lợi: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.

Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất là, cùng với ý chí, bản lĩnh, niềm tin, Hồ Chí Minh luôn luôn nuôi dưỡng và thể hiện khát vọng về một đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, bước tới đài vinh quang, cùng nhịp bước với các nước trên hoàn cầu, sánh vai các cường quốc năm châu. Người có niềm tin: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

“Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”.

Trong nhiệm vụ “sẽ xây dựng lại đất nước to đẹp, đàng hoàng”, Hồ Chí Minh không hề ảo tưởng, chủ quan, Người nhận thức rõ đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp, khó khăn và nặng nề. Đây là “một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Vì vậy, Người dặn “chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót, sai lầm”. Trong kế hoạch đó, trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng; là công việc đối với con người; là phát huy vai trò của nhân dân. Người viết: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

Ý chí, bản lĩnh và khát vọng trong truyền thống dân tộc

 Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong tại Đền Hùng (Phú Thọ) ngày 19-9-1954, sau khi nhắc nhớ “vua Hùng là một vị khai quốc, nhiệm vụ giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta còn rất nặng nề và quan trọng”, Hồ Chí Minh nói:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Đây là một tổng kết rất đặc sắc về truyền thống dựng nước và trách nhiệm giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Một trong những điều quý giá nhất tạo nên giá trị bản sắc của dân tộc Việt Nam là, trên cơ sở của lòng yêu nước, con người Việt Nam luôn luôn thể hiện khát vọng độc lập, tự do, phát triển đất nước và bản lĩnh trước những gian nguy, thử thách của thiên tai, địch họa. Hồ Chí Minh đúc kết “Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v.. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”. Nhìn lại lịch sử dân tộc ta đánh thắng quân xâm lược, Người viết: “Nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng”.

Một dân tộc anh hùng mà Hồ Chí Minh nói đến chứa đựng lòng nồng nàn yêu nước, bản lĩnh diệt giặc ngoại xâm và khát vọng giải phóng, phát triển đất nước. Từ Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn với lòng nhiệt huyết “Sát thát” của quân sĩ đến Hội nghị Diên Hồng với câu trả lời đồng thanh “Quyết đánh” cho thấy khí phách của một dân tộc “Thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”.

Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XIII là một bản anh hùng ca bất diệt, thể hiện sâu sắc và rực rỡ lòng yêu nước, khí phách anh hùng, trí thông minh sáng tạo, sức mạnh đoàn kết của toàn dân và lòng khát khao tự do.

Thắng lợi oanh liệt của quân và dân ta ở thế kỷ XV là thắng lợi của ý chí độc lập, tự do, khát vọng giải phóng dân tộc, tư tưởng tiến công, chủ động của một cuộc chiến tranh nhân dân, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đó lấy sức mạnh đại nghĩa, tinh thần nhân văn của nhân dân ta để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo. Một trong những điều tạo nên sức mạnh quan trọng nhất là bản lĩnh khẳng định chủ quyền dân tộc, một quốc gia đã “xưng nền văn hiến từ lâu, núi sông bờ cõi đã phân, phong tục Bắc, Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi nói đến trong Bình Ngô đại cáo.

Điều đặc biệt là có sự trùng hợp thật tự nhiên trong đoạn cuối tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và những lời dặn cuối cùng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đoạn cuối trong Bình Ngô đại cáo:

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Để mở nền muôn thuở thái bình

Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.

Đoạn cuối trong Di chúc của Hồ Chí Minh: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Sự trùng hợp ở đây là cái bất biến “đại nghĩa”, “chí nhân” và khát vọng đổi mới. Nếu Nguyễn Trãi đã nói “giang sơn từ đây đổi mới”, thì Hồ Chí Minh nói tới mong muốn cuối cùng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Phạm Văn Đồng viết: “Hai người chắc rất hào hứng ôn lại lịch sử dân tộc và của thế giới. Bác Hồ có thể đem lại cho Nguyễn Trãi biết bao cái mới trải qua năm thế kỷ đầy những diễn biến không sao tưởng tượng được từ thời Nguyễn Trãi. Nhưng rồi hai người cũng thấy cái bất biến của dân tộc Việt Nam ta, rất thích thú về những truyền thống biết bao đẹp đẽ và hào hùng của dân tộc:

Lấy đại nghĩa thắng hung tàn

Dùng chí nhân thay cường bạo”.

Từ giữa thế kỷ XIX, khi phải chống lại một kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân phương Tây hơn nước ta một phương thức sản xuất, nhân dân ta từ Nam ra Bắc vào Trung tiếp nối truyền thống của dân tộc, tiếp tục xả thân vì đại nghĩa cứu nước, cứu dân với tinh thần “bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây” như lời tuyên bố của Nguyễn Trung Trực trước kẻ thù.

Ở miền Bắc, những tấm gương tuyệt thực của Nguyễn Tri Phương khi Hà Nội thất thủ năm 1873, hay Hoàng Diệu tuẫn tiết khi Hà Nội rơi vào tay giặc năm 1882 đã tỏ rõ khí phách hiên ngang của con người Việt Nam “thà chết vinh chứ không sống nhục”; “thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ” như Hồ Chí Minh đã đúc kết.

Không phải chỉ có Nguyễn Trung Trực ở miền Nam, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu ở miền Bắc, mà khi giặc Pháp tấn công ở miền Trung thì tinh thần chống Pháp vẫn hừng hực với khẩu hiệu “Bình Tây sát tả” và những lời hịch có giá trị cứu nước lớn như “Dập dìu trống đánh cờ xiêu. Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”.

Khi giai cấp phong kiến Việt Nam đã đầu hàng thực dân Pháp, kết thúc vai trò lãnh đạo toàn dân với ý nghĩa là giai cấp, thì phong trào dân tộc vũ trang không những tiếp tục với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn trên địa bàn trải rộng từ miền Trung ra Bắc vào Nam, mà còn hình thành những trung tâm kháng chiến lớn trong Phong trào Cần Vương (1885-1896) do các văn thân, sĩ phu đại biểu cho lòng yêu nước của dân tộc đứng lên chống Pháp. Những gương mặt tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến như Tạ Hiện ở Thái Bình, Nam Định; Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Hải Dương; Phạm Bành, Đinh Công Tráng ở Thanh Hoá; Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh.

Xuất phát từ lòng yêu nước, phong trào Cần Vương là phong trào dân tộc chống xâm lược và triều đình phong kiến đầu hàng. Phong trào tuy thất bại,  nhưng tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất, khát vọng độc lập và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam

Nội dung can thiệp của các thế lực thù địch đối với an ninh quốc gia

 - Yêu cầu cung cấp thông tin, đòi tiếp cận tài liệu, hồ sơ vụ án, đòi thăm gặp lãnh sự, tiếp xúc nhân đạo đối với các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia. Đây không phải là yêu cầu trong bảo hộ công dân thuần túy mà là yêu cầu can thiệp trắng trợn, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra trên cơ sở quy định của pháp luật có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ, tạm giam. Đây là biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắc, tác động đến quyền tự do của người bị áp dụng nên các thế lực thù địch yêu cầu được thăm gặp lãnh sự hoặc tiếp xúc nhân đạo không đơn thuần để bảo hộ cho công dân của mình mà mục đích chính là nhằm gặp gỡ nắm bắt thông tin, cổ vũ, động viên đối với các đối tượng này. Trên cơ sở nội dung can thiệp này, các thế lực thù địch sẽ tiến hành thu thập thông tin, nghiên cứu tài liệu để có các nội dung can thiệp tiếp theo.

- Đòi trả tự do cho các đối tượng bị bắt giữ, xử lý; cải thiện chế độ giam giữ; đòi luật sư nước ngoài vào bào chữa; yêu cầu cho đối tượng, thân nhân của đối tượng được xuất cảnh ra nước ngoài. Các thế lực thù địch thường lợi dụng các quy định của pháp luật quốc tế và trong nước, viện dẫn một cách máy móc, cắt xén để can thiệp đòi trả tự do vô điều kiện, đòi cải thiện chế độ giam giữ, đòi luật sư nước ngoài vào bào chữa cho các đối tượng mà Cơ quan điều tra đang điều tra, xử lý. Điển hình như khi chúng ta điều tra, xử lý các đối tượng Cấn Thị Thêu, Nguyễn Tường Thụy, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thúy Hạnh, ngay lập tức một số tổ chức quốc tế hoạt động trên lĩnh vực nhân quyền như HRW, AI, RSF đã lên tiếng đòi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” này, thậm chí trao các giải thưởng về nhân quyền cho các đối tượng. Các thế lực thù địch cũng thường lấy các lý do nhân đạo để yêu cầu cho đối tượng và thân nhân được xuất cảnh, định cư ở nước ngoài như đi chữa bệnh, thăm thân, mà điển hình như các đối tượng Nguyễn Văn Đài, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Lê Thu Hà...

- Vu cáo cơ quan tiến hành tố tụng bắt giữ, xử lý trái quy định của pháp luật, làm oan sai, vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền. Nhiều trường hợp, các thế lực thù địch không đưa ra yêu cầu, nội dung can thiệp trực tiếp, cụ thể đối với Cơ quan điều tra hoặc Nhà nước Việt Nam mà chủ động đăng tải, đưa ra các diễn đàn quốc tế những thông tin xuyên tạc, sai sự thật với nội dung vu cáo Cơ quan điều tra bắt, giữ, điều tra trái quy định của pháp luật, làm oan sai, vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người bất đồng chính kiến. Chúng vu cáo rằng: Chính quyền Việt Nam đưa ra những tội danh được miêu tả một cách mơ hồ và diễn giải tùy tiện nhằm biện minh cho việc trấn áp những người bất đồng chính kiến.

Phương thức can thiệp của các thế lực thù địch vào xử lý đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia rất đa dạng, phong phú. Có thể nhận diện qua các phương thức, thủ đoạn can thiệp phổ biến sau:

- Ban hành các luật, nghị quyết, báo cáo để can thiệp. Các thế lực thù địch nước ngoài ở cấp độ nhà nước hoặc tổ chức thường tổ chức các cuộc điều trần trước quốc hội, các buổi đối thoại nhân quyền, qua đó ban hành các luật, nghị quyết, báo cáo sai lệch về tình hình Việt Nam, trong đó có tình hình xử lý các đối tượng hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia để can thiệp vào quá trình xử lý. Trong các báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới hàng năm của Mỹ, EU hay một số tổ chức như: Quan sát nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (IA), nội dung về Việt Nam luôn thiếu chính xác, xuyên tạc. Các số liệu, thông tin trong các báo cáo này đều do bọn phản động lưu vong người Việt, các đối tượng chống phá trong nước cung cấp.

- Gửi đơn, thư, công hàm để can thiệp. Các thế lực thù địch thông qua các hoạt động đối ngoại để gửi đơn, thư cho các đồng chí lãnh đạo, gửi công hàm cho các cơ quan nhà nước Việt Nam. Đơn thư, công hàm can thiệp thường được gửi thông qua đại diện cơ quan ngoại giao Việt Nam, Bộ Công an, Cơ quan điều tra, các cơ quan nhà nước khác của Việt Nam để đưa ra các yêu cầu cụ thể can thiệp vào quá trình xử lý các đối tượng. Đây là phương thức can thiệp trực tiếp, chính thức, dưới danh nghĩa nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ.

- Thông qua đàm phán, ký kết, đối thoại và việc thực hiện các điều ước quốc tế để đưa ra yêu cầu can thiệp. Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng đàm phán viện trợ, ký kết hợp tác phát triển, đối thoại nhân quyền để đặt điều kiện, gây sức ép, can thiệp vào điều tra, xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia. Các thế lực thù địch cũng tăng cường liên kết với nhau, lợi dụng việc thực hiện các điều ước quốc tế để vận động sự ủng hộ, tài trợ, kêu gọi sự can thiệp của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế như: vận động Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo - CPC”, vận động các nước thành viên EU đưa vấn đề “nhân quyền”, “tự do” vào các cam kết, hiệp định đối tác với Việt Nam; vận động trả tự do cho các đối tượng đang bị bắt giữ, điều tra ở Việt Nam mà chúng gọi là “tù nhân chính trị”.

- Gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Đảng, Nhà nước để đưa ra yêu cầu can thiệp. Một số chính khách, đại diện tổ chức nước ngoài hoặc cá nhân thường tranh thủ các cuộc gặp gỡ trực tiếp với lãnh đạo Đảng, Nhà nước để đưa ra các yêu cầu can thiệp dưới dạng các kiến nghị, đề xuất bày tỏ sự “quan ngại” với việc Việt Nam khởi tố, điều tra, xử lý các đối tượng hoạt động trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền.

- Thông qua thân nhân của các đối tượng đang bị điều tra và các đối tượng chống đối khác trong nước để can thiệp. Ngay khi hoạt động phạm tội của các đối tượng bị phát hiện, các thế lực thù địch bên ngoài đã tìm hiểu thông tin về nhân thân, hành vi phạm tội của đối tượng để tuyên truyền ủng hộ, công khai thể hiện quan điểm bảo vệ đối tượng dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, can thiệp, gây áp lực với Cơ quan an ninh điều tra trong điều tra, xử lý vụ án. Các thế lực thù địch thường gián tiếp hoặc trực tiếp cử người vào trong nước gặp gỡ, thăm hỏi, kích động người thân của các đối tượng bị bắt, giữ trả lời phỏng vấn, viết đơn thư khiếu nại, vu cáo Cơ quan điều tra, đòi thả người; kích động các đối tượng chống đối trong nước tụ tập đông người, gây áp lực trong quá trình xử lý các đối tượng. Các thế lực thù địch nước ngoài còn tổ chức vận động trao giải thưởng nhân quyền hằng năm cho các đối tượng chống đối trong nước bị Cơ quan an ninh điều tra bắt giữ, xử lý nhằm hợp pháp hóa việc tài trợ, khích lệ, động viên, kích động thân nhân các đối tượng.

- Dùng dư luận, truyền thông gây áp lực để can thiệp. Để tạo dư luận gây áp lực với cơ quan chức năng trong quá trình xử lý, các thế lực thù địch thường lợi dụng các kênh thông tin, truyền thông, mạng internet, các diễn đàn quốc tế, gửi đơn thư đi nhiều nơi để bảo vệ các đối tượng phạm tội, cho rằng đó chỉ là việc bày tỏ chính kiến hợp pháp, tuyên truyền, vu cáo cơ quan tố tụng vi phạm pháp luật. Đây là phương thức rất nguy hiểm bởi thông qua các phương tiện thông tin, truyền thông, các thế lực thù địch có thể tác động một cách nhanh chóng, toàn diện đến rất đông quần chúng trong cùng một thời điểm, tạo thành dư luận, phong trào ủng hộ quan điểm của chúng, gây khó khăn, cản trở cho quá trình điều tra, xử lý đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia.

­Việc can thiệp vào quá trình xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia là một hướng can thiệp công việc nội bộ hết sức nguy hiểm không những gây ra những hậu quả trước mắt mà còn có những tác động, ảnh hưởng lâu dài, cần được nhận diện đầy đủ để cơ quan chuyên trách và cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, chủ động trong công tác phòng ngừa và đấu tranh.

Âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch can thiệp vào quá trình xử lý đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia

 Ở Việt Nam, mỗi khi diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng, nhất là trong dịp Đại hội Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các đối tượng phản động thường gia tăng các hoạt động chống phá. Trước tình hình đó, các lực lượng chức năng đã đẩy mạnh công tác phòng ngừa, đấu tranh, tiến hành khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ án và đối tượng hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Tuy nhiên, khi điều tra, xử lý các đối tượng này, ngay lập tức các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tác động, can thiệp dưới nhiều cấp độ, phương thức và thủ đoạn khác nhau. Chúng vu cáo, xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; bắt, giam, giữ người trái pháp luật; đòi trả tự do cho các “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”, bảo lãnh cho các đối tượng được đi định cư ở nước ngoài; phát động các chiến dịch bênh vực, hỗ trợ cho các đối tượng phạm tội... Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch nêu trên đã có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến quá trình xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia.

Một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng đã phải vận dụng pháp luật để đình chỉ điều tra, thả tự do cho các đối tượng bị bắt giữ, khởi tố điều tra hoặc tổ chức cho thăm gặp, tiếp xúc nhân đạo trong quá trình tạm giữ, tạm giam mặc dù không có quy định bắt buộc; nhiều đối tượng được giảm án trong phiên tòa phúc thẩm hoặc áp dụng hình phạt trục xuất; với một số đối tượng, chúng ta đã phải tìm căn cứ pháp lý để tạm hoãn thi hành hình phạt tù (như đi chữa bệnh, đi học tập), sau đó cho chúng được xuất cảnh định cư ở nước ngoài.

Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch không chỉ gây khó khăn, cản trở cho quá trình điều tra, xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia mà còn ảnh hưởng đến lĩnh vực hợp tác, đối ngoại, thực thi pháp luật của Việt Nam. Vì vậy, nhận diện đầy đủ về “các thế lực thù địch” và âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn can thiệp của chúng vào xử lý các đối tượng hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nhằm nâng cao cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”(1) là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

“Các thế lực thù địch” là thuật ngữ được dùng rất phổ biến trong bảo vệ an ninh quốc gia. Trước đây, “các thế lực thù địch” thường được hiểu là các nước đế quốc, tư bản chủ nghĩa và bọn tay sai, phản động ở trong nước. Tuy nhiên, với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại”(2) hiện nay của Việt Nam thì việc xác định “các thế lực thù địch” đòi hỏi phải đặt trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và dựa trên quan điểm biện chứng về đối tác, đối tượng của Đảng và Nhà nước ta. Đảng ta xác định: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì thế lực đó là đối tượng của chúng ta”(3). Theo đó, không phải bất kỳ lực lượng chống đối nào cũng là “các thế lực thù địch” mà lực lượng đó phải có sức mạnh nhất định; có đường hướng hoạt động trái ngược, có âm mưu, hoạt động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc một cách quyết liệt nhằm xóa bỏ thể chế chính trị và Nhà nước. Tư duy về “các thế lực thù địch” luôn phải đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa đối tác và đối tượng, trong một chủ thể có thể lúc này là đối tác, nhưng lúc khác lại là đối tượng, trong điều kiện nhất định chúng lại có thể chuyển hóa lẫn nhau(4).

Các thế lực thù địch có thể ở trong nước và ở nước ngoài, có thể là nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân. Các thế lực thù địch có thể dưới danh nghĩa nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước như quốc hội, chính phủ, đại sứ quán, tổng lãnh sự quán tại Việt Nam, các đoàn ngoại giao vào Việt Nam hoặc đưa ra các phát ngôn từ góc độ chính phủ trên các diễn đàn quốc tế để can thiệp chống phá Việt Nam. Các thế lực thù địch cũng có thể là các tổ chức, như việc lợi dụng danh nghĩa Liên hợp quốc (báo cáo đối thoại nhân quyền), các tổ chức quốc tế (“Ân xá quốc tế” (IA), “Nhà báo không biên giới” (RSF) “Quan sát nhân quyền” (HRW), Cơ quan Truyền thông Toàn cầu của Mỹ (USAGM)), các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức phản động người Việt lưu vong để công khai can thiệp, chống phá Việt Nam. Các thế lực thù địch cũng có thể là các cá nhân gồm các quan khách chính trị (đại biểu quốc hội, quan chức chính phủ), đại diện các tổ chức quốc tế, những chính khách không thân thiện hoặc có tư tưởng thù địch với Việt Nam; các cá nhân trong các tổ chức phản động lưu vong người Việt, các đối tượng chống đối ở trong nước.

Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch vào xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia là hoạt động can dự, tác động vào quá trình điều tra, xử lý bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau nhằm hướng lái quá trình xử lý theo ý đồ của chúng. Bản chất hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch vào xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia chính là can dự, tác động vào việc tiến hành các hoạt động điều tra, xử lý làm cho quá trình xử lý đối tượng thiếu khách quan; đòi đình chỉ điều tra, thả tự do, thay đổi tội danh, giảm hình phạt cho các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, đòi cho các đối tượng được ra nước ngoài định cư không có căn cứ...

Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch thường là hành vi trái pháp luật, được tiến hành bởi những phương thức, thủ đoạn khác nhau, chúng thường tìm cách liên kết trong - ngoài để tiến hành các hoạt động can thiệp ở nhiều cấp độ khác nhau. Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch cũng có thể được thực hiện bằng việc đưa ra các yêu cầu hợp pháp (pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế) nhưng mục đích sâu xa vẫn là nhằm chống phá Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng sự khác biệt trong hệ thống pháp luật, trong quan điểm về dân chủ, nhân quyền để tạo cớ can thiệp vào quá trình xử lý các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

Âm mưu can thiệp của các thế lực thù địch không chỉ là gây cản trở, hướng lái quá trình xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia mà là can thiệp vào các công việc nội bộ của Việt Nam. Thông qua hoạt động can thiệp để hậu thuẫn, kích động các đối tượng chống đối, tạo dựng nhân tố chính trị đối lập trong nội bộ, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người bất đồng chính kiến, tập hợp lực lượng, tác động, chuyển hóa, lật đổ chính quyền Việt Nam. Thông qua hoạt động can thiệp để đạt được lợi ích trong quan hệ đối ngoại; đồng thời qua đó từng bước tác động vào thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Đây là mưu đồ chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.

Hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch vào điều tra, xử lý các đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia được tiến hành trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và thường tập trung can thiệp vào các hoạt động mang tính chất phức tạp, nhạy cảm.

Dịch bệnh đang dần qua đi, nhưng tình quân dân mãi mãi đọng lại trong trái tim mọi người con đất Việt

 Đất nước chúng ta đã trải qua những tháng ngày không thể nào quên, nhất là khi dịch bệnh diễn biến phức tạp ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam. Chính trong thời khắc khó khăn ấy, sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, sự đồng lòng của Nhân dân, sự cống hiến của lực lượng tuyến đầu y tế, quân đội, công an trong chống dịch là nhân tố quyết định, là động lực, là niềm tin, là hy vọng để chiến thắng dịch bệnh. Chính trong thời khắc khó khăn ấy, chúng ta đã chứng kiến những hình ảnh xúc động, sâu sắc, những nghĩa cử cao đẹp của Bộ đội cụ Hồ với Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới đã từng căn dặn: “Không có Nhân dân thì không có bộ đội”, “Quân với dân như cá với nước”. Tình quân dân kết nối bằng hệ giá trị, bằng mẫu số chung của lòng yêu nước; tình đoàn kết; sự tin tưởng; trái tim nhân ái, truyền thống sẻ chia; khát vọng dân giàu - nước mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh.

Trong thời chiến tranh gian khổ, những người con của Nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã được Nhân dân chăm lo, chở che. Từng lon gạo, hạt muối, tấm áo, đồng tiền, vật dụng đơn sơ, cái kim, sợi chỉ được bà con chắt chiu; và hơn thế nữa sẵn sàng đối mặt với hiểm nguy, giữa vòng vây kẻ thù, giữa cái sống và cái chết để giúp đỡ, bảo vệ bộ đội. “Đi thì dân nhớ, ở thì dân thương”, nghĩa tình ấy đã đi vào những vần thơ của Hoàng Trung Thông: “Các anh đi - Ngày ấy lâu rồi - Xóm làng tôi nhớ mãi - Các anh đi bao giờ trở lại - Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong”. Điều đó tạo nên sức mạnh mà hiếm lực lượng quân đội nào trên thế giới có được để vượt qua mọi thách thức, chiến thắng mọi kẻ thù.

Hàng triệu những người con của Nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính - những anh hùng dân tộc đã ngã xuống với lý tưởng “Vì Nhân dân quên mình”, hàng triệu lời hứa trở về với mẹ cha, gia đình đã lỡ hẹn, hàng triệu những khoảng trống, mất mát vẫn hiện hữu trong hàng triệu nếp nhà trên khắp đất nước của chúng ta - “Nước của những người chưa bao giờ khuất - Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất - Những buổi ngày xưa vọng nói về” như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết. Vì vậy, mỗi chúng ta luôn biết ơn, tri ân và có trách  nhiệm với sự hy sinh cao cả đó.

Trong thời bình, những người con của Nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã được dân tin yêu, giúp đỡ huấn luyện, tham gia sản xuất, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bình yên của Tổ quốc. Những người lính ấy đã sống trong lòng Nhân dân, giúp đỡ Nhân dân cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, dịch họa, cứu hộ, cứu nạn... Trong hành trình ấy, đã có những người lính ngã xuống vì cuộc sống bình yên của Nhân dân.

Khi dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, những người con của Nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đi giữa màu đỏ của tâm dịch để hòa nhập cùng đồng bào, đồng chí vượt qua khó khăn, thử thách. Ngày 21-8-2021, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đưa ra quyết định rất khó khăn nhưng đúng đắn, kịp thời, được lòng dân là điều lực lượng quân đội, công an, y tế giúp đỡ Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam tăng cường chống dịch. Hưởng ứng Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hàng trăm ngàn cán bộ, chiến sĩ toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ không ngại hiểm nguy, gác lại nỗi niềm riêng tư để thực hiện “trách nhiệm phụng sự Nhân dân”.

Nghĩa tình quân dân là mạch nguồn cuộn chảy kể từ khi thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng, chúng ta cần phải nâng niu, nuôi dưỡng và phát huy hơn nữa tài sản vô giá này của quân và dân ta. Chúng ta cần nghiên cứu, đánh giá, tổng kết những bài học kinh nghiệm để tăng cường sức mạnh Nhân dân trong củng cố sức mạnh quân đội; tăng cường vai trò của quân đội trong bảo vệ, giúp đỡ Nhân dân; làm tốt công tác tư tưởng, xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách để Nhân dân đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các lĩnh vực; góp phần gia tăng sức mạnh quân đội, sức mạnh quân dân, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nghĩa tình quân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, lập thêm nhiều chiến công, thành tích vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân, vì một Việt Nam hùng cường và thịnh vượng. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vẫn nguyên giá trị: “Gốc có vững cây mới bền - Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”.

VÌ SAO PHẢI "PHÒ ÁNH DIỆT HUỆ" ?

   Gần đây thấy khá nhiều diễn đàn cho đăng tải các bài viết nhằm mục đích rửa tội cho Nguyễn Ánh đồng thời làm vấy bẩn hình ảnh của người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ. Vậy mục đích cuối cùng của hành vi này là gì ? 

Theo quan điểm và nhìn nhận của bản thân mình thì đám phò Ánh này chính là lũ chuyên xuyên tạc lịch sử và cái trò chạy tội cho Nguyễn Ánh nó chỉ là phụ. Mục đích cao nhất của trò “lật sử” này là tạo tiền lệ công nhận và đạo đức hóa hành vi rước ngoại xâm vào lãnh thổ. Cuối cùng là tấn công và phủ nhận cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của đất nước ta vào thế kỷ XX. Mục tiêu chỉ có nhiêu đó, rửa mặt cho Mỹ và hủy hoại lịch sử của đất nước.

Công lao mở mang đất nước rất lớn, nhưng Đàng Trong là một khu vực tự trị dưới một triều đình thống nhất là nhà Lê giai đoạn Lê Trung Hưng. Chúa Nguyễn là chính quyền tự trị của nhà Lê, công khai phá mở rộng bờ cõi thuộc về các chúa Nguyễn Kiên, Nguyễn Hoàng và đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoái thì không còn mở rộng được lãnh thổ về phía trong nữa.  Còn lịch sử của Nhà Nguyễn bắt đầu từ khi Gia Long Nguyễn Phúc Ánh lập ra nhà Nguyễn. Đó là hai giai đoạn lịch sử khác nhau, khi nhà Nguyễn đánh bại Tây Sơn, các vùng lãnh thổ của Việt Nam ngày nay đã hình thành cơ bản, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Những việc tốt của Ánh không thể không kể đến như mở rộng bờ cõi cho Ai Lao và Nam Tàu mà nói một cách trắng phớ ra là chính Nguyễn Ánh đã đồng ý cắt đất cho Ai Lao ở phía Tây và cắt đất ở phía Bắc cho nhà Thanh để “cõng rắn về cắn gà nhà” & “rước voi về giày mả tổ”.  Cả Xiêm và bọn truyền đạo phương Tây (công cụ hỗ trợ) cho bọn Thực dân kiểu cũ vào xâm lược Việt Nam cũng là một tay Ánh rước vào. Có một số nhà sử học và thành phần “lật sử” lại chỉ ra rằng việc xây cố đô Huế, giờ đây nó là di sản là công lao của Nguyễn Ánh và nhà Nguyễn mà quên rằng về cơ bản nó là di sản của nhân dân chứ Nhà Nguyễn cũng chỉ dùng sức vóc của cải của nhân dân đế dựng nhà mà ở cho sướng chứ nghĩ gì đến hậu thế mà bảo phải biết ơn.

Nguyễn Ánh trước hết là kẻ đấu tranh vì ngôi vị để đòi đặc quyền cho gia tộc. So với Tây Sơn là một phong trào nông dân, khởi nguồn là vì nông dân để nông dân không còn phải chịu đặc quyền hà khắc của tầng lớp phong kiến nữa. Đặc điểm giai cấp này khiến các biểu hiện của phong trào Tây Sơn dù tồn tại ngắn nhưng rất nhiều điểm sáng như chống ngoại xâm, tích cực rèn luyện võ nghệ khiến sức vóc dân tộc được tăng lên và rất nhiều cải cách tiên tiến. Còn Nguyễn Ánh, bản chất của hắn là chống lại nó để đòi lại đặc quyền cho giai cấp và gia tộc mình. Mục tiêu tối cao này khiến hắn bỏ qua nguyện vọng hòa bình của nhân dân, bỏ qua quyền lợi dân tộc để chấp nhận các giải pháp rất tởm như cầu cứu ngoại bang về gây chiến - thứ tội lỗi không thể nào chối bỏ được ở mọi thời kỳ.

Nói chung, loại như Ánh chỉ sánh vai với Ích Tắc, Chiêu Thống mà thôi cho dù Ánh đã chiến thắng, Ánh cùng phần lớn con cháu đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của đất nước, ôm chân ngoại xâm để bảo vệ đặc quyền dân tộc mà bỏ qua lợi ích dân tộc cho tới ngày cuối cùng khi Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại) buộc phải trao lại chính quyền cho Cách mạng mới thôi.

Vì thế bản chất và mục đích của bọn “lật sử” bắt đầu từ thời Gia Long - Nguyễn Ánh đã rõ. Mong rằng những bạn trẻ có kiến thức sâu và rộng về lịch sử sẽ không bỏ qua bất cứ bài viết nào của đám lật sử rửa tội cho Nguyễn Ánh nào để đập tan âm mưu phủ định cuộc chiến chống ngoại xâm đầy hào hùng của cha ông ta thế kỷ 20./.

Ảnh: Anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ.

Yêu nước ST.

Đánh giá cán bộ phải đa chiều, liên tục, lượng hóa, công khai và có khảo sát

 Trong công tác cán bộ, đánh giá được xem là khâu mở đầu, tạo tiền đề cho các khâu khác. Tạo nguồn - đánh giá để xác định xu hướng phát triển của đối tượng. Tuyển chọn - đánh giá để bố trí vào vị trí thích hợp. Bầu cử, bổ nhiệm - đánh giá để chọn người xứng đáng. Bồi dưỡng, đào tạo - đánh giá để xem năng lực, trình độ cao thấp mà bổ khuyết, nâng cao… Thực tế cho thấy, chỉ có đánh giá cán bộ đúng, khách quan, công tâm, nhận diện rõ ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, hiệu quả công tác và triển vọng phát triển thì mới có căn cứ chính xác để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Ngược lại, nếu nhận xét, đánh giá chủ quan, thiên lệch, không đúng sẽ dẫn đến bố trí, sử dụng cán bộ sai và dẫn đến hậu quả khôn lường. Người cán bộ được đánh giá không đúng thực chất có thể hoặc sinh ra chủ quan hoặc trái lại, trở nên tự ti, nhụt chí phấn đấu. Đối với tập thể có thể ảnh hưởng đến niềm tin chung và gây ra những phức tạp trong quan hệ nội bộ. 


Để đánh giá đúng cán bộ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, cấp ủy các cấp nắm chắc, thực hiện tốt nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tự kiểm điểm đánh giá bản thân, kiểm điểm phải nêu rõ những ưu, khuyết điểm về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, phong cách lối sống, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là làm rõ những gợi ý kiểm điểm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, những ý kiến góp ý của nhân dân, đề ra những biện pháp khắc phục, sửa chữa. Đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân được tham gia góp ý kiến đánh giá cán bộ phải có ý thức trách nhiệm, không được coi đây chỉ là nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền mà phải nhận thức là trách nhiệm của mọi người tham gia đánh giá cán bộ. Khắc phục tư tưởng bàng quan, thờ ơ, tham gia được sao hay vậy, hình thức, nể nang, né tránh. Cấp ủy phải chỉ đạo sát sao, gương mẫu làm trước để mọi người noi theo.

Hai là, bảo đảm dân chủ, công khai ở tất cả các khâu: cán bộ tự kiểm điểm đánh giá, cấp ủy và lãnh đạo cơ quan cấp trên quản lý cán bộ, cơ quan tổ chức theo dõi đánh giá, tập thể cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác đánh giá, cán bộ, nhân dân nơi cán bộ sinh hoạt và cư trú tham gia góp ý kiến đánh giá. Những kênh thông tin trên phải được tổng hợp và thông báo công khai với cán bộ được đánh giá và tập thể cán bộ tham gia đánh giá. Qua đánh giá phát hiện, sử dụng những cán bộ thực sự có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, thay đổi điều chuyển những cán bộ năng lực hạn chế cho phù hợp, đưa ra khỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý những cán bộ cơ hội, tham nhũng, tiêu cực, bị xử lý kỷ luật. Đổi mới cách lấy phiếu đánh giá theo hướng mở rộng đối tượng tham gia đánh giá, nội dung phiếu đánh giá theo đúng hướng dẫn của Trung ương. Thực hiện việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý bảo đảm dân chủ, công khai.

Ba là, cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đánh giá cán bộ, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong chỉ đạo thực hiện. Những cán bộ có khuyết điểm, thiếu sót hoặc có dấu hiệu vi phạm, hoặc có đơn tố giác cần phải được xác minh làm rõ, kịp thời và thông tin trở lại với người phát hiện. Chọn lọc những ý kiến xác đáng, đúng đắn, với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng để bổ sung vào nhận xét đánh giá cán bộ. Cần tổ chức hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm công tác đánh giá cán bộ, kinh nghiệm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, của người tự kiểm điểm; kịp thời biểu dương những đơn vị, địa phương làm tốt, nhất là những nơi có cách làm sáng tạo phát huy vai trò của nhân dân tham gia vào việc đánh giá cán bộ; phê phán, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh những địa phương, đơn vị làm chưa tốt, đưa công tác đánh giá cán bộ vào nền nếp, đạt chất lượng, hiệu quả.
Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và công tác quản lý đảng viên là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đánh giá cán bộ, bảo đảm tất cả đảng viên dù ở cương vị công tác nào cũng đều phải dự sinh hoạt chi bộ. Trong sinh hoạt chi bộ phải thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Sáu tháng và một năm mỗi đảng viên phải tự kiểm điểm báo cáo với cấp ủy, chi bộ về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, bỏ phiếu xếp loại hằng năm. Chi bộ phải là nơi phát hiện những dấu hiệu vi phạm của đảng viên để tập trung uốn nắn sửa chữa kịp thời không để đến khi thành khuyết điểm lớn mới kiểm điểm đánh giá. Thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Năm là, xây dựng, rà soát điều chỉnh, bổ sung tiêu chuẩn cán bộ phù hợp với thời kỳ mới. Kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ lãnh đạo, quản lý những cán bộ cơ hội, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm đạo đức, lối sống, bị xử lý kỷ luật và những cán bộ không đủ tiêu chuẩn. Khi xây dựng và ban hành tiêu chuẩn cán bộ cần phải quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương, bảo đảm dân chủ lấy ý kiến rộng rãi của cán bộ, đảng viên, tránh tình trạng tiêu chuẩn không sát với thực tế công việc của cán bộ.

Sáu là, kết quả đánh giá cán bộ có vai trò quan trọng của cơ quan tham mưu là ban tổ chức cấp ủy. Vì vậy, cần nêu cao vai trò trách nhiệm của ban tổ chức và cán bộ, chuyên viên làm công tác cán bộ. Ban tổ chức cấp ủy các cấp phải tham mưu giúp cấp ủy tổ chức tập huấn hướng dẫn nội dung, quy trình, phương pháp đánh giá cán bộ cho các đơn vị, địa phương, nhất là đối với cơ sở, phối hợp với các ban của Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức các buổi tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của nhân dân và dư luận về cán bộ. Những ý kiến xác đáng, mang tính xây dựng phải được làm rõ, công khai, minh bạch trả lời nhân dân. Kết quả đánh giá cán bộ phải được tổng hợp, nghiên cứu, đề xuất báo cáo với cấp ủy, chính quyền quản lý cán bộ. Quan tâm chăm lo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chuyên viên trực tiếp làm công tác cán bộ. Đó phải là những cán bộ có phẩm chất đạo đức, ý thức, trách nhiệm, trung thực, khách quan, khiêm tốn, biết phối hợp với các ban của Đảng, các cấp, các ngành để nắm và đánh giá cán bộ, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp, đề xuất, báo cáo trung thực với cấp ủy và lãnh đạo cấp trên về cán bộ.

Việc đánh giá cán bộ nghiêm túc ban đầu chắc chắn sẽ vấp phải những ý kiến khác nhau, trong đó, có thể có những ý kiến chưa đồng thuận, bởi việc làm này đối lập với cách đánh giá cảm tính, bè cánh, xuê xoa, thiếu cơ sở. Song dần dần sẽ quen, sẽ tạo ra bầu không khí mới trong thực hiện nhiệm vụ chung. Điều đó không chỉ giúp cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà còn giúp cán bộ, công chức, viên chức nâng cao tinh thần trách nhiệm.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: GIÁO SƯ NGUYỄN ĐÌNH NGỌC!

      Ở Đại học khoa học Sài Gòn, từ năm 1966 có một giáo sư toán học tên là Nguyễn Đình Ngọc, ông nổi tiếng cả về chuyên môn và cách sống. Về chuyên môn: ông có tài và đa năng, từng 10 năm tu nghiệp bên Pháp, sở hữu 3 bằng kỹ sư và 2 bằng tiến sĩ, trong đó có bằng tiến sĩ quốc gia (tương đương tiến sĩ khoa học hiện nay) về toán học. Ông từng là thành viên của Viện Khoa học cao cấp Pháp INET, là bạn với nhà toán học nổi tiếng thế giới A.Grothendeck, người đoạt giải Fields (được gọi là Nobel Toán học). Đồng nghiệp đều rất phục ông về kiến thức, sự tận tụy với nghề. 

Về cách sống, ông sống một mình, vợ con đều ở lại Pháp, nhưng đó là cách sống rất khác người, nên họ còn gọi ông là “giáo sư lập dị”. Có thể kể ra những “lập dị” của ông: ngày ăn có một bữa; cửa buồng khóa những 7 khóa; đi lại toàn cuốc bộ hoặc bằng xe đạp; ăn mặc thì xuềnh xoàng; không rượu, bia, thuốc lá, nhà không có thứ đồ đạc gì đáng giá, toàn sách. 

Nhiều người lầm tưởng GS Nguyễn Đình Ngọc không quan tâm đến thời cuộc, chính trị mà chỉ đơn thuần làm chuyên môn. Nhưng đầu tháng 9/1969, tin Bác Hồ qua đời loan khắp thế giới, hôm đó vào đầu giờ họp của Ban Toán, bỗng ông đứng lên, với vẻ mặt nghiêm nghị, nói: “Một vĩ nhân vừa qua đời, đề nghị Ban ta đứng lên, một phút mặc niệm!”. Mọi người trong Ban có chút ngỡ ngàng, rất ít khi “Giáo sư lập dị” phát biểu, vậy mà… Nhưng rồi mọi người đều đứng dậy mặc niệm theo yêu cầu của ông. Sự việc lan nhanh toàn trường. Khi đó, Giáo sư Ngọc không ngần ngại mà bày tỏ rõ sự ngưỡng mộ của mình với Bác Hồ. Sau đó, sự việc cũng dần rơi vào quên lãng bởi mọi người đều có chung ý nghĩ, ở một xã hội theo “kiểu Mỹ” thì “Giáo sư lập dị” có thể tỏ thái độ khuynh tả của mình là bình thường!

Về hoạt động tình báo, nhiệm vụ của GS Ngọc khi trở về Sài Gòn là bắt mối với các chính khách cùng tướng tá Mỹ, ngụy để “moi” tin tình báo. Vào đầu năm 1970, GS Nguyễn Đình Ngọc đã báo trước 72 giờ cho Trung ương Cục miền Nam kịp thời sơ tán an toàn, tránh được một cuộc hành quân càn quét lớn của Mỹ-ngụy vào căn cứ ở “vùng lõm”; báo trước cuộc đảo chính của Lon Nol-Sirik Matak lật đổ Sihanouk và chính phủ mới thân Mỹ sẽ không để yên cho cơ quan đầu não của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đóng “nhờ” trên đất Campuchia; báo trước 24 giờ cho Bộ Chỉ huy tối cao rằng quân đội Mỹ sẽ không quay trở lại giúp ngụy quyền Sài Gòn khi ta tổng tiến công vào hang ổ cuối cùng của chúng trong mùa xuân 1975...

Ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, CIA và đặc vụ Sài Gòn đã có nghi vấn “Giáo sư lập dị”, cử người bám đuôi đêm ngày. Song chỉ thấy ông đi dạy liên miên, vùi đầu vào sách vở và không giao du với ai, có chăng chỉ là mấy người trong họ hàng vợ, hoặc bạn học cũ ngoài Hà Nội, toàn những kẻ có máu mặt trong giới thượng lưu Sài thành, như: cựu Thủ tướng Phan Huy Quát; Thủ lĩnh Đảng Đại Việt Đặng Văn Sung, Tham mưu trưởng biệt khu thủ đô, Đại tá Phan Huy Lương, Phó đề đốc hải quân Nghiên Văn Phú… Thế rồi sau ngày nước nhà thống nhất, “Giáo sư lập dị” là “công chức lưu dung” thêm vài năm nữa mới chính thức rời giảng đường.

Đến một ngày, ông khiến nhiều người ngỡ ngàng khi xuất hiện trên đường phố thành phố Hồ Chí Minh với bộ quân phục sĩ quan an ninh, quân hàm Trung tá.

Những năm cuối thập kỷ 80, thế kỷ trước, ông chuyển hẳn ra Hà Nội, làm ở bộ phận nghiên cứu kỹ thuật của Bộ Nội vụ (sau đổi là Bộ Công an). Cuối thập kỷ 90, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, là Cục trưởng Cục Viễn thông tin học, Bộ Công an và còn có thời kỳ biệt phái, làm Phó ban chỉ đạo Công nghệ thông tin Nhà nước… Ông là một trong những người được ghi nhận là có công đầu trong kế hoạch đào tạo và phát triển ngành tin học Việt Nam.

Thế rồi, mãi khi ông đã nghỉ hưu (2002), nhiều người mới biết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa qua, khoa học chỉ là vỏ bọc, ông là một “Việt Cộng nằm vùng”./.

Môi Trường ST.

Tính phản khoa học, phản động về chính trị trong quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội

 

Mục tiêu cốt lõi quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là làm cho quân đội phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, quân đội đứng ngoài chính trị, xa rời bản chất giai cấp công nhân tiến tới làm tê liệt, vô hiệu hóa quân đội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội.

Để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch dùng nhiều âm mưu, thủ đoạn đa dạng, tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm và thâm độc, vừa công khai, vừa ngấm ngầm thông qua nhiều kênh, nhiều đường, nhiều hướng, nhiều phương diện với mục đích: phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi xoá Điều 4 trong Hiến pháp, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch luôn rêu rao quan điểm “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị”, “quân đội là công cụ chiến đấu bảo vệ độc lập chủ quyền, không can dự vào chính trị, quân đội là công cụ chung của toàn xã hội không mang bản chất giai cấp”… Thực chất các quan điểm này là thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, làm giảm sức chiến đấu, từng bước làm thoái hóa chính trị tư tưởng, phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử chứng minh và khẳng định: quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu dùng để bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước nhất định, không có quân đội chung chung, quân đội phi giai cấp, quân đội đứng ngoài chính trị. Vì thế, quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là hết sức sai lầm, phản khoa học và phản động về chính trị.

Trong tình hình hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Vì vậy, quân đội nhất thiết phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và trình độ trí tuệ, có niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, có cơ sở khoa học để nhận diện đúng đắn, hiểu thực chất và vạch trần tính chất sai trái, phản khoa học, phản động về chính trị trong quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch là yêu cầu đặc biệt quan trong tình hình hiện nay. Nó đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp và trước hết là của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta/.

PHÒNG CHỐNG BỆNH QUAN LIÊU, VÔ CẢM VỚI NHÂN DÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội ta và của Chính phủ”. Người cũng chỉ ra những biểu hiện cụ thể của bệnh quan liêu đó là: chỉ đạo xa rời thực tế, xa quần chúng; áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn, coi thường quần chúng...


Cán bộ, đảng viên mắc bệnh quan liêu “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích quần chúng, trái ngược với phương châm, chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Quan liêu, xa rời nhân dân, tất yếu dẫn đến và làm cho căn bệnh vô cảm trước nhân dân của cán bộ, đảng viên ngày càng trầm trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần phê phán thái độ thờ ơ, tắc trách, thiếu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân, thấy việc có lợi cho dân không làm, không giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Những cán bộ, đảng viên mắc bệnh vô cảm, họ thờ ơ với việc chung “chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí”, “không phê bình, không tự phê bình”, “sao cũng mặc kệ, sao cho xong chuyện thì thôi”. Người gọi đó là sự “ươn hèn yếu ớt” trước sai lầm khuyết điểm mà hậu quả tai hại để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất. Nguy hại nhất của tệ quan liêu, bệnh vô cảm là “đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”, là “nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí”.

Với tác hại to lớn như vậy, Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên “Ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng”. Để chữa bệnh, Người đã kê ra một đơn thuốc đó là: Theo đúng đường lối nhân dân, đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm chính để nhân dân noi theo.

Để chống bệnh quan liêu, xa dân, Người còn căn dặn phải đồng tâm, hiệp lực, phải kiên trì, quyết tâm, chống đến cùng, phải làm có tổ chức, làm từ trên xuống dưới. Bên cạnh việc giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hành kỷ luật nghiêm minh, phải “khéo kiểm soát” và “muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng ta thực sự trong sạch, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.