Thứ Tư, 12 tháng 1, 2022

Hà Nội tuyên dương học sinh đoạt giải quốc tế năm học 2021-2022

 

Hà Nội tuyên dương học sinh đoạt giải quốc tế năm học 2021-2022

Ngày 13-1, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức tuyên dương, khen thưởng học sinh đoạt giải trong kỳ thi quốc tế năm học 2021-2022. 39 học sinh tiêu biểu xuất sắc, đại diện cho các học sinh đoạt giải đã vinh dự có mặt tại lễ tuyên dương.

Cùng dự có Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Hữu Độ; Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong; Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Bùi Huyền Mai; Phó Chủ tịch UBND thành phố Chử Xuân Dũng.

Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Trần Thế Cương đã điểm lại thành tích của học sinh Hà Nội trong các kỳ thi quốc tế và nhận định: Các thầy giáo, cô giáo và học sinh đã khắc phục mọi khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 để tổ chức giảng dạy, học tập, ôn luyện hiệu quả. Các nhà trường cũng dành những điều kiện tốt nhất để chuẩn bị cơ sở vật chất, các quy định tổ chức thi trực tuyến đáp ứng theo tiêu chuẩn quốc tế. 

Học sinh Hà Nội đã tham dự 5 kỳ thi và đều đạt thành tích xuất sắc. Cụ thể, tại kỳ thi thiên văn và vật lý thiên văn quốc tế, cả 5 học sinh dự thi đều đoạt giải với 2 Huy chương vàng, 1 Huy chương bạc và 2 Huy chương đồng.

Tại kỳ thi Olympic quốc tế dành cho các thành phố lớn, học sinh Hà Nội đoạt 1 Huy chương vàng, 6 Huy chương bạc; đồng thời, đoạt giải nhì đồng đội, đứng thứ tư trong các thành phố có điểm cao nhất. 

Tại kỳ thi Olympic khoa học trẻ quốc tế, cả 6 học sinh dự thi đều đoạt giải với 4 Huy chương vàng, 2 Huy chương bạc. Đây cũng là thành tích cao nhất sau 10 lần tham dự kỳ thi này của học sinh Hà Nội.  

Tại kỳ thi toán học trẻ quốc tế, cả 16 học sinh dự thi đều đoạt giải với 14 huy chương (1 Huy chương vàng, 9 Huy chương bạc, 4 Huy chương đồng) và 2 giải Khuyến khích. 

Còn tại kỳ thi toán và khoa học quốc tế lần thứ 18, học sinh Hà Nội giành 22 huy chương, gồm 9 Huy chương bạc, 13 Huy chương đồng. 

Tại lễ tuyên dương, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Hữu Độ và Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong đã trao Bằng khen của UBND thành phố cho các học sinh đoạt Huy chương vàng; Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Bùi Huyền Mai và Phó Chủ tịch UBND thành phố Chử Xuân Dũng trao Bằng khen của UBND thành phố cho các học sinh đoạt Huy chương bạc, Huy chương đồng. 

Nhân dịp này, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã tặng Giấy khen cho 19 học sinh và 12 cán bộ, giáo viên. 

 Phó Chủ tịch UBND thành phố Chử Xuân Dũng ghi nhận, biểu dương thành tích của học sinh Hà Nội đạt được trong năm học 2021-2022, đồng thời bày tỏ niềm tự hào khi giáo dục thành tích cao là một trong 10 sự kiện tiêu biểu của thành phố Hà Nội năm 2021. Đồng chí Chử Xuân Dũng cho rằng, đây mới là kết quả bước đầu. Chặng đường trước mắt còn dài với nhiều khó khăn, thử thách, vì vậy, các học sinh cần tiếp tục rèn luyện, phấn đấu để đạt nhiều thành tích, có nhiều đóng góp hơn nữa cho xã hội. Đồng thời, các em hãy lan tỏa phương pháp, thành tích học của mình, giúp bạn bè cùng tiến bộ.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Chử Xuân Dũng cũng đề nghị ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Nội kịp thời động viên, vinh danh các thầy giáo, cô giáo có nhiều cố gắng, sáng tạo trong tổ chức dạy học, bồi dưỡng học sinh; quan tâm xây dựng môi trường giáo dục toàn diện.

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG, GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI


Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác đấu tranh tư tưởng cần có những điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.


Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1), những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.


Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.


Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:


(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế – xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.


(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.


(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…


Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật – giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.


Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán – thính – độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi…


Do tầm quan trọng đặc biệt của công tác đấu tranh tư tưởng và những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, phức tạp, nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng, tập trung chỉ đạo và triển khai công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác đấu tranh được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu và đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trên không gian mạng, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế.


Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục”(2).


Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.


Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn, quyết liệt, nên tuyêt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng là phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng chính những ưu thế của các phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó.


Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội. Kết hợp hài hòa giữa lan tỏa phổ rộng thông tin với ngày càng coi trọng chiều sâu thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng lý luận, có hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, tính thuyết phục cao, giúp độc giả hiểu sâu, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là phương thức đấu tranh có chiều sâu, căn cơ, kịp thời và chủ động ngăn chặn thủ đoạn chuyển hướng chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng và nền tảng lý luận của Đảng ta.


Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng từ tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội; tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn; mở các kênh truyền thông xã hội riêng như “cánh tay” nối dài của các báo, tạp chí, nếu phù hợp…


Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới, tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát trúng, có tầm nhìn dài hạn, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài gỡ bỏ thông tin xấu độc; răn đe; xử lý hình sự…, để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.


Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn – nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học – thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; gắn chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận, nhất là việc tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 40 năm tiến hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) trong thời gian tới./.

Phương tiện không người lái dưới nước thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông và Thái Bình Dương

 

Phương tiện không người lái dưới nước thay đổi cuộc chơi ở Biển Đông và Thái Bình Dương

Các phương tiện không người lái, vốn thay đổi tính phức tạp của các cuộc chiến trên không, nay cũng đang làm thay đổi ở dưới biển, giữa bối cảnh các nước lớn đang phát triển và triển khai tàu ngầm không người lái (UUV) nhằm giành được ưu thế chiến lược ở trong và ngoài Thái Bình Dương.

Cuộc chạy đua của các cường quốc

Mỹ, Anh, Trung Quốc và Nga đều đang phát triển cũng như triển khai các loại tàu ngầm không người lái, cho thấy sự thay đổi mà các phương tiện không người lái mang đến trong chiến tranh biển tương lai.

Anh, nước hiện đang mở rộng sự hiện diện quân sự ở Thái Bình Dương, có kế hoạch đưa vào vận hành phương tiện không người lái dưới nước siêu lớn để bổ sung cho các tàu ngầm lớp Astute. Những nỗ lực của Hải quân Hoàng gia nhằm thiết kế, xây dựng và thử nghiệm phương tiện này nằm trong Dự án CETUS nhằm hướng tới mục tiêu sản xuất một Phương tiện Dưới nước Tự động (AUV) 12m và nặng 27 tấn.

Hợp đồng cho Dự án CETUS dự kiến sẽ hoàn tất vào năm tài khóa 2021- 2022 với chi phí khoảng 21,5 triệu bảng Anh (tương đương với 29,3 triệu USD).

Hải quân Hoàng gia Anh cũng đang phát triển phương tiện không người lái dưới nước Manta - một phiên bản không người lái của tàu ngầm có người lái S201 trước đó do nhà sản xuất Anh MSubs xây dựng.

Mỹ cũng đang có những nỗ lực tương tự với dự án phát triển Phương tiện không người lái dưới biển siêu lớn (XLUUV) Orca sau khi Boeing được Hải quân Mỹ chọn làm nhà thầu với hợp đồng trị giá 274,4 triệu USD để sản xuất 5 chiếc Orca XLUUUV năm 2019.

Orca có thể được sử dụng để đối phó với mìn, chiến tranh chống ngầm, chiến tranh chống tàu mặt nước, chiến tranh điện tử và các nhiệm vụ tấn công mà không đe dọa tính mạng của những người vận hành nó.

Trung Quốc cũng được cho là đang sử dụng các phương tiện không người lái dưới nước sau khi Indonesia thu giữ 3 phương tiện này của Trung Quốc hồi tháng 12/2020.

Cùng năm, Trung Quốc cũng được cho là đã triển khai 12 phương tiện không người lái dưới nước Sea Glider ở Ấn Độ Dương để thu thập dữ liệu hải dương học nhằm hỗ trợ cho hoạt động của các tàu ngầm. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang vận hành phương tiện không người lái dưới nước HSU-001, tương tự như các phương tiện Orca, Manta và Dự án CETUS. HSU-001 đã được thử nghiệm ở tỉnh Phúc Kiến và Eo biển Đài Loan, mô phỏng các hoạt động chống ngầm.

Thay đổi các chiến dịch ở Biển Đông và Thái Bình Dương

Việc phổ biến các phương tiện không người lái dưới nước ở khu vực Thái Bình Dương đang thay đổi mức độ phức tạp của các cuộc chiến dưới nước, giữa bối cảnh môi trường biển ở khu vực này gây ra những thách thức cho các chiến dịch dưới biển.

Biển Đông là một vùng biến nửa kín với nhiều thực thể dưới biển chưa được vẽ thành bản đồ cũng như các vùng nước nông, gây nguy hiểm cho hoạt động của các lực lượng tác chiến dưới biển cũng như trên mặt nước.

Tuy nhiên, đồng thời Biển Đông cũng cung cấp một môi trường hoạt động lý tưởng cho các tàu ngầm nước nông theo quy ước bởi các thực thể dưới biển của khu vực này cũng như lưu lượng đi lại cao khiến các tàu trên không bị phát hiện trong thời gian dài bằng cách lợi dụng các yếu tố môi trường để che giấu tung tích.

Ở một mức độ nào đó, Biển Đông là một nơi lý tưởng cho các phương tiện không người lái dưới nước hoạt động bởi chúng có thể tiến hành các nhiệm vụ dưới nước mà không phù hợp cho con người thực hiện.

Các phương tiện không người lái dưới nước có thể được sử dụng để vẽ bản đồ nghiên cứu và đo lường độ sâu của vùng biển, cũng như các đặc điểm như nhiệt, từ trường và âm thanh khi đi qua một khu vực dưới nước cụ thể để phát hiện những điểm mù, từ đó giúp các tàu ngầm đi qua một cách an toàn mà không bị phát hiện.

Khả năng này của phương tiện không người lái dưới nước đặc biệt phù hợp khi sử dụng ở Biển Đông, vốn được coi là vùng biển thách thức nhất cho hoạt động của các tàu ngầm do các vùng nước nông, núi ngầm và bãi cạn.

Vụ va chạm gần đây của tàu ngầm USS Connecticut với một núi ngầm chưa có trên bản đồ ở Biển Đông đã cho thấy mối nguy hiểm này. Ngoài ra, các phương tiện không người lái cũng có thể tìm kiếm cho tàu ngầm các vị trí ẩn nấp trong quá trình thực hiện các chiến dịch dưới biển hoặc tránh các chiến dịch chống ngầm của kẻ thù.

Lực lượng không quân Mỹ vừa công bố video và hình ảnh chiến đấu cơ F-15C Eagle phóng tên lửa không đối không Sidewinder phá hủy một mục tiêu ở tầm gần, trong một cuộc diễn tập ở ngoài khơi biển của Anh.

Những khả năng đáng gờm

Các phương tiện không người lái dưới nước cũng có tiềm năng được sử dụng để thực hiện các chiến dịch săn mìn và đặt mìn. Các phương tiện không người lái dưới nước có thể trinh sát các bãi mìn dưới biển và vô hiệu hóa chúng. Ngoài ra, mặc dù không thể loại bỏ nhưng chúng có thể làm giảm nhu cầu cần tới các đội thợ lặn chuyên nghiệp để trinh sát, xác định và phá mìn được đặt ở các bãi biển đổ bộ trong những chiến dịch đổ bộ.

Các phương tiện không người lái dưới biển cũng có thể thực hiện các chiến dịch chống ngầm bằng cách chủ động tìm kiếm và theo dõi tàu ngầm của kẻ thù mà không gây nguy hiểm cho các phương tiện trên mặt nước có người lái hay các tàu ngầm. Vụ tàu ngầm PNS Hangor của Pakistan đánh chìm tàu khu trục INS Kukri của Ấn Độ năm 1971 đã cho thấy các tàu chiến chống ngầm dễ trở thành con mồi cho tàu ngầm của kẻ thù như thế nào.

Việc sử dụng các phương tiện không người lái dưới nước cho các mục tiêu chống ngầm vì thế giảm thiểu tối đa nhu cầu cần các tàu chiến có người lái cho những chiến dịch như vậy.

Đáng chú ý hơn, các phương tiện trên có thể trở thành vũ khí chiến lược khi mang vũ khí hạt nhân. Các phương tiện không người lái dưới nước được trang bị hạt nhân có thể vượt qua hệ thống phòng thủ tên lửa của kẻ thù bằng cách di chuyển dưới nước, tiến gần hoặc vào trong các thành phố ven biển quan trọng, các cảng biển và căn cứ hải quân để thực hiện các mục đích tấn công.

Minh chứng cho một vũ khí như vậy có thể kể tới phương tiện không người lái dưới biển Poseidon của Nga. Đây là phương tiện giúp Nga có khả năng tiến hành tấn công lần hai nếu một cuộc chiến tranh hạt nhân xảy ra

 

Mỹ công bố tài liệu bác bỏ các yêu sách phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông


Mỹ công bố tài liệu bác bỏ các yêu sách phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông

Hôm 12/1, trên trang web của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, nghiên cứu gần đây nhất, lần thứ 150 trong loạt bài Giới hạn trên biển, kết luận rằng CHND Trung Hoa khẳng định các yêu sách hàng hải trái pháp luật ở hầu hết Biển Đông, bao gồm cả yêu sách quyền lịch sử trái pháp luật.

Nghiên cứu này dựa trên phân tích năm 2014 của Bộ về tuyên bố chủ quyền "đường 9 đoạn" không rõ ràng của CHND Trung Hoa ở Biển Đông. Kể từ năm 2014, CHND Trung Hoa tiếp tục khẳng định các tuyên bố chủ quyền đối với một vùng Biển Đông cũng như những gì mà CHND Trung Hoa gọi là “vùng nội thủy” và “các quần đảo xa”, tất cả đều không phù hợp với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật Biển năm 1982.

"Với việc công bố nghiên cứu mới nhất này, Hoa Kỳ một lần nữa kêu gọi CHND Trung Hoa tuân thủ các yêu sách hàng hải của mình với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật Biển, tuân thủ quyết định của Tòa trọng tài trong phán quyết ngày 12 tháng 7, 2016, tại Trọng tài Biển Đông, và chấm dứt các hoạt động cưỡng chế và trái pháp luật của mình ở Biển Đông", Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuyên bố.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, nghiên cứu đưa ra trường hợp chi tiết nhất của họ chống lại các yêu sách "trái pháp luật" của Bắc Kinh ở Biển Đông, từ chối cả cơ sở địa lý và lịch sử cho bản đồ rộng lớn, gây chia rẽ của họ.

Trong tài liệu nghiên cứu dài 47 trang, Cục Đại dương và Môi trường Quốc tế và Khoa học của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Trung Quốc không có cơ sở theo luật pháp quốc tế đối với những tuyên bố khiến Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Philippines, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác.

“Ảnh hưởng tổng thể của những yêu sách hàng hải này là việc CHND Trung Hoa tuyên bố chủ quyền một cách bất hợp pháp hoặc một số hình thức độc quyền tài phán đối với hầu hết Biển Đông", tài liệu nêu.

"Những tuyên bố này làm suy yếu nghiêm trọng chế độ pháp quyền trên các đại dương và nhiều quy định được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế được phản ánh trong Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982".

Công bố nghiên cứu, một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ một lần nữa kêu gọi Bắc Kinh "ngừng các hoạt động trái pháp luật và cưỡng chế ở Biển Đông".

Bài báo là bản cập nhật của một nghiên cứu năm 2014 tranh chấp tương tự về cái gọi là "đường chín đoạn" tạo cơ sở cho phần lớn lập trường của Bắc Kinh.

Năm 2016, một tòa án quốc tế đã đứng về phía Philippines trong các khiếu nại về các tuyên bố của Trung Quốc. Bắc Kinh đáp lại bằng cách đưa ra những lý lẽ mới, bao gồm cả việc nói rằng Trung Quốc có "quyền lịch sử" đối với khu vực này.

Tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng những tuyên bố dựa trên lịch sử như vậy là "không có cơ sở pháp lý" và Trung Quốc đã không đưa ra chi tiết cụ thể.

Nó cũng đưa ra các lý do địa lý cho các tuyên bố của Trung Quốc, nói rằng hơn 100 địa điểm mà Bắc Kinh nêu bật ở Biển Đông bị nhấn chìm bởi nước khi thủy triều lên và do đó "vượt quá giới hạn hợp pháp của lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào".

Bắc Kinh viện dẫn các đặc điểm địa lý như vậy để tuyên bố chủ quyền đối với bốn "nhóm đảo", mà nghiên cứu của Bộ Ngoại giao cho rằng không đáp ứng các tiêu chí về đường cơ sở theo công ước của Liên Hợp Quốc.

Vào năm 2020, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo khi đó đã rõ ràng ủng hộ các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Biển Đông là nơi có các mỏ dầu khí có giá trị và các tuyến đường vận chuyển, và các nước láng giềng của Bắc Kinh thường xuyên lên tiếng lo ngại rằng người hàng xóm khổng lồ của họ đang tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động.

 

Thu hút, trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực công nghệ

 Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh việc tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu cơ chế thu hút người tài luôn là “điểm nghẽn”, là “nút thắt” cần được khắc phục, khơi thông để có thể thực hiện thành công yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.

Điểm nghẽn nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nêu rõ các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh việc tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Trao đổi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho biết, thực tiễn cho thấy vấn đề thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu cơ chế thu hút người tài luôn là “điểm nghẽn”, là “nút thắt” cần được khắc phục, khơi thông để có thể thực hiện thành công yêu cầu phát triển nhanh, bền vững.

Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, khi nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi được định hướng bởi tầm nhìn xa đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể phải hoàn thành cho giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Theo bà Hoa, về cơ chế, cần tiếp tục tháo gỡ các “nút thắt” trong thể chế, chính sách; tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược “dài hơi” cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà trọng tâm là đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, trình độ đào tạo; nhanh chóng hoàn thiện, đồng bộ thể chế về tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình đối với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; xây dựng một xã hội học tập để tạo điều kiện cho người lao động tự học suốt đời.

Đặc biệt, bà Hoa nhấn mạnh việc đã thu hút được nhưng phải giữ được nhân tài để trọng dụng họ. Do đó, cần có sự nghiên cứu để có chính sách thu hút nhân tài, bao gồm chính sách hỗ trợ về lương bổng, phụ cấp, chỗ ở, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt nhất cho người tài thỏa sức sáng tạo, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến vì mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh.

Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là kiều bào

Đối với việc thu hút nhân tài trong lĩnh vực công nghệ, bà Hoa cho biết, với người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài khi thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ tại Việt Nam cần được hưởng mức lương theo thỏa thuận.

Mức lương thỏa thuận được xác định bằng tính chất, quy mô và tầm ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học công nghệ. Thông qua trình độ, năng lực và hiệu quả đóng góp của cá nhân để có chế độ đãi ngộ phù hợp. Mức lương của các vị trí tương đương trong các tổ chức nước ngoài hoặc doanh nghiệp.

Bà Hoa cho rằng, với lĩnh vực công nghệ, con người là nhân tố quan trọng nhất. Trong thời gian tới, nước ta cần tập trung vào hoạt động huấn luyện - đào tạo, nhất là đào tạo thêm về các công nghệ, kỹ thuật mới, cũng như tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên phát triển nghề nghiệp lâu dài. Cần xây dựng và duy trì môi trường làm việc chuyên nghiệp, có văn hóa riêng, khuyến khích cải tiến, sâu sát, cởi mở. Có thể trao quyền tự chủ phù hợp để thu hút nhân tài và giúp các tài năng có thể tự do sáng tạo, thể hiện bản thân.

Trao đổi với Lao Động, đại biểu Nguyễn Thanh Xuân - Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ - cho biết, Đảng và Nhà nước luôn xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng cho việc chuyển đổi số, kinh tế số cần có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài ở lĩnh vực công nghệ. Các doanh nghiệp mới hiện đang có sự cạnh tranh rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có đội ngũ kỹ sư. Chính sự cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp tạo ra một môi trường tốt cho đổi mới sáng tạo.

Theo ông Xuân, để việc triển khai thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới, cần tiếp tục chiến lược quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. Bắt đầu từ việc quy hoạch, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, gắn với công tác kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên theo quy định. Kế đến là xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ; thu hút và đãi ngộ nhân tài ở cả trong và ngoài nước.

Đánh giá cao tiềm năng của đội ngũ trí thức, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài, đại biểu Xuân cho rằng cần có cơ chế, chính sách, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ xứng đáng để thu hút kiều bào về nước đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Chính sách thu hút, đãi ngộ này cần đảm bảo sự ổn định, bền vững để tạo sự tin tưởng và gắn bó của kiều bào với đất nước./.