Thứ Tư, 19 tháng 1, 2022

 

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

 

Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam. Chúng trích dẫn một cách cắt xén, nửa vời những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài gài bẫy bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai. Chúng rêu rao rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam, giới lý luận và các nhà khoa học của ta đã dịch sai, hiểu sai quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen; đồng thời, chúng diễn giải lại theo cách hiểu xuyên tạc, méo mó, hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cùng với việc công kích trực tiếp vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền, cổ xúy du nhập các trào lưu tư tưởng cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan từ bên ngoài, kết hợp với kích động chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa bè phái, chủ nghĩa hưởng lạc từ bên trong, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị và xã hội.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các thủ đoạn thường được chúng sử dụng là: kích động đòi đất, đòi nơi thờ tự vô lối, đòi thực hành tôn giáo trái pháp luật; kích động giáo dân, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập biểu tình. Chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng chống đối triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước. Để tăng thêm sức lan tỏa, độ tin cậy của thông tin, chúng chú ý tập hợp, dẫn dụ những ý kiến, phát biểu gây “sốc” trái với đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước từ những đối tượng “dân túy”, tạo dựng ra cái gọi là chân dung “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “những cán bộ của nhân dân”,... nhằm trực tiếp tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai. Đáng chú ý, các đối tượng này triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để tung tin thất thiệt, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tổ chức tán phát các “thư ngỏ”, “tuyên bố”, “kiến nghị” để lôi kéo, kích động đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề dân chủ, nhân quyền.

Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên. ST

 

Bối cảnh mới tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta “đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (1). Quy mô, trình độ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Văn hóa, xã hội, con người phát triển toàn diện. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố vững chắc. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; quan hệ đối ngoại và quá trình hội nhập của đất nước ngày càng toàn diện, sâu rộng và được nâng lên ở một tầm cao mới. Đây chính là những nhân tố quan trọng, cơ bản nhất để củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là giá trị cốt lõi để nhân dân tin tưởng, tham gia bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” (2).

Đặc biệt, trong thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn.

Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng hằn học, điên cuồng tìm mọi cách để chống phá. Lợi dụng bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo, tình hình trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đi vào chiều sâu đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, trước đây chưa từng có, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị tăng cường, điên cuồng chống phá chúng ta. Chúng thay đổi phương thức, thủ đoạn chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng một cách tinh vi và xảo quyệt hơn. Hoạt động của chúng có lúc âm thầm, lẩn khuất, có lúc công khai, trắng trợn; thường tập trung vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trong nước, sự kiện đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, hoặc thời điểm xảy ra các vụ, việc phức tạp, nhạy cảm. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn này ở chỗ, chúng tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi, hoang mang, dao động, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý bức xúc, chống đối trong xã hội.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng in-tơ-nét, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Chúng tận dụng tối đa hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài, các kênh facebook, youtube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Chúng dựng lên các video clip, phóng sự có giao diện giống như của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo, đài chính thống để đưa tin. Mánh lới của chúng là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người.

Trong bối cảnh tiến hành đại hội đảng các cấp, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị càng tăng cường, ra sức nhào nặn, bóp méo thông tin, xuyên tạc, chống phá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng tập trung công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội, xuyên tạc rằng các văn kiện lần này vẫn là “bổn cũ viết lại”, “sao chép theo lối mòn”, không có gì mới, không biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại; các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng ta đưa ra trong dự thảo văn kiện là “bất khả thi”, “không có cơ sở để thực hiện”... Cùng với đó, chúng tấn công vào đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược; liên tục tung tin giả về thân thế, sự nghiệp, tài sản, “sai phạm” của lãnh đạo cấp cao; xuyên tạc công tác nhân sự của Trung ương, công tác phòng, chống tham nhũng,... hòng gây bất ổn chính trị - xã hội, gây ra những khó khăn, thách thức không nhỏ cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. ST

 

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng, đấu tranh phản bác các

quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ bối cảnh mới, những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ ý đồ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, luôn toan tính tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, lý luận trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta, với âm mưu cơ bản, lâu dài và rất thâm độc là xoay chuyển quỹ đạo phát triển của đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. ST

 

Quân đội đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng nước ta là nội dung rất quan trọng trong tiến hành công tác tôn giáo. Thực hiện nhiệm vụ này là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó phát huy vai trò của quân đội là việc làm thường xuyên, có tính cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam là âm mưu thâm độc, là “ngòi nổ” quan trọng của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Hiện nay, chúng tăng cường lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào các tôn giáo chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đối lập đồng bào các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng, gây rối loạn xã hội, mất ổn định chính trị, làm mất hiệu lực quản lý của Nhà nước....

Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng, đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”1.

 Quân đội đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay là yêu cầu tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của quân đội; từ yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ; từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Trong thời gian qua, quân đội đã thể hiện vai trò quan trọng, tham gia có hiêu quả vào việc đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Hiện nay, quân đội cần thực hiện nghiêm sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương: nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta.                          

Để tiếp tục phát huy vai trò quân đội tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các nội dung sau:

Mục tiêu xuyên suốt của quân đội đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta là góp phần cùng hệ thống chính trị làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó xâm phạm an ninh quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo sự ổn định chính trị, góp phần quan trọng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ thể tham gia đấu tranh, là toàn bộ các tổ chức, các lực lượng, mọi quân nhân trong quân đội, đặt trong cuộc đấu tranh chung của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước chỉ đạo, điều hành thống nhất, thường xuyên trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng, chính quyền, công an, đoàn thể chính trị - xã hội và quần chúng nhân dân địa phương. Mỗi tổ chức, lực lượng ở từng cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều là chủ thể của hoạt động đấu tranh. Tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, mỗi lực lượng trong quân đội có vai trò riêng, đều tham gia đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta.

Phương thức đấu tranh, sử dụng tổng hợp các phương thức đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, trong đó, lấy đấu tranh phi vũ trang là chính, mà cốt lõi là công tác vận động quần chúng, nhằm vô hiệu hoá sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phản động.

Phương châm đấu tranh là chủ động ngăn ngừa, lấy giáo dục thuyết phục, vận động là chính, lấy giữ vững sự ổn định chính trị, lợi ích quốc gia dân tộc làm điểm tương đồng để đoàn kết dân tộc, tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy; khi tham gia giải quyết các vấn đề phức tạp nảy sinh, các điểm nóng liên quan đến vấn đề tôn giáo phải xử lý kiên quyết, khôn khéo, thận trọng, đúng pháp luật, không để lây lan, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập, không để địch mượn cớ can thiệp; kết hợp chặt chẽ giữa “luật đạo” và “luật đời”, luật đạo phải trên cơ sở luật đời.

Nội dung đấu tranh, với tất cả các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo, diễn ra toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thế nào, diễn ra trên lĩnh vực nào, thì chúng ta đấu tranh vạch trần, vô hiệu hoá âm mưu, thủ đoạn diễn ra trên lĩnh vực đó. ST

 

Những thủ đoạn chính của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay

Nhận diện rõ những thủ đoạn chính của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay là nhằm góp phần ngăn chặn sự phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử xấu chống phá cách mạng Việt Nam, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, của nhân dân Việt Nam nói chung trong tiến trình đổi mới đất nước…

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam là cách làm, các biện pháp xảo trá, lừa lọc, có bản chất xấu xa của các thế lực thù địch nhưng được che đậy, bao bọc một cách tinh vi, làm cho người ta tin và làm theo. Vỏ bọc che đậy cho các hành vi, thủ đoạn xấu xa mà các thế lực thù địch thường dựa vào là các chiêu bài "nhân quyền", "dân chủ", "tự do", nhất là tự do tín ngưỡng, tôn giáo; những vấn đề do lịch sử để lại; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; hay thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương; những đặc điểm về văn hoá, đời sống tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân các dân tộc thiểu số... Nghĩa là, các thế lực thù địch triệt để tận dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể, để thực hiện những biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống, coi đó là điểm xuất phát trong thực hiện mưu đồ lớn và lâu dài của chúng.

Cách làm, biện pháp lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay là muôn hình, muôn vẻ, tuỳ theo điều kiện của mỗi dân tộc mà chúng có sự triển khai cụ thể khác nhau, nhưng chung nhất nổi lên mấy thủ đoạn chính sau đây:

Về lĩnh vực tư tưởng: Kẻ địch tập trung mũi nhọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trực tiếp nhất là quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, đặc biệt là những nội dung liên quan đến phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở miền núi, đến chính sách dân tộc; thổi phồng những thiếu sót của ta trong quá trình thực hiện các chính sách đó ở địa phương... nhằm vô hiệu hóa sự lãnh đạo của tổ chức đảng, của chính quyền địa phương để chúng dễ bề nắm dân, khống chế dân.

Đi liền với tuyên truyền xuyên tạc, chúng ra sức kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng ly khai dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đó là các hoạt động cụ thể như nhen nhóm, khuấy động, thổi bùng cái gọi là "quyền tự trị" của các dân tộc, yêu sách thành lập "Vương quốc riêng" của người Mông, người Chăm, người Khơ Me Nam Bộ, v.v... tung các tin thất thiệt về đời sống tâm linh và hiện thực ở các vùng đồng bào dân tộc sinh sống để tạo nên hàng loạt các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào luôn luôn không ổn định.

Chúng đã triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, chúng khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học; đồng thời cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc. Để truyền tải các nội dung tuyên truyền đến đối tượng, chúng đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, phát thanh và in ấn các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc; mặt khác dùng lối tuyên truyền "rỉ tai" từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thông qua các hoạt động thăm thân, nghiên cứu khoa học, hoạt động từ thiện của những người từ nước ngoài về hoặc những người có uy tín trong dòng họ, các chức sắc tôn giáo.

Về lĩnh vực tổ chức: Chúng ráo riết xây dựng các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Chúng đẩy mạnh xây dựng các tổ chức, lực lượng phản động lưu vong là người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động của nước ngoài và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ. Đó là các tổ chức như: "Mặt trận giải phóng Khơ Me Crôm", "Mặt trận Chămpa", "Mặt trận thống nhất đấu tranh của các chủng tộc bị áp bức"... Đây là những tổ chức phản động lưu vong được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn trên mọi phương diện.

Đi liền với việc xây dựng các tổ chức trên, một thủ đoạn khác của kẻ địch là đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức ở nước ngoài như "Hội người Mông quốc tế", "Liên hiệp người Mông tự trị", "Văn phòng Chămpa quốc tế", "Liên minh người Chăm tị nạn", "Hội người Khơ Me Crôm"... Các tổ chức này vừa tập hợp, phát triển lực lượng là người các dân tộc thiểu số ở ngoài nước, vừa hỗ trợ móc nối phát triển lực lượng ở trong nước ta; đồng thời tìm cách gây áp lực chống phá cách mạng nước ta. Mấy năm gần đây, mặc dù đã bị ta truy quét nhiều lần, tổ chức này vẫn tồn tại lay lắt, ngoan cố chống phá cách mạng và đã gây nhiều tội ác với đồng bào Tây Nguyên.

Hiện nay, FULRO (viết tắt 5 chữ đầu của tổ chức “Mặt trận thống nhất đấu tranh của ác chủng tộc bị áp bức” do Mỹ dựng nên từ trước năm 1975) đang ráo riết thực hiện âm mưu vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gieo rắc tư tưởng ly khai, đòi thành lập "Nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài can thiệp chống phá Việt Nam. Thủ đoạn chính mà chúng đang thực hiện là:

- Tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo để truyền đạo "Tin lành Đê Ga" - một tổ chức chính trị phản động của FULRO, và coi đây là ngòi nổ để thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ ở Tây Nguyên.

- Kích động, lừa bịp đồng bào dân tộc thiểu số vượt biên trái phép sang Campuchia, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tự do dân chủ, nhân quyền.

- Lợi dụng những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tiến hành lôi kéo, khống chế, mua chuộc họ thực hiện các kế hoạch chống phá cách mạng.

- Dùng tiền để kích động nhân dân chặt phá rừng, mua chuộc một số cán bộ thoái hoá biến chất, thổi phồng một số khuyết điểm, yếu kém của ta nhằm làm suy giảm niềm tin, gây sự nghi ngờ trong dân chúng, đẩy tới các hoạt động khiếu kiện; đồng thời tìm cách móc nối, cài cắm người của chúng vào bộ máy Đảng, Nhà nước.

- Liên kết với các thế lực phản động người nước ngoài, bọn phản động lưu vong người Việt, ngụy quân, ngụy quyền cũ... để chống phá cách mạng nước ta.

Nhận diện rõ những thủ đoạn chính của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay là nhằm góp phần ngăn chặn sự phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử xấu chống phá cách mạng Việt Nam, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, của nhân dân Việt Nam nói chung trong tiến trình đổi mới đất nước, phát triển kinh tế- xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. ST

 

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

“Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”. Là lời thư chúc năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 1-1-1952, đăng trên Báo Nhân dân ngày 03-1-1952.

Trong bối cảnh nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua gần 7 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc: “Nhân dịp Nguyên đán dương lịch năm 1952, tôi gửi lời thân ái chúc: Toàn thể đồng bào và kiều bào, toàn thể chiến sĩ, các anh chị em cán bộ, các cụ phụ lão, các vị thân sĩ, các cháu thanh niên, nhi đồng. Năm mới ra sức thi đua ái quốc để thu nhiều thắng lợi hơn năm cũ”.

 

Lời nhắn nhủ của Bác trong bức thư đầu năm mới thể hiện tấm lòng nhớ thương da diết và trân trọng của Người đối với đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài; khích lệ, khơi dậy, động viên, thôi thúc người dân trong và ngoài nước nêu cao truyền thống yêu nước, cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc.

Ngay khi đăng tải trên báo, lời chúc đầu năm mới của Người đã được các tầng lớp nhân dân, kiều bào, cán bộ, chiến sĩ quân đội đón nhận, chuyển hóa thành khẩu hiệu “hành động cách mạng”. Trên khắp tiền tuyến, hậu phương trong cả nước; cán bộ, chiến sĩ quân đội dấy lên phong trào thi đua học tập, huấn luyện, đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân cả nước, trên dưới đồng lòng, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn phản công chiến lược, tạo ra thế phát triển tiến công trên diện rộng; làm tiền đề đẩy nhanh thực hiện chiến cục Đông Xuân 1953-1954, mau chóng kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Nhớ lời Bác dạy năm xưa, mỗi dịp vui Xuân, đón Tết Nguyên đán của dân tộc, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi lời chúc năm mới tới toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, phát huy trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất của dân tộc, nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, đoàn kết thi đua yêu nước, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong những giờ phút thiêng liêng chuyển sang năm mới, tự hào vững bước dưới quân kỳ “Quyết chiến, quyết thắng”, cán bộ chiến sĩ Quân đội khắc sâu lời chúc năm mới của Bác; tin tưởng tuyệt đối vào vai trò lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm chắc tay súng, giữ vững biên cương, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống ấm no hạnh phúc của nhân dân. ST

 

Không lợi dụng dịch bệnh để thực hiện mưu đồ chính trị

Khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam thì trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, đó là việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam. Đằng sau sự xuyên tạc này là những mưu đồ chính trị, “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Tung tin giả, phá hoại thật

Tung tin giả để phá hoại thật là một trong những chiêu trò của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn thường áp dụng để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong đại dịch Covid-19, ngay từ đầu năm 2020, khi dịch mới xuất hiện, tin giả đã “ăn theo” virus khiến cho dư luận hoang mang. Gần đây, khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát với biến thể Delta vô cùng nguy hiểm, khiến nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tin giả cũng “tái bùng phát” trên mạng xã hội, thậm chí chúng còn đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài xuyên tạc công tác PCD ở Việt Nam.

Khi một số địa phương triển khai giãn cách xã hội, chúng vu cáo Việt Nam vi phạm về quyền tự do đi lại, cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thực hiện “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho cuộc sống của người dân”. Nguy hiểm hơn khi chúng phỏng vấn một số trường hợp người lao động tự do, cắt ghép, rồi “củng cố” cho những luận điệu xuyên tạc của mình.

Khi Chính phủ Việt Nam quyết định lập ra “Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19” với mục đích vô cùng tốt đẹp là tiêm vaccine miễn phí cho người dân thì chúng lại bóp méo sự thật rằng chính quyền không chủ động trong ứng phó dịch bệnh. Sử dụng video, clip bị cắt xén, lồng ghép những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận; đăng bài viết có tiêu đề giật tít, nhưng nội dung thì “không có gì” chỉ để tăng tỷ lệ tương tác, lượt like nhằm mục đích câu “view”, “đánh bóng tên tuổi” và sâu xa hơn là lợi dụng điều đó để nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ của chúng ta.

Theo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an), lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các đối tượng chống phá đã soạn thảo, tán phát hàng chục nghìn bài viết, bình luận sai sự thật chống Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự trên hàng trăm website và hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội. Nội dung tập trung vào các nhóm vấn đề: Xuyên tạc về diễn biến dịch, nguồn lây nhiễm, số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, công dụng của thuốc và vật tư y tế PCD, kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế; kích động, gây chia rẽ quan hệ ngoại giao Việt Nam với một số quốc gia; công kích, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các địa phương trong PCD, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người mắc bệnh và người có nguy cơ lây nhiễm. Chúng còn kêu gọi biểu tình, tẩy chay, phản đối việc cài đặt phần mềm Bluezone, kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài; kêu gọi tích trữ lương thực, thực phẩm, gây hoảng loạn trong quần chúng nhân dân; trục lợi kinh tế thông qua buôn bán, làm giả vật tư, thiết bị PCD...

Điển hình của việc “tung tin giả, phá hoại thật” là bức ảnh chụp nhiều thi thể nạn nhân trong bệnh viện. Ảnh được chụp ở một nước khác thì lại bị các đối tượng gán là “chụp ở Bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh” .

Không lợi dụng dịch bệnh để thực hiện mưu đồ chính trị

Từ phản biện thành phản bội

Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt bèn nêu ra quan điểm thoạt đầu nghe rất êm tai rằng “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”. Thế nhưng bản chất của chúng lại là phản bội lại Tổ quốc, phản bội lại nhân dân. Chúng “phán” rằng: “Dịch bệnh lan rộng ở Việt Nam có nguyên nhân sâu xa là do thể chế, do một đảng lãnh đạo, là vì chống dịch theo mô hình xã hội chủ nghĩa"... Đó là những cái nhìn phiến diện, đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với nhân dân. Thủ đoạn nham hiểm của chúng là biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến hiện tượng cá biệt thành bản chất.

Lợi dụng dịch bệnh, các đối tượng chống đối còn tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, phát triển lực lượng chống đối trong nước. Đáng chú ý, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tài trợ in hơn 1 triệu khẩu trang có hình lưỡi bò tán phát trong nước nhằm khuếch trương thanh thế; tán phát “Thư kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thả tù nhân trong đại dịch Covid-19”...

Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lợi dụng giãn cách xã hội để móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn, bất mãn xã hội, ảo tưởng chính trị để kích động, khoét sâu bất mãn với chính quyền, hứa hẹn “cấp phát nhà miễn phí”. 

Có lẽ chúng không biết hoặc cố tình không biết rằng, không phải ở Việt Nam mà ngay tại các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới cũng đều phải gặp khó khăn khi đối phó với đại dịch Covid-19.

Một số người còn cho rằng, Việt Nam gặp khó trong PCD là do thể chế, do chế độ, do một đảng lãnh đạo. Họ không hiểu thực tế là nếu không có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu nền kinh tế của chúng ta không vận hành theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chắc chắn việc phòng, chống dịch bệnh của chúng ta còn gặp khó khăn gấp rất nhiều lần, số người bị bệnh, số người tử vong chắc chắn sẽ rất lớn. Nhiều tổ chức quốc tế đã đánh giá như vậy.

Cũng cần phải nói thêm là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine ngừa Covid-19 đại trà cho toàn dân, coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này thể hiện tinh thần nhất quán “lo cho dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn.

Việt Nam là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao và là nước có tiềm lực kinh tế còn hạn hẹp, thế nhưng với phương châm: “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong gần hai năm qua. Cùng đó, chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo thường xuyên, kiên quyết và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ “ngoại giao vaccine”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chúng ta đã tổ chức khoanh vùng, dập dịch thành công ba đợt lớn và đang khống chế thành công đợt dịch thứ tư.

Nhìn lại kết quả công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận.

Tìm hiểu thực tế công tác PCD Covid-19 tại Việt Nam, mới đây, ông Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam đã đánh giá cao công tác PCD Covid-19 của Việt Nam. “Tôi hiểu rằng Chính phủ hiện đang cố gắng xây dựng lộ trình để Việt Nam thích ứng an toàn, linh hoạt với Covid-19 và tích cực chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi đất nước sang một trạng thái bình thường mới”, ông Kidong Park nói và đưa ra khuyến nghị, Chính phủ Việt Nam cần xem xét, xây dựng lộ trình thực hiện linh hoạt các biện pháp ngăn chặn thiệt hại về xã hội, kinh tế và sức khỏe do đại dịch gây ra.

Câu trả lời từ thực tế

Thực tế, sau thời gian nỗ lực phòng, chống, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đã từng bước được kiểm soát.

Cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp của Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19. Theo báo cáo của Bộ Y tế tại cuộc họp, tính đến ngày 24-9, trong đợt dịch lần thứ tư, cả nước đã ghi nhận khoảng 734.000 ca mắc, 503.000 người đã khỏi bệnh (69%) và hơn 18.000 ca tử vong. Tuần qua, cả nước ghi nhận 72.236 ca mắc, giảm 9,7% so với tuần trước đó; số ca tử vong trong tuần giảm 12,1% so với tuần trước đó. Đã có 16/63 tỉnh, thành phố qua 14 ngày không ghi nhận ca mắc mới, 5 tỉnh không có lây nhiễm thứ phát, có một tỉnh chưa ghi nhận ca mắc nào.

Đáng chú ý, tại 23 địa phương thực hiện giãn cách, tình hình dịch đang từng bước được kiểm soát; số mắc trong 7 ngày gần đây giảm 9,8% so với 7 ngày trước. Các địa phương khác tình hình cơ bản vẫn đang được kiểm soát.

 

Về tiêm chủng, tính đến hết ngày 24-9-2021, cả nước đã tiêm được 37,6 triệu liều vaccine, tỷ lệ sử dụng đạt 72% so với tổng số vaccine phân bổ, trong đó khoảng 22,3 triệu người đã tiêm 1 liều vaccine và 7,3 triệu người tiêm đủ 2 liều vaccine (tỷ lệ tiêm ít nhất 1 liều vaccine là 41,1% dân số từ 18 tuổi trở lên). Còn khoảng 14 triệu liều đang tiếp tục tiêm, trong đó có khoảng 10,5 triệu liều mới được phân bổ từ ngày 16-9-2021.

Trên cơ sở phân tích công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua, người đứng đầu Chính phủ đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cần thấm nhuần như: Không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là khi dịch chưa đến hoặc đã kiểm soát được tình hình, đồng thời tránh hoảng hốt, mất bình tĩnh khi dịch bùng phát, lây lan. Phải nhất quán, kiên trì trong lãnh đạo, chỉ đạo, song áp dụng linh hoạt vừa tập trung, vừa phân tán căn cứ đặc thù của từng địa phương, thời điểm. Việc phân cấp thực hiện phòng, chống dịch phải xuống tận cơ sở, lấy xã, phường, thị trấn là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ”, người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch. Tổ chức xét nghiệm tầm soát theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phòng dịch tốt, nhất là tại địa bàn, đối tượng có nguy cơ cao; thấm nhuần phương châm “một đồng phòng dịch hiệu quả thì không mất hàng triệu đồng chống dịch, chưa kể đến sức khỏe, tính mạng và nhiều mất mát khác”.

Như vậy, thực tế đã trả lời về hiệu quả công tác PCD Covid-19 của chúng ta.

Trên cơ sở hiệu quả PCD, Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19 đã thống nhất chuyển chủ trương từ: “Không Covid” sang: “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”; vừa PCD hiệu quả, vừa khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội.

Cũng tại cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ cho biết ngày 24-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhất trí với đề xuất của Chính phủ về việc ban hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Thủ tướng yêu cầu thực hiện tốt chính sách này, trên tinh thần "một miếng khi đói bằng một gói khi no".

Sự thật đã được sáng tỏ. Thế nhưng các thế lực thù địch chắc chắn sẽ tiếp tục có những âm mưu, thủ đoạn mới, sẽ tiếp tục đăng đàn xuyên tạc, kích động nhằm tạo ra sự hoang mang trong xã hội. Mục đích nguy hiểm của chúng nhằm đánh lạc hướng, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD Covid-19 ở nước ta. Sâu xa hơn là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta, muốn chúng ta đi chệch hướng.

Thế nhưng dẫu có bôi nhọ và xuyên tạc đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, khi mà nhiều quốc gia, tổ chức uy tín trên thế giới đã và đang đánh giá cao Việt Nam trong xử lý đại dịch Covid-19. Điều đó khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, PCD Covid-19 nói riêng. ST

Tự do ngôn luận và sự khác biệt về văn hoá

Tự do ngôn luận và bàn về tự do ngôn luận không hề mới mẻ gì. Không mới nhưng câu chuyện này sẽ không bao giờ cũ, bởi vì hàng chục, thậm chí cả trăm năm trước vấn đề tự do ngôn luận đã được bàn đến và cho đến nay, trong thời đại mạng thông tin toàn cầu, vấn đề này vẫn luôn là câu chuyện thời sự. Chỉ có điều, do nhiều yếu tố khác nhau, tự do ngôn luận ở mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng không giống nhau. Một trong những nguyên nhân của sự khác biệt nêu trên là yếu tố văn hoá.

CHUYỆN Ở “THẾ GIỚI TỰ DO”

Mỹ là một trong những quốc gia thường xuyên kêu gọi tự do ngôn luận và áp đặt tiêu chuẩn tự do ngôn luận của mình cho nhiều quốc gia khác. Một số người cho rằng, sở dĩ Mỹ luôn làm điều này là do xứ cờ hoa không có luật báo chí. Đúng, nhưng thông tin vừa nêu chỉ mới phản ánh một nửa sự thật. Nước Mỹ không có luật báo chí nhưng không có nghĩa là mọi công dân Mỹ muốn làm gì thì làm, muốn viết thì viết, muốn nói gì thì nói. Tháng 2.2020, báo Nhân Dân có đăng bài viết của một luật sư người Việt hiện sống ở Mỹ, người này viết: “Năm 1917, Quốc hội Mỹ ban hành Luật Tình báo (The Espionage Act 1917), trong đó khẳng định tự do ngôn luận không có nghĩa là người dân có quyền vận động cho việc kêu gọi hay thành lập tổ chức lật đổ nhà nước Mỹ vì đó là tội phản quốc. Vậy rõ ràng, tự do ngôn luận phải nằm trong khuôn khổ an ninh quốc gia. Luật cũng xác định tự do ngôn luận không có nghĩa là ở trong rạp hát đứng lên hô hoán “cháy nhà” mà trên thực tế không có, như vậy là quấy rối trật tự chung. Và luật này giúp cho các cơ quan an ninh, tình báo, Bộ Quốc phòng Mỹ đối phó với những tổ chức và cá nhân xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc âm mưu lật đổ nhà nước Mỹ”. Vẫn theo tác giả bài viết, năm 1964, Tối cao Pháp viện Mỹ định nghĩa tự do ngôn luận không có nghĩa là có quyền bịa chuyện để vu khống phỉ báng cá nhân. Năm 1972, Quốc hội Mỹ thành lập Uỷ ban Truyền thông Liên bang, cơ quan này có thẩm quyền trên các cơ quan truyền thông, giúp tự do ngôn luận đi vào nề nếp, không gây xáo trộn trật tự xã hội. Sau đó, nước Mỹ cho ra đời tiếp Bộ Luật truyền thông, trong đó cấm công dân đưa tin giả.

Không chỉ tại Mỹ, nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những quy định nghiêm ngặt để ngăn ngừa hậu quả của thông tin độc, bịa đặt. Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, trên thế giới hiện có 138 quốc gia ban hành Luật An ninh mạng, trong đó có 23 quốc gia ban hành trên 40 văn bản luật và dưới luật về an ninh mạng. Tại châu Âu, Cộng hoà liên bang Đức - một nước được coi là đầu tàu của nền kinh tế của cả EU cũng ban hành nhiều quy định xử phạt nghiêm khắc đối với những người lợi dụng mạng xã hội vì lợi ích cá nhân, vi phạm an ninh quốc gia. Năm 2017, nước Đức ban hành “Luật cải thiện thực thi pháp luật trên các mạng xã hội”, người dân Đức gọi luật này bằng cái tên ngắn gọn, “Luật kiểm soát facebook”. Theo tinh thần của luật, nhà cung cấp mạng xã hội có nghĩa vụ xoá các nội dung bất hợp pháp, trái quy định được ghi trong luật. Sau 24 giờ kể từ khi người dùng mạng xã hội khiếu nại vì bị xúc phạm, vu khống, nhà cung cấp dịch vụ như Facebook, Twitter, YouTube.. phải xoá hoặc chặn nội dung bất hợp pháp. Trong hai năm 2018-2019, tại Đức, có tổng cộng  215.000 bài, video gây tranh cãi trên YouTube, trong đó có 58.000 bài đã bị xoá sau khi nhận được khiếu nại. Tại Cộng hoà Pháp, tháng 7.2019, Quốc hội nước này phê chuẩn một đạo luật để “chống lại hận thù trên internet”, cá nhân, tổ chức nào vi phạm, tuỳ theo mức độ sẽ bị phạt  tiền từ 250 nghìn đến hơn một triệu Euro, nặng hơn còn bị bỏ tù. Không chỉ xử phạt đối với người viết bài như nước Pháp, Cộng hoà Áo còn quy định trừng phạt những bình luận gây hận thù trên mạng xã hội. Nước Áo cũng yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phải cung cấp danh tính của người có bình luận gây hận thù…

CHUYỆN CỦA VIỆT NAM

Hẳn dư luận chưa quên, trước khi Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ ngày 1.1.2019) “cộng đồng mạng” sôi sục với nhiều luồng ý kiến trái chiều. Trong đó, có rất nhiều người được coi là “nhân sĩ, trí thức cấp tiến” đã không ngừng kêu gọi cơ quan lập pháp không thông qua luật này. Có người còn viết cả “tâm thư” gửi Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội để “cực lực phản đối” nội dung của luật. Có hai lý do chính, theo luồng ý kiến này, Luật An ninh mạng hạn chế quyền tự do ngôn luận, xâm phạm quyền riêng tư và doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

Thực tế gần hai năm qua cho thấy, Luật An ninh mạng, dù đã có hiệu lực nhưng không dấu hiệu nào cho thấy bộ luật này “cản trở quyền biểu đạt” hoặc gây khó dễ cho doanh nghiệp. Trái lại, bộ luật này chỉ làm cho mạng xã hội và những người sử dụng mạng xã hội có ý thức hơn mà thôi. Cần thiết phải nhắc lại rằng, tại thời điểm trước khi Quốc hội ban hành và có hiệu lực vào đầu năm 2019, tháng 10.2018, phóng viên Báo Tây Ninh thực hiện cuộc phỏng vấn đại biểu Quốc hội Trịnh Ngọc Phương (đoàn ĐBHQ đơn vị tỉnh Tây Ninh) xung quan nội dung cũng như ý kiến của dư luận về bộ luật này. Vị đại biểu Quốc hội khẳng định, Luật An ninh mạng đảm bảo phát triển kinh tế và không xâm phạm quyền tự do cá nhân. Để chứng minh, vị ĐBQH dẫn ra trường hợp của Singapore - quốc gia được coi là văn minh hàng đầu không chỉ của châu Á mà còn cả thế giới. Theo đó, năm 2017, Singapore ban hành Luật An ninh mạng, trong đó cho phép cơ quan an ninh mạng nước này theo dõi và quản lý an toàn không gian mạng của quốc gia. Cơ quan an ninh mạng được phép thực hiện các biện pháp chủ động để bảo vệ hạ tầng thông tin quan trọng và nhanh chóng ứng phó với các mối đe doạ. Chính phủ Singapore đã liệt kê 11 lĩnh vực được xem là hạ tầng thông tin quan trọng, trong đó có nước, y tế, hàng hải, truyền thông, thông tin, năng lượng và hàng không. Singapore cũng ký một tuyên bố chung với Đức để tăng cường hợp tác an ninh mạng giữa hai nước. Tại thời điểm đó, bằng thông tin của mình, vị ĐBQH cho biết, Việt Nam luôn nằm trong nhóm quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Tội phạm mạng như khủng bố, rửa tiền, lừa đảo trực tuyến, đánh bạc, tổ chức đánh bạc, môi giới mại dâm, buôn bán vũ khí, ma tuý… phát triển nhanh. Tình trạng nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng, thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống, xúc phạm nhân phẩm, vi phạm thuần phong mỹ tục diễn ra tràn lan. Trong số gần 140 quốc gia ban hành luật an ninh mạng (tên gọi của luật ở mỗi nước có thể khác nhau) thì có 95 nước đang phát triển.

Những thông tin nêu trên cho thấy, nếu không có những quy định về an ninh mạng nói chung, sử dụng mạng xã hội nói riêng, xã hội sẽ rối loạn bởi những kẻ có tâm địa xấu. Như đã đề cập, trước khi Luật An ninh mạng của Việt Nam được thông qua, nhiều “người của công chúng” liên tục phản đối. Thật trớ trêu, cách nay chưa lâu, một số người từng lớn tiếng phản đối Luật An ninh mạng lại phải cầu cứu cơ quan chức năng vì những tin nhắn, hình ảnh đời sống riêng tư trong tài khoản cá nhân bị kẻ gian đột nhập, lấy ra và tung lên mạng. Một nữ ca sĩ, sau khi “bị lộ” đã than với báo chí rằng “em chỉ muốn độn thổ vì quá xấu hổ”.

Quyền tự do ngôn luận là một quyền phổ quát của loài người nhưng nó cũng có sự “khu biệt” về văn hoá. Có nghĩa, quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt không thể có một mẫu số chung giữa các quốc gia với nhau, nhất là những nước có sự khác biệt về văn hoá mà có người gọi “xung đột giữa các nền văn minh”. Một ý kiến, một thái độ, một bài viết hoặc một cử chỉ nào đó có thể hoàn toàn phù hợp với nền văn hoá này nhưng không thể xem là bình thường với nền văn hoá khác. Ngược dòng lịch sử, khi nước ta còn bị chia cắt, một nhân vật từng là người đứng đầu chính quyền được nước Mỹ hậu thuẫn ở miền Nam nói rằng, người Việt Nam không chấp nhận thứ tự do xô bồ của phương Tây, bởi sự khác biệt về lịch sử, văn hoá. Chúng ta biết, con người, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, thường bị bạo lực dưới một trong hai hình thức hoặc có khi cả hai: bạo lực thể xác và bạo lực tinh thần. Sự cố mà một số người mẫu, ca sĩ, cầu thủ bóng đá bị lộ thông tin riêng tư chính là hình thức bạo lực tinh thần. Thực tế đã có nhiều người, đủ mọi thành phần phải tìm đến cái chết vì bị khủng bố tinh thần. Công cụ để đối tượng xấu thực hiện hành vi bạo lực chính là mạng xã hội.

Ở tầm vĩ mô hơn, chịu khó theo dõi, không khó khăn gì để thấy, nhiều người thiếu thiện chí đã triệt để sử dụng mạng xã hội để chống phá đất nước, phỉ báng, xúc phạm những người mà họ không thích, đặc biệt là các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. Khi bài viết này đang hình thành, trên mạng xã hội xuất hiện một người Việt Nam (từng là luật sư) hiện sống tại Cộng hoà liên bang Đức đã phát sóng một đoạn video kêu gọi lật đổ chế độ hiện nay ở nước ta. Trong clip, người này liệt kê 6 bước cần thiết và vạch ra lộ trình để lật đổ chính quyền nhân dân. Trong số đó, “giải pháp” đầu tiên ông ta đưa ra là kêu gọi người dân trong nước sử dụng facebook để tấn công chính quyền dưới nhiều hình thức khác nhau. Một trong những hình thức cụ thể là, thông qua mạng xã hội này để thực hiện “cuộc cách mạng đường phố”… Có người tự hỏi, đang sinh sống tại nước Đức, sao ông ta không sử dụng mạng xã hội facebook để công khai kêu gọi lật đổ chính quyền nước Cộng hoà liên bang Đức? Sự thực, nếu cả gan làm điều tương tự như đang làm đối với Việt Nam, trong thời gian  “vài nốt nhạc” cảnh sát Đức sẽ không bỏ qua. Ngay ở trong nước, chỉ mới đây, một số kẻ nhân danh quyền tự do ngôn luận, đã bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định pháp luật vì sử dụng mạng xã hội để phỉ báng, xúc phạm, người khác. Không riêng Việt Nam, trên thế giới này, không một quốc gia nào cho phép họ làm điều đó. Nhà báo Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân Dân, trong một phiên họp của Quốc hội đã phải thốt lên, “mạng xã hội chửi không từ  một ai”.

NHÂN QUYỀN VÀ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN: “Ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra”

Kênh truyền hình của Báo Nhân Dân vừa qua đã phát sóng bộ phim tài liệu nhiều tập “Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - Biên niên sử truyền hình”, kể lại quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng, phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 19, thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Bộ phim được đầu tư công phu, nhiều thông tin, tài liệu lần đầu tiên được giải mật, trong đó có cả tài liệu mật của những nước đã từng mang quân can thiệp, xâm lược, chiếm đóng Việt Nam.
Theo dõi bộ phim sẽ thấy, hàng thế kỷ qua, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ 19 cho đến gần cuối thế kỷ 20, Việt Nam liên tục phải đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược. Trong đó, nếu lấy mốc từ mùa Thu năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, với sự hậu thuẫn của các thế lực quốc tế, nước Pháp một lần nữa quay lại xâm chiếm nước ta. Bằng những nỗ lực cao nhất, trên mọi phương diện, Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tìm mọi cách để ngăn chặn chiến tranh. Nhưng, như đã biết, mọi nỗ lực đó đều thất bại bởi dã tâm chiếm nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Năm 1946, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã giải thích rõ vì sao dân tộc ta phải đứng lên để đánh đuổi quân xâm lược. Không chỉ các nguồn sử liệu trong nước, sau khi chiến tranh kết thúc, chính những người từng đứng đầu chính phủ Pháp và sau này là chính phủ Mỹ cũng công khai thừa nhận, xâm lược Việt Nam là một sai lầm tồi tệ nhất của họ. Ngay cả một số người Việt Nam, trong đó có một cựu nhà báo danh tiếng, sau những biến động ở Đông Âu, người này bỏ chạy ra nước ngoài, sống lưu vong, điên cuồng chống phá chế độ trong nước nhưng khi được phỏng vấn cũng thừa nhận, việc nước Pháp trở lại xâm lược nhằm chiếm đóng Việt Nam sau năm 1945 là một sai lầm. Ngay trong ngày 30.4.1975, một tờ báo có lượng phát hành lớn nhất Nhật Bản đã viết: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng giải phóng. Điều đó có thể khẳng định, thời mà các nước lớn dùng sức mạnh để bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt”.
Việt Nam, trong thế kỷ 19 và đặc biệt là thế kỷ 20, không hề muốn chiến tranh với bất kỳ nước nào, “chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng”. Nhưng vì sao dân tộc ta phải đứng lên và phải chịu nhiều đau thương, tổn thất như vậy? Câu trả lời là “chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chính là để bảo vệ quyền con người. Can thiệp, xâm lược bằng quân sự vẫn không dập tắt được ý chí bảo vệ nền độc lập, quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, họ (những thế lực chiếm đóng, xâm lăng trước đây) lập ra một “mặt trận mới” để tấn công Việt Nam, đó là vấn đề nhân quyền và tự do ngôn luận. Những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, thường xuyên, liên tục vu cáo nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận. Thật mỉa mai, chính họ, không phải ai khác, trước đó từng mang nhiều triệu tấn bom đạn giết chết hàng triệu người trên đất nước hình chữ S nhỏ bé, giờ lại cao giọng dạy dân tộc này về quyền con người. Ai cũng biết, một trong những quyền cơ bản nhất của con người là quyền được sống. Bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 đều nhắc đến quyền tự do, quyền bình đẳng của con người. Như vậy, không thể nói rằng, những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam không hiểu thế nào là nhân quyền, bởi quyền con người đã được chính cha ông họ nhắc đến trong tuyên ngôn độc lập của nước họ.
Quyền con người là một khái niệm rất rộng. Theo nghiên cứu, quyền con người đã được đề cập từ xa xưa. Ở phương Tây, quyền con người được đề cập trong một số bộ luật, vào khoảng năm 2350 trước công nguyên. Ở phương Đông, Khổng Tử (Trung Quốc) đề cao chữ “nhân”, cốt lõi của triết lý này là đề cao lòng thương người. Tại Ấn Độ, triết lý của đạo Phật có hàm chứa tư tưởng nhân đạo sâu sắc, khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác. Tại Việt Nam, theo sử sách, triều đình nhà Lý đã ra điều luật cấm mua bán nô lệ đàn ông từ 18 tuổi trở lên. Bộ luật Hồng Đức sau đó cũng đề cập đến nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền con người. Sau này, xã hội phát triển, cả phương Đông và phương Tây, vấn đề quyền con người được nâng cao, hoàn thiện trong các bộ luật của từng quốc gia. Điều trớ trêu, như trên đã nói, chính những quốc gia, cả trong tuyên ngôn lập quốc lẫn các bộ luật đều ghi quyền con người về “tự do, bình đẳng, bác ái” sau đó lại xua quân đi chiếm đóng nước khác.
Như đã đề cập, lâu nay, vấn đề nhân quyền là một trong những “vũ khí” được các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí dùng làm cái cớ để vu cáo, bóp méo, thậm chí bịa đặt tình hình của Việt Nam. Để phục vụ mục tiêu và đạt được mục đích, những tổ chức, cá nhân đó không từ một thủ đoạn hay giới hạn nào để vẽ ra một bức tranh đen tối về tình hình Việt Nam. Năm 1948, Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, trong đó, Điều 29 quy định như sau, nguyên văn: “1) Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ. 2) Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thoả mãn. 3) Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hợp Quốc”.
Rõ ràng, bất kỳ hành động, lời nói nào để thể hiện quyền tự do của mỗi cá nhân cũng phải chấp nhận những giới hạn do pháp luật đặt ra. Không có và không thể có kiểu tự do vô chính phủ, nhân danh tự do, nhân quyền để muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói. Hiến chương của Liên Hợp Quốc cũng ghi, mục tiêu tối cao của tổ chức này là “duy trì hoà bình và an ninh thế giới”. Như vậy, những cá nhân, tổ chức hoặc chính phủ nào đi ngược lại mục tiêu nói trên, chính là vi phạm quyền con người. Trên thực tế, những nước lớn thường muốn làm “cảnh sát toàn cầu”, họ đặt ra những tiêu chuẩn kép và áp đặt tiêu chuẩn này cho những quốc gia yếu thế hoặc “không thân thiện” trong mắt họ.
Khoảng 40 năm qua, có một tổ chức thường xuyên lên tiếng cáo buộc quốc gia này, quốc gia kia vi phạm nhân quyền. Tổ chức này có tên gọi “Tổ chức Theo dõi nhân quyền”, được thành lập năm 1978 dưới tên Helsinki Watch. Mục tiêu đầu tiên của tổ chức này là để giám sát, theo dõi tình hình Liên bang Xô viết, một bức tường thành của khối các nước XHCN thời kỳ đó, đồng thời là đối thủ đáng gờm của nước Mỹ. Có thể thấy rằng, ngay từ khi ra đời, “Tổ chức Theo dõi nhân quyền” đã không có thiện cảm với những quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ chỗ không có thiện cảm dẫn đến những thông tin, bản báo cáo không những thiếu khách quan, không vô tư, họ còn thường xuyên bóp méo tình hình của những quốc gia mà tổ chức này không thích. Có điều kiện theo dõi sẽ thấy, Tổ chức Theo dõi nhân quyền, trong những bản phúc trình thường niên về tình hình Việt Nam, họ hầu như chỉ lấy thông tin từ những tổ chức, cá nhân, cơ quan truyền thông của nước ngoài vốn không có thiện cảm với chính thể hiện nay. Những thành tựu Việt Nam đạt được như xoá mù chữ, xoá đói giảm nghèo, cải thiện thu nhập bình quân đầu người và nhiều mục tiêu thiên niên kỷ được chính Liên Hợp Quốc công nhận, nhưng Tổ chức Theo dõi nhân quyền không hề đưa vào bản báo cáo của họ. Điều này có nghĩa, những nguyên tắc tối thiểu về tính khách quan trong thông tin đã không được tổ chức này thực hiện.

Không có chuyện thì dựng chuyện

1. Khoảng hơn 9 giờ ngày 20.3.2003, những quả bom, tên lửa bắt đầu dội xuống Iraq- quốc gia giàu tài nguyên dầu mỏ ở khu vực Trung Đông hay gọi theo cách cũ là vùng Trung Cận Đông, bởi một lực lượng do nước Mỹ dẫn đầu. Lý do, lúc đó chính phủ Mỹ kết án chính phủ Iraq “sản xuất, tàng trữ, vận chuyển vũ khí giết người hàng loạt”. Gần 20 năm trôi qua, cuộc chiến tranh do nước Mỹ phát động đã gây ra hậu quả như thế nào, điều này mọi người đã biết. Nhưng có một chi tiết không phải ai cũng biết, cuộc ném bom và huỷ diệt quốc gia Trung Đông này bắt đầu bằng một chi tiết khiến sau này, báo giới phương Tây mỉa mai gọi là “ống nghiệm bột giặt”. Trước khi mở màn cuộc chiếm đóng Iraq, trong một phiên họp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Ngoại trưởng Mỹ khi đó Colin Luther Powell trưng ra trước toàn thế giới một cái ống nghiệm trong đó chứa loại hoá chất dạng bột màu trắng và khẳng định, chính quyền Iraq thủ đắc vũ khí sinh học giết người hàng loạt, được cho là bệnh than. Thậm chí, nhân vật đứng đầu cơ quan đối ngoại của cường quốc này còn khẳng định, chỉ cần vài chục tiếng đồng hồ, chính quyền Iraq có thể thực hiện cuộc tấn công hoá học.

Khi cuộc chiến hạ màn, năm 2015, chính Tổng thống Mỹ George W. Bush và Thủ tướng Anh Tony Blair thú nhận trên truyền hình rằng, họ nhận được thông tin tình báo sai lệch về chuyện nước Iraq sản xuất vũ khí hoá học, có nghĩa, chính quyền Baghdad của Tổng thống Saddam Hussein đã bị “oan sai” trong trường hợp này. Sau sự thừa nhận của lãnh đạo hai cường quốc dẫn đầu trong cuộc chiến tranh lật đổ chính phủ Iraq, không ai khác, chính báo chí phương Tây đã mỉa mai rằng, cuộc chiếm đóng một quốc gia được bắt đầu bằng “một loại bột giặt”.

Vì sao tác giả bài viết này mở đầu bài viết bằng nội dung trên? Như chúng ta đã biết, những diễn biến trong thời gian qua cho thấy, sự phát triển của công nghệ thông tin, của mạng xã hội đã xuất hiện nhiều hình thức, cách thức đưa tin khác nhau. Tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, đều có một điểm chung, báo chí không còn là nơi độc quyền phát ra các bản tin, tin tức theo kiểu “nói cho mà biết” như trước. Sự xuất hiện của mạng xã hội là một thành tựu vĩ đại của loài người. Nhưng, cái gì cũng có những mặt trái của nó. Các trang mạng xã hội cho phép bất kỳ ai cũng có thể đưa tin hoặc bày tỏ ý kiến, quan điểm, suy nghĩ của mình về một hiện tượng, sự vật nào đó. Nhận ra sự lợi hại của mạng xã hội, những cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với chính thể hiện tại của nước Việt Nam không ngừng thực hiện những hành động, việc làm mang đậm cuộc chiến tranh tâm lý, cách gọi cũ là “tâm lý chiến”. Loại hình chiến tranh tâm lý này chính là diễn biến hoà bình, tức chiến tranh không tiếng súng. Chiến tranh tâm lý hay diễn biến hoà bình được hình thành từ thời chiến tranh lạnh. Hiện nay, mặc dù chiến tranh lạnh đã chấm dứt nhưng diễn biến hoà bình vẫn được các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí tiếp tục xem như một thứ vũ khí để làm phân tâm, ly gián giữa người dân với chính quyền. Cách làm cụ thể nhất của hình thái “chiến tranh tâm lý” này khá phong phú, từ tung tin giả đến bóp méo sự kiện, thổi phồng, quan trọng hoá vấn đề, bôi đen chế độ, khoét sâu mâu thuẫn hoặc xới lại những câu chuyện cũ, xảy ra gần cả thế kỷ. Xin lưu ý, những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, bất mãn với chế độ họ tung thông tin giả hoặc bóp méo lịch sử, làm sai lệch bản chất không phải để câu khách nhằm bán hàng online như những tầng lớp bình dân. Cái chính họ nhắm đến là từng bước làm suy giảm niềm tin của dân chúng vào bộ máy nhà nước. Những câu chuyện họ dẫn ra, những bình luận họ thể hiện trên trang cá nhân hoặc trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài nghe qua tưởng không có gì to tát nhưng thực ra, chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” đã làm một bộ phận dân chúng hoang mang, không biết đâu là thực, đâu là hư.

2. Ngày 12.8, trên trang cá nhân của một cựu nhà báo (người này là con một nhà thơ nổi tiếng, có tác phẩm được dạy trong nhà trường) đăng một bài viết chỉ dài khoảng 500 chữ. Trong bài, người này cảnh báo rằng, biển Đông có thể sắp có “biến động lớn”, cần hết sức cảnh giác. Người này còn dẫn ra hàng loạt những động thái, theo ông là không bình thường, cả ở trong nước và khu vực. Một trong những sự việc “không bình thường” được dẫn ra làm căn cứ cho bài viết, đó là kênh VTV1 đột nhiên phát sóng bộ phim tài liệu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, năm 1979. Từ việc VTV1 phát sóng bộ phim đó, cựu nhà báo cho rằng đây là động thái lạ và những biến động trên biển Đông sẽ hết sức căng thẳng trong thời gian tới. Vì từng là một nhà báo, cách viết lại có nghề nên mỗi bài viết trên trang cá nhân của người này có rất đông người đọc, “còm-men” và chia sẻ. Trong số hàng trăm bình luận, chỉ có một ý kiến nói ngược lại với tinh thần của bài viết, còn hầu hết hùa theo kiểu a dua. Đây là tâm lý chung của người đọc, họ dễ bị dẫn dắt bởi những ngòi bút có nghề. Sự thật, bộ phim tài liệu phát sóng trên VTV1 mà cựu nhà báo dùng làm chủ đề chính cho bài viết của mình hoàn toàn không phải là “một hiện tượng bất thường” như ông này ngộ nhận. Thực ra, đó chính là một tập phim trong bộ phim tài liệu nhiều tập có tên gọi “Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - biên niên sử truyền hình” đã phát sóng cả năm nay. Tập phim nói về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc được phát sóng vào lúc hơn 20 giờ thứ 3, ngày 11.8.2020. Trước khi tạm dừng phát sóng bộ phim này một thời gian để tập trung thông tin, tuyên truyền một số nội dung khác, kênh truyền hình của Báo Nhân Dân đã có thông báo. Tối thứ 3 vừa qua, bộ phim tiếp tục phát sóng trở lại, cả trên kênh truyền hình của Báo Nhân Dân và VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam. Rõ ràng, cựu nhà báo kia không hề theo dõi bộ phim dài tập này nên không biết rằng đây là một bộ phim nhiều tập. Ông chỉ tình cờ xem vào tối thứ 3, ngày 11.8 rồi đưa ra bình luận nặng tính suy diễn, cảm tính của bản thân mình. Điều đáng tiếc và đáng nói, ông là một cựu nhà báo có tiếng nhưng lại quá hấp tấp, vội vàng khi chỉ tình cờ xem mấy chục phút trong một tập phim duy nhất rồi phán rằng, biển Đông thế này biển Đông thế nọ. Mượn gió bẻ măng, quá mù ra mưa, hàng trăm người nhao nhao “phản biện” chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng lời lẽ hết sức nặng nề. Nếu quan tâm thời cuộc, trong đó có vấn đề chủ quyền biển đảo, hẳn nhiều người chưa quên cuộc nói chuyện cách nay cũng đã lâu của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn (thời điểm nói chuyện ông đang giữ chức Cục trưởng Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) rằng, người dân cần bình tĩnh, tỉnh táo trước sự nhiễu loạn thông tin về chủ quyền biển đảo. Ông còn nói, Đảng, Chính phủ, QĐND Việt Nam đã có những đối sách và luôn chủ động trong vấn đề chủ quyền biển đảo.

3. Như có lần đã đề cập, đánh phá vào lĩnh vực tư tưởng là một trong những mục tiêu của các cá nhân, tổ chức, vì một lý do nào đó, thiếu thiện chí, thiếu tinh thần xây dựng. Không chỉ bên ngoài, nhiều người ở trong nước cũng tham gia vào lãnh địa này, họ “đào bới” không từ một chuyện gì. Gần đây nhất, chỉ ít ngày trước khi diễn ra kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020, cựu tổng biên tập của một tờ báo thể thao đã có hai bài viết rất nặng lời về tình hình giáo dục Việt Nam. Bài thứ nhất, người này viết, đại ý rằng, qua cách chuẩn bị các biện pháp phòng, chống gian lận trong thi cử, thầy cô giáo, lãnh đạo ngành Giáo dục nhìn học sinh của mình như những tên tội phạm. Lớn giọng phán xét, mạt sát, mạ lỵ cả ngành Giáo dục nhưng vị cựu tổng biên tập này không biết rằng, gian lận trong thi cử không phải là một chuyện nhỏ, lại càng không phải của riêng Việt Nam. Những vụ gian lận thi cử gần đây khiến hàng chục giáo viên, cán bộ quản lý và cả nhiều người thuộc các lực lượng khác đã bị pháp luật trừng phạt. Hàng trăm sinh viên “trúng tuyển” đã bị cho thôi học. Do đó, ngoài quy chế thi, việc triển khai, áp dụng các biện pháp chống tiêu cực trong thi cử là hoàn toàn cần thiết, hợp pháp. Khác với Việt Nam, Singapore- một quốc gia phát triển hàng đầu không chỉ trong khu vực mà còn của cả thế giới có hình phạt nghiêm khắc hơn nhiều. Tại quốc gia này, không chỉ giáo viên, học sinh gian lận trong thi cử sẽ bị bỏ tù, đừng nói cho thôi học hay “trả về nơi sản xuất”. Bài viết thứ hai của người này liên quan đến đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn. Cựu nhà báo cao giọng “giảng đạo” rằng, đoạn văn trong đề thi được dịch từ một tác phẩm của nước ngoài (Nhật Bản) là một đoạn văn quá tệ. Người này còn chê bai bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm… Như thường thấy, do tâm lý dễ bị dẫn dắt, người đọc lại hùa vào chửi bới ngành Giáo dục. Có người chẳng biết gì cũng làm ra vẻ ta đây phân tích này nọ để chứng tỏ mình có hiểu biết. Do khuôn khổ bài viết, không thể phân tích cụ thể để chỉ ra những cái sai trái trong bài viết nêu trên nhưng xin khẳng định rằng, đề thi tốt nghiệp không hề sai. Đề thi hoàn toàn đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục, phù hợp đối tượng người học và đặc biệt, bám sát chương trình, sách giáo khoa hiện hành. Mặt khác, như đã đề cập nhiều lần, cùng với ngành Y, Giáo dục là ngành có tính chuyên môn cao. Do đó, đưa ra những phán xét cảm tính, bừa bãi, chỉ làm trò cười cho người khác.

Công bằng mà nói, trên mạng xã hội có nhiều người giỏi, giàu kiến thức, họ là người có ảnh hưởng nhất định trong xã hội. Cũng phải thừa nhận, họ có những ý kiến đóng góp có cơ sở chứ không hoàn toàn viết, nói theo kiểu một chiều, thô sơ. Nhưng, một người được gọi là giỏi không có nghĩa là biết hết mọi thứ. Trên phương diện thông tin, một khi viết hay nói một câu chuyện nào đó, điều tiên quyết, phải có nguồn tin hoặc quan điểm rõ ràng khi nguồn tin đã được kiểm chứng là có thật. Nếu không, như có người đã viết: “Rượu nhạt uống lắm cũng say/ Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm”.

Ðừng ném đá vào ngọn núi

Trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, ngoài việc liên tục, thường xuyên tấn công vào thể chế hiện nay, những người thiếu thiện chí không quên nhắm vào những biểu tượng, đó là các vị lãnh tụ tiền bối của cách mạng Việt Nam. Không chỉ vậy, những vị tiền nhân có công lao to lớn trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm ở những thế kỷ trước cũng là mục tiêu của những người muốn hạ bệ, “giải thiêng” thần tượng. Họ đã làm điều đó như thế nào và tại sao họ làm như vậy?
CHUYỆN XƯA
Như có lần đã đề cập, cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trên văn đàn Việt Nam xuất hiện một nhà văn, xuất thân là một giáo viên dạy Lịch sử liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, trong đó có một số tác phẩm từng xuất hiện trên báo. Trước hết, cần nói rõ, ông là một nhà văn có tài, tác phẩm của ông không chỉ gây tiếng vang trong nước mà còn được một số quốc gia chú ý, khen ngợi. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Pháp. Xuất hiện trong bối cảnh đất nước vừa mở cửa đổi mới, ông thành công quá nhanh, danh tiếng nổi như cồn. Say sưa với những thành công ban đầu, ông liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm văn học. Trong số đó, có một tác phẩm, nhân vật chính là vua Quang Trung- người anh hùng áo vải cờ đào. Đối với nhân dân Việt Nam, vua Quang Trung không chỉ là một thiên tài quân sự mà còn là hình tượng đẹp về người anh hùng nông dân. Thế nhưng, trong tác phẩm của mình, nhà văn, đồng thời là thầy giáo dạy Lịch sử lại miêu tả nhà vua như một tên du đãng, thô tục, hiếu sát. Dưới ngòi bút của nhà văn này, nhà vua không khác gì một tay võ biền, du côn; ông còn cho rằng, vua Quang Trung chết là do bị quả báo bởi gia đình một cô gái. Nếu xem tác phẩm của nhà văn kia như một bản cáo trạng của “viện kiểm sát” thì đây là một bản cáo trạng quy kết, suy diễn theo hướng có tội, trong khi nhà văn không hề có một bằng chứng xác đáng nào để chứng minh. Không như bây giờ, thời kỳ đó, những tác phẩm văn học, đặc biệt thể loại truyện ngắn đăng trên báo có sức lan toả rất mạnh. Cũng từ đó và cho đến tận hôm nay, trên các diễn đàn, nhiều người không tiếc lời mạt sát, xúc phạm nhà vua - biểu tượng của người anh hùng áo vải bằng những bài viết, những phát ngôn nặng nề nhất, dù họ không có bất kỳ một chứng cứ đáng tin cậy nào. Sau này, theo nhiều nhà nghiên cứu, nhà vua mất đột ngột ở tuổi 39, rất có thể là do một cơn đột quỵ gây ra.
Cách nay đã nhiều năm, VTV1 công chiếu một bộ phim mà nhân vật chính là một ông quan đại thần thời nhà Trần (thế kỷ XIII). Bộ phim gây ra nhiều luồng ý kiến trái chiều, điều này hoàn toàn bình thường, bởi lẽ một tác phẩm văn học hay điện ảnh, nếu ai đọc xong, xem xong cũng “nhất trí cao” thì không có gì để bàn. Tuy nhiên, khi soi rọi về một sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử nào đó cần hết sức thận trọng trong góc nhìn, quan điểm. Nhắc đến điều này, bởi vì khi phát sóng bộ phim, ở góc bên phải phía dưới màn hình ti vi có chạy một dòng đề từ “lịch sử phụ thuộc vào góc nhìn”. Dòng đề từ này đã bị dư luận phản ứng khá dữ dội. Bởi lẽ, lịch sử là lịch sử, lịch sử là khách quan, dù xấu hay tốt, đúng hay sai, lịch sử là những sự kiện đã diễn ra, không ai thay đổi được. Do đó, nhìn nhận, đánh giá lịch sử phải trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan chứ không thể phụ thuộc vào những góc nhìn đậm tính chủ quan. Điều quan trọng hơn, nếu lịch sử phụ thuộc vào những góc nhìn của cá nhân, người ta hoàn toàn có thể bóp méo lịch sử, đổi trắng thay đen, chính tà không còn phân định được. Để chứng minh, xin dẫn ra đây một ví dụ, tại một hội nghị bàn về văn học, có một nhà phê bình (không tiện nêu tên) đã phát biểu rằng, chúng ta nên biết ơn nước Pháp, vì nhờ họ Việt Nam mới có đường sắt Bắc Nam, có hạ tầng giao thông. Nói như vậy, có nghĩa nhà phê bình này thấy cây nhưng không thấy rừng. Lý do, sau khi thôn tính được Việt Nam, thực dân Pháp cho khởi công xây dựng nhiều công trình giao thông là để phục vụ cho việc khai thác, vận chuyển tài nguyên ở xứ thuộc địa về “nước mẹ đại Pháp” chứ không phải họ bỏ tiền ra phục vụ người Việt như nhà phê bình phát biểu.
CHUYỆN NAY
Năm 1997, mạng internet - một phát minh vĩ đại của loài người bắt đầu hoạt động ở Việt Nam. Cũng từ đây, vì một lý do nào đó, nhiều người thiếu thiện chí, mặc cảm với chế độ bắt đầu gia tăng các hoạt động trên không gian mạng với chiêu bài “tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền”, thực chất là hoạt động có tính chất chiến tranh tâm lý. Một trong những mục tiêu họ nhắm đến chính là những vị tiền bối của cách mạng Việt Nam, tính từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, năm 1930. Theo dõi thời cuộc, không khó nhận thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc là mục tiêu hàng đầu của những người có đầu óc nhỏ nhen, hẹp hòi. Họ không từ một thủ đoạn nào, từ tinh vi cho đến hạ cấp, hạ tiện nhất để hạ bệ, “giải thiêng” bằng được vị lãnh tụ cách mạng - người đã lãnh đạo cả dân tộc đánh sập chủ nghĩa thực dân không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới. Chúng ta biết rằng, sau trận Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, năm 1960 - 1961, 17 quốc gia ở châu Phi, lúc đó vẫn là xứ thuộc địa đã đứng dậy lật đổ chủ nghĩa thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, vì thế mới có định danh, năm 1960 - 1961 là “năm châu Phi”. Dấu mốc lịch sử này, các dân tộc bị áp bức, bị chiếm đóng lấy cảm hứng từ chính trận Điện Biên Phủ. Không ai khác, chính những người mất ngai vàng, mất bổng lộc và lớp hậu sinh của họ nuôi dưỡng lòng hận thù, liên tục tấn công nhằm hạ bệ cho bằng được người anh hùng dân tộc, nhà văn hoá lớn của thế giới- Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cách nay chỉ một hai ngày, ông Phạm Văn Trà- nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có kể lại với báo chí rằng, năm 2003, khi còn giữ trọng trách bộ trưởng, ông sang thăm và làm việc tại nước Mỹ. Tại đây, ông cùng đoàn công tác phải trả lời hàng loạt những câu hỏi hóc búa của chính giới Mỹ đặt ra. Trong đó, có câu hỏi: “Tại sao đoàn của các ông lại đến thăm đài tưởng niệm cố Tổng thống Washington, Tổng thống đầu tiên của Mỹ?”. Ông Phạm Văn Trà trả lời, nguyên văn: “Chúng tôi rất quý trọng cố Tổng thống Washington. Bác Hồ của chúng tôi đã lấy một câu trong tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ vào Bản Tuyên ngôn độc lập của chúng tôi. Đó là câu “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Câu đó phù hợp với dân tộc chúng tôi, chính vì thế chúng tôi quý trọng ông”. Sau khi ông trả lời xong, nhiều người Mỹ có mặt đã vỗ tay tán dương.
Một chuyện khác, do một cán bộ ngoại gia từng công tác tại Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội kể lại, năm 1982, tức chỉ 7 năm sau khi đất nước thống nhất, một người Mỹ, vốn là sĩ quan tình báo đã xin lãnh đạo của nước ta lúc đó vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại thời điểm đó, chiến tranh kết thúc chưa lâu, quyết định để cho một cựu sĩ quan tình báo Mỹ vào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là điều không đơn giản. Hoá ra, người cựu sĩ quan tình báo này, do cơ duyên của lịch sử, ông là người được chính Bác Hồ mời tham dự lễ Tuyên ngôn độc lập tại Hà Nội, mùa thu năm 1945. Trước khi vào viếng Lăng Bác, người ta hỏi ông, lý do vì sao lại vào viếng và ông trả lời: “Tôi đi gặp lại bạn cũ, gặp lại người bạn vĩ đại của tôi”. Khi đến trước lăng, thấy hàng chữ viết bằng tiếng Việt, người cựu sĩ quan không hiểu, vị cán bộ ngoại giao đã dịch cho ông biết hàng chữ đó là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Nghe dịch xong, người cựu sĩ quan Mỹ nói rằng, câu nói của Bác Hồ là giá trị chung của nhân loại, tất nhiên, có cả nước Mỹ.
Cả hai câu chuyện dẫn lại ở trên mới chỉ xuất hiện cách nay vài ngày trên báo chí nước ta, có cả hình ảnh nhân vật của sự kiện. Một điều nữa cũng cần nói, Tuyên ngôn độc lập - áng thiên cổ hùng văn có một câu rất tinh tế, đó là câu Bác nói: “.... suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng....”. Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ chỉ nói “mọi người sinh ra có quyền bình đẳng”, trong khi Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam khẳng định không chỉ “mọi người” bình đẳng mà mọi dân tộc đều bình đẳng. Đây là một thông điệp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến các đại cường lúc đó, rằng mọi dân tộc, quốc gia đều có quyền bình đẳng như nhau, các ông đừng rắp tâm xâm chiếm đất nước chúng tôi!
Dẫn ra những điều trên, chỉ muốn chân thành nói với những người ngoảnh mặt với sự thật rằng, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, ở bất kỳ thời đại nào, đều là những “ngọn núi”. Do đó, đừng mất thời gian ném đá vào những “ngọn núi” ấy, bởi vì, càng bị ném đá, ngọn núi chỉ càng cao hơn mà thôi.

Núp bóng “tổ chức đại diện người lao động” để chống phá Đảng, Nhà nước

Lợi dụng quy định của pháp luật cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN), thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu ráo riết tuyên truyền, lôi kéo công nhân, người lao động nhằm tập hợp, hình thành lực lượng chính trị đối lập dưới vỏ bọc các tổ chức “công đoàn độc lập” ở Việt Nam.
Ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021, trong đó quy định cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp ngoài công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tham gia. Khoản 2, Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 (sửa đổi) quy định: “Người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”. Đây là một vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam.
Lợi dụng quy định này, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đang ra sức tuyên truyền, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp thành lập “tổ chức đại diện người lao động” nhằm biến tướng thành các tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; từng bước tập hợp lực lượng, xây dựng ngọn cờ, kích động biểu tình, đình công, đòi tự do, dân chủ… Âm mưu của chúng là nhằm hình thành lực lượng chính trị đối lập trong nội địa, tiến tới thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” lật đổ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ chính trị tại Việt Nam.
Để thực hiện âm mưu trên, nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài đang tìm cách tác động, can thiệp, gây sức ép với Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, nhất là Nghị định quy định về quy trình, thủ tục thành lập các tổ chức đại diện người lao động, hòng tạo tiền đề cho việc hình thành những đảng phái chính trị đối lập trong nước. Chúng công khai lộ trình gồm 4 giai đoạn: (1) Yêu cầu Việt Nam sớm ban hành Nghị định quy định về tổ chức đại diện người lao động; (2) từng bước tác động để người lao động thay đổi nhận thức và đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình thông qua tổ chức đại diện người lao động; (3) hình thành tổ chức “Công đoàn độc lập” để tạo ra sự cạnh tranh với Công đoàn Việt Nam; (4) khi đa nguyên công đoàn thì Việt Nam sẽ đa nguyên về chính trị. Mục tiêu trước mắt được chúng đặt ra là đến năm 2025 sẽ xuất hiện mô hình “Liên hiệp các tổ chức người lao động” tại Việt Nam để cạnh tranh trực tiếp với TLĐLĐVN, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của TLĐLĐVN.
Một số tổ chức “xã hội dân sự” nước ngoài đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thành lập tổ chức độc lập với TLĐLĐVN tại các doanh nghiệp. Họ tìm cách gây sức ép, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một số chế độ, chính sách, quyền lợi ngoài quy định của doanh nghiệp và Bộ luật Lao động; yêu cầu cung cấp thông tin về người lao động, bảng lương; lấy lý do điều tra xã hội học phục vụ công tác nghiên cứu để tìm hiểu đời sống công nhân tại doanh nghiệp, chế độ, giờ giấc làm việc, việc đối xử của doanh nghiệp với công nhân…; lồng ghép điều khoản yêu cầu phía doanh nghiệp Việt Nam phải cam kết đồng ý thành lập ban tư vấn cải tiến doanh nghiệp (PICC) từ 8-16 người (một dạng tổ chức “công đoàn độc lập”). Các tổ chức khủng bố, phản động ráo riết đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền lôi kéo công nhân, người lao động thành lập các hội, nhóm, tổ chức bất hợp pháp trên lĩnh vực lao động, công đoàn tại các địa phương nhằm đón bắt thời cơ thành lập “Công đoàn độc lập” tại Việt Nam. Điển hình như tổ chức khủng bố Việt Tân công khai mưu đồ thành lập các “nghiệp đoàn độc lập” ở trong nước với 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Củng cố hoạt động “nhóm bạn công nhân” (được thành lập từ tháng 12/2019 trên không gian mạng với mục tiêu phát hiện, lôi kéo, kết nối số công nhân, người lao động có quan điểm chống đối đấu tranh đòi quyền lợi, làm lực lượng nòng cốt cho các “nghiệp đoàn độc lập”). Giai đoạn 2: âm mưu thành lập tổ chức phi chính phủ để thúc đẩy ra đời “nghiệp đoàn độc lập”. Giai đoạn 3: Công khai hóa tổ chức “nghiệp đoàn độc lập”. Tổ chức Lao động Việt (do Trần Ngọc Thành, Việt kiều Ba Lan làm chủ tịch) vận động tổ chức Công đoàn quốc tế công nhận là thành viên chính thức để công khai là tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; đồng thời kêu gọi, kích động các đối tượng ở trong nước móc nối, phát triển lực lượng trong công nhân để hình thành các hội, nhóm, “nghiệp đoàn độc lập” trong công nhân nhằm tiến hành hoạt động đình công, lãn công, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự.
Trong khi đó, một số đối tượng phản động, phần tử xấu ở trong nước, nhất là số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, thúc đẩy hình thành các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn trong tôn giáo theo kiểu “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” tại Việt Nam, thành lập các “công đoàn độc lập” trong các cơ sở của tôn giáo (trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp…); liên kết với đại diện Tổ chức Lao động quốc tế hỗ trợ thành lập các tổ chức “công đoàn độc lập” nhằm bảo vệ quyền lợi công nhân theo đạo làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp…
Những hoạt động trên đã làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” biến tướng ở Việt Nam. Đồng thời, cũng làm xuất hiện nguy cơ “đa nguyên công đoàn”, gây chia rẽ, phân hóa giai cấp công nhân, đe dọa trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thực tiễn lịch sử ở nhiều quốc gia đã cho chúng ta thấy nhiều bài học đắt giá về việc buông lỏng quản lý đối với các phong trào công nhân, đặc biệt khi nó được dẫn dắt bởi các tổ chức công đoàn độc lập với nhà nước. Phong trào công nhân tại Ba Lan được dẫn dắt bởi “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” (tổ chức liên hiệp của các công đoàn độc lập trong xã hội Ba Lan) những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đã dẫn đến sự mất vai trò lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Ba Lan vào năm 1989. Tại Pháp, phong trào “áo vàng” bắt nguồn từ phong trào đình công, biểu tình của công nhân phản đối chính sách về thuế, nhất là chính sách về thuế nhiên liệu của Chính phủ Pháp kéo dài từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2020 đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề khi các cuộc biểu tình, bạo loạn bùng phát trên diện rộng, sau đó lan sang các quốc gia lân cận như Hà Lan, Bỉ. Tại Campuchia, tổ chức công đoàn tự do đã lôi kéo, kích động hàng chục ngàn công nhân đình công, biểu tình phản đối chính sách của chính phủ, kêu gọi Thủ tướng Hun Sen từ chức…
Có thể thấy rằng, ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, công đoàn là tổ chức rất phổ biến, ở đâu có tồn tại quan hệ lao động thì ở đó có công đoàn, không phân biệt thể chế chính trị, trình độ phát triển. Dù tên gọi, cách thức tổ chức và hoạt động của công đoàn ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều có điểm chung là đại diện cho quyền lợi của người lao động. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống các tổ chức đại diện người lao động lành mạnh, song hành cùng hệ thống Công đoàn Việt Nam, cùng thực hiện đồng bộ, thống nhất chức năng, nhiệm vụ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, người lao động. Tính đến trước thời điểm làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát, Việt Nam có khoảng 14 triệu lao động đang làm việc tại các loại hình doanh nghiệp, trong đó có hơn 10,5 triệu đoàn viên công đoàn, trong đó hiện vẫn còn hàng triệu công nhân, người lao động chưa quan tâm hoặc chưa tìm được tổ chức đại diện cho mình.
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, hệ thống Công đoàn Việt Nam vẫn chưa thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân, người lao động dẫn đến nhiều nơi tỉ lệ công nhân, người lao động tham gia công đoàn chưa cao. Đây sẽ là điều kiện mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng nhằm lôi kéo, kích động công nhân, người lao động thành lập các “tổ chức đại diện người lao động”, âm mưu tập hợp lực lượng, thúc đẩy sớm ra đời tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” tại Việt Nam nhằm tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện và đấu tranh với thủ đoạn nguy hiểm này. Cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công nhân, người lao động nắm rõ mục đích, ý nghĩa việc tham gia Công đoàn, đồng thời nhận diện âm mưu của kẻ xấu lợi dụng việc kêu gọi thành lập các tổ chức công đoàn độc lập, giúp công nhân tẩy chay, loại trừ.

 

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG). Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương. Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân. Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019... Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này. Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị. Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo. Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN. Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam). Tính đến ngày 31/12/2021, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa... Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.