Thứ Hai, 17 tháng 1, 2022

Hợp tác phòng chống Covid-19: Điểm sáng mới trong quan hệ Việt-Trung

 

Hợp tác phòng chống Covid-19: Điểm sáng mới trong quan hệ Việt-Trung

Đại sứ Phạm Sao Mai nhận định, hợp tác phòng chống dịch Covid-19 là một điểm sáng mới trong quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì đà phát triển ổn định, tích cực trên nhiều lĩnh vực.

Xin Đại sứ cho biết những nét nổi bật trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2021?

Năm 2021, tình hình quốc tế, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; dịch bệnh Covid-19 tác động tiêu cực, nhiều chiều tới chính trị, kinh tế toàn cầu, nhưng với nỗ lực chung của cả hai bên, quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc về tổng thể tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định, tích cực, đạt nhiều thành quả quan trọng trên các lĩnh vực.

Một là, tin cậy chính trị được tăng cường; giao lưu, tiếp xúc cấp cao diễn ra thường xuyên với nhiều hình thức linh hoạt. Sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2021), Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội hai nước lần lượt có các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, đưa ra những định hướng lớn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi Việt Nam - Trung Quốc phát triển ổn định, lành mạnh trên các lĩnh vực.

Hợp tác, giao lưu kênh Đảng, Ngoại giao, Quốc phòng, Công an và các địa phương biên giới hai nước tiếp tục được tăng cường. Hai bên tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 13 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc (tháng 9/2021).

Mới đây nhất, đầu tháng 12/2021, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn thăm chính thức Trung Quốc. Hai bên đã điểm lại tình hình hợp tác hai Đảng, hai nước trong năm qua, thảo luận về các biện pháp cụ thể nhằm triển khai hiệu quả nhận thức chung đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước, đưa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc không ngừng phát triển đi vào chiều sâu và thực chất.

Hai là, hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư tăng trưởng ấn tượng, mang lại lợi ích thiết thực cho các địa phương, doanh nghiệp và người dân hai nước.

Mặc dù dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực, làm gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực, nhưng kim ngạch thương mại Việt - Trung vẫn tăng trưởng với tốc độ hai con số.

Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2021, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 165,8 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước; còn theo thống kê của Hải quan Trung Quốc, kim ngạch hai chiều lần đầu tiên vượt ngưỡng 220 tỷ USD, đạt 230,2 tỷ USD, tăng 19,7%.

Với kết quả này, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam; Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác thương mại lớn thứ 6 của Trung Quốc trên thế giới.

Về đầu tư, tính lũy kế đến 20/12/2021, Trung Quốc có 3.125 dự án đầu tư với tổng vốn đạt 21,34 tỷ USD, đứng thứ 7 trong tổng số 141 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Vướng mắc trong một số dự án hợp tác đang từng bước được tháo gỡ.

Ba là, hợp tác phòng chống Covid-19 trở thành điểm sáng mới trong hợp tác song phương. kể từ khi dịch bệnh bùng phát đến nay, hai bên dành cho nhau sự hỗ trợ, hợp tác kịp thời, hiệu quả ở các cấp, đóng góp tích cực cho công tác phòng chống dịch bệnh và khôi phục tăng trưởng kinh tế ở mỗi nước.

Bốn là, trong vấn đề biên giới lãnh thổ, hai bên đã phối hợp chặt chẽ, triển khai hiệu quả các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới, xử lý thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì hòa bình, ổn định biên giới trên bộ.

Về vấn đề trên biển, hai bên duy trì thông suốt các kênh đối thoại, đàm phán, nỗ lực kiểm soát bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Năm là, tại các diễn đàn đa phương, Việt Nam và Trung Quốc tích cực phối hợp nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác tại khu vực và trên thế giới, nhất là tại diễn đàn ASEAN và Liên hợp quốc; ủng hộ lẫn nhau tham gia các tổ chức quốc tế.

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn một số tồn tại như: nhập siêu của Việt Nam còn lớn; hàng hóa Việt Nam, nhất là hàng nông sản, gặp khó khăn trong tiếp cận thị trường Trung Quốc; thông quan hàng hóa tại cửa khẩu có lúc chưa thông suốt…

Với những vấn đề này, hai bên duy trì trao đổi thẳng thắn qua nhiều kênh nhằm tìm kiếm giải pháp tháo gỡ. Trung Quốc nhiều lần khẳng định không theo đuổi xuất siêu trong quan hệ thương mại với Việt Nam, bày tỏ sẵn sàng mở rộng nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, nhất là hàng nông sản, cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho thông quan hàng hóa Việt Nam tại cửa khẩu biên giới.

Như tôi đã nói ở trên, hợp tác phòng chống Covid-19 là điểm sáng mới trong quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong giai đoạn đầu khi Trung Quốc gặp khó khăn trong phòng chống dịch bệnh, Việt Nam đã kịp thời viện trợ cho Trung Quốc số vật tư, thiết bị y tế có tổng trị giá 600 nghìn USD. Một số bộ, ngành, các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam hỗ trợ hiệu quả vật tư y tế cho các bộ, ngành và địa phương biên giới Trung Quốc.

Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp tại Việt Nam, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp Trung Quốc đã chung tay viện trợ một lượng lớn vaccine và vật tư, thiết bị y tế hỗ trợ Việt Nam phòng chống dịch.

Tính đến ngày 30/12/2021, Trung Quốc đã cam kết viện trợ 7,3 triệu liều vaccine cho Việt Nam, trong đó 6,5 triệu liều đã bàn giao, 800 nghìn liều đang trong quá trình hoàn tất thủ tục.

Đồng thời, Trung Quốc cũng đáp ứng tối đa nhu cầu của Việt Nam về việc mua thương mại và bàn giao một lượng lớn vaccine trong thời gian ngắn kỷ lục; cam kết viện trợ cho Việt Nam số vật tư y tế có tổng giá trị hơn 10 triệu USD, trong đó nhiều lô hàng đã được chuyển giao cho phía Việt Nam.

Có thể nói, hợp tác Việt Nam và Trung Quốc về phòng, chống dịch bệnh là hình ảnh thu nhỏ, biểu hiện sinh động của quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, tinh thần đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn giữa hai Đảng, hai Chính phủ, nhân dân hai nước; góp phần tăng cường hơn nữa tin cậy chính trị, củng cố nền tảng vững chắc cho quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.

Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc rất coi trọng công tác ngoại giao vaccine, sớm thành lập Nhóm Taskforce về ngoại giao vaccine với nhiệm vụ chủ động, linh hoạt, sáng tạo, tận dụng tất cả các kênh, vận động Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam lượng vaccine ngừa Covid-19 và thiết bị vật tư y tế nhiều nhất, nhanh nhất, sớm nhất có thể.

Trên tinh thần đó, Đại sứ quán đã làm tốt công tác tham mưu, tư vấn cho Chính phủ và các đơn vị chức năng trong nước; phối hợp với các Cơ quan đại diện của ta tại Trung Quốc tích cực vận động các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp Trung Quốc cùng tham gia hỗ trợ vaccine và vật tư y tế cho Việt Nam; giữ liên hệ 24/7 với các đầu mối trong nước và sở tại, tích cực thúc đẩy, theo sát tiến độ và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình ký kết hợp đồng, vận chuyển và bàn giao vaccine.

Có thể nói, công tác ngoại giao vaccine thời gian qua đã được Đại sứ quán triển khai khẩn trương, nghiêm túc, có hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đóng góp trực tiếp cho công tác kiểm soát dịch bệnh ở trong nước.

Trong quá trình đó, Đại sứ quán luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Tổ trưởng Tổ công tác Chính phủ về ngoại giao vaccine, sự phối hợp nhiệt tình, hiệu quả của các đơn vị chức năng trực thuộc Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế…

Một nhân tố rất quan trọng khác đóng góp cho thành công của ngoại giao vaccine Việt Nam tại địa bàn Trung Quốc thời gian qua là sự quan tâm, ủng hộ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của phía Trung Quốc, từ trung ương tới các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp.

Đặc biệt, trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh Trung Quốc (ngày 1-10/10 hằng năm), các cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao, Cục Hàng không Dân dụng Trung Quốc vẫn túc trực 24/7, phối hợp chặt chẽ với Đại sứ quán, bảo đảm việc vận chuyển, bàn giao vaccine diễn ra thuận lợi, suôn sẻ và trong thời gian sớm nhất.

 

Nhận diện những thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và giải pháp phòng, chống

 

Nhận diện những thủ đoạn  của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và giải pháp phòng, chống

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra cho Đảng ta nhiều thách thức. Các thế lực thù địch, phản động ra sức tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng trên mọi phương diện, bằng mọi biện pháp, hòng phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong giai đoạn hiện nay; phủ nhận tính hợp pháp và tính chính đáng của Đảng; làm phai nhạt niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; gây mất an ninh tư tưởng, chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội, cản trở sự nghiệp cách mạng nước ta.

Những luận điệu công kích, chống phá của các thế lực thù địch, phản động rất đa dạng, song về cơ bản, tập trung theo hai hướng:

Thứ nhất, phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Các thế lực thù địch, phản động viện dẫn lý do thời đại máy hơi nước và chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã kết thúc, nhường chỗ cho thời đại của các cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thời đại của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Chúng xuyên tạc rằng ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không bắt kịp và phản ánh đúng sự phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại; cả ba vị lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đều xuất phát từ bối cảnh lịch sử của phương Tây, vì vậy, lý luận của các ông không thể giải quyết được các vấn đề có tính lịch sử và thời đại của các nước phương Đông, nhất là ở Việt Nam. Họ còn xoáy sâu vào những hạn chế mang tính lịch sử trong quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, để công kích và xuyên tạc, như dự báo chưa chính xác về việc nổ ra cách mạng vô sản trong thời đại của mình (chủ yếu là quan điểm của C.  Mác và Ph. Ăng-ghen); đánh giá không đầy đủ về sức sống tương đối lâu dài của chủ nghĩa tư bản, dự đoán quá sớm về tiến trình chiếm lĩnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới; chưa đánh giá đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của vấn đề dân tộc trong quan hệ với lợi ích giai cấp; hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn chưa đầy đủ...

Để chỉ ra sự phi lý của những luận điệu phủ nhận và xuyên tạc nêu trên, cần thấy rõ rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học xã hội, khoa học nhân văn, vì thế, nó mang đặc trưng tích lũy, kế thừa, chứ không mang đặc trưng thay thế như những tri thức thuộc ngành khoa học - kỹ thuật và công nghệ. Do vậy, nói chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời là một sự quy chụp không có căn cứ. Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ hiện đại ngày nay vốn không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa tư bản; ngược lại, nó làm cho những mâu thuẫn đó càng thêm sâu sắc. Điều này được biểu hiện cụ thể trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại, như mâu thuẫn giữa tư bản và lao động tiếp tục tồn tại và gia tăng, khoảng cách giàu - nghèo mở rộng, phân phối của cải không công bằng, nạn thất nghiệp tăng lên, nhiều vấn đề xã hội trở nên trầm trọng... Trong khi đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, ở xã hội xã hội chủ nghĩa, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và khoa học, công nghệ sẽ góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất và cơ hội phát triển tự do, toàn diện cho con người, đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một học thuyết mở, luôn tiếp nhận những thành tựu lý luận mới và không ngừng hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Do đó, trách nhiệm của các đảng cộng sản, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin gắn với điều kiện, đặc điểm của quốc gia, dân tộc mình, khắc phục những hạn chế lịch sử của nó do tính thời đại chi phối...

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động tập trung tấn công tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện. Họ xuyên tạc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng của Người không được coi là một hệ thống. Dựa vào những luận điểm của Người có tính bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và bao hàm sự kế thừa những giá trị tư tưởng tiến bộ của nền cộng hòa Pháp và Mỹ, các thế lực thù địch, phản động quy kết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, không mang bản chất mác-xít, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trên thực tế, đây là một sự xuyên tạc vô căn cứ, bởi tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo đất nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, bởi vậy, sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là hành vi chính trị chống Đảng. Do đó, đấu tranh trên trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng, trước hết, không gì khác hơn là bảo vệ đến cùng những thành quả tư tưởng, lý luận mà C.  Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu, đúc kết và kiểm nghiệm trong thực tiễn. Muốn vậy, chúng ta cần nêu cao nhận thức và thực hiện những yêu cầu cơ bản như sau:

1- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thi đua lao động, hoàn thành mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Áp dụng phương châm: “Lấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hội làm chỗ dựa vững chắc cho nền tảng tư tưởng của Đảng”. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có thể tồn tại và phát triển khi đem lại những giá trị thực tiễn cho cách mạng Việt Nam, và đến lượt mình, những giá trị thực tiễn của cách mạng nước ta lại góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2- Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, giáo dục và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin và Chủ tịch  Hồ Chí Minh; đồng thời, bổ sung, làm rõ thêm những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận. Bản thân những nhà nghiên cứu mác-xít, những người làm công tác lý luận nên nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng những tác phẩm nguyên bản của C.  Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I.  Lê-nin..., từ đó phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán thực tiễn của xã hội hiện đại đang đặt ra; tránh lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, kinh viện, và áp dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, thiếu sáng tạo, làm cho chủ nghĩa Mác  - Lê-nin ngày càng bị xơ cứng, xa rời thực tiễn.

3- Tăng cường đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân; phát huy ý thức tự giác, hành động tích cực và trách nhiệm của mỗi người trong đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận. Quan tâm nghiên cứu các học thuyết chính trị ngoài mác-xít trên tinh thần vừa phê phán, vừa tiếp thu những giá trị hợp lý của các học thuyết ấy, nhằm góp phần phát triển, bổ sung và làm phong phú thêm cho hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và giải quyết tốt hơn những vấn đề thực tiễn đang đặt ra.

Tránh lối tư duy máy móc, giáo điều chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức xem đó là vùng “cấm kỵ”, không thể bổ sung, phát triển được gì nữa; hoặc đóng cửa, biệt lập với các trào lưu tư tưởng tiến bộ khác, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng mất dần sức sống, sức chiến đấu và giảm tính thuyết phục.

CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG ĐẤU TRANH VỚI CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG.

       Tại Hội nghị tổng kết Công tác Tuyên giáo năm 2021, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương phát biểu ( đại ý ) : đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động là phải chủ động tiến công, chứ không thể phòng ngự mãi.

      Thế lực thù địch, phản động ?
      Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết 35/BCT ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về " Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới "  đồng chí Võ Văn Thưởng Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương ( nay là Thường trực Ban Bí thư ) chỉ rõ : cùng với lực lượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị bên ngoài; nhóm " thế lực thù địch " thứ 3 đã tấn công gây ra không ít thiệt hại cho đất nước. Nhóm " thế lực thù địch " thứ 3 bao gồm đảng viên kể cả những đảng viên từng giữ chức vụ trung - cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa được xác định là " thế lực thù địch " nguy hiểm nhất, khó đấu tranh nhất và gây hậu quả nghiêm trọng nhất. Nhóm này nguy hiểm ở chỗ : nhận diện, bóc mẽ bản chất, lột mặt nạ không hề  đơn giản. Vì họ sống trong lòng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Họ như con lươn, con chạch có khả năng chui sâu, leo cao, luồn lách trong bộ máy Đảng, nhà nước nắm quyền lực, nên tác động mà hành vi sai trái của đối tượng này gây ra là rất lớn. Mặt khác, đây là những người từng là đồng chí, đồng đội của ta, khi đưa ra xử lý cũng khiến cho hình ảnh của cơ quan, tổ chức, đơn vị bị tác động không nhỏ. Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực tiến hành kiên quyết, kiên trì kịp thời phát hiện, phanh phui, đưa ra xử lý kỷ luật Đảng và trong đó, có người đã xử lý về. Họ là đảng viên, cán bộ biến chất, phá hoại đất nước như Vũ Văn Ninh, Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Bắc Son, Trương Mình Tuấn, Nguyễn Văn Hiến, Tất Thành Cang.v.v...thật sự không hề dễ.  " Thế lực thù địch " thứ 3 không hề nhỏ tham ô, nhũng nhiễu, hách dịch, cửa quyền khiến nội bộ lục đục, mất đoàn kết, hiệu quả công tác chỉ huy, chỉ đạo không cao dẫn đến nhiều sai phạm. Một số cán bộ hưu trí nảy sinh tư tưởng công thần đòi hỏi ưu tiên, hưởng thụ. Khi yêu sách không được chấp nhận thì bất mãn, có hành vi chống phá.

       Chủ động tiến công thế lực thù địch, phản động.
       Đất nước ta đứng trước thời cơ, cơ hội mới để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội XIII của Đảng. Văn kiện Đại hội khẳng định : " kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng Đảng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng ". Quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị Trung ương 4/Khoá XIII ban hành Kết luận số 21 về : " Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Hội nghị nhận diện đầy đủ, sâu sắc hơn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và suy thoái về đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ " . Bổ sung, hoàn thiện, ban hành Quy định mới số 37 về " Những điều đảng viên không được làm " và một số quy định khác.
        Cụ thể hóa nghị quyết, quy định của Đảng, ngày 5/1/2022 Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành Công văn 2274 CV/BTGTW gữi các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương " v/v đặt tên đường, phố, công trình công công liên quan đến một số nhân vật lịch sử còn có ý kiến trái chiều ". Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng yêu  các tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Quy định tại Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 91/2005/NĐ.CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên đường, phố, công trình công cộng. 
         Cụ thể, không xem xét lấy tên Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký đặt tên cho đường, phố, công trình công cộng. Chỉ đặt tên " Danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức, có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như của địa phương hoặc có đóng góp đặc biệt cho đất nước, có công lớn trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, phát huy tình hữu nghị giữa các dân tộc, được nhân dân suy tôn và thừa nhận ". " Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên đường, phố, công trình công cộng ".
          Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, phản động, cơ hội chính trị và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là cuộc chiến khổng lồ, phức tạp. Đòi hỏi chúng ta phải chủ động tiến công mạnh mẽ, kiên quyết và triệt để ./.
     -------------
PT-TG. st



Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội

 Sau 4,5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm cao, Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội (QH) khóa XV đã thành công và bế mạc vào tuần qua.

Thế nhưng một số đối tượng thù địch và những kẻ chống đối lại hậm hực trước kết quả của kỳ họp, đưa ra những chiêu trò xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò của QH, chia rẽ QH với Chính phủ...

Họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách

Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri trong những ngày đầu năm mới 2022 là Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ cho biết, trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của đất nước và công tác chuẩn bị, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức QH và các nghị quyết Kỳ họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhằm kịp thời xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế-xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ kịp thời cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Trước đó, tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên được tổ chức tại QH Việt Nam,  Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Bùi Văn Cường khẳng định: Theo quy định của pháp luật, QH có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách. Trong đổi mới hoạt động QH, chúng ta phải xem cách thức vận hành và hoạt động của nghị viện các nước cũng thế. Khi cần phải họp để thông qua thì họ cũng đã có những hình thức như vậy.

Tổng thư ký QH cũng nêu quan điểm, QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách. Theo đó, khi có những việc cần thiết, cấp bách, cần giải quyết sớm thì QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường bên cạnh hai kỳ họp thường kỳ, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, phục vụ cho phát triển đất nước, bảo đảm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không bị ách tắc; thể hiện sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH, nhiều vấn đề cấp bách của đất nước đã được cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân giải quyết.  

Chăm chú theo dõi kỳ họp bất thường của QH, TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, đại biểu QH khóa IX, XII và XIII nhận xét: “Đây là kỳ họp với nhiều nội dung hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ cho năm 2022 mà cho cả giai đoạn 2021-2025, được cử tri, nhân dân và dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trên cả nước. Để góp phần khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hệ quả của đại dịch Covid-19, tại kỳ họp, QH đã có những quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư, phát triển. Tôi đánh giá cao việc QH thông qua "một luật sửa 9 luật" để giải quyết những vấn đề căn cơ, bất cập của luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội. Đây là sự tháo gỡ căn bản về thể chế.

Trên cơ sở đó, các văn bản pháp quy khác của Chính phủ sẽ điều chỉnh, tạo thuận lợi tốt hơn cho môi trường sản xuất, kinh doanh. Các nội dung cụ thể được sửa đổi, bổ sung lần này liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, công tác bảo vệ an ninh mạng, thi hành án dân sự, thực hiện chính sách xã hội hóa vào hệ thống truyền tải điện quốc gia, khuyến khích đầu tư sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường... Đáng lưu ý, luật đã tháo gỡ các thủ tục, điểm nghẽn trong hấp thụ nguồn vốn cũng như trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động kinh tế hiện nay”.

Thực tế của kỳ họp bất thường là vậy, cử tri và đồng bào cả nước đều có thể theo dõi các phiên họp qua những phương tiện thông tin đại chúng với rất nhiều kênh truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Vậy mà vẫn có một số người lại cố tình xuyên tạc nội dung, bản chất của kỳ họp. Họ rêu rao trên mạng xã hội, phát biểu trên một số phương tiện thông tin đại chúng của nước ngoài rằng: “QH họp bất thường để tạo cơ sở pháp lý cho việc tham nhũng chính sách”, “QH họp bất thường vì lợi ích nhóm”, “QH họp bất thường có bình thường không vào lúc này?”...

Quốc hội họp bất thường không vi hiến

Trên mạng xã hội, có người còn diễn giải rằng: “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật”... Họ không biết (hoặc cố tình không biết) trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 2 của Điều 83 đã hiến định: “QH họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”. Luật Tổ chức QH tại Điều 90 cũng quy định rõ: “QH họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”.

Như vậy, việc QH họp bất thường đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức QH. Không phải “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật” như lý lẽ của một số người.

Cũng có người cho rằng “QH họp bất thường nên không có thời gian chuẩn bị”, “Các đại biểu QH phụ thuộc hoàn toàn vào giải trình của ban soạn thảo khi quyết định bấm nút”... Thực tế không phải như vậy. Vào đúng ngày kết thúc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV (13-11-2021), trước những vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn, UBTVQH đã đề nghị Chính phủ trình hồ sơ 5 nội dung để có cơ sở xem xét, đề xuất việc tổ chức kỳ họp bất thường của Quốc hội (ban đầu dự kiến vào cuối tháng 12-2021).

Chiều 22-11-2021, UBTVQH cho ý kiến bước đầu về tổ chức kỳ họp này. Ngày 10-12-2021, tại phiên họp của UBTVQH, ông Bùi Văn Cường, Tổng thư ký QH đã báo cáo về 3 phương án tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH và đã được nhiều đại biểu cho ý kiến. Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh: “Thống nhất chủ trương có một kỳ họp bất thường, song các nội dung cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tránh trường hợp vừa phê duyệt, sửa đổi song phát sinh bất cập”. Chủ tịch QH yêu cầu tất cả các cơ quan liên quan phải sát sao, công khai, vô tư, khách quan, minh bạch, không được để sơ suất gì trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp này.

Chính vì phải chuẩn bị kỹ lưỡng nên kỳ họp mới lùi sang đầu năm 2022.

Tại kỳ họp bất thường, với tinh thần trách nhiệm cao trước đất nước, đồng bào và cử tri, trên cơ sở các tờ trình, báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của QH, với gần 1.100 lượt đại biểu phát biểu qua 3 phiên thảo luận tổ và 3 phiên họp toàn thể trực tuyến, các đại biểu QH đã tập trung nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp rất nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, chất lượng, có tính xây dựng. “Các cơ quan của QH, Chính phủ và cơ quan có liên quan đã nỗ lực tối đa, không quản ngày đêm trong việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ, nghiêm túc các ý kiến của đại biểu để QH xem xét, biểu quyết thông qua 1 luật và 4 nghị quyết với sự thống nhất rất cao, góp phần vào thành công thực chất của kỳ họp”, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp.

Dấu ấn từ những quyết sách chưa có tiền lệ

QH khóa XV mới có nửa năm hoạt động nhưng đã để lại dấu ấn với những quyết sách chưa từng có tiền lệ để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ nhiều lần khẳng định, QH sẽ không để xảy ra tình trạng "bắc nước sôi chờ gạo người", không chờ các dự án luật được các cơ quan soạn thảo trình sang xong mới cho ý kiến, mà QH sẽ giữ vai trò chủ động dẫn dắt công tác lập pháp, vào cuộc từ sớm, từ xa, thậm chí "đặt hàng" cho các cơ quan Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật.

Trên cơ sở đề xuất của Đảng đoàn QH, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ QH khóa XV, đây là cơ sở hết sức quan trọng để QH và các cơ quan chủ động hơn, vào cuộc từ sớm, từ xa, phối hợp chặt chẽ bảo đảm tiến độ, chất lượng công tác xây dựng pháp luật.

Trong kỳ họp đầu tiên, QH khóa XV đã ban hành 29 nghị quyết. Tại kỳ họp thứ 2, QH đã thông qua 2 luật, 12 nghị quyết, cho ý kiến 5 dự án luật và quyết định rất nhiều vấn đề quan trọng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Tại kỳ họp thứ nhất, QH đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15 trao quyền chủ động mạnh mẽ cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được quyết định và tổ chức thực hiện một số giải pháp cấp bách đặc biệt, đặc thù, đặc cách để ứng phó kịp thời với dịch Covid-19. Trường hợp cần thiết phải ban hành quy định về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật thì trong thời gian QH không họp, Chính phủ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn trước khi thực hiện. Nghị quyết đã thể hiện sự vào cuộc quyết liệt, quyết tâm của QH nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, được cử tri và dư luận cả nước đồng tình, đánh giá cao.

Để góp phần khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội, kỳ họp bất thường lần đầu tiên của QH đã được tổ chức, đưa ra quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư phát triển. Việc tổ chức kỳ họp đã cho thấy sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, sự phát triển của đất nước.

Là đại biểu QH nhiều khóa, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, nguyên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, QH khóa XV có rất nhiều đổi mới trong hoạt động. QH không chỉ song hành với Chính phủ mà trong một số hoạt động, QH còn đóng vai trò dẫn dắt, những đề án, dự án luật không chỉ từ cơ quan Chính phủ đề xuất mà các cơ quan của QH, UBTVQH còn đưa ra những đòi hỏi, định hướng, gợi ý, đề nghị đối với Chính phủ. “Hoạt động của QH đã bám sát được những động thái quan trọng nhất, những yêu cầu quan trọng nhất của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Với việc luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn, QH có thể có những kỳ họp bất thường vào bất cứ thời gian nào để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh, đáp ứng mong mỏi của cử tri cả nước. Đây cũng chính là phong cách làm việc mới của QH...”, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng QH nhận xét: “Tôi thấy QH khóa này có vẻ dẫn dắt nhiều hơn. Ví dụ, diễn đàn kinh tế thường niên của QH đã bàn thẳng vào các vấn đề thuộc về chính sách phục hồi kinh tế, trong đó có chính sách tài khóa, tiền tệ. Thảo luận các vấn đề kỹ trị quan trọng như bơm tiền vào như thế nào và làm sao để rút ra mà không gây các tác động tiêu cực về vĩ mô. Rồi phục hồi du lịch ra sao trong hoàn cảnh dịch bệnh còn có thể kéo dài. Khuôn khổ tư duy, tầm nhìn, các ưu tiên được hình thành từ đây và vang lên ở kỳ họp QH...".

Ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, đông đảo cử tri và thực tế diễn ra là minh chứng, là lời phản bác đanh thép cho những chiêu trò xuyên tạc về Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

ĐỖ PHÚ THỌ

Qdnd.vn

“Phúc trình toàn cầu 2022” - sự lạc lõng của HRW

Trong bản “Phúc trình toàn cầu 2022” đưa ra ngày 13/1/2022, tổ chức Theo dõi Nhân quyền - HRW một lần nữa soạn lại điệp khúc chống phá Việt Nam khi cho rằng, năm 2021, “chính quyền Việt Nam trừng phạt một cách có hệ thống các nhà hoạt động dám thách thức tình trạng đàn áp”.

Bản phúc trình viết rằng, Nhà nước Việt Nam “đã tống giam ít nhất là 63 người vì bày tỏ chính kiến hoặc tham gia các nhóm bị coi là chống chính quyền, trong số đó có nhiều người đã bị các bản án rất nặng nề sau các phiên xử bất công”.

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á châu của tổ chức HRW vu cáo: “Chính quyền Việt Nam núp bóng đại dịch COVID-19 để tiến hành đàn áp nặng tay đối với các hoạt động ôn hòa khiến đa số các vụ đàn áp không được thế giới biết đến. Dường như chính quyền muốn xóa sổ phong trào bất đồng chính kiến đang lớn mạnh bằng các án tù khắc nghiệt trước khi thế giới quan tâm chú ý đến Việt Nam trở lại”.

“Phúc trình toàn cầu 2022” dài 752 trang, là bản phúc trình lần thứ 31 mà tổ chức HRW tự cho mình quyền đánh giá việc thực thi nhân quyền trên thế giới, với danh sách liệt kê không đầy đủ, khoảng gần 100 quốc gia.

Giám đốc Điều hành của HRW Kenneth Roth cho rằng, trong thời gian gần đây, lần lượt diễn ra ở nhiều quốc gia hiện tượng rất đông người xuống đường bất chấp các nguy cơ bị bắt hay bị bắn đã cho thấy “mong muốn sống trong thể chế dân chủ vẫn còn mạnh mẽ”.

Ông Kenneth Roth vu cáo chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm ngặt các quyền dân sự và chính trị cơ bản, trong đó có các quyền tự do biểu đạt, ngôn luận, thông tin, lập hội và nhóm họp ôn hòa cũng như quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng.

Xuyên tạc ở Việt Nam không có tự do báo chí, cho rằng “Những người công khai phê phán chính quyền hay lãnh đạo Đảng Cộng sản trên mạng xã hội thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị sách nhiễu, đe dọa, theo dõi gắt gao, cản trở quyền tự do đi lại, bị hành hung thân thể và bắt giữ.

Sau khi bị bắt vì thực hiện các quyền của mình, họ phải đối mặt với nguy cơ bị thẩm vấn thô bạo, bị tạm giam trong thời gian dài mà không được tiếp xúc với luật sư hay gia đình và bị xét xử bởi các tòa án mang động cơ chính trị, đưa ra các án tù càng ngày càng nặng nề”.

Để minh chứng cho những cáo buộc trên, bản phúc trình đưa ra những “dẫn chứng” như: “Vào tháng giêng, ba thành viên của Hội Nhà báo Việt Nam độc lập - Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn - bị xử có tội và bị kết án từ 11 đến 15 năm tù.

Vào tháng năm, một tòa án xử nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Cấn Thị Thêu và con trai bà, Trịnh Bá Tư, cộng tác viên của Nhà xuất bản Tự do, mỗi người 8 năm tù. Vào tháng bảy, nhà văn Phạm Chí Thành bị xử 5 năm rưỡi tù giam. Tháng mười, một tòa án ở Cần Thơ kết tội và xử án 5 thành viên Báo Sạch - Trương Châu Hữu Danh, Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng, Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã - từ 2 đến 4 năm rưỡi tù giam.

Vào tháng mười hai, các tòa án xử blogger nổi tiếng Phạm Đoan Trang 9 năm tù giam, các nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Trịnh Bá Phương 10 năm tù giam và Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù giam, nhà vận động dân chủ Đỗ Nam Trung 10 năm tù giam và ứng cử viên chính trị độc lập Lê Trọng Hùng 5 năm tù giam.

Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 117 (hoặc Điều 88) hoặc tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước theo Điều 331, Bộ luật Hình sự”.

Điểm qua những nội dung trên của bản phúc trình cũng như phát ngôn của những cá nhân có liên quan cho thấy, tất cả chỉ là “bình mới rượu cũ”, chỉ khác về thời gian và một số cái gọi là “dẫn chứng” được đưa ra, còn lại bản chất chống phá, xuyên tạc thì không có gì thay đổi.

Bao trùm toàn bộ bản phúc trình vẫn là sự cố tình đánh tráo vấn đề dân chủ, nhân quyền bằng cách tập hợp, gom lại một loạt các vụ án hình sự mà cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam đã, đang xử lý. Tổ chức này cố tình gán ghép vấn đề báo chí vào các bị can, bị cáo đã bị khởi tố, điều tra, xét xử để lấy cớ vu cáo Việt Nam “bắt giữ nhà báo”, “tống giam người bất đồng chính kiến”, tiếp tục gọi số đối tượng này là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”…

Về những vụ án mà bản phúc trình liệt kê nói trên, như đã phân tích trong nhiều bài viết trước đây, những đối tượng như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn thì không thể gọi đó là hành động “bắt giữ nhà báo”, “tống giam nhà báo”, “bịt miệng nhà báo” mà đây là những cá nhân ở thời điểm bị bắt, xử lý không hoạt động tại cơ quan báo chí nào, không có danh nghĩa nào về hoạt động báo chí theo quy định của Luật Báo chí.

Ngược lại, đây là những người xưng là báo chí để lợi dụng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền như viết, đăng tải các bài viết, hình ảnh lên internet với nội dung xuyên tạc sự thật nhằm chống phá chính quyền nhân dân. Các hành vi này phạm các tội quy định tại Bộ luật Hình sự và bị cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo luật định, không thể gán ghép vấn đề “tù  nhân chính trị” hay “tù nhân lương tâm” vào các vụ án. 

Thực tế, năm 2021 ghi dấu ấn rất đậm nét về việc đảm bảo quyền con người của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình là các nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chính sách phòng, chống COVID-19, nhất là các hoạt động giúp người yếu thế, người bị ảnh hưởng do đại dịch, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Cùng với đó, nhiều thành tựu có ý nghĩa lớn như ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 để tranh thủ những thành quả của Cách mạng công nghiệp 4.0, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, từ đó chuyển đến mô hình phát triển một cách hiệu quả, bền vững, giúp người dân thực hiện tốt hơn các quyền y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế và quyền tham gia xây dựng pháp luật, nhà nước pháp quyền.

Một dấu ấn nữa của Việt Nam là bảo đảm quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 47 diễn ra tháng 7/2021, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) đã thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu và quyền con người do Việt Nam chủ trì cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất, trong đó chú trọng bảo đảm quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi.

Cũng trong năm 2021, Việt Nam đã lần đầu tiên xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III để gửi lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, qua đó thể hiện trách nhiệm, sự minh bạch và nghiêm túc của Việt Nam đối với UPR nói riêng và việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo đảm quyền con người nói chung.

“Việt Nam đã nỗ lực, quyết tâm rất cao trong việc bảo vệ quyền con người và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc” - bà Tatiana Valovaya, Tổng Giám đốc Văn phòng Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ) nhấn mạnh. Những thành tựu toàn diện trong phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế đã góp phần tạo nguồn lực cho việc bảo đảm thụ hưởng các quyền con người của người dân, thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng với những cam kết về lao động và phát triển bền vững.

Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của HRW thấy rằng, HRW chính là một trong những công cụ đắc lực trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng nhằm xóa bỏ chế độ XHCN. Lịch sử hình thành, hoạt động của HRW cho thấy, tổ chức này được lập ra để hoạt động chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền.

Điều này lý giải tại sao HRW lại thường xuyên có những hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam mà các bản phúc trình như trên là ví dụ. Dân chủ, nhân quyền vẫn được xem là một mũi nhọn trong chiến lược này và HRW coi đây là “ngòi nổ” để tìm cách lu loa, vu cáo dưới các dạng như báo cáo, phúc trình, thư ngỏ, thỉnh nguyện thư…

Do đó, khi kết thúc năm cũ, mở đầu năm mới, HRW lại ra phúc trình để “đánh giá tình hình nhân quyền” năm cũ với các nội dung sai lệch. Ý đồ của HRW là sự giả dối nói mãi sẽ khiến người ta tưởng là thật, từ đó tạo dư luận xấu về Việt Nam, lấy cớ gây sức ép, can thiệp. Tuy nhiên, việc Việt Nam ngày càng khẳng định uy tín, vị thế trên trường quốc tế, trong đó có thành tựu, uy tín về vấn đề nhân quyền khiến những âm mưu, thủ đoạn chống phá của những tổ chức như HRW rơi vào lạc lõng.

Nguyễn Thành

Cand.com.vn

Đại đoàn kết toàn dân tộc – Cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam

 

Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trải qua các thời kỳ cách mạng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết” là giá trị cốt lõi, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

NHÂN DÂN ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ THỂ, VỊ TRÍ TRUNG TÂM TRONG  QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1), đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”(2). Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”(3).

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”(4). Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(5).

Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”3. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(6). Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, có vai trò quyết định thành công của cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(7).

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; đồng thời quan tâm đến quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu.

TS. Lê Hải Bình
Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng,
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

Giá trị trường tồn của tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

  Thực tiễn cho thấy, sức sống mãnh liệt của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - giá trị văn hóa Hồ Chí Minh đã thấm vào tinh thần dân tộc, hun đúc nên giá trị văn hóa, đạo đức Việt Nam và lan tỏa không chỉ của dân tộc Việt Nam và còn hòa vào đời sống tinh thần của các dân tộc tiến bộ trên thế giới. Đó đã là chân lý, một sự thật hiển nhiên trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ấy vậy mà một số người lại vẫn cố tình xuyên tạc, bôi xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với sự chống lại sự phát triển, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, họ điên cuồng chống cả những giá trị tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời mình để cống hiến. Nhưng có một điều chắc chắn, cho dù những âm mưu và hành động xấu ấy của họ bấy lâu nay trên các diễn đàn, tán phát trên in-tơ-nét có nham hiểm, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể làm lung lay được sức sống bất diệt của giá trị văn hóa Hồ Chí Minh thể hiện trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà văn hóa lớn của thế giới. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo nên một giá trị văn hóa mới và được Người thổi vào mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nó. Giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam được minh chứng và thể hiện đầy đủ trong chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta; trong chính trị, kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội đất nước. Chính tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi đường dẫn dắt để dân tộc ta, nhân dân ta vượt kiếp lầm than nô lệ, làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Và cũng chính tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi đường dẫn dắt để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; một đại thắng mùa Xuân năm 1975 và trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại nghèo nàn và lạc hậu.

Ngày nay, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ngày càng được lan tỏa, tất cả đều vì sự phấn đấu cho một tương lai tươi sáng của dân tộc. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ tạo nên một nền tảng tinh thần vững chắc để huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc, cả quá khứ và hiện tại, kết hợp với sức mạnh thời đại để thúc đẩy đất nước tiến lên.

Đây là một thực tế khẳng định giá trị bất diệt của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và cũng là thông điệp về sự phát triển mà không thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc được./.