Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Việt Nam lên tiếng về báo cáo của Mỹ bác bỏ yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông

 

Việt Nam lên tiếng về báo cáo của Mỹ bác bỏ yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông

Ngày 14/1, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam liên quan đến việc Bộ Ngoại giao Mỹ vừa công bố Báo cáo số 150 về các ranh giới biển.

Bà Hằng nhấn mạnh, Việt Nam ghi nhận việc Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo số 150 về các ranh giới biển.

Liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam đã nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán và rõ ràng của mình, cả trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương. Theo đó Việt Nam luôn phản đối và không chấp nhận mọi yêu sách liên quan không phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS).

“Nhân dịp này, Việt Nam một lần nữa đề nghị các bên liên quan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, có đóng góp tích cực và thực chất nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo vệ an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, tính toàn vẹn của UNCLOS và trật tự dựa trên luật lệ”, bà Hằng nói.

Trước đó, ngày 12/1, Mỹ công bố báo cáo chi tiết nhất từ trước đến nay để bác bỏ các yêu sách trái pháp luật của Trung Quốc trên Biển Đông, phủ nhận cả cơ sở lịch sử và địa lý mà Bắc Kinh sử dụng cho những đòi hỏi chiếm trọn Biển Đông.

Trong tài liệu nghiên cứu dài 47 trang, Cục Đại dương, Môi trường quốc tế và khoa học thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định, Trung Quốc không có cơ sở nào theo luật pháp quốc tế cho yêu sách mà Bắc Kinh đưa ra để chồng lên vùng biển của Philippines, Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác.

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Phương thức được hiểu là những phương pháp và cách thức thực hiện để đạt được một mục tiêu nào đó. Còn thủ đoạn (thủ là thủ thuật, đoạn nghĩa là ngắn) là cách hành động (dùng mưu trí, thủ thuật) để đạt được mục đích trong một thời gian ngắn nhất. Trong thực tiễn, có thể có những hoạt động, những sự việc ta thấy phương thức và thủ đoạn là đồng nhất, phương thức đồng thời cũng là thủ đoạn. Song về cơ bản, phương thức và thủ đoạn là khác nhau. Phương thức là những phương pháp, cách thức để thực hiện trong một giai đoạn dài; còn thủ đoạn thường thực hiện trong những công việc cụ thể, là những thủ thuật cụ thể để thực hiện phương thức. 

Trong chiến tranh tâm lý chiến có phương thức tuyên truyền và phản tuyên truyền; những thủ đoạn trong phương thức này gồm có: xuyên tạc, bóp méo, bịa đạt, rỉ tai... 

Trong hoạt động “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức như tuyên truyền, phương thức sử dụng không gian mạng, phương thức bất bạo động… tựu chung lại, đó đều là sử dụng phương thức phi vũ trang là chủ yếu, nghĩa là không sử dụng các biện pháp vũ trang, không bạo động, không sử dụng vũ khí nóng. Trong mỗi một phương thức chống phá ấy các thế lực thù địch, phản động thường thực hiện với rất nhiều thủ đoạn cụ thể khác nhau. Đó là: 

 Các thủ đoạn về kinh tế: viện trợ, tài trợ nuôi dưỡng, đào tạo số cốt cán của các tổ chức phi chính phủ; cấp tiền cho hoạt động của các tổ chức chống đối; tài trợ cho các hoạt động “tự ứng cử”, đầu tư cho các “truyền thông đen”; cho nhập cư với “những nhà đấu tranh dân chủ” mới được tha tù… 

 Các thủ đoạn trong tuyên truyền: Bơm phồng, bôi đen, quy chụp và cào bằng, tạo dựng nên các chiến dịch truyền thông, triệt để khai thác thông tin lề trái, thông tin cũ, thông tin cắt ghép, làm mới và tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó tinh vi cài một phần thông tin xấu độc vào. Tạo dựng và phát tán các thông tin, hình ảnh giả tạo, hình ảnh sai lệch, trộn lẫn giữa tốt xấu, thật giả, bịa đặt nhào nặn, biến không thành có, tán phát những thông tin, những tài liệu, những hình ảnh xấu độc để lôi kéo, kích động hướng lái dư luận theo những quan điểm sai trái. Trong tuyên truyền rỉ tai có các thủ đoạn như kể chuyện chuyện ngụ ngôn, tiếu lâm chính trị... 

 Các thủ đoạn lợi dụng dân chủ, tự do, tôn giáo.

Thủ đoạn lợi dụng hợp tác khoa học, giáo dục và đào tạo.

Các thủ đoạn cài cắm, lật đổ…

Thủ đoạn soạn thảo, tán phát các yêu sách chính trị dưới dạng kiến nghị, tâm thư, thông bạch, thư ngỏ, lời kêu cứu… 

Thủ đoạn “lật sử”, lật lại những vấn đề của cải cách ruộng đất, của Chiến thắng 30 tháng 4, Chiến thắng Mậu thân năm 1968; bôi nhọ hình tượng chị Võ Thị Sáu, hình tượng Lê Văn Tám, anh hùng Tô Vĩnh Diện…

Cần lưu ý, đã nói đến thủ đoạn thì đa phần là những thủ đoạn mới. Bởi vì đó là những cách làm cụ thể để đạt được mục đích trong một thời gian ngắn nhất, bởi vậy nó luôn có tính mới, luôn có sự điều chỉnh liên tục để để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tăng được hiệu quả chống phá của chúng.  

Về nội dung, thủ đoạn của chúng thường tập trung vào các vấn đề như công tác sắp xếp nhân sự trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIII, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tình hình lũ lụt tại miền Trung, đại dịch Covid-19, vụ án Đồng Tâm, các vụ án tham nhũng, những diễn biến quân sự trên Biển Đông…; bôi đen những thành quả chúng ta đã đạt được, khoét sâu vào những hạn chế, sai sót trong lãnh đạo, chỉ đạo, xuyên tạc, bóp méo thông tin gây hoang mang, lung lay niềm tin của nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng khai thác các thông tin cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội, tăng cường sử dụng các bài phỏng vấn, cắt xén, xuyên tạc các nội dung phát biểu. Hiện chúng đang tập trung nhiều hơn vào “những vấn đề nóng” như tranh chấp đất đai, vấn đề môi trường, cây xanh, những khó khăn trong đời sống của một bộ phận nhân dân trong đại dịch, những vụ việc tham nhũng, lãng phí bị đưa ra xét xử… đó là những vấn đề về dân sinh, rất gần gũi với dân. Chúng cho rằng nếu khoét sâu được vào những vấn đề này, thêm thắt, bóp méo, thổi phồng lên, quy chụp cho Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp sẽ kích thích được tính tò mò của dân, lôi kéo được nhân dân. Theo tính toán của chúng, đây chính là lực lượng chiếm tỷ lệ tới 95% dân số cả nước, nếu lôi kéo được sẽ có cơ hội giành chiến thắng. 

Về lựa chọn đối tượng, thủ đoạn của chúng thường tận dụng các thông tin sai lệch xuất phát từ một bộ phận tài khoản KOLs (người nổi tiếng; nhóm chuyên gia, tri thức cao; luật sư) có sức ảnh hưởng lớn trên mạng xã hội, tạo ra nhiều luồng dư luận trái chiều, thu hút cộng đồng mạng. Đối tượng được hướng đến nhiều hơn là những cán bộ, đảng viên cao cấp, những người đang công tác trong các cơ quan Nhà nước. Chúng cho rằng, tiếng nói của những người này nếu họ trở cờ, bất mãn thì hiệu quả chống phá sẽ rất cao. Chúng cũng quan tâm nhiều đến việc khai thác thế hệ trẻ, những người có thời gian sử dụng mạng xã hội thường xuyên, chưa có quan điểm, lập trường vững vàng, dễ bị ảnh hưởng bởi các thông tin độc hại có yếu tố chính trị. 

Về lựa chọn thời điểm: Chúng tập trung vào các ngày lễ, tết, các lần tổ chức đại hội đảng, các kỳ họp quốc hội, trước các phiên xét xử các vụ án lớn, trước các mùa tuyển quân… 

Trên không gian mạng, bên cạnh các bài viết, video truyền thống như trước đây, gần đây chúng tập trung hơn trên các kênh như Twitter, Tiktok, phòng chát nhóm Paltalk và cũng xuất hiện một số loại hình chống phá mới như sách, truyện tranh trực tuyến, game online cũng được các đối tượng khai thác triệt để. Chúng thiết lập, liên kết các trang web; phát động các chiến dịch “chiến tranh thông tin” một cách bài bản, có tổ chức chặt chẽ. Chúng sử dụng các thủ đoạn như xây dựng các thủ lĩnh ảo, kêu gọi biểu tình ảo trên không gian mạng; cắt ghép, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng các clip, thêm thắt, tạo dựng theo một kịch bản đã định sẵn của các thế lực chống đối. Sử dụng chiêu bài “rộng khắp”, “phát tán nhanh”, khi bị bóc gỡ, các thông tin này nhanh chóng xuất hiện trở lại với tần suất dày đặc hơn. Dự báo tới đây, các thủ đoạn sẽ ngày càng tinh vi, nham hiểm và khó nhận biết hơn; các đối tượng sẽ tập hợp, liên kết lực lượng, “chính trị hóa” các vụ án, vụ việc, vấn đề môi trường, dân sinh, đất đai, tâm linh thúc đẩy các hành vi “bất tuân dân sự”... Cần hết sức lưu ý, khi đã có đủ các yếu tố về lực lượng, phương tiện, nguyên cớ, đã thử phản ứng của chính quyền... chúng có thể sẵn sàng tạo ra các “điểm nóng”, kích động biểu tình, bạo loạn, chuyển từ “bất bạo động” thành bạo động. 

 TK- ST

BÀI HỌC VỀ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ

Cuộc khủng hoảng chính trị tại Kazakhstan trong những ngày đầu năm 2022 vẫn đang thu hút sự quan tâm theo dõi của dư luận thế giới. Từ ngày 2/1/2022, hàng nghìn người đã xuống đường biểu tình, đốt phá, gây bạo loạn, đẩy Kazakhstan  vào cuộc khủng hoảng lớn nhất trong nhiều thập kỷ. Vốn là một quốc gia trụ cột về ổn định chính trị và kinh tế tại khu vực Trung Á trong không gian hậu Xô-viết, những cuộc biểu tình, bạo loạn  gây thiệt hại nặng nề về con người và tài sản tại nước này có thể coi là sự bất ngờ lớn đối với cộng đồng quốc tế.

Đến nay, chính phủ Kazakhstan đã dần lấy lại kiểm soát, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ổn và để giải quyết gốc rễ vấn đề gây ra sự khủng hoảng vừa qua và những hậu quả của nó, chính quyền nước này sẽ còn phải mất nhiều thời gian.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng đang được phân tích, mổ xẻ. Nhiều người cho rằng đó là kết quả của “cuộc tranh giành quyền lực” giữa những người trung thành với cự tổng thống Nazarbayev, người đã cầm quyền tại quốc gia này trong suốt ba thập kỷ vừa qua với chính quyền đương nhiệm của tổng thống Tokayev.

Nga cáo buộc chính phủ Mỹ đứng sau những cuộc biểu tình bạo lực, bất ổn ở Kazakhstan, nhưng Mỹ đã ngay lập tức bác bỏ những cáo buộc này. Kazakhstan vốn được coi là sân sau của Nga, nhưng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Kazakhstan từ lâu cũng trở thành nơi để các công ty năng lượng khổng lồ của Mỹ đổ hàng chục tỷ USD tiền đầu tư. Ngoài ra, Kazakhstan cũng là nguồn cung cấp dầu mỏ và hành lang giao thông quan trọng cho sáng kiến ​​Vành đai – Con đường của nước láng giềng Trung Quốc.

Cho dù nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng chính trị tại Kazakhstan là gì đi nữa, thì bài học quan trọng cần rút ra từ cuộc khủng hoảng này vẫn là làm thế nào để giữ được sự ổn định chính trị, tránh được những điều tương tự có thể xảy ra đối với những quốc gia có chủ quyền, có vị trí địa-chính trị quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều tiềm năng để đầu tư, phát triển. Thực tế cho thấy những nước không giữ được ổn định chính trị đều phải chịu những hậu quả nặng nề mà người gánh chịu trước hết và nhiều nhất không ngoài ai khác chính là nhân dân, những người lao động trong xã hội. Bài học của Lybia, Ucraine, Myanmar, Kazakhstan… ai cũng có thể thấy rõ.

Ổn định chính trị là một lợi thế lớn của Việt Nam trong suốt nhiều năm qua. Trong bối cảnh bất ổn gia tăng ở nhiều nơi trên thế giới, sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam là một lợi thế quan trọng để phát triển. 35 năm trôi qua kể từ khi thực hiện đổi mới và mở cửa vào năm 1986, Việt Nam từ một nước kém phát triển đã nhảy vọt thành nước có thu nhập trung bình, sức mạnh tổng hợp quốc gia tăng lên rõ rệt, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Việt Nam ngày càng trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài và khách du lịch quốc tế. Vai trò và vị thế quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao.

Từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị. Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định. Đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội nhất quán. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều cho rằng, chính sự ổn định chính trị đã trở thành ưu điểm xuyên suốt quá trình phát triển của Việt Nam, một ưu điểm mà không phải quốc gia nào cũng có được.

Nhiều năm qua, các thế lực chống phá luôn tìm cách làm cho tình hình chính trị ở Việt Nam mất ổn định. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý, những bức xúc trong cuộc sống của nhân dân và những vụ việc tham nhũng, tiêu cực chúng liên tục tung các thông tin xuyên tạc, vu khống lên các trang MXH để xuyên tạc bản chất nền dân chủ của ta, vu khống Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi “phải xóa sổ kinh tế nhà nước”, yêu cầu đa nguyên, đa đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “giải tán sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, kích động dư luận quần chúng, biểu tình, gây rối tại một số địa bàn nhạy cảm.  

Đối với cuộc chiến chống tham nhũng mà Việt Nam đang tiến hành hiện nay, chúng xuyên tạc rằng  “đây là cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ”. Về vấn đề Biển Đông, các thế lực cơ hội, thù địch tìm cách dẫn dắt dư luận theo hướng “lãnh đạo Việt Nam sợ, không dám kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế”, yêu cầu Việt Nam phải chọn phe, dựa vào Mỹ để chống lại Trung Quốc.  

Hơn ai hết, người Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình và sự ổn định chính trị – xã hội. Với trình độ dân trí, sự hiểu biết về MXH ngày càng được nâng cao và những trường hợp khủng hoảng chính trị từ một số nước trong khu vực và trên thế giới trong thời gian  gần đây người dân Việt Nam hiểu rõ rằng, nếu nền tảng chính trị -xã hội mà bất ổn thì sẽ kéo theo bất ổn nhiều mặt, gây nguy hại cho sự phát triển bền vững của một quốc gia cũng như cuộc sống của chính bản thân họ. Bởi vậy, họ không thể bị đánh lừa bởi những thông tin sai sự thật, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá Việt Nam trên MXH./.       TK- ST.

Đừng để mặt trái của xã hội đánh mất truyền thống “Tôn sư trọng đạo” xưa và nay của dân tộc Việt Nam

“Tôn sư trọng đạo” là truyền thống đạo lý mang đậm giá trị nhân văn của dân tộc Việt Nam. Truyền thống này đã được ông cha ta tạo dựng, bồi đắp từ ngàn xưa cho đến nay. Trải qua thời gian, dù xã hội có phát triển và đổi thay thì truyền thống ấy vẫn là một nét đẹp trong văn hóa Việt Nam. Trong xã hội xưa và nay, “Tôn sư trọng đạo” có gì khác nhau? Trong xã hội xưa, thầy giáo được coi là biểu tượng thiêng liêng cho sự học, là “khuôn vàng thước ngọc” của đạo đức, nhân cách để học trò học, noi theo thầy mà trở thành người có đức, có nhân, có tài để đứng ra giúp nước. Trong ba vị trí đặc biệt quan trọng của xã hội xưa “Quân - Sư - Phụ” thì người thầy chỉ đứng sau vua, người được xã hội, nhân dân đặc biệt coi trọng và tôn vinh, là người mà nhân dân gửi gắm niềm tin để giúp con em họ học hành mà thành tài. Có nhiều câu tục ngữ, ca dao xưa mang ý nghĩa răn dạy con người về vai trò của người thầy: “Không thầy đố mày làm nên”, “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”, “Trọng thầy mới được làm thầy”... Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước, các Vua Hùng đã chú trọng đến việc dạy chữ. Nhà vua đã mời thầy, cô đến dạy học cho các công chúa. Theo cuốn “Ngọc phả đình thôn Hương Lan” (xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ), vào thời Hùng Vương thứ 18, niên hiệu Hùng Duệ Vương, từ vua đến dân rất quan tâm đến việc học hành, “tôn sư trọng đạo”, tu thân và lập thân của con người. Vì thế, Vua Hùng Duệ Vương đã mời hai vợ chồng thầy cô Vũ Thê Lang và Nguyễn Thị Thục (quê Bắc Ninh) vào cung dạy học trực tiếp cho hai công chúa mà nhà vua rất mực yêu quý là Công chúa Tiên Dung và Công chúa Ngọc Hoa. Khi thầy, cô tạ thế, Vua Hùng cùng người dân thôn Hương Lan tiếc thương công đức của hai thầy, cô nên đã an táng ngay tại địa điểm thầy, cô mở lớp dạy học, táng cùng một ngôi mộ. Nhà Vua cũng cho phép thôn Hương Lan lập miếu để thờ cúng, hương hỏa cho thầy, cô. Từ đó, trải từ đời này sang đời khác, muôn dân đất Việt noi theo mà kính trọng người thầy, coi trọng sự học và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” luôn được gìn giữ như một nét đẹp của dân tộc. Ngày xưa, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để cho con em đi học và cũng không có sẵn trường lớp như bây giờ. Vì thế, gia đình nào có điều kiện thường mời thầy đến nhà để dạy cho hai, ba đứa con mình, giúp con em đọc được chữ, học vỡ nghĩa sách thánh hiền để làm cơ sở học cao hơn rồi thi thố, đỗ đạt mong được ra làm quan giúp dân, giúp nước. Cũng có người thầy từ bỏ chốn quan trường để về quê mở lớp dạy học cho con nhà nghèo và không ít học trò nghèo đã nghe lời thầy, hiếu học mà đỗ đạt thành danh. Vì thế, ngày xưa, chỉ có thầy mới thực sự là người có thể dạy chữ cho con em nhân dân, giúp cho con em họ thành người có ích cho xã hội. Từ bao đời nay, nhân dân ta vẫn truyền nhau câu ca: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”. Cái nghĩa “Yêu thầy” ở đây cần hiểu đó là trọng thầy, trọng sự học chứ không phải mang cho thầy vàng bạc hay những giá trị vật chất gì. Trong xã hội xưa, cái nghĩa “Tôn sư trọng đạo” được gắn với tính mô phạm, khuôn phép, nhân cách, đạo đức. Vì thế, thầy phải ra thầy, trò phải ra trò chứ không thể có bất cứ một yếu tố nào chi phối giá trị này. Muốn được học trò tôn kính, thầy phải giữ đúng chữ “đạo thầy”, thầy phải là biểu tượng của nhân cách cao đẹp, đạo đức chuẩn mực và tài trí hơn người. Có nghĩa là, thầy phải xứng là “khuôn vàng thước ngọc”. Còn nếu không có được những điều trên, thầy sẽ bị xã hội khinh rẻ, bị học trò coi thường. Về phía học trò, cũng phải giữ đúng “đạo học trò”, biết nghe lời thầy, biết chăm chỉ học tập và biết ứng xử cho phải đạo. Nếu phạm lỗi phải biết kính cẩn xin lỗi và sửa chữa lỗi lầm. Chính vì vậy, trò vi phạm, nhất là phạm lỗi đạo đức, thầy trách phạt, thậm chí dùng roi đánh vào tay, vào lưng, thậm chí từ chối sự giáo dục để học trò nhận ra lỗi lầm của mình nhưng trò và gia đình không hề kêu ca, không hề trách mắng thầy vì họ đều nhận thức được rằng, có như vậy, bản thân mới nên người, mới cố gắng học hành để thành đạt. Khi gặp thầy, trò phải thực hiện những nghi lễ chào hỏi một cách cung kính. Nếu không làm hoặc làm sai có nghĩa là không giữ đúng đạo làm trò. Trong xã hội ngày nay, người thầy vẫn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội. Mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều yếu tố hiện đại, tiện ích có thể tham gia vào quá trình giáo dục con người nhưng có lẽ không gì có thể thay thế được vị trí của người thầy. Bởi lẽ, dù là xã hội có phát triển như thế nào đi nữa, người thầy vẫn luôn là biểu tượng cho nhân cách, chuẩn mực đạo đức và là người truyền vào tâm hồn học trò những điều tốt đẹp, gieo mầm thiện để nhân lên những điều thiện trong tâm căn mỗi học trò. Dù các phương tiện trong quá trình giáo dục có hiện đại, tối tân đến đâu cũng chỉ là phương tiện mang tính hỗ trợ cho bài giảng của thầy còn vai trò quan trọng vẫn là người thầy trên bục giảng, là phấn trắng, bảng đen. Thầy là người truyền lửa ham học cho học trò, khơi lên trong các em những ước mơ, hoài bão để thổi bùng lên những khát vọng cao đẹp trong tương lai. Thầy là người định hướng tri thức để học trò khám phá, tìm tòi tri thức. Vì thế, truyền thống “Tôn sư trọng đạo” trong xã hội ngày nay không khác xưa là mấy, vẫn còn nguyên giá trị về sự kính trọng người thầy, coi trọng sự học và những lời dạy của cha ông xưa vẫn không hề cũ đối với các thế hệ học trò. Tuy nhiên, cái nghĩa “Tôn sư trọng đạo” ngày nay có phần thay đổi so với xưa kia. Ở xã hội ngày nay, khoảng cách giữa thầy và trò không cách xa như trước. Thầy và trò gần gũi, thân thiện hơn. Mối quan hệ giữa thầy và trò không còn bị chi phối bởi những giáo lý nghiêm ngặt như trong xã hội xưa mà có phần được giảm nhẹ, giản hóa những quy định về lễ nghĩa. Vì thế, học trò ngày nay thể hiện sự kính trọng thầy bằng nhiều cách khác nhau chứ không bó hẹp như xưa. Người thầy trong xã hội ngày nay vẫn phải là chuẩn mực của đạo đức, nhân cách và trí tuệ. Đặc biệt, khi xã hội phát triển, khoa học công nghệ đạt được những thành tựu to lớn, khi thế giới bước vào thời đại công nghệ 4.0 thì người thầy phải không ngừng học tập, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ để bắt kịp với thời đại, đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nếu không, có thể thầy sẽ thua học trò và khi ấy, hình ảnh thầy trong tâm hồn học trò không còn thiêng liêng như trước nữa. Truyền thống “Tôn sư trọng đạo” ngày nay đã, đang bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực. Những yếu tố này thuộc về nhiều phía, cả phía người thầy, phía xã hội, phía học trò. Về phía người thầy, có không ít thầy cô có năng lực chuyên môn nghiệp vụ yếu nên chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới, có không ít thầy cô vi phạm đạo đức nhà giáo như chửi mắng học trò, đánh đập, hành hung, hành hạ học trò, dùng những hành vi để ép buộc học trò phải học thêm, tiêu cực trong thi cử...Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ các thầy cô giáo đang ngày đêm miệt mài bên những trang giáo án để gieo mầm tri thức, khiến cho xã hội có cái nhìn khác về hình ảnh người thầy, một biểu tượng vốn là thiêng liêng trong xã hội. Về phía học sinh, có những em chưa ngoan đã có những hành động trái với đạo lý như cãi lại thầy cô, chửi đánh, hành hung thầy cô khi mắc lỗi và bị xử lý. Thật đáng buồn khi có những học trò dám cãi tay đôi với thầy cô ngay trên bục giảng hay giữa sân trường. Thật xót xa khi có học sinh chỉ học lớp 8 mà dám bóp cổ cô giáo hay có học sinh bị thầy nhắc nhở đã chặn đường để đánh thầy. Tất cả những hành động này đã làm cho giá trị đạo đức trong giáo dục xuống cấp nghiêm trọng, mối quan hệ thầy, trò đã bị hoen ố và giá trị của “Tôn sư trọng đạo” tuyệt nhiên không còn giữ được. Còn về phía xã hội, khi mà cả xã hội tham gia vào quá trình giáo dục thì đã bộc lộ không ít những mặt trái, ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ thầy, trò. Cụ thể như, khi dư luận người dân bàn luận về một vấn đề nào đó trong giáo dục thì đôi khi bàn luận một cách nóng vội dẫn đến tranh luận một cách nảy lửa, thậm chí còn “ném đá” thầy cô một cách không tiếc tay. Điều đó, đôi khi vô tình sẽ hạ thấp người thầy, hạ thấp giáo dục xuống những nấc thang đáng lo ngại. Đồng thời, xuất phát từ giá trị nhân văn của truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, không ít phụ huynh đã lợi dụng, mua chuộc thầy cô để làm lợi cho con em mình, che giấu những khuyết điểm hay tăng thêm thành tích cho con em mình... Có thể nói, “Tôn sư trọng đạo” dù ở ngày xưa hay hôm nay và mãi mãi mai sau vẫn luôn là một nét đẹp không gì có thể thay thế được của dân tộc Việt Nam. Dù ở đâu, thời nào, người thầy vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Nói như Nhà giáo Chu Văn An, người thầy đạo cao đức trọng, là biểu tượng thiêng liêng về đạo học và hình ảnh người thầy của dân tộc Việt Nam: “Ta chưa từng thấy nước nào coi nhẹ sự học mà khá lên được”./.

Cảnh giác với luận điệu hòng làm lung lay vai trò Đảng lãnh đạo và cầm quyền duy nhất của dân tộc Việt Nam

Kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đảng đã chiến đấu vì độc lập dân tộc và đưa nước nhà vượt qua bao gian truân thử thách, giành chính quyền, chiến đấu để giữ chính quyền, bảo vệ độc lập dân tộc và thực hiện sự nghiệp đổi mới theo con đường XHCN mà Bác và Đảng đã vạch ra từ trong “Chính cương vắn tắt” và “Luận cương chính trị” năm 1930. Từ một nước chìm đắm trong đêm dài nô lệ, Đảng đã trưởng thành qua đấu tranh cách mạng, xứng đáng là Đảng lãnh đạo và cầm quyền duy nhất của dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân có quyền làm chủ mình và làm chủ đất nước. Đảng khẳng định toàn bộ hoạt động của Đảng là nhằm “hiện thực nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lợi thuộc về nhân dân”. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát huy rộng rãi dân chủ XHCN, quyền làm chủ và vai trò làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, củng cố nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận trong xã hội” nhằm thực hiện thành công mục tiêu mà Đại hội đề ra. Thế nhưng hiện nay, trên một số kênh thông tin hoặc ngấm ngầm lực lượng thù địch vẫn cứ rêu rao “ở Việt Nam chế độ một Đảng cầm quyền, nhất nguyên chính trị, vừa đá bóng vừa thổi còi thì làm gì có dân chủ đích thực”. Rồi đề ra mục tiêu phải thực thi chế độ đa Đảng, không thể để cho Đảng cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền làm triệt tiêu nền dân chủ! Đây là vấn đề không mới, nhưng rất lớn, cần phải được làm rõ, cần được chứng minh cả lý luận và thực tiễn để thẳng thừng bác bỏ luận điệu đó, không thể để âm mưu “diễn biến hòa bình” sẽ dần “chuyển hóa” thành họa lớn mà ta đã thấy qua sự sụp đổ của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu, làm tan rã hệ thống XHCN, dẫn đến tổn thất nặng nề trên con đường phát triển của lịch sử nhân loại. Các thế lực thù địch cho rằng, thể chế chính trị mà một đảng duy nhất cầm quyền là mảnh đất làm nảy sinh và nuôi dưỡng hành vi chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, cản trở quy trình phát triển xã hội; chúng đồng nhất vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển… nhằm công khai hóa đi đến hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ con đường đi lên XHCN ở Việt Nam. Diễn biến này nằm trong mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch, trong đó có sự đồng lõa của các phần tử cơ hội, thoái hóa chính trị, bất mãn phản bội lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Chúng đánh đổi vận mệnh Tổ quốc để mưu cầu lợi ích cá nhân và “nhóm lợi ích” của chúng. Hãy xem sau khi Liên Xô sụp đổ, phương Tây tuyên bố “đây là sự sụp đổ định mệnh của CNXH”, còn những kẻ cơ hội “theo đóm ăn tàn” chiếm tới 75% quan chức cấp cao, 57% làm lãnh tụ các chính đảng đối lập mới ra đời. Vào năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú mới ở Matscơva thì đại bộ phận nguyên là cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sản và Nhà nước Liên Xô… Đây là “sự thật trần trụi” bóc trần âm mưu và mục đích chống phá của thế lực thù địch dưới ngọn cờ “dân chủ”, “tự do”, “đa nguyên, đa đảng”; cổ xúy sự “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” từ trong nội bộ Đảng. Thành công hiển nhiên trước lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng cộng sản lãnh đạo hơn 90 năm qua không phải là ý chí chủ quan của những cá nhân hay lực lượng chính trị nào, mà là kết quả tất yếu của sự lựa chọn lịch sử. Bởi lịch sử đã “sàng lọc” không có lực lượng chính trị nào ngoài Đảng cộng sản có đủ năng lực, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, uy tín để lãnh đạo nhân dân thực hiện được mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự. Thực tiễn lịch sử cũng minh chứng ở Việt Nam, Đảng cộng sản đã phát huy cao độ nền dân chủ XHCN, một nền dân chủ đem lại, bảo vệ quyền và lợi ích tối cao của nhân dân, của cả dân tộc. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ngay sau Cách mạng tháng Tám, Hiến pháp năm 1946 quy định rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Chính nền dân chủ đó đã huy động được sức mạnh toàn dân tộc đoàn kết giữ vững nền độc lập và đánh thắng “hai đế quốc to”, đưa nước nhà đi lên theo con đường XHCN. Thực hiện sự nghiệp đổi mới, ngay từ Đại hội VI, Đảng đã coi “làm chủ tập thể XHCN là bản chất của chế độ dân chủ XHCN” và xác định cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” để quản lý toàn xã hội. Các đại hội Đảng bổ sung và được khẳng định ở trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên CNXH (tháng 1.2011): “Tiếp tục hiện thực nền dân chủ XHCN đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Phát huy dân chủ với sức mạnh toàn xã hội, Việt Nam có bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực để có được “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia, các nước đều tôn trọng thể chế chính trị của nhau. Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam được Tổng thống Hoa Kỳ và nhiều nước đón tiếp với nghi thức trọng thể nguyên thủ quốc gia, Việt Nam được bầu ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc với số phiếu gần tuyệt đối, chứng tỏ thế giới tôn trọng và ủng hộ thể chế chính trị chỉ duy nhất Đảng Cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, vấn đề lớn đặt ra với Đảng đó là tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, thoái hóa, xa dân… nên Đảng nêu ra nhiệm vụ then chốt là phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, hết sức coi trọng việc đấu tranh với các loại cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vẫn biết trong thời đại ngày nay thuận lợi, thách thức và nguy cơ đan xen, trong đó có nguy cơ tập trung xuyên tạc vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng thực tiễn trên 90 năm qua đã cho thấy không một thế lực nào có thể chống phá được vì Đảng được cả dân tộc thừa nhận, được nhân dân tôn vinh là “Đảng ta”. Đảng có đường lối đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu, vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên mà được cả dân tộc thừa nhận là Đảng ta tất cả vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảng huy động được sức mạnh của dân tộc và thời đại, thực hiện khát vọng đưa đất nước phát triển bền vững, hùng cường, thịnh vượng từng bước hướng tới mục tiêu thành nước XHCN phát triển có thu nhập cao, thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “sánh vai cùng cường quốc năm châu”.

QUANG TRUNG-NGUYỄN HUỆ VÀ LỜI HỊCH VANG VỌNG NON SÔNG!

     Mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, bằng một cuộc công phá chiến lược, chỉ trong 5 ngày đầu xuân, đạo quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ đã quét sạch 29 vạn quân Thanh đang say sưa "ngủ trọ" tại Bắc Hà ra khỏi bờ cõi, làm nên một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Đại thắng mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 được tạo nên bằng sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước của cả dân tộc dưới sự chỉ huy tài tình của người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại thôn Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành, huyện Hoài Nhơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), con trai thứ hai của ông Hồ Phi Phúc. Tổ tiên của Nguyễn Huệ quê Nghệ An theo chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp. Năm 1771, tuy mới 18 tuổi nhưng chứng kiến cảnh lầm than cực khổ của người dân quê nhà và không chịu nổi sự chuyên quyền của Quốc phó Trương Phúc Loan, Nguyễn Huệ đã bàn bạc với anh là Nguyễn Nhạc, em là Nguyễn Lữ lên vùng Tây Sơn thượng đạo xây dựng căn cứ dựng cờ khởi nghĩa. Tại đây, nhờ có sách lược khôn khéo mà phong trào của 3 anh em họ Nguyễn nhanh chóng thu hút được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong vùng. Thế và lực của nghĩa quân Tây Sơn phát triển nhanh chóng. Mùa thu năm 1773, Nguyễn Huệ chỉ huy một đạo quân đánh chiếm thành Quy Nhơn rồi sau đó lần lượt tiến đánh Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Thuận... Chỉ trong một thời gian ngắn, dưới sự chỉ huy mưu lược của Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ một vùng rộng lớn từ Quảng Nam vào tận Bình Thuận...

Có thể nói, trong khoảng thời gian đầy biến động của lịch sử từ năm 1771 đến 1788, trên hành trình tiến tới thống nhất đất nước, dưới sự chỉ huy tài ba của Nguyễn Huệ, phong trào Tây Sơn đã hoàn thành việc xóa bỏ chính quyền cát cứ nhà Nguyễn ở Đàng Trong, làm chủ toàn bộ phần lãnh thổ phía Nam, đồng thời xóa bỏ ranh giới chia cắt Đàng Trong-Đàng Ngoài; tiêu diệt chính quyền cát cứ họ Trịnh, làm chủ phần lãnh thổ Đàng Ngoài; xóa bỏ chính quyền bù nhìn vua Lê... Những thành quả nổi bật mang đậm dấu ấn Nguyễn Huệ đặt cơ sở thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất đất nước sau đó.

Cuối năm 1788, Lê Chiêu Thống ươn hèn rước 29 vạn quân Thanh kéo vào giày xéo nước ta. Nhận được tin cấp báo của Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm lúc này đang chỉ huy trấn giữ phòng tuyến Tam Điệp-Biện Sơn, ngày 25-11 năm Mậu Thân (22-12-1788), tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung; đồng thời làm lễ xuất quân ra Bắc để chặn đứng cuộc xâm lăng của quân Thanh. Trên dọc đường hành binh, đạo quân của Quang Trung đã tăng lên một cách nhanh chóng. Ra đến Thọ Hạc (Thanh Hóa), Quang Trung cho binh sĩ dừng chân nghỉ ngơi và tổ chức lễ thệ sư. Tại buổi lễ long trọng và linh thiêng này, đứng trước ba quân, vua Quang Trung dõng dạc tuyên bố: "Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" (Đánh cho lịch sử muôn đời biết nước Nam anh hùng là có chủ).

Trước khi bước vào cuộc sống mái với quân Thanh, Quang Trung tổ chức cho các chiến binh Tây Sơn được ăn Tết trước. Đúng nửa đêm Ba mươi tháng Chạp, đạo hùng binh của Quang Trung mở cuộc tiến công hạ đồn Gián Khẩu (Ninh Bình), 3 ngày sau hạ tiếp đồn Hà Hồi. Với thế tiến công như chẻ tre, mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), Quang Trung đã chỉ huy nghĩa binh tập trung lực lượng đánh trận quyết định tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở Ngọc Hồi và Đống Đa. Quân Thanh đang mải vui chơi tiệc tùng thì bỗng nhiên quân Tây Sơn "như từ trên trời rơi xuống", tướng Tây Sơn "như từ dưới đất chui lên". Cả bọn hốt hoảng khiếp sợ, người không kịp mặc áo giáp, kẻ không kịp đóng yên ngựa, tranh nhau tháo chạy tán loạn. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử ở Đống Đa; Hứa Thế Hanh và Thượng Duy Thăng bị giết chết; còn chủ tướng Tôn Sỹ Nghị và đám tay chân phải cuốn gói chạy về nước.

Thuở ấy, ngày dựng nêu, đêm trừ tịch, đúng thời khắc Giao thừa, Quang Trung phát lệnh tiến công. Đúng như lời hứa trước ba quân, sau 5 ngày đầu xuân chiến thắng thần tốc, Quang Trung cho mở tiệc khao quân. Ngày hạ nêu, nhân dân thành Thăng Long mừng vui khôn xiết, nào bánh chưng, nào thịt mỡ, dưa hành... được mang hết cả ra cùng vui xuân. Nhân dân quây quần nhảy múa, ca hát bên nghĩa quân Tây Sơn cùng nhau đón một cái Tết muộn-Tết chiến thắng, hòa bình. Hoa đào Nhật Tân đỏ tươi ngập tràn xen lẫn tấm áo bào sạm màu khói súng của người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ và nghĩa binh Tây Sơn càng tô đậm thêm sắc xuân, đúng như Ngô Ngọc Du đã miêu tả: "Đầy thành già trẻ mặt như hoa".

Là một thủ lĩnh của phong trào nông dân nhưng Quang Trung-Nguyễn Huệ lại có tầm nhìn chiến lược hết sức sắc sảo. Sau trận đại phá quân Thanh, Quang Trung chủ trương dùng biện pháp ngoại giao để làm thất bại âm mưu thâm độc nhằm thôn tính Đại Việt của nhà Thanh. Để nhanh chóng khôi phục quan hệ bang giao giữa hai nước, có thời gian củng cố tiềm lực và xây dựng lại đất nước, Quang Trung đã cử một phái đoàn do Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích dẫn đầu sang Trung Quốc giảng hòa với nhà Thanh.

36 tuổi lên ngôi Hoàng đế, Quang Trung đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên chiến thắng lẫy lừng Xuân Kỷ Dậu 1789, quét sạch 29 vạn quân Thanh, giải phóng đất nước và lập nên một triều đại Tây Sơn tiến bộ. Ông ra chiếu khuyến nông, kêu gọi người dân ly tán trở về quê tiếp tục sản xuất, khai khẩn đất hoang; xuống chiếu giảm thuế cho dân nghèo. Ông cho đúc tiền để lưu thông hàng hóa; rồi cho lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm làm tài liệu dạy học. Ông cũng xúc tiến việc xây dựng Vĩnh Doanh (Vinh, Nghệ An) làm Phượng Hoàng trung đô... Đáng tiếc là mọi hoài bão cháy bỏng và kế hoạch tái thiết đất nước đang bắt đầu được nhen nhóm, triển khai thì ngày 16-9-1792, Quang Trung đột ngột băng hà khi mà tài năng đang ở đỉnh cao của độ chín.

Quang Trung-Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự mà còn là vị thủ lĩnh có tài dùng người. Ông từng nói "một cây gỗ không chống nổi tòa nhà to", "mưu lược một kẻ sĩ không dựng được cuộc thái bình...", chính vì vậy mà sau khi đánh đuổi giặc Thanh, Quang Trung đã ban chiếu mời gọi nhân tài, kêu gọi quan liêu lớn nhỏ, dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu lược hay giúp ích cho đời đều được cho phép dâng thư tỏ bày công việc. Quang Trung dùng người không câu nệ thành phần xuất thân là quan lại cũ của triều Lê-Trịnh; cũng không câu nệ là người Đàng Trong hay Đàng Ngoài, miễn là có tài và có tâm thực sự. Nhiều tên tuổi lớn, cựu thần nhà Lê đã được ông cảm hóa và thu phục, trở thành những cộng sự đắc lực của Quang Trung và rường cột cho chính quyền Tây Sơn lúc bấy giờ. Điều đáng nói là Quang Trung thành thật thu dùng họ và biết biến họ từ đối lập thành những người cộng sự tích cực, đóng góp lớn cho triều đại này.

Hơn 230 mùa xuân đã trôi qua nhưng mảnh đất Thăng Long-Đông Đô nghìn năm văn hiến, sông nước Tiền Giang, Rạch Gầm-Xoài Mút và nhiều vùng quê yêu dấu của nước Việt vẫn âm vang chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Quang Trung-Nguyễn Huệ cùng đoàn hùng binh Tây Sơn dũng mãnh yêu nước dưới ngọn cờ của ông./.

Ảnh: Ngày mồng 5 Tết hàng năm có hàng nghìn người nô nức dâng hương và tham dự Lễ kỷ niệm Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa tại gò Đống Đa (Hà Nội)..

Môi Trường ST.

SỰ THẬT CÁI GỌI LÀ "XÔ ĐỨC HỢP TÁC NUỐT CHỬNG BA LAN"!

        Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức Quốc Xã mở cuộc tiến công xâm lược Ba Lan. Đà tiến công mạnh mẽ của Đức và phương thức bố trí phòng thủ cứng nhắc của Ba Lan khiến họ thất bại nhanh chóng. Sau 10 ngày kháng cự, chính quyền Ba Lan đương thời trốn khỏi Warsaw. Liên hệ với những sự kiện sâu xa hơn của lịch sử, thì nước Nga Xô Viết đã kí hòa ước Riga 1921, qua đó Tây Ukraine và Tây Belarus thuộc về Ba Lan. Sau khi chánh quyền Ba Lan trốn khỏi Warsaw thì như một điều tất yếu, các vùng đó sẽ thuộc phạm vi kiểm soát của Liên Xô. Mà thực tế Liên Xô mới bắt đầu tái chiếm Tây Ukraine và Tây Belarus vào ngày 17/9/1939 thì hành động này của Liên Xô tuyệt đối không phải xâm lược mà là lấy lại những gì thuộc về mình. 

P/S: Ignacy Mościcki là tổng thống Ba Lan từ 1926 đến 1939, cái câu này là tôi tự bịa ra thôi chứ ông ta hổng có nói như thế đâu./.

Yêu nước ST.

VIỆT NAM CHÍNH XÁC LÀ ĐẤT NƯỚC RA NGÕ GẶP ANH HÙNG !!!

     Chắc chắn những nhân vật tôi kể dưới đây, họ rất ngại khi bị gắn với mỹ từ “anh hùng”. Nhưng những gì họ làm thì không thước phim nào lột tả hết được.

Anh Nguyễn Ngọc Mạnh chạy xe tải, mặc bộ quần áo chả có gì đặc biệt. Quần công nhân cũ và áo phông bạc màu. Anh cũng chưa từng được học kĩ năng gì cao siêu để mà lên tivi. Vậy mà trong 5 phút a cứu sống cháu nhỏ 3 tuổi.

Anh thanh niên trong clip này cũng thế. Lúc leo lên mái tôn đang nóng rãy anh còn chả đi dép hay giày, chân dính bùn. Và trên người mặc chiếc áo đồng phục của con. Vậy mà trong gang tấc, anh lao vào đám cháy đang ngùn ngụt, cứu sống bé gái mắc kẹt ở trong nhà.

Cả hai anh chắc chắn cũng đều chả quen biết gì bố mẹ của hai cháu nhỏ, chỉ là người qua đường thấy có tai nạn thì xả thân giúp đỡ. Và họ cũng không làm những việc này để người khác phải mang ơn mình. Đấy chỉ đơn giản là lòng trắc ẩn, hào hiệp gặp tình huống thì có dịp phát tiết.

Những ngày về sau, chúng ta sẽ còn nhắc mãi về những tấm gương người tốt việc tốt này bằng nhiều từ đẹp đẽ. Không chỉ nhiều mạng người được cứu sống, mà những câu chuyện như này còn giúp chúng ta tin rằng phép màu vẫn có thật, lòng tốt vẫn luôn tồn tại./.

Môi Trường ST.

TỔNG THỐNG PUTIN ĐÃ PHÁ TAN CÂU CHUYỆN PHƯƠNG TÂY NÓI VỀ "NƯỚC NGA SUY YẾU"!

        Sau nhiều năm cầm quyền, Tổng thống Vladimir Putin đã phá tan câu chuyện phương Tây nói về một "quốc gia yếu kém" thời hậu Xô viết và thậm chí buộc phương Tây phải tuân theo các quy tắc của Nga.

Các tác giả Eugene Rumer và Andrew S. Weiss đã có bài viết trên tờ The Wall Street Journal của Mỹ rằng, đã đến lúc các nước phương Tây nên từ bỏ quan niệm rằng Nga là một “quốc gia yếu kém” mà người ta (phương Tây) có thể áp đặt quan điểm của mình.

Hai ông Eugene Rumer và Andrew S. Weiss nói rằng, trong hai nhiệm kỳ tổng thống và hai nhiệm kỳ Thủ tướng kéo dài đã 23 năm của mình (và có thể còn lên đến hơn 30 năm, nếu ông tái cử và thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2024), ông Vladimir Putin đã cố gắng làm hầu hết mọi điều để củng cố vị thế của Moscow trong các lĩnh vực quan trọng.

Theo họ, nhà lãnh đạo Nga đã xây dựng được một vị thế chính trị vững chắc trên chính trường Nga; vực dậy nền kinh tế, đưa nó chuyển mình theo hướng giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt; hiện đại hóa lực lượng vũ trang, biến quân đội Nga từ “lạc hậu, chỉ cậy vũ khí hạt nhân” thành một lực lượng tinh nhuệ, hiện đại bậc nhất thế giới.

Về đối ngoại, Putin đã cải thiện thương mại nhiên liệu quốc tế, tập hợp các quốc gia thân thiện xung quanh đất nước mình và tuyên bố rõ với các đối tác phương Tây rằng, điều kiện chính của Nga đối với NATO là Liên minh phải từ bỏ việc mở rộng sang phía Đông.

Theo hai nhà phân tích này, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã thổi bay những câu chuyện của phương Tây về nước Nga hậu Xô viết như “một cường quốc đang hấp hối” và phá tan mọi hoài nghi về khả năng Moscow có thể chiếm được một vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.

Theo hai ông Eugene Rumer và Andrew S. Weiss nhận xét, vị nguyên thủ quốc gia Nga từ lâu đã rút ra được những bài học cuộc sống mà ông học được trên những con đường quanh co của thành phố Leningrad những năm 1960, ví dụ như: "Nếu cuộc chiến tranh sắp xảy ra thì phải tấn công trước".

Dưới bàn tay lèo lái của Putin, nước Nga đã trở lại như một cường quốc hàng đầu thế giới, không còn là kẻ dễ bị bắt nạt hoặc dắt mũi.

Các nhà báo Rumer và Weiss nhớ lại rằng, vào năm 2007, các nhà lãnh đạo phương Tây đã không nghiêm túc thực hiện các yêu cầu mà ông Putin đưa ra tại Hội nghị An ninh Munich, đồng thời hứa cho Ukraine và Gruzia gia nhập Liên minh Bắc Đại Tây Dương và chỉ vài tháng sau, Gruzia nổ ra cuộc xung đột với Nga ở Nam Ossetia.

Kết quả là Mỹ và NATO đã không thực hiện các cam kết của mình, khoanh tay đứng nhìn Gruzia thất bại trong “Cuộc chiến tranh 5 ngày” tháng 8/2008, khiến 2 vùng lãnh thổ của nước này là Abkhazia và Nam Osetia đã tuyên bố ly khai và được Nga công nhận là các quốc gia độc lập.

Tuy nhiên, Washington vẫn không nhận ra những sai lầm của mình và tiếp tục sai lầm trong nhiều năm sau, phớt lờ những cảnh báo của Moscow về giới hạn của “Lằn ranh đỏ”, khi biến Trung Quốc trở thành một trong những ưu tiên an ninh hàng đầu của mình.

Sau cuộc đảo chính trên Quảng trường Độc Lập ở Kiev tháng 2/2014 (Maidan 2014) để lập ra một chính phủ thân phương Tây, bán đảo Crimea đã do Nga quản lý, trong khi 2 tỉnh ở vùng Donbass-miền Đông Ukraine đã tuyên bố ly khai khỏi đất nước và thành lập 2 quốc gia tự xưng là Cộng hòa Nhân dân Donetsk (DPR) và Cộng hòa Nhân dân Lugansk (LPR).

Hiện nay, Moscow còn đang có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, ở đất nước Venezuela; trong việc chấm dứt chiến tranh và tìm kiếm hòa bình ở Syria, Ukraine; trong việc khôi phục Thỏa thuận Hạt nhân Iran 2015 (còn được gọi là “Kế hoạch Hành động chung Toàn diện - JCPOA”)…

Có thể nói rằng, vai trò chủ đạo và vị thế quan trọng của Nga trong giải quyết các sự vụ trên thế giới là điều không phải bàn cãi, các nước phương Tây không thể gạt Nga ra khỏi chính trường quốc tế.

Ông Putin mới đây đã tái hiện các yêu sách của mình với NATO tại hội nghị Munich năm 2007, trong các cuộc đàm phán về thỏa thuận an ninh mới với Mỹ (10/1), NATO (12/1) và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (13/1). Những bài học của quá khứ vẫn còn nóng hổi, hy vọng rằng Washington sẽ tỉnh ngộ và sửa chữa những sai lầm./.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đã khôi phục một nước Nga hùng mạnh.

Yêu nước ST.

TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI NGƯỜI TRONG PHÒNG CHỐNG F0

 


Những ngày gần đây, diễn biến tình hình dịch COVID-19 trên cả nước Việt Nam nói chung, thủ đô Hà Nội nói riêng đang có những dấu hiệu phức tạp trở lại khi số ca F0 đang ngày càng tăng và trong số đó phần lớn là ở ngoài cộng đồng. Nguy hiểm hơn khi biến chủng Omicron được cho là lây lan nhanh chóng hơn Delta rất nhiều lần và nếu không may biến chủng này xuất hiện ở Việt Nam sẽ là những thách thức lớn cho công tác phòng, chống dịch trong bối cảnh tình hình mới hiện nay. Vì vậy cần:

Thứ nhất, cần phải tiếp tục thực hiện tiêm chủng đối với các em học sinh ở các độ tuổi theo khuyến cáo của Bộ Y tế trong phạm vi vaccine đã được phân bổ, bởi lẽ khi chỉ khi bao phủ vaccine thì việc học trực tiếp ở các bậc mới có thể triển khai như bình thường. Đồng thời, cần tiếp tục tiêm chủng đối với những người chưa tiêm đủ 2 mũi vaccine và cần có lộ trình, kế hoạch cụ thể để tiêm mũi thức 3 khi được Bộ Y tế phân bổ vaccine. Hiện nay, tỷ lệ bao phủ vaccine ở thủ đô Hà Nội tương đối cao với tỷ lệ tiêm chủng 2 mũi vaccine ở mức trên 95%. Chính vì đạt được bao phủ vaccine nên gần đây nhiều ca F0 không có triệu chứng, có thể điều trị tại nhà hoặc ở tuyến y tế cấp cơ sở.

Thứ hai, tiếp tục có những hướng dẫn cụ thể để thực hiện có hiệu quả việc cách ly đối với những trường hợp có liên quan đến dịch COVID-19, đặc biệt là giám sát chặt chẽ đối với các trường hợp F1 cách ly tại nhà. Để làm được vấn đề này, ngoài việc tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân thì việc phát huy hiệu quả của hệ thống chính trị ở cơ sở hay các Tổ COVID-19 cộng đồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng để có thể ngăn chặn được các nguồn lây nhiễm ra ngoài cộng đồng.

Thứ ba, mỗi người dân thủ đô cần tiếp tục thực hiện nguyên tắc 5K, đặc biệt là việc đeo khẩu trang nơi công cộng cũng như hạn chế việc tụ tập đông người để tránh nguy cơ lây lan dịch ra ngoài cộng đồng.

Để đảm bảo an toàn cho bản thân, gia đình và xã hội, ý thức của mỗi người dân trong chấp hành các biện pháp phòng, chống dịch là rất quan trọng và mang tính chất quyết định đến thành, bại của cuộc chiến chống lại “giặc COVID-19”.  St.

 

 

NHỮNG LỜI CẢNH BÁO CỦA BÁC HỒ

 


Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

Đó còn là những biểu hiện thể hiện rõ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, như: "Bệnh tị nạnh-Cái gì cũng muốn “bình đẳng”... Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng; “Bệnh kiêu ngạo-Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”; “Bệnh hiếu danh-Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay... Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”; "Bệnh cận thị-Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ... chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn"; "Bệnh "cá nhân"... Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng... Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình..." Bên cạnh đó, "Bệnh xu nịnh, a dua-Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái"; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”... Những cán bộ, đảng viên mang trong mình các biểu hiện tiêu cực, các tật bệnh xấu này chính là những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, “hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ở trên đều là "con đẻ" của chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn là "kẻ địch nội xâm", kẻ thù của người cách mạng. Những cán bộ, đảng viên có suy nghĩ và hành động tiêu cực này là những người không chỉ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật mà còn coi thường công tác dân vận (không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, ngày càng rời xa quần chúng, làm trái ngược nguyên tắc phải gắn bó mật thiết với nhân dân...). St.

 

Tổng Bí thư: Việt Nam đã thành công chiến lược vắc xin "đi sau về trước"

 

Tổng Bí thư: Việt Nam đã thành công chiến lược vắc xin "đi sau về trước"

Đến thời điểm này, có thể khẳng định là chúng ta đã thực hiện thành công chiến lược vắc xin "đi sau về trước" với chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước đến nay. Đó là khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 5/1.

Khái quát tình hình đất nước năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trong bối cảnh khó khăn chồng chất khó khăn đó, Chính phủ, chính quyền các địa phương và toàn hệ thống chính trị đã cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực.

Nổi bật là ứng phó, kiềm chế, kiểm soát được dịch bệnh, từng bước chuyển sang trạng thái "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19". “Đến thời điểm này, có thể khẳng định là chúng ta đã thực hiện thành công chiến lược vắc xin "đi sau về trước" với chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước đến nay”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Nếu đầu tháng 5/2021, nước ta mới có được vài trăm nghìn liều vắc xin, thì đến nay đã có khoảng 200 triệu liều vắc xin với tỉ lệ bao phủ 1 mũi 99,6%; tỉ lệ bao phủ 2 mũi vắc xin cho người từ 18 tuổi trở lên là 90,9% (là 1 trong 6 nước có độ bao phủ vắc xin cao nhất thế giới).

Hiện chúng ta đang tích cực tiêm mũi 3 và tiêm cho trẻ em từ 12 - 17 tuổi với tỉ lệ bao phủ tiêm 1 mũi là 85,6%, tiêm 2 mũi là 57% và sẽ tiêm vắc xin cho trẻ từ 5 đến 11 tuổi vào đầu năm nay.

“Vào những thời điểm khó khăn, thử thách gay gắt nhất của dịch bệnh, tinh thần đại đoàn kết của toàn dân tộc ta lại càng được phát huy mạnh mẽ. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch đã bám sát địa bàn, tận tâm, tận lực, không ngại gian khổ, hiểm nguy, ngày đêm làm việc với tinh thần "tất cả vì sức khỏe, tính mạng của nhân dân", Tổng Bí thư nói.

Điểm nổi bật nữa theo Tổng Bí thư là nước ta đã nỗ lực duy trì, phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều điểm sáng tích cực. Trong đó, nền kinh tế nước ta tiếp tục được đánh giá là nền kinh tế phát triển ổn định, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Mặc dù tăng trưởng kinh tế quý 3 âm 6% do đợt bùng phát dịch lần thứ tư, nhưng sang quý 4 đã đạt mức tăng 5,22%, cao hơn cùng kỳ năm 2020 (4,61%) và cả năm ước tăng 2,58%. Thu ngân sách nhà nước vẫn tăng 16,4%, cao hơn mức tăng 11,3%. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá năm 2021 đạt mức kỷ lục 668,5 tỉ USD, tăng 22,6%  (đưa Việt Nam trở thành 1 trong 20 nước có nền kinh tế đứng đầu thế giới về thương mại); cán cân thương mại duy trì xuất siêu năm thứ 6 liên tiếp, đạt khoảng 4 tỉ USD…

“Trước kia, chúng ta có mấy chục triệu dân, làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất không đủ nhập. Bây giờ chúng ta gần 100 triệu dân, không những làm đủ ăn mà còn xuất khẩu. Đó là điều chúng ta rất đáng tự hào. Tại sao tôi vẫn thường nói chưa bao giờ đất nước có cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín như ngày hôm nay là vì thế”, Tổng Bí thư khẳng định.

Ngoài ra, Tổng Bí thư cũng ghi nhận, trong khó khăn, chúng ta vẫn tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội.

Bên cạnh đó, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, nâng cao hiệu quả; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định tiếp tục được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước… Kịp thời đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Đáng chú ý là hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng, triển khai đồng bộ, toàn diện, linh hoạt, hiệu quả và đạt nhiều kết quả quan trọng, nổi bật là hoạt động ngoại giao vắc xin.

Tổng Bí thư nhắc lại các chuyến công du của Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội gần đây đều được tính toán và đạt nhiều kết quả không chỉ về mặt chính trị mà còn đẩy mạnh các hoạt động kinh tế.

“Chắc không phải ngẫu nhiên, Đảng Cộng sản Liên Bang Nga trao tặng cho Tổng Bí thư ta giải thưởng Lê Nin. Trên thế giới cũng chỉ được có mấy người. Đây là vinh dự của Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta và tôi chỉ là người thay mặt nhận”, Tổng Bí thư chia sẻ.

Đề cập đến trường phái đối ngoại “Cây tre Việt Nam” và nhắc lại câu thơ “thân gầy guộc lá mong manh, mà sao nên lũy nên thành tre ơi”, Tổng Bí thư phân tích: “Rất mỏng manh nhưng dẻo dai lắm, kiên cường lắm, bão không quật đổ được đâu. Lạt làm từ tre, lạt mềm nhưng buộc chặt. Tre thành búi, thành khóm, thành lũy. Một đường lối ngoại giao có lý luận, có kinh nghiệm thực tế, có truyền thống dân tộc”.

Ngoài ra, Tổng Bí thư đánh giá, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả nổi bật, ấn tượng, có sự chuyển biến rất tích cực, nâng cao rõ rệt về chất.

Bên cạnh những kết quả đạt được, theo Tổng Bí thư cũng cần thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, bất cập. Trong đó, tăng trưởng kinh tế cả năm chỉ đạt 2,58%, thấp hơn so với mục tiêu đề ra (6%), công tác phòng, chống dịch có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng…

Về nhiệm vụ năm 2022, Tổng Bí thư nhấn mạnh đến việc kiểm soát tốt dịch bệnh gắn liền với phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Theo đó, Tổng Bí thư yêu cầu tiếp tục theo dõi sát sao, nắm chắc các diễn biến của tình hình dịch bệnh trên thế giới và trong nước, đặc biệt là nguy cơ từ các biến chủng mới để kịp thời có chính sách, biện pháp ứng phó phù hợp.

Trong đó, Chính phủ tập trung ưu tiên thực hiện chương trình tổng thể về phòng, chống dịch Covid-19 để sớm thực sự thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của các cấp, các ngành ngay từ đầu năm 2022.

Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch tiêm vắc xin; đảo đảm đủ vắc xin, thuốc, sinh phẩm, trang thiết bị y tế phòng, chống dịch… “Tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác”, Tổng Bí thư căn dặn.

Đồng thời, Chính phủ tập trung thực hiện có hiệu quả chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thực hiện nhất quán mục tiêu kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế.

Ngoài ra, Tổng Bí thư cũng lưu ý, tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống…

Tổng Bí thư yêu cầu, tiếp tục đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương.

“Xây dựng Chính phủ, chính quyền các địa phương thật sự trong sạch, liêm chính, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hoá, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức”, Tổng Bí thư yêu cầu.

Trong đó, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc nghiêm trọng, xã hội quan tâm.

“Vẫn phải coi đây là nhiệm vụ then chốt. Không thể bảo vì dịch Covid-19 mà dừng lại, không dám làm cái nọ cái kia là không đúng”, Tổng Bí thư lưu ý.

Tổng Bí thư đề nghị, chúng ta lâu nay đã đổi mới, sáng tạo thì tới đây càng phải đổi mới, sáng tạo hơn nữa. Nhà nước ta nói chung, Chính phủ, chính quyền các địa phương nói riêng lâu nay đã liêm chính, kỷ cương, hoạt động hiệu lực, hiệu quả rồi thì tới đây càng phải liêm chính, kỷ cương, hoạt động hiệu lực, hiệu quả cao hơn nữa.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, nhất trí, chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn vừa qua rồi thì tới đây càng phải đoàn kết, nhất trí, chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu cao hơn nữa.

Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể hoàn thành được những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho năm 2022, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng, hùng cường.