Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

VÀI LỜI GỞI VŨ MINH GIANG , NGUYỄN MẠN HÀ CÙNG NHỮNG NHÀ...SỬ GIAN !!

     Khi nghe các ông tuyên bố với dư luận rằng: lịch sử phải khoa học phải khách quan và trung thực. Là người dân , tôi đã rất vui & càng vui hơn khi các ông cũng nói sẽ lấp đầy những khoảng trống của lịch sử.

   Nhưng thật là thất vọng! khi thực tế các ông đã không làm như những gì các ông nói.

  Chỉ cần nêu ra đây vài dẫn chứng, cũng đã biết sự lươn lẹo, sự xảo trá, sự dối trên lừa dưới của các công!

KHÔNG ĐÚNG SAO?

  Khi Vũ Minh Giang nói rằng: sẽ cố gắng tìm một từ nào đó để thay cho cụm từ ngụy quân Ngụy Quyền(??) trong khi chắc chắn ông ta biết rõ: cụm từ ngụy quân Ngụy quyền là cụm từ mà Đảng & Bác Hồ cùng toàn quân toàn dân, đã nói đã viết để chỉ tập đoàn tay sai Việt nam Cộng hòa. Đó là THỰC TẾ của lịch sử, là TÀI LIỆU lịch sử, và hơn nữa cụm từ Ngụy Quân ngụy quyền đã phản ánh RẤT ĐÚNG, RẤT CHÍNH XÁC về bản chất của cái "Quốc gia" hư cấu do ngoại bang dựng lên & nuôi dưỡng (vnch) Không những vậy, cụm từ ngụy quân Ngụy quyền đã được văn bản hóa trong các nghị quyết của Đảng và đặc biệt nó còn là một phần không thể thiếu trong Lời kêu gọi Chống Mỹ cứu nước, trong Di chúc của Bác Hồ, mà Những văn kiện này đã được Đảng và Nhà nước xác định là Báu Vật quốc gia!

  Nên cụm từ ngụy quyền ngụy quân Không Thể Thay Thế dù với bất kỳ lý do nào! 

  Chúng tôi còn biết và rất bức xúc khi qua lời phát biểu của Nguyễn Mạnh Hà rằng: sẽ tuân thủ theo sự quán việt của Phan Huy Lê: triệt để bỏ đi cụm từ ngụy quân Ngụy Quyền khi ghi chép lịch sử của dân tộc giai đoạn toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước(???)

  Tại sao các ông Phớt lờ sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: rằng lịch sử như thế nào phải ghi chép lại như vậy. Để các ông Chỉ nghe theo lời quán triệt của Phan Huy Lê?

  Vậy Phan Lê là ai?

  Ông ta có đại diện cho ý chí của toàn Đảng toàn dân hay không??

Hay ông ta đã bộc lộ rõ là một kẻ xuyên tạc trắng trợn về lịch sử của dân tộc, khi ông ta cho rằng: ngay từ năm 1757 nhà Nguyễn đã định hình ra nước Việt Nam tương đương như nước Việt Nam ngày nay(???). Xảo quyệt và hèn mạt hơn khi Phan Huy Lê đã mượn lời một người đã khuất để hòng xóa bỏ nhân vật anh hùng Lê văn Tám, Để qua đó đánh thẳng vào truyền thông của những người cộng sản.

Mọi thủ đoạn, mọi âm mưu và ý đồ Hòng bỏ đi cụm từ ngụy quân Ngụy quyền trong lịch sử của dân tộc của các ông là biểu hiện rất rõ của sự xuyên tạc, của sự bóp méo lịch sử. Bỏ đi cụm từ Ngụy quân ngụy quyền, là các ông đang muốn Cào Bằng chính nghĩa với phi nghĩa. Các ông muốn làm mất đi tính Chính nghĩa của Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

 Bỏ cụm từ Ngụy quân ngụy quyền cũng thể hiện rất rõ ý đồ muốn phủ nhận quan điểm tư tưởng của Đảng và Bác Hồ!

Ảnh: Thầy và trò lật sử bậc nhất của Việt Nam ta.

Yêu nước ST.

BÁC HỒ NÓI VỀ NHÀ NGUYỄN!

VUA GIA LONG (NGUYỄN ÁNH) KẺ "CÕNG RẮN, C.Ắ.N GÀ NHÀ"!

…Xin cho tôi được chọn và trích dẫn ra đây một vài bài viết của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từng kịch liệt phê phán vương triều nhà Nguyễn trong suốt nửa thế kỷ, nhằm giúp chúng ta có cơ sở thẩm định về quan điểm chính trị và học thuật của một số người làm công tác trong lĩnh vực nghiên cứu Sử học hiện nay.

Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16/10/1919, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”


- Trong ”Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21/9/1923, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.


- Trong bài ”Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 01/02/1942, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. ”Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa”.


- Trong bài diễn ca ”Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên Truyền Bộ xuất bản, tháng 2/1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau: "Gia Long lại dấy can qua

Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài

Tư mình đã chẳng có tài

Nhờ Tây qua cứu,

tính bài giải vây

Nay ta mất nước thế này

Cũng vì vua Nguyễn

rước Tây vào nhà

Khác gì cõng rắn cắn gà

Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.


Và Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau:

"Nay ta mất nước nhà tan

Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn

Năm Tự Đức thập thất niên

Nam Kỳ đã lọt dưới quyền

giặc Tây

Hăm lăm năm sau trận này

Trung Kỳ cũng mất,

Bắc Kỳ cũng tan

Ngàn năm gấm vóc giang san

Bị vua họ Nguyễn

đem hàng cho Tây!

Tội kia càng càng đắp càng dày

Sự tình càng nghĩ

càng cay đắng lòng”.


Trong bài diễn ca này, Nguyễn Ái Quốc đã điểm những cột mốc lịch sử quan trọng như sau: “Năm 1794, Gia Long thông với Tây. Năm 1847, Tây bắt đầu đánh nước ta. Năm 1862, vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây”.


- Trong ”Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại Thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3/1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: ”Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.


- Trong ”Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3/4/1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại-ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: ”Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam.


 Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.

- Trong quyển ”Thường thức chính trị” do Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc”.


- Trong ”Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá I, ngày 18/12/1959, Bác Hồ viết: ”Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.


Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12/7/1940, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp”.


Chúng ta còn được biết thêm một sự kiện rất lý thú: Ngày 24/02/1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L’Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3/1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Mácxen Casanh, Giăng Lông Ghê và báo L’Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này.


Sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, trải qua 15 năm hoạt động bí mật trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đảng đã từng kịch liệt lên án vương triều nhà Nguyễn (Chính phủ Nam triều) và ông vua “bù nhìn Bảo Đại”.


- Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng Bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là ”trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp”.


- Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ:”Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931”. ”Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc”.


Qua một số ít tư liệu mà tôi trích dẫn trên đây, tự nó, đã xác minh quan điểm chính thống về Sử học của Bác Hồ và của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn đã và đang bị một số nguời cố tình phản bác.


Quả thực cho đến nay, không phải trong giới Sử học ai cũng đồng thuận với khuynh hướng tư tưởng ấy. Ngay tại cuộc hội thảo lần này, không ít người như giáo sư Văn Tạo - nguyên Viện trưởng Viện Sử học đã khẳng định: Thống nhất đất nước của Tây Sơn là gắn với độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ, còn thống nhất đất nước của vua Gia Long nhờ cắt đất dâng cho thực dân mà có được. Đây rõ ràng là có tội như ông cha ta đã từng phê phán là ”Rước voi về giày mả tổ”, ”Cõng rắn cắn gà nhà”.


Tại Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua, tôi biết rõ giáo sư Trần Văn Giàu - một nhà Sử học lão thành bậc thầy được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy đồng chí Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tuỳ tiện, thoát ly hiện thực lịch sử…


Theo dõi cuộc hội thảo được tổ chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hoá, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều người dân Sài Gòn trước đây ngạc nhiên nói: ”Những câu: ”Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về giày mả tổ”, ”Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”,…đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu Sử học ở miền Bắc lại tìm mọi cách để phản bác những câu đó?”.


Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…) cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Không ai bài bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn nghệ…

Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên trận địa tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành Sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.


Nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thứctrong xã hội. Thật vậy, trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn, hàng chục triệu nhân dân ta - nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai? Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm Sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cuộc hội thảo vừa qua tại tỉnh Thanh Hoá và trong những cuộc hội thảo trước đó.


Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về Sử học và chuẩn bị biên soạn bộ quốc sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng.


Chúng tôi hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những người đã từng đi chệch tư tưởng Hồ Chí Minh về Sử học và đã nặng lời công kích “phương pháp luận Sử học mác-xít ấu trĩ, giáo điều, công thức”. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận Sử học của ai? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt tư tưởng./.

Yêu nước ST.

GIẢI THƯỞNG VINFUTURE TRUYỀN CẢM HỨNG CHO CÁC NHÀ KHOA HỌC

 

Tối 20/1, các nhà khoa học tên tuổi hàng đầu trên thế giới đã tụ hội về Hà Nội để dự lễ trao Giải thưởng khoa học công nghệ toàn cầu VinFuture. Sự kiện được phát trực tiếp trên một số kênh truyền thông lớn của thế giới, với sự hiện diện của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, lãnh đạo các bộ ban ngành trong nước và đại sứ của nhiều quốc gia.

Theo Yahoo Finance, giải thưởng VinFuture đã truyền cảm hứng sâu sắc cho tất cả các nhà khoa học có liên quan và sẽ là một bước tiến quan trọng để đưa Việt Nam lên bản đồ khoa học thế giới. Đồng thời, sự kiện này cũng nhằm tôn vinh những người sẵn sàng đi xa hơn để tạo ra những đột phá khoa học, nâng tầm nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Giáo sư Albert P. Pisano từ Đại học California là đồng Chủ tịch Hội đồng Sơ khảo của giải thưởng VinFuture. Ông chia sẻ "Hiếm khi tôi thấy có một giải thưởng ghi nhận sự tận tâm của các nhà khoa học đến vậy, kể từ khi hình thành ý tưởng cho đến khi hiện thực hóa và tác động đến hàng triệu người".

Chuyên trang về công nghệ TechNode Global cho rằng, những giải thưởng như VinFuture có thể là chìa khóa mở ra cánh cửa tươi sáng cho hành trình mới. Giải thưởng sẽ thúc đẩy nhiều nhà khoa học và cho họ thêm động lực để vượt qua khó khăn, thử thách bản thân. Từ đó, sẽ có thêm nhiều bạn trẻ quyết tâm đi theo con đường nghiên cứu, tìm ra những sáng tạo đột phá cống hiến cho cuộc đời.

GS Leslie Gabriel Valiant, Trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng Harvard, bày tỏ hy vọng vào tương lai khi thế giới ngày càng nhận thức được sức tác động của khoa học và công nghệ tới đời sống con người. "Nhìn vào các đề cử, tôi càng thấy rõ chúng ta đang sống trong một thời kỳ xuất sắc vì đã có những đóng góp cho khoa học và công nghệ", GS Leslie Gabriel Valiant nói.

Tạp chí Nature cho hay, với trị giá 3 triệu USD, giải thưởng lớn VinFuture có giá trị gấp gần ba lần so với các giải thưởng khoa học thường niên khác trong khu vực. Giải thưởng chính trị giá 3 triệu USD đã được trao cho 3 nhà khoa học Katalin Kariko, Drew Weissman (Mỹ) và Pieter Cullis (Canada) với công nghệ mRNA, mở đường tạo ra các loại vaccine ngăn ngừa Covid-19. 

Bên cạnh giải thưởng chính, VinFuture cũng trao 3 giải đặc biệt, mỗi giải trị giá 500.000 USD dành cho các nhà khoa học nghiên cứu trong các lĩnh vực mới, nhà khoa học nữ và nhà khoa học đến từ các nước đang phát triển.

Cùng với các giải thưởng khoa học nổi tiếng khác như Nobel, Turing hay Fields, giải thưởng VinFuture ghi nhận những nghiên cứu và đổi mới công nghệ mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Đồng thời, giải thưởng hướng đến những nghiên cứu tạo ra một thế giới bình đẳng và bền vững hơn. 

Tạp chí Nature bình luận, tầm nhìn của giải thưởng VinFuture là thúc đẩy sự thay đổi có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của mọi người, cùng lúc đó hỗ trợ các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.

Lễ trao giải VinFuture Prize kết thúc mùa giải đầu tiên với kết quả vượt xa mong đợi của Hội đồng giải thưởng cả về số lượng, chất lượng và tiềm năng ứng dụng thực tế của các đề cử. Tạp chí Nature nhấn mạnh, thành công ban đầu của giải thưởng sẽ đặt nền tảng cho việc mở rộng tầm ảnh hưởng của VinFuture trong những năm tới.

TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ KHI MÀ TỔ QUỐC LUÔN LÀ TRÊN HẾT!

         Nếu có trong tay khoảng 6000 tỷ, tương đương khoảng 260 triệu đô la Mỹ và đổi lại, đối phương muốn các bạn ngừng công việc hiện tại mà các bạn đã làm trong khoảng 30 năm trước đó. Các bạn có đồng ý không?

Tháng 7/1946, công văn mật của Sở tình báo Paris cho biết Ngân hàng Đông Dương đã chấp nhận “lobby” cho Chủ tịch Hồ Chí Minh khoảng 30 tỷ Francs Pháp. Đổi lại, họ yêu cầu Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bỏ các hoạt động đòi độc lập cho phía Việt Nam. Nói về khoản tiền ấy đơn giản thế này, nếu nhận lời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ trở thành một trong những người giàu nhất Đông Dương thời đó. Công tử Bạc Liêu ư? Có lẽ cũng bình thường thôi.

Cũng trong chuyến công du đó, tình báo Pháp cho biết sẵn sàng phá rối các hoạt động của Bác tại Paris và khu vực lân cận. Thậm chí, họ sẵn sàng chuẩn bị cho một chuyến mưu sát Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua một nhóm cực đoan là Trotcyste. Nhóm này sẽ thực hiện một vụ ném bom trên đường di chuyển của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vừa gây sức ép bằng túi tiền không đáy, vừa gây sức ép về mặt tính mạng. Có lẽ là với nhiều người, nhận xừ nó 6000 tỷ rồi ăn chơi hết đời là xong, khỏi lo chuyện thiên hạ làm gì. Nhưng, sự tầm thường của nhiều người làm nổi bật sự vĩ đại một người.

Bác tránh việc bị ám sát ngầm bằng việc làm việc hết công suất và nỗ lực tham gia rất nhiều các hoạt động tiếp xúc công cộng, tiếp xúc với các lãnh đạo, giới chức không chỉ của Pháp mà còn của các quốc gia khác. Trong khoảng 100 ngày ở Pháp, Bác đã tham gia 400 cuộc họp, hội đàm, làm việc với các bên. Mật vụ Pháp băn khoăn không biết nên làm gì, phá rối hay ném bom thì đều đụng phải “khách VIP”.

Trong cuộc tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại Pháp, Bác nói: “Tổ Quốc trên hết. Dân tộc trên hết”, thể hiện sự kiên định với lý tưởng độc lập dân tộc cho người dân và đất nước Việt Nam. Đừng giữa nước Pháp, một quốc gia bấy giờ là thù địch của Việt Nam, chịu rất nhiều áp lực, nhưng lại dám tuyên bố mạnh mẽ như vậy.

Và câu nói đó, như là một lời đáp với Ngân hàng Đông Dương và các mật thám Pháp. Vì đằng sau của Bác, là một nỗi khát khao về một sự độc lập dân tộc cho Việt Nam, là hàng chục triệu người dân Việt Nam, nỗi khát khao đó lớn hơn bất cứ một khoản tiền nào, bất cứ một khó khăn, khát khao đó lớn hơn cả tính mạng.

Như người ta vẫn hay thường nói, sau này là lịch sử./.

Yêu nước ST.

MỸ BÁC TIN CHIẾN HẠM BỊ TRUNG QUỐC"XUA ĐUỔI"Ở GẦN HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM!

         Hải quân Mỹ bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về triển khai lực lượng "xua đuổi" khu trục hạm USS Benfold áp sát Hoàng Sa ngày 20/1.

"Tuyên bố của Trung Quốc về chuyến tuần tra này là sai sự thật. USS Benfold thực hiện chiến dịch tuần tra tự do hàng hải (FONOP) theo quy định của luật pháp quốc tế và tiếp tục các hoạt động bình thường trong vùng biển quốc tế", Hạm đội 7 hải quân Mỹ cho biết trong thông cáo hôm qua.

Thông cáo được Hạm đội 7 đưa ra sau khi Bộ Tư lệnh Chiến khu phía Nam của quân đội Trung Quốc tuyên bố đã triển khai lực lượng "xua đuổi" USS Benfold khi khu trục hạm này áp sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, hiện bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

"Tuyên bố của quân đội Trung Quốc là động thái mới nhất trong nỗ lực diễn giải sai các hoạt động hàng hải hợp pháp của Mỹ, cũng như đòi yêu sách hàng hải phi lý và bất hợp pháp của họ tại Biển Đông, bất chấp quyền của các nước láng giềng ở Đông Nam Á", Hạm đội 7 cho biết.

Hạm đội 7 cho rằng hành vi của Trung Quốc trái ngược với cam kết của Mỹ trong tuân thủ luật pháp quốc tế và tầm nhìn về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở.

Khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường Benfold ngày 20/1 tiến hành hoạt động tuần tra tự do hàng hải (FONOP) gần quần đảo Hoàng Sa. Chiến hạm Benfold đi vòng quanh quần đảo, sau đó tiếp tục hoạt động ở Biển Đông.

Đây là lần đầu tiên Mỹ triển khai chiến dịch FONOP gần quần đảo Hoàng Sa trong năm nay. Hải quân Mỹ cho biết hoạt động này còn nhằm tiếp nối hiện diện quân sự lâu dài của họ tại khu vực.

Mỹ thường xuyên triển khai chiến dịch FONOP ở Biển Đông để thách thức các yêu sách lãnh thổ phi lý của Trung Quốc. Hải quân Mỹ phản đối Trung Quốc vẽ ra cái gọi là "đường cơ sở thẳng" bao quanh toàn bộ vùng biển trong các chuỗi đảo ở Biển Đông.

Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng từ năm 1974. Nước này thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa", đặt trụ sở trên đảo Phú Lâm từ tháng 7/2012 nhằm thâu tóm các quần đảo ở Biển Đông, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Việt Nam từng nhiều lần lên án hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý để khẳng định chủ quyền với Trường Sa và Hoàng Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế. Mọi hoạt động của các bên tại Trường Sa và Hoàng Sa mà không có sự cho phép của Việt Nam đều vô giá trị./.

Ảnh: Khu trục hạm USS Benfold di chuyển trên Biển Đông ngày 12/1.

Yêu nước ST.

BÀN CỜ THẾ GIỚI: NƯỚC NGA PHÒNG THỦ VÀ PHÁT TRIỂN!

         Nước Nga từ xưa tới nay chẳng mấy dính dáng đến những cuộc chiến tranh lâu dài và tốn kém, ngoại trừ cuộc chiến ở Afghnistan thời Liên Xô và Syria hiện nay.

Có ý kiến cho rằng Liên Xô sụp đổ thế mà hay. Chuyện này hạ hồi phân giải. Có điều khi Liên bang Xô Viết còn hiện diện, thể chế này đã phải gánh một gánh nặng các nước cộng hòa, mà sự đóng góp của các nước trong khối chỉ là theo sự phân công lao động.

Tỷ như Ukraine được phân công trong lĩnh vực công nghiệp nặng, công nghiệp quốc phòng; các nước cộng hòa Trung Á phát triển ngành công nghiệp khai khoáng; ngay như nước Bulgaria nho nhỏ cũng là nơi cung câp sản phẩm nông nghiệp cho khối (kể cả nước hoa!). Việt Nam ta là một nước có chiến tranh không những không đóng góp mấy mà còn được các nước trong phe cung cấp các điều kiện cần thiết để chống xâm lược.

Đúng là một cái gánh rất nặng đè lên trên vai những người Xô Viết.

Ngày mà Liên Xô sụp đổ, người phương tây nhìn người Nga với con mắt khinh thường, và các chính phủ phương tây nghĩ rằng, chẳng mấy ngày, họ sẽ bắt người Nga phải khuất phục. Thậm chí đến tận ngày hôm nay, người ta vẫn nghĩ sẽ một ngày lôi kéo nước Nga gia nhập NATO!

Phương cách mà các chính phủ phương tây lôi kéo các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ là làm cho họ nghèo đi, nền kinh tế kiệt quệ đi thì chỗ dựa duy nhất chỉ còn là EU và NATO. Phải công nhận họ đã thành công trong phương cách ấy.

Mạnh nhất trong phe XHCN sau Nga là Ukraine, nhưng chỉ sau khi ăn mấy “trái cam màu vàng” thì mọi thứ biến mất. Công nghiệp đóng tàu không còn, có một tàu sân bay phải đem bán cho Trung quốc; Mỹ tìm cách phá nát nền công nghiệp quốc phòng Ukraine để rồi hết tổng thống này đến tổng thống khác phải ngửa tay xin tiền từ phương tây.

Đến lúc này thì Mỹ và phương tây bảo gì thì Ukraaine cũng phải nghe. Thế là tự nguyện làm tên lính xung kích đứng lên, phồng mang trợn má hù dọa nước Nga của Putin.

Một lần tôi sang Bulgaria, đi thăm thung lũng hoa hồng, nơi đó khi xưa, thời còn là nước XHCN đã xuất khẩu hoa hồng và nước hoa sang nước khác. Đến nơi tôi chẳng thấy một cây hồng, hỏi ra mới biết, họ phá bỏ hết rồi, bây giờ nhập hoa hồng từ nước khác thôi. Đó là một nước nông nghiệp, bây giờ các cô gái Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) vẫn sống ở đó song họ chảnh lắm!

Đưa những câu chuyện trên ra để nói rằng, nước Nga ngày nay bị cô lập hoàn toàn. Người ta điều động quân và vũ khí từ nơi xa lạ nào đó đến sát biên giới Nga, Nga buộc phải điều động bình sĩ, khí tài ra chuẩn bị nghênh chiến. Một bên đưa quân từ nơi khác đến, một bên thì điều binh trong nước. Ấy thế mà bên từ nơi khác đến lại cứ to mồm tố bên phòng thủ là đe dọa!

Chẳng phải vô cớ mà họ nói vậy đâu. Họ nói vậy để anh Tổng thống danh hài run lên mà xin phương tây giúp kẻo chúng tôi sẽ bị Nga oánh đến nơi rồi. Thế là cứ phụ thuộc, phụ thuộc mãi vào Mỹ không thôi. Mỹ không cho Ukraine lớn và khôn, vì như vậy Mỹ không khống chế được và mất đi công cụ hù dọa Nga.

Nga ngày nay đã khác Liên Xô ngày xưa rồi. Nga gần như rảnh tay với các nước Cộng hòa cũ, bây giờ chỉ còn lại Tổ chức An ninh tập thể (CSTO) gồm 6 nước thành viên, Nga đủ sức gánh vác. Ngoài ra còn đủ thời gian và nguồn lực để phát triển những loại vũ khí tối tân như vũ khí siêu thanh, vũ khi tác chiến điện tử… Thậm chí, vừa rồi Nga còn dùng hỏa tiễn phá thử một con tàu vũ trụ cũ kỹ đang bay trên quỹ đạo, thành công rồi!

Mới đây thôi, anh Putin ra Sắc lệnh số 374, thoạt nhìn tưởng đây là một văn bản chỉ có tính nội bộ, song thực đó là một lệnh, làm cho Hạm đội Phương Bắc của Nga trở thành một đơn vị hành chính quân sự độc lập trong biên giới của khu vực Murmansk va Arkhangelsk. Sau khi sắc lệnh này được ban hành, có cơ quan thông tin đã nói rằng “Bộ chỉ huy NATO rơi vào tình trạng hoang mang”.

Chỉ biết rằng, Sắc lệnh 374 đã đem lại cho Nga sức mạnh ở vùng biển phương Bắc mà NATO đang ra sức làm giảm bớt ảnh hưởng của Nga tại đây. Việc này cũng sẽ tác động đến toan tính của Trung quốc trên con đường tơ lụa mới.

Sự kiện xảy ra ờ Kazakhstan là một chiến thắng, một điểm cộng của ông Putin không chỉ trước phương tây mà còn ngay cả trước Trung quốc. Cả phương tây và Trung quốc ngỡ ngàng trong việc Tổng thống Tokayev kêu gọi Nga (thông qua CSTO) giúp đỡ. Ngày nay sự liên kết giữa Belarus, Kazakhstan và Nga bền chặt hơn trước rất nhiều. Đó là bài học cho ba nước còn lại trong liên minh CSTO, là chỉ có thể dựa vào nước Nga mà thôi. Nhờ vậy mà biên giới phía nam của Nga thêm vững chắc.

Trong năm 2021, một biên đội tàu mặt nước và máy bay chống ngầm của khối NATO đã không thể tìm ra chiếc tàu ngầm Kilo chạy bằng động cơ diesel-điện đang ở đâu, chung quanh Địa Trung hải trong một khoảng cách có thể gây nguy hiểm cho các tàu của NATO. Mỹ đã chi ra hơn 200 triệu USD để mua 18.000 phao sonar để dò tìm, song kết quả thế nào cũng chưa thấy công bố.

Rõ ràng là, Nga ngày nay đã khác trước rất nhiều, mặc cho Mỹ và phương tây bao vây, cấm vận, dọa nạt song Nga vẫn âm thầm phát triển nội lực, tạo nên sức mạnh cả về quốc phòng và kinh tế. Tờ báo Financial Times ngày 18/1 cho biết Nga đã chuẩn bị các biện pháp cứng rắn để đối phó với các lệnh trừng phạt của phương tây, bằng các biện pháp làm giảm phụ thuộc vào đồng dollar Mỹ; dự trữ của ngân hàng trung ương đã tăng lên đáng kể và nợ nước ngoài của Nga năm qua chỉ chiếm 20% GDP của nước này.

Ngày nay Nga có bán đảo Crimea, biển Azov, biển Đen ở phương nam; có căn cứ quân sự ở phương tây, đó là Kaliningrad; Nga có căn cứ Khmeimim ở Địa Trung hải; hướng đông và bắc đó là cái đơn vị được thành lập theo 374. Gần đây nước Nga đã cho trình làng máy bay ném bom TU-160M cánh cụp cánh xòe, có thể nói vũ khí này sẽ làm cho Ukraine không còn mộng tưởng gia nhập NATO nữa. Rồi nước Nga lại có thứ thủy lôi mang tên Poseidon, có thể nằm im dưới đáy biển, một chiến hạm địch đi qua là nhận lệnh kích nổ. Thứ này thì phương tây không có.

Nga đang cùng Trung quốc và các nước có quan hệ kinh tế, nhất là dầu mỏ, hạ thấp dần ảnh hưởng của đồng dollar trong thanh toán quốc tế.

Rõ ràng là bàn cờ chính trị thế giới hiện nay có các mối quan hệ chằng chịt – bạn, thù, đối tác, đối thủ biến hóa khôn lường. Đừng ai nghĩ Việt Nam sẽ dựa được vào ai đó để phát triển. Có khi lại giống con ruồi mắc vào cái mạng nhện, đến lúc đó chẳng còn đường ra, chỉ còn biết hiến thân thôi./.

Ảnh: Máy bay TU-160M của Nga, mối đe dọa cả châu Âu.

Yêu nước ST.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN NĂM 1979: VỀ BỌN BÀNH TRƯỚNG BÁ QUYỀN BẮC KINH!

         Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.

Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?

Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?

Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!

Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?

Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Có bao nhiêu người?

Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!

Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan! 

Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người Việt nam đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?“. Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!”.

Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.

Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.

Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.

Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.

Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.

Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.

(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) - Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam…

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.


Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].


Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?

Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.

- Chú đã thấy gì?

Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.

Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.

Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.

…Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ...

Môi Trường ST.

GIÁO SƯ CHÂU TRƯỚC NÓI: KHÔNG PHẢI TIỀN LÀ TẤT CẢ. NHƯNG GIỜ LÀM CHO TRUNG QUỐC LÀ VÌ TIỀN!

Anh Châu lúc lên mạng thì hay nói đạo lý, hóa ra lại sang bên Trung Quốc làm chuyên gia toán học lúc nào không biết. 

Toán học là toán học, nó là thế giới phẳng, nó phi giai cấp, phi lý tưởng, phi chính trị. Toán học ở thế giới tư bản Pháp, Mỹ và toán học ở thế giới Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên thì cũng đều chung ngôn ngữ và tiếng nói cả. Bởi thế, việc một nhà toán học đẳng cấp quốc tế làm việc ở đâu thì điều đó cũng đều tốt đẹp cho nhân loại, cho sự nghiệp cộng trừ nhân chia của loài người,... Chỉ có điều, giá như, giá như thôi, trước đó, anh bớt lập ngôn đao to búa lớn.

Giáo sư Wu Baozhu (吴宝珠) từng tuyên bố sẽ không vì tiền mà bất chấp sang Trung Quốc: "Trở thành triệu phú thích thú nỗi gì nếu để cho bạn bè, đồng nghiệp có cảm giác là mình quay lưng với đất nước?”. 

Hay như Giáo sư Wu Baozhu cũng rất nhiều lần thể hiện tinh thần "bài Tầu" một cách quyết liệt, cũng như không ít lần lớn tiếng dậy dỗ Nhà nước Việt Nam phải chống Trung Quốc ra làm sao... bla..bla... Và giờ thì Giáo sư Wu Baozhu quay xe khét mù...

- "À, mình đi Trung Quốc vì đam mê toán học thôi với lại mình đóng fb lâu rồi mình chửi Trung Quốc hồi nào?" Giáo sư Wu Baozhu said.

Thực ra, giờ thế giới phẳng, ở đâu thì cũng cống hiến cho đất nước cho nhân loại cả thôi. Cần gì phải gồng mình, cần gì phải chém gió làm gì, để đến lúc sự thật hé ra lại khó xử. Hehe!


Môi Trường ST.

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2022

THAY THẾ GIẤC MƠ MỸ


Cách đây vài năm, David Ignatius đã viết một bài báo trên tờ Washington Post với tiêu đề: "Thay thế giấc mơ Mỹ" trong đó ông nói về việc đi du lịch khắp thế giới với tư cách là một phóng viên nước ngoài trong thời gian 35 năm trở lại đây, và ông tin rằng nếu là một người Mỹ thì nên mang theo một lá cờ trắng, có lẽ là sự thuần khiết và ưu việt về mặt đạo đức, để có thể biểu thị rằng bản thân - một người Mỹ - là "khác biệt", và thế giới có thể chấp nhận điều đó.


Tiếp theo, ông lưu ý một cách chán nản rằng Hoa Kỳ đang từ từ băm nhỏ mảnh vải biểu tượng xác định ý nghĩa của nước Mỹ, mà người Mỹ hiện được coi là những kẻ đạo đức giả luôn tự hào về những giá trị dân chủ của mình nhưng lại cư xử bất hợp pháp và khinh miệt những người khác. Tiền đề cơ bản của Ignatius là Hoa Kỳ và người Mỹ nói chung, đã sử dụng tất cả hạt ngô của họ và bây giờ cần phải tiếp cận với thế giới và "chia sẻ các giá trị của nước Mỹ" một lần nữa.


Sau đó, ông kết thúc với một tuyên bố hy vọng về kỷ niệm ngày lễ Tạ ơn của Mỹ. Đọc từ cuốn sách lịch sử Mỹ huyền thoại của mình, ông kể lại nỗi sợ hãi hoang vắng của người hành hương khi họ rời Thế giới cũ của nước Mỹ, và kiếm tiền thưởng vô tận mà họ tìm thấy ở vùng đất mới, nơi họ "chia sẻ" với người bản địa. Đúng, bạn vừa đọc một thông tin chính xác về Lễ Tạ ơn đầu tiên, một chút ngắn về việc chia sẻ vô số tiền thưởng. Ignatius kết thúc bằng dòng chữ: "Chúng ta cần đặt sự giàu có của nước Mỹ lên bàn và chia sẻ chúng với thế giới, một cách khiêm nhường và biết ơn". 


Tôi đã viết một bài trả lời cho Ignatius, trong đó có đoạn: "Bạn nói rằng khi bạn đi khắp thế giới với tư cách là một phóng viên mang cờ Mỹ, bạn đã tin và cảm thấy mình khác với tất cả những người khác, bạn cho rằng đó là một nhận thức mà được tất cả người nước ngoài chia sẻ. Nhưng điều đó không chính xác. Điều bạn thực sự muốn nói là bạn giỏi hơn họ và họ biết điều đó. Sự tuyệt vọng của bạn ở đây không phải là vì đã xé mảnh vải sao vạch của bạn, mà là một sự hối tiếc hoài cổ rằng những người đó cuối cùng đã nhận ra bạn không tốt hơn họ, mà là tệ hơn, và họ không còn tôn trọng bạn nữa, mà là coi thường bạn".


"Bạn không muốn tiếp cận và 'chia sẻ sự giàu có của nước Mỹ'. Những gì bạn muốn là trồng lại những giá trị không tưởng sai lầm về sự ưu việt của người Mỹ trong tâm trí của tất cả những người đó, để bạn có thể một lần nữa đi khắp thế giới và tự nói với bản thân rằng bạn tốt hơn mọi người - và hy vọng một lần nữa nhìn thấy sự si mê đó trong mắt họ. Bạn nói rằng bạn muốn ngừng hành xử như thể bạn đang ở trong tình trạng chiến tranh vĩnh viễn, nhưng chính nước Mỹ của bạn luôn ở trong tình trạng chiến tranh vĩnh viễn. Đó là những gì bạn đang làm, đang tự gây ra".


"Chiến tranh xâm lược là tất cả những gì xác định hình ảnh nước Mỹ của bạn là một quốc gia. Bạn không muốn thế giới nghĩ xấu về bạn về văn hóa tra tấn, tàn sát và chiến tranh, nhưng bạn không có ý định chấm dứt chúng. Bạn tiếp tục tiêu diệt các quốc gia, lật đổ các chính phủ, thúc đẩy các cuộc chiến tranh và các cuộc 'cách mạng' khu vực, đẩy các quốc gia nhỏ vào nghèo đói và khốn cùng, nhưng bạn chỉ muốn được đánh giá bởi những giá trị không tưởng mà bạn giảng giải nhưng không bao giờ tuân theo".


"Bạn nói rằng người Mỹ đi du lịch và chia sẻ trên mạng sẽ khiến mọi thứ ổn trở lại, rằng bạn sẽ không còn bị hiểu lầm nữa. Nhưng tại sao bạn không suy nghĩ rằng Hoa Kỳ của bạn ngày nay là quốc gia bị căm ghét nhất trên thế giới? Không phải vì thế giới không hiểu bạn, mà chính vì nó hiểu bạn. Bạn bị chửi rủa như một quốc gia và một dân tộc, vì những giá trị của bạn chỉ tạo ra sự bất ổn, khủng bố, khốn khổ, nghèo đói và chết chóc".


"Bạn nói rằng bạn muốn đưa một cái gì đó trở lại thế giới. Chà, có lẽ bạn có thể bắt đầu bằng cách trả lại đất nước mà bạn đang sống, cho những người mà bạn đã đánh cắp nó của họ. Có lẽ bạn có thể trả lại Panama cho Columbia và trả lại Hawaii cho người Hawaii. Và có lẽ nên để Puerto Rico trở lại là của người Puerto Rico. Có lẽ bạn có thể trả lại Triều Tiên cho người Triều Tiên, ngừng ngăn chặn sự thống nhất mà họ mong muốn suốt 60 năm qua. Có lẽ bạn có thể ra khỏi Đài Loan và Hồng Kông. Có lẽ bạn muốn trả lại của cải mà bạn đã cướp được từ khoảng 100 quốc gia với sức mạnh của quân đội bạn".


Có lẽ bạn muốn trả lại cho Chile số đồng kim loại trị giá hàng trăm tỷ đôla mà bạn đã đánh cắp. Có lẽ bạn muốn trả lại tất cả số vàng bạn đã cướp được từ tất cả Trung, Nam Mỹ và Caribbean, khi bạn liên tục xâm chiếm các quốc gia đó, buộc họ phải mở - và sau đó rút hết - các kho tiền trong ngân hàng trung ương của họ. Có lẽ bạn muốn thuyết phục Citibank trả lại hàng tỷ đôla vàng mà nó đã đánh cắp từ các công dân Trung Quốc đã từng tin tưởng nó. Có lẽ bạn muốn trả lại cho Philippines, Nicaragua và Haiti sự bình yên và hạnh phúc mà họ có trước khi bạn xâm chiếm và tiêu diệt chúng".


"Có lẽ bạn muốn trả lại cho các bà mẹ ở Iraq 500.000 em bé mà Madeline Albright đã giết hại. Bạn nói rằng bạn muốn chia sẻ sự giàu có của nước Mỹ với thế giới, nhưng thời gian cho điều đó đã qua. Bạn không còn có bất kỳ sự giàu có nào để có thể chia sẻ với bất kỳ ai và bạn không bao giờ chia sẻ chúng ngay cả khi bạn đã từng có. Thay vào đó, bạn đã chia sẻ đạn pháo uranium của mình với người dân Iraq và Libya, những người ngày nay sinh ra các thai nhi được mô tả là 'cục thịt không xác định được'. Cũng như trước đây trong suốt một thập kỷ, bạn đã chia sẻ bom napalm và chất độc màu da cam với người dân Việt Nam, những người ngày nay, năm mươi năm sau, vẫn còn phải sinh ra hàng chục ngàn em bé dị dạng bẩm sinh".


"CIA của bạn đã chia sẻ cẩm nang tra tấn dày 1.000 trang và huấn luyện Biệt đội tử thần cho chế độ của hàng chục kẻ độc tài của bạn ở Mỹ Latinh. Bạn đã chia sẻ thương hiệu dân chủ của mình với Nam Tư, chuyển đổi nó từ một liên bang hoà bình thành một mớ hỗn độn tuyệt vọng và thảm hại, và sau đó bạn đã chia sẻ khuôn mẫu đó với hàng tá quốc gia khác, tự hào về cuộc cách mạng màu sắc của bạn, không để lại gì ngoài cái chết và đau khổ trong mỗi người". 


"Nếu bạn không phiền, chúng tôi không muốn bạn chia sẻ thêm bất cứ điều gì với chúng tôi.

Chúng tôi đã có quá đủ sự tiếp xúc với tự do, dân chủ và nhân quyền kiểu Mỹ, mà bạn đã chia sẻ với chúng tôi qua nhiều thế hệ.

Và, nói thật với bạn, nhân loại 

trên toàn thế giới đã quá ghê tởm, buồn nôn vì những thảm họa tàn bạo, vô nhân, chết chóc và khổ sở trên toàn thế giới do bạn gây ra, cũng như do chính sự khoan dung của nhân loại trước sự giả hình, dối trá của bạn.

Tất cả những gì chúng tôi muốn là chỉ cần bạn hãy về nhà, để ý đến công việc kinh doanh của riêng bạn và hãy đưa những ngón tay bẩn thỉu, đẫm máu của bạn ra khỏi hầu hết các quốc gia trên thế giới mà bạn đang khai thác. 

Ngô hạt mà bạn đề cập, đã biến mất, nhưng nó đã không được ăn. Nó chỉ mục nát".

VIỆT NAM BÁC BỎ THÔNG TIN SAI TRÁI CỦA TRUNG QUỐC VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ BIỂN!

     Báo Trung Quốc China Daily gần đây có bài viết cho rằng Việt Nam xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên biển có vũ trang và thể hiện quan ngại điều này có thể dẫn đến xung đột.

Trả lời về phản ứng của Việt Nam trước thông tin này, tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 20-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết những thông tin mà China Daily đưa ra là không đúng sự thật, vì vậy Việt Nam hoàn toàn bác bỏ.

Người phát ngôn khẳng định Việt Nam kiên trì chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ. Hoạt động của các lực lượng chức năng Việt Nam tuyệt đối tuân theo pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.

Cùng với đó, Việt Nam luôn nỗ lực đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982.

"Chúng tôi kêu gọi các nước trong và ngoài khu vực đóng góp có trách nhiệm cho mục tiêu này", bà Thu Hằng nói.

Trước đó, một bài bình luận của tờ China Daily cho rằng Việt Nam đã và đang trang bị vũ khí cho lực lượng dân quân biển và lực lượng dân quân của Việt Nam tham gia vào các cuộc đối đầu trên biển gây mất ổn định và an toàn trên Biển Đông.

Thực tế, Trung Quốc từng nhiều lần bị lên án về hoạt động của các tàu thuộc lực lượng dân quân biển của nước này.

Cụ thể, theo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Mỹ, Trung Quốc thành lập dân quân biển để bảo vệ khu vực ven bờ từ những năm 1950.

Từ thập niên 1970, với các khoản trợ cấp của Chính phủ Trung Quốc, lực lượng này phát triển về quy mô và trở thành một công cụ để Bắc Kinh củng cố yêu sách chủ quyền phi lý.

"Trong suốt những năm 2000, dân quân biển Trung Quốc chuyển trọng tâm sang do thám và quấy rối hoạt động quân sự của các nước khác". Các hành động của lực lượng này bao gồm đâm va, rải vật thể trên đường đi, xịt vòi rồng và tham gia các hoạt động di chuyển nguy hiểm khác, CSIS cho biết.

Đặc biệt theo CSIS, Trung Quốc có thể triển khai 300 tàu dân quân hoạt động ở Biển Đông để né luật quốc tế và đòi yêu sách chủ quyền phi lý./.

Yêu nước ST.

BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ LÊ DUẨN NĂM1979: VỀ BỌN BÀNH TRƯỚNG BÁ QUYỀN BẮC KINH!

         Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…“

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

- Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến ​​thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979]./.

Yêu nước ST.

TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CHỐNG CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC LIÊN XÔ ĐÃ GIÚP CHÚNG TA VÔ CÙNG TO LỚN!

     Trên mạng xã hội một số người có ý kiến bình luận và đặt ra câu hỏi: Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam thì Liên Xô ở đâu sao không giúp? Tôi xin trả lời các bạn như sau:

Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam từ Phong Thổ, Lai Châu tới Móng Cái, Quảng Ninh. Trước tình hình đó, Liên Xô chính thức đưa ra thông cáo "Liên Bang Xô Viết sẽ thực hiện những điều khoản đã ký kết trong hiệp định hợp tác và tương trợ lẫn nhau đã được ký kết với Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".


Để biểu thị cho lời nói đó và cũng để ủng hộ cuộc phản công chính nghĩa của Việt Nam sang Campuchia, giải phóng dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ và cuộc tập trận thị uy lớn nhất lịch sử được Liên Xô tổ chức ngay sát vách Trung Quốc; cử các chuyên gia cố vấn quân sự lập tức sang Việt Nam; huy động không quân sang Việt Nam chuyển quân chủ lực của Việt Nam bên K về; viện trợ vũ khí, khí tài hàng loạt cho Việt Nam.


Cuộc tập trận của Liên Xô năm 1979 là cuộc tập trận hiệp đồng quân binh chủng lớn nhất trong lịch sử. Các chuyên gia thế giới thời đó nhận định đây là cuộc biểu dương lực lượng mạnh mẽ nhất ở phía Nam Liên Xô tức là phía Bắc Trung Quốc, với lực lượng huy động hơn 600 nghìn quân trực thuộc 6 quân khu, với mục đích tạo áp lực quân sự lên Bắc Kinh. Cuộc tập trận được triển khai trên cả 3 mặt trận: Trên bộ - trên không - trên biển phía đông. Trên lãnh thổ Mông Cổ của hạm đội Thái Bình Dương, huy động 29 sư đoàn bộ binh cơ giới với số lượng quân lên đến 250.000 quân, 2.600 xe tăng, 1.000 máy bay và 80 chiến hạm trong đó động viên 52.000 quân dự bị, huy động 50.000 xe máy sang phục vụ chiến đấu


Các máy bay chiến đấu từ lãnh thổ Ukraina và Belarus được điều khẩn cấp đến miền Đông Liên Xô phục vụ chiến đấu cao nhất. Trong đó có 1 sư đoàn máy bay chiến đấu được triển khai trên lãnh thổ Mông Cổ đặt trong tình trạng chiến tranh. Những cuộc di chuyển quân thần tốc của Liên Xô khiến cho giới lãnh đạo Bắc Kinh và thế giới thời đó sửng sốt với câu nói của lãnh đạo Liên Xô "Không được đụng đến Việt Nam".

Tất cả các quân khu miền Đông, Mông Cổ đều được đặt trong tình trạng chiến tranh, các hoạt động tập trận bắn đạn thật cấp sư đoàn được tổ chức và triển khai liên tục tức là Liên Xô đã sẵn sàng can thiệp quân sự đặt Bắc Kinh vào tình thế có thể phải chiến đấu ở cả 2 đầu mặt trận. Một bên là Việt Nam với quân số thiện chiến đang được chuyển khẩn cấp ra Bắc; Một bên là Liên Xô với quân số và hỏa lực bố trí 44 sư đoàn bộ binh cơ giới dày đặc áp sát toàn tuyến biên giới Trung Quốc?

Liên Xô rất tin tưởng khả năng đánh trận của Việt Nam và cũng đã hỏi ý kiến của lãnh đạo Việt Nam về khả năng can thiệp quân sự. Và Việt Nam từ chối can thiệp thay vào đó là nhận sự ủng hộ về quân sự cũng như ngoại giao ở Liên Xô và các nước XHCN.


Không có sự răn đe của Liên Xô, áp lực của Liên Xô lên bàn cờ chính trị ngoại giao thì chưa chắc Tàu nó đã cút sớm. Không chỉ viện trợ quân sự cho Việt Nam, không chỉ ủng hộ trên ngoại giao, không chỉ ủng hộ trên trường quốc tế mà máu của những chuyên gia cố vấn Hồng Quân Liên Xô đã đổ xuống ở mảnh đất này để cứu dân tộc chúng ta. Thay lời trách móc hãy cảm ơn họ!

Yêu nước ST.

CHUYỆN VỀ CHUẨN TƯỚNG QUÂN ĐỘI NGỤY QUYỀN SÀI GÒN LÀ TÌNH BÁO CỦA CÁCH MẠNG!

NGUYỄN HỮU HẠNH, VIÊN CHUẨN TƯỚNG, QUYỀN THAM MƯU TRƯỞNG QUÂN ĐỘI CỦA NGỤY QUYỀN SÀI GÒN, TÌNH BÁO NỘI TUYẾN CỦA TWC MIỀN NAM, NGƯỜI MANG BÍ DANH SAO MAI (S7)

Trong những giờ cuối cùng của chiến tranh vào ngày 30-4-1975, vị chuẩn tướng - quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy quyền Sài Gòn luôn được nhắc đến như một nhân chứng đặc biệt, bởi ông còn là một cơ sở của Tình báo chiến lược Quân Giải phóng mang bí số S7 - Sao Mai.

Ông là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thời Chính quyền Sài Gòn trước ngày 30-4-1975. Ông sinh năm 1924 tại xã Phú Phong (H.Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho; nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình trí thức.


NGƯỜI NỘI TUYẾN HOÀN HẢO

 Cuộc đời hoạt động gắn với những câu chuyện như huyền thoại của ông Nguyễn Hữu Hạnh: “Sống giữa muôn trùng kẻ thù, làm đến chức quyền Tổng tham mưu trưởng mà đến tận ngày hòa bình thống nhất rồi, kẻ thù mới biết ông cụ là người gắn bó với cách mạng!”.

Sở dĩ cuộc đời của nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh lại gần với những huyền thoại bởi rất ít người có thể nghĩ rằng một vị Quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội của chế độ ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa lại là “Cơ sở nội tuyến của Trung ương cục”.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh đã tạo cho mình một vỏ bọc rất hoàn hảo và có thể nói Trung ương cục đã “nuôi quân 10 năm để dùng trong một giờ”.

Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng Quân Giải phóng, ông thường lệnh cho binh lính đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi Quân Giải phóng rút, ông cũng ra lệnh thu quân, không đánh tiếp. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.


TƯ LỆNH KHÔNG BAO GIỜ CHIẾM MỤC TIÊU

 Năm 1945, tốt nghiệp tú tài, ông vào học Trường Võ bị địa phương Nam Việt Vũng Tàu, tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, được điều làm trung đội trưởng một đơn vị bộ binh, dưới quyền thiếu úy - Đại đội trưởng Dương Văn Minh. Mối quan hệ này trở nên thân tình giữa hai người và có nhiều ảnh hưởng về sau.

Trong nhiều lần đối mặt với lực lượng Quân Giải phóng, ông thường lệnh cho binh lính đánh ở thế giằng co mà không tiến chiếm mục tiêu. Khi Quân Giải phóng rút, ông cũng ra lệnh thu quân, không đánh tiếp. Các cố vấn Mỹ mỉa mai gọi ông là “Tư lệnh thận trọng”, “Tư lệnh không bao giờ chiếm mục tiêu”.


ĐÁM TANG ĐẶC BIỆT VÀ NGƯỜI MANG BÍ SỐ S7 - SAO MAI

Tháng 10-1963, tại xã Phú Phong (H.Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho) diễn ra một đám tang rất đặc biệt. Người quá cố là ông Nguyễn Hữu Điệt (cha ruột đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn IV, Vùng 4 chiến thuật Nguyễn Hữu Hạnh). Trước khi nhắm mắt, ông Điệt trăn trối ước nguyện được chôn cất ở quê, bên cạnh phần mộ tổ tiên.

Đây là điều rất khó khăn đối với ông Hạnh, vì phần mộ tổ tiên nằm trong vùng Mặt trận Giải phóng kiểm soát. Ông quyết định thương lượng với Mặt trận Giải phóng xã Phú Phong, xin được an táng cha. Chính quyền xã Phú Phong đồng ý, với điều kiện hai bên phải ngừng bắn trong 3 ngày. Đám tang diễn ra suôn sẻ, hai bên tuân thủ nghiêm ngặt lệnh ngừng bắn.

 Ba ngày sau, ông Hạnh bày tỏ nguyện vọng được đến thăm mộ cha bằng trực thăng. Lực lượng cách mạng đồng ý, với điều kiện ông đi một mình. Ông Hạnh thực hiện đúng giao ước và trở về Cần Thơ bình yên.

Ông Nguyễn Hữu Hạnh trở thành mối quan tâm số một của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Nhiệm vụ tiếp cận, vận động được giao cho ông Nguyễn Tấn Thành (họ hàng với ông Hạnh). Ông Thành đã hai lần bị địch bắt, nhưng được ông Hạnh tìm cách cứu thoát. Ông Thành đã tác động, hướng ông Hạnh đứng về phía cách mạng.

Từ đây, ông Hạnh mang mật danh S7 - Sao Mai cho tới ngày 30-4-1975, không bị lộ. Từ khi hợp tác với cách mạng, không những thực hiện những yêu cầu của Trung ương Cục miền Nam, ông Hạnh còn tự giác ứng phó trong mọi tình huống, không để điều gì bất lợi xảy ra cho nhân dân, cho cách mạng.


ĐIỆP VỤ “BIG MINH”

Đầu tháng 11-1963, cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm xảy ra, Đại tá Hạnh ngấm ngầm ủng hộ bạn thân là Tướng Dương Văn Minh, hỗ trợ Đại tá Nguyễn Hữu Có chiếm vị trí chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh, thuyết phục Tướng Huỳnh Văn Cao án binh bất động không cho lực lượng Quân đoàn 4 về giải cứu, góp phần làm nên thắng lợi cuộc đảo chính anh em nhà Ngô Đình Diệm.

Năm 1969, Đại tá Hạnh được điều động trở lại Miền Tây làm Phó Tư lệnh, đến năm 1970 được phong hàm Chuẩn tướng. Do là thân hữu của Tướng Minh "Lớn" nên sự nghiệp của Đại tá Hạnh vấp phải rất nhiều trở ngại, không hợp gu với Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu và ngụy đội VNCH Đệ nhị.

Chính vì vậy, từ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 năm 1972, ông bị chuyển ra làm Chánh Thanh tra Quân đoàn I tại Đà Nẵng. Bất ngờ vào ngày 15-5-1974, lúc đó 48 tuổi, Chuẩn tướng trẻ Nguyễn Hữu Hạnh nhận quyết định về nghỉ hưu do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký, viện lý do đã phục vụ trong quân đội quá thời hạn 20 năm.

Trong chính trường Sài Gòn lúc bấy giờ ai cũng biết, Tổng thống Thiệu đang tiến hành loại dần phe cánh của Tướng Dương Văn Minh và giới Quân đội thân Pháp. Đây cũng là thời gian quân đội Mỹ đã rút khỏi Miền Nam Việt Nam, chỉ còn lại đội ngũ cố vấn CIA…

Thiệu không ưa gì Mỹ, nhưng khó thoát khỏi thế kẹt của vòng kim cô nên vùng vẫy như cá mắc lưới trên trường chính trị, ngoại giao tìm lối thoát mới. Hơn nữa, tình hình chiến sự trên các chiến trường đang diễn ra rất ác liệt, thế thắng đang thuộc về Quân giải phóng Miền Nam, chính trường Sài Gòn đang rung chuyển, lung lay từng ngày.

Tuy đã tiếp cận với Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh từ những năm đầu 1960 nhưng Mặt trận giải phóng chưa hình thành và giao phó một nhiệm vụ gì cụ thể. Theo mưu lược người xưa, nuôi quân 10 năm dùng trong 1 giờ… đang lộ dần, lộ dần từ ngày khi Chuẩn tướng trẻ bị cho "về vườn".

Những ngày cuối tháng 4-1975, các cánh quân giải phóng Miền Nam đang dần xiết vòng vây tiến về giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Miền Nam. Đồng chí Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng chỉ đạo bằng mọi giá phải đưa Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh trở về Sài Gòn để gặp Tổng thống Dương Văn Minh trước ngày nhậm chức Tổng thống từ tay Tổng thống Trần Văn Hương.

Mọi công việc đã được sắp đặt và bố trí chặt chẽ trước và ngay trong giờ khắc lịch sử đến. Tổng thống Dương Văn Minh phân công Chuẩn tướng Hạnh làm phụ tá cho tân Tổng Tham mưu trưởng là Trung tướng Vĩnh Lộc (1923-2009). Nguyễn Phước Vĩnh Lộc là dòng dõi hoàng tộc, anh em với vua Bảo Đại nhậm chức Tham mưu trưởng ngụy quân VNCH ngày 29-4-1975, đã tuyên bố hùng hồn kêu gọi quân đội tử thủ bảo vệ Sài Gòn bằng mọi giá. Nhưng rạng sáng ngày 30-4-1975, Trung tướng Vĩnh Lộc đã thoát ra biển bằng tàu chiến trên bến Bạch Đằng.

Lúc này, không ai khác hơn Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, thay ghế Tổng Tham mưu trưởng, là một trong hai vị tướng cuối cùng của chế độ ngụy quyền Sài Gòn đứng bên cạnh Đại tướng, Tổng thống Dương Văn Minh suốt mấy giờ lịch sử sang trang…

Chính ông đã ra lệnh cho ngụy quân Sài Gòn bỏ súng đầu hàng theo lệnh Tổng thống, tránh đổ máu vô ích trong cuộc hòa hợp dân tộc, bàn giao chính quyền. Và điều kỳ diệu đó đã diễn ra trong Dinh Độc lập vào trưa ngày 30-4-1975.

Có những thời khắc lịch sử không thể diễn tả bằng hai chữ "nếu như"… Chiều chủ nhật 29-4 phụ tá Hạnh chính thức ngồi vào ghế chỉ huy Bộ tổng Tham mưu. Thông qua bác họ Nguyễn Tấn Thành (bí danh Tám “vô tư”), Chuẩn tướng Hạnh đã có thể hình dung toàn bộ cục diện chiến trường và chính trường lúc này cần có những quyết định ra sao.

Lúc này, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn 3, đang đóng quân tại Biên Hòa còn rất hung hăng khi còn trong tay 3 Sư đoàn thiện chiến và nhiều Lữ đoàn phối hợp. Tướng Toàn từng đề nghị Tổng Tham mưu Cao Văn Viên nhờ Mỹ điều B52 ném bom chặn quân Việt cộng ngay cửa ngõ Sài Gòn. Nay, lại đề nghị chuyển Bộ Chỉ huy về căn cứ thiết giáp ở Gò Vấp, gần sân bay Tân Sơn Nhất.

Phụ tá Hạnh không chấp thuận mà lấp lửng trả lời: nếu đến chiều 29-4 tướng Lộc không trả lời thì cứ làm như thế, như thế. Sự thật, Chuẩn tướng Hạnh không hề báo cáo với tân Tổng Tham mưu Vĩnh Lộc và rạng sáng hôm sau thì ông này đã tìm đường chuồn ra biển. Tiếp đến là tối 29-4, tướng bại trận Xuân Lộc là Lê Minh Đảo xin lui về Tân Vạn, bên này sông Đồng Nai để cố thủ, Chuẩn tướng Hạnh đọc được ý đồ hèn nhát của tên này khi rút về cận Sài Gòn để tháo chạy.

Tướng bại trận còn xin phá sập cầu Đồng Nai ngăn chặn quân giải phóng, Chuẩn tướng Hạnh rùng mình, ra lệnh không được phá cầu vì lấy cớ còn cơ động, phản công. Khi nào cần có thể điều không quân ném bom chặn đường. Ông đã tìm mọi cách xé lẻ những lực lượng quân tử thủ ra thành nhiều mảnh nhỏ, để dồn ép Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền vào thế phải đầu hàng.

Lúc này, hai cái gai nhọn là tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 và Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô là những kẻ hiếu chiến nhất thề sinh tử bảo vệ Sài Gòn. Nhưng tất cả đã bị vô hiệu hóa, khi Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng gần trưa 30-4. Tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát, cùng tướng Phạm Văn Phú kẻ để mất Buôn Ma Thuột. Tư Lệnh Hải quân Diệp Quang Thủy thì ngay trong đêm ngày 29 tháng 4, ông ta đã di tản ra khơi trên Tuần dương hạm HG-601 do Hải quân Đại uý Trần Minh Chánh chỉ huy, tướng Vĩnh Lộc cũng chạy tháo thân…

Nắm được ý cua tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh là “không chống cự”, lại được chỉ đạo của Ban Binh vận nên ông Hạnh điều binh khiển tướng theo ý mình.

Thời điểm này là gần 12 năm ông Hạnh thầm lặng đợi chờ. Ông Hạnh đề nghị Dương Văn Minh:

 “Tình hình này, Tổng thống cần quyết định ngay, trì hoãn chỉ có hại. Về quân sự thì không thể làm gì được nữa rồi”. Tất cả các ý định ngăn chặn đường tiến công của Quân Giải phóng vào Sài Gòn trong ngày 29-4-1975, đều bị ông Hạnh “vô hiệu hóa” bằng lệnh “án binh bất động”.

Ông Hạnh tiếp tục tác động tinh thần và tham mưu cho Dương Văn Minh. Ngày 29-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho Cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.

Đến 9 giờ ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh đọc trên đài phát thanh: “Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh cũng thảo một Nhật lệnh yêu cầu tướng, tá và binh sĩ chế độ ngụy quyền Sài Gòn thi hành lệnh của Tổng thống ngay tức khắc. 

Rồi cũng đến 11 giờ 30 ngày 30-4-1975... Và ông Nguyễn Hữu Hạnh, bí số S7- Sao Mai đã hoàn thành nhiệm vụ.

Sau năm 1975, ông Hạnh được cử giữ chức vụ Tổng thư ký Hội Nhân dân bảo trợ nhà trường, sau được bầu làm Ủy viên Trung ương MTTQ Việt Nam với tư cách là nhân sĩ yêu nước. Ông đã sống trọn một đời không hổ thẹn với nghĩa khí và lòng yêu nước truyền thống của dòng tộc, của một người Việt Nam.


Ông mất ngày 29/9/2019 hưởng thọ 96 tuổi.

Đến viếng ông có nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân, Phó bí thư Thành ủy TPHCM Võ Thị Dung, gia đình nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng gửi vòng hoa đến viếng…

Trong sổ tang, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết: “Anh Nguyễn Hữu Hạnh kính mến! Vô cùng thương tiếc Anh. Chúng tôi mãi mãi ghi nhớ những đóng góp quan trọng của Anh trong những ngày tháng sục sôi của cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Xin vĩnh biệt Anh!”./.



Yêu nước ST.

Quyền con người gắn liền với quyền của dân tộc

         Ngay trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu đậm các quyền cơ bản của con người; gắn quyền con người với quyền của dân tộc: "các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Những nỗ lực đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc trong nhiều thập kỷ của Việt Nam không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất quyền con người, trong đó có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và quyền được quyết định vận mệnh, con đường phát triển của mình.

Vươn lên từ các cuộc chiến tranh, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân, mà trước hết là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải thiện, nâng cao hệ thống pháp luật về quyền con người. Việc thông qua Hiến pháp 2013 với một chương riêng về "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân" và sau đó là hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền con người, là những nỗ lực hết sức có ý nghĩa, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm trên thực tế quyền con người, quyền công dân.
Cùng với những bước tiến đó là việc không ngừng phấn đấu hoàn thiện thể chế và tạo dựng cơ sở vật chất để bảo đảm tốt hơn quyền con người. Mọi chiến lược, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội đều được xây dựng trên cơ sở lấy người dân làm trung tâm, hướng về người dân và phục vụ người dân.

Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển

 Thế kỷ XX đã xảy ra hai cuộc chiến tranh thế giới mà hậu quả vô cùng thảm khốc. Còn hiện nay, nếu chiến tranh thế giới, chiến tranh giữa các nước lớn xảy ra sẽ dẫn tới nguy cơ phá vỡ toàn bộ hạ tầng kinh tế của nhiều nước và nếu trở thành cuộc chiến tranh hạt nhân thì tất cả sẽ bị hủy diệt. Vậy nên hòa bình và ổn định là nhu cầu và khát vọng của toàn nhân loại. Phải có hòa bình mới có hợp tác, phát triển và ngược lại, nếu thế giới bình yên, hợp tác và phát triển được đẩy mạnh sẽ củng cố được hòa bình của thế giới. Chính sự hợp tác, hội nhập quốc tế, tùy thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích giữa các quốc gia khiến mọi bất ổn, biến động sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng.

Hòa bình, hợp tác và phát triển đã và đang là một trong những xu thế khách quan, hết sức quan trọng và tối cần thiết trong quan hệ quốc tế hiện nay nhưng đang đứng trước nhiều thách thức. Đây là xu thế và là ước mong của toàn nhân loại, bởi xu thế là vậy nhưng trên thực tế, ở nhiều nơi trên thế giới chưa có hòa bình, bởi vẫn có bạo lực, cường quyền áp đặt thay cho hợp tác và vẫn có những nguy cơ kiềm chế sự phát triển.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều chuyển biến lớn lao, có khi là thay đổi khôn lường nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong xu hướng chung như vậy, Việt Nam vững bước đi lên theo nhịp bước thời đại, kiên định con đường đã chọn, nhất định thực hiện trọn vẹn mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ

 Thế giới đang chứng kiến chưa bao giờ cách mạng khoa học - công nghệ lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Cách mạng khoa học - công nghệ chính là sự thay đổi căn bản trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ cũng như mối quan hệ và chức năng kinh tế, xã hội của chúng, tác động lớn đến cơ cấu và động thái phát triển của sức sản xuất xã hội. Quan trọng nhất của cách mạng khoa học - công nghệ là nổi lên vai trò hàng đầu của yếu tố con người trong hệ thống lực lượng sản xuất dựa trên việc vận dụng đồng bộ và hữu hiệu các ngành công nghệ có hàm lượng trí tuệ cao. Cách mạng khoa học - công nghệ làm biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất xã hội, thực hiện vai trò dẫn đường và kết nối trong toàn bộ chu trình công nghệ - sản xuất - con người - xã hội - môi trường.

Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra rất mạnh mẽ, trở thành một trong những xu thế phát triển mới của đời sống nhân loại trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Đặc trưng của cuộc cách mạng này là sự hợp nhất, không ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật và sinh học. Đó là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực, vạn vật kết nối. Cuộc cách mạng này làm cho thế giới "phẳng" hơn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có những bước tiến mới mạnh mẽ hơn, làm cho các nước có cơ hội mới và cũng đứng trước những thách thức mới. Với tốc độ phát triển cao, thay đổi nhanh chóng và sự kết hợp nhiều công nghệ khác nhau, loài người đứng trước sự thay đổi lớn và khả năng phát triển chưa từng có.

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển cả về trình độ và tính chất

Toàn cầu hóa, xét về bản chất, là quá trình gia tăng và lan tỏa những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa là xu thế và kết quả tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ nhiều mặt ra khỏi phạm vi quốc gia, tăng cường mối liên hệ, hợp tác cùng có lợi. Các nước vừa có cơ hội, vừa không thể cưỡng lại sức lôi cuốn của quá trình toàn cầu hóa.

Toàn cầu hóa trở thành quá trình tất yếu không ngừng phát triển, kéo theo cả thế giới vào cuộc chơi hội nhập cùng phát triển, hợp tác và đấu tranh vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Hội nhập quốc tế hiện nay cũng trở thành một lẽ đương nhiên mà không nước nào có thể bỏ qua được. Hội nhập quốc tế là tiến trình mỗi quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác hợp tác liên kết với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng…) dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tiếp thu tham gia xây dựng các luật chơi chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Quá trình hội nhập quốc tế bắt đầu từ thập niên 50 của thế kỷ trước và bùng nổ từ thập niên 1990 đến nay. Hàng loạt các tổ chức khu vực đã ra đời như việc hội nhập toàn diện của Liên minh châu Âu (EU) đã đạt đến mức độ cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể mạnh siêu quốc gia. Các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng dang mở rộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa xã hội. Ở cấp độ toàn cầu, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc đã ra đời, ngày càng phát triển với số lượng thành viên bao quát hầu hết các nước trên thế giới.