Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng


Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số), những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…

Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán - thính - độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi. NTM./.

 

Xứng đáng vai trò “trụ đỡ”

 

Nỗ lực vượt lên những khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong năm 2021, ngành nông nghiệp đã thực hiện tốt “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa đẩy mạnh sản xuất phát triển. Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đã đạt mức cao nhất từ trước đến nay, xứng đáng là “trụ đỡ” của nền kinh tế.

Cũng giống các ngành kinh tế khác, năm 2021, ngành nông nghiệp nước ta tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn do dịch COVID-19 gây ra. Hoạt động sản xuất, nhất là tại các vùng dịch gặp nhiều khó khăn. Việc chuyên chở, vận chuyển hàng hóa trong các đợt dịch bùng phát cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu, tiêu thụ các mặt hàng nông sản. Song, ngành nông nghiệp đã xuất sắc “về đích”. Không chỉ phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản năm 2021 còn đạt mức cao kỷ lục trên 48,6 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 42 tỷ USD mà Chính phủ đưa ra.


Đặc biệt, dù dịch COVID-19 phức tạp nhưng sản lượng lúa năm 2021 vẫn đạt 43,86 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 89%, giá gạo xuất khẩu tăng từ 496 USD/tấn năm 2020 lên 503 USD/tấn năm 2021. Bên cạnh đó, quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp đi vào thực chất, hiệu quả hơn; quy mô và trình độ sản xuất được nâng cao, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền, chuyển dịch theo hướng hiện đại. Đồng thời, tiếp tục tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt để thúc đẩy phát triển và cơ cấu lại ngành…
Theo thống kê, năm 2021, có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD là gỗ và sản phẩm gỗ; tôm; rau quả; hạt điều; gạo, caosu. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 15,6 tỉ USD; xuất khẩu thủy sản cũng đạt giá trị kim ngạch 8,9 tỉ USD; xuất khẩu các mặt hàng rau quả, hạt điều đạt trên 3,6 tỉ USD, rau quả đạt trên 3,5 tỉ USD, caosu đạt khoảng 3,2 tỉ USD...


Có thể thấy, những kết quả của ngành nông nghiệp đạt được là rất đáng trân trọng, nhất là trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Những thành tích ấn tượng đó có được, xuất phát từ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và địa phương; sự chung sức, vượt khó, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, các hợp tác xã, bà con nông dân cả nước. Minh chứng cụ thể đó trong năm 2021, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và các địa phương đã chú trọng hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; các cấp đã hoàn thành rà soát 443 văn bản, đề xuất sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế 96 văn bản kịp thời tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, người dân đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn do tác động của dịch bệnh COVID-19. Đặc biệt, chỉ tính từ sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128-NQ/CP ngày 11/10/2021 về quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, tình trạng “đóng băng” trong nhiều lĩnh vực sản xuất đã được tháo gỡ. Hầu hết các lĩnh vực nông nghiệp đều khởi sắc mạnh mẽ trong những tháng cuối năm.
Theo các chuyên gia kinh tế, điểm nhấn nổi bật trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam năm 2021 đó là sự khởi sắc của xuất khẩu nông sản. Xuất khẩu hàng hóa của ngành nông nghiệp đã được mở rộng ra nhiều thị trường hơn, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt mức cao kỷ lục trên 48,6 tỉ USD. Giá trị kinh tế thu được từ xuất khẩu của ngành nông nghiệp đã góp phần giải quyết việc làm, thu nhập cho nông dân. Hàng vạn nông dân đã có thêm cơ hội vươn lên làm giàu từ bàn tay, khối óc của mình. Mặt khác, hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu nông sản còn trực tiếp góp phần tăng nguồn thu ngân sách; tăng cường các tiềm lực cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 của cả nước và từng địa phương. Như Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận định tại Hội nghị Tổng kết Ngành Nông nghiệp năm 2021 vừa được tổ chức vào sáng ngày 29/12: “Những điểm sáng kinh tế đã được thể hiện qua các số liệu. Với mức tăng trưởng dương, vượt 6,6 tỷ USD so với kế hoạch, thu đủ chi, xuất đủ nhập, trong một năm khó khăn, ngành nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ và có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế”.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Sự phát triển của ngành nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có. Ngành nông nghiệp phát triển chưa bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ hay chuyển đổi số chưa đi vào chiều sâu; chưa chủ động thích ứng linh hoạt với diễn biến mới, tình hình mới. Công nghệ sau thu hoạch chưa thực sự được chú trọng. Số nông sản xây dựng được thương hiệu mang tính quốc tế chưa nhiều. Thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, còn phụ thuộc một số thị trường. Điển hình là tình trạng hàng ngàn container nông sản đang ún ứ tại cửa khẩu trong những ngày gần đây.

Do đó, để ngành nông nghiệp tiếp tục phát huy tốt vai trò “trụ đỡ” của đất nước, đòi hỏi khách quan đặt ra là cần nỗ lực, sáng tạo đổi mới. Trọng tâm là đồng hành, hỗ trợ nông dân trong các điều kiện khó khăn, dịch bệnh; đẩy mạnh quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ; nâng cao năng lực chế biến các mặt hàng nông sản. Đặc biệt, ngành nông nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, xây dựng thương hiệu, thúc đẩy cạnh tranh sản phẩm bằng cách đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với dự báo thị trường; tăng cường đầu tư công nghệ, chuyển đổi nông nghiệp số; thực hiện thu hút và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư trong nông nghiệp.

Việt Nam được biết đến là một nước có nhiều tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp. Chú trọng phát triển nông nghiệp sẽ vừa giúp chúng ta phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế sẵn có; vừa là cơ sở để ngành nông nghiệp khẳng định rõ vai trò “trụ đỡ” của đất nước, trực tiếp góp phần nâng cao thu nhập, phát triển đời sống nông dân./.

Đừng để looic lô về TẾT.

 

Diễn biến dịch COVID-19 ở Việt Nam và thế giới trong hơn 2 năm qua cho thấy, những kỳ nghỉ lễ dài ngày luôn đi kèm với nguy cơ dịch bệnh bùng phát, nếu người dân không đề cao trách nhiệm và công tác phòng, chống dịch không được thực hiện nghiêm túc.

Năm 2021 đang dần qua đi, người dân cả nước vẫn chưa thể quên những hậu quả do đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 gây ra. Đặc biệt, sau kỳ nghỉ Lễ 30/4 và 01/5/2021, dịch bệnh đã diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương, cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người. Không riêng Việt Nam, hàng loạt quốc gia trên thế giới cũng chứng kiến sự “trỗi dậy” của COVID-19 sau những đợt nghỉ lễ, các lễ hội truyền thống. Bởi nghỉ lễ dài ngày thường dẫn đến tâm lý “xả hơi”. Hơn nữa, người dân thường có thói quen tụ họp, tập trung đông người trong các dịp lễ, tết. Đặc biệt, trong điều kiện phần lớn người dân đã được tiêm đủ 02 mũi vaccine phòng COVID-19, nhiều người khó tránh khỏi tư tưởng chủ quan, xem nhẹ các quy định phòng, chống dịch. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc số lượng ca mắc COVID-19 thường gia tăng đột biến sau các kỳ nghỉ lễ.

Thực tế, rút kinh nghiệm từ đợt nghỉ lễ 30/4 và 01/5, nhiều địa phương đã chủ động có những quy định mới để hạn chế tình trạng người dân tập trung đông người. Điển hình là tại Thủ đô Hà Nội, UBND TP Hà Nội đã quyết định, trong dịp Tết Dương lịch tới đây sẽ không tổ chức bắn pháo hoa cũng như các điểm biểu diễn văn hóa nghệ thuật và đếm ngược (countdown) chào năm mới 2022. Quyết định này được đưa ra để đảm bảo công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Thay vào đó, Hà Nội sẽ tổ chức một số hoạt động trực tuyến để chào đón năm mới; quay trước chương trình biểu diễn nghệ thuật "Rực rỡ sắc xuân" phát trên đài truyền hình địa phương vào tối ngày 31/12.Trước thềm kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2022 (kéo dài 03 ngày) và Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ và các địa phương cần có quy định cụ thể để hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo các chuyên gia, khi thay đổi chiến lược từ “zero COVID” sang sống chung an toàn với COVID-19 thì việc tăng số ca bệnh là điều dễ hiểu. Nhiều trường hợp nhiễm virus không có triệu chứng, vì thế trong tiếp xúc hằng ngày rất khó để nhận biết người đối diện hay bản thân mình có mang mầm bệnh hay không. Nguy cơ này sẽ càng gia tăng trong các kỳ nghỉ lễ. Do đó, thay vì tụ tập đông người, các gia đình nên nghỉ ngơi tại nhà; hạn chế tối đa việc tập trung, giao lưu nhiều người. Hãy biến kỳ nghỉ lễ, tết thành khoảng thời gian quây quần đầm ấm bên gia đình nhỏ của mình; qua đó, vừa thêm gắn kết tình thân, vừa giúp bảo đảm sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Trao đổi với báo chí, ông Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người nên “tránh tụ tập, liên hoan, giảm số người trong các buổi hội họp”.

Trước đó, Bộ Y tế cũng đề nghị xem xét dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết, vui chơi, lễ hội, tôn giáo tại địa phương có nguy cơ bùng phát dịch. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng chỉ đạo, để thực hiện hiệu quả mục tiêu “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh”, các địa phương… không tổ chức các hoạt động tập trung đông người, nhất là vào dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Dư luận đánh giá cao những chỉ đạo, quy định nói trên. Điều đó đã cho thấy tinh thần chủ động, quyết liệt trong phòng, chống dịch COVID-19. Các chỉ đạo, quy định đó càng có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn ghi nhận số mắc COVID-19 hằng ngày trong cộng đồng; nhất là tại các địa phương có mật độ dân cư cao, giao thương, đi lại lớn như Hà Nội. Đặc biệt vừa qua, TP Hà Nội đã ghi nhận trường hợp đầu tiên mắc biến thể Omicron.

Đồng thời, các cơ chức năng, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức; tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý kiên quyết những trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch; quan tâm bảo đảm nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần của người dân trong các dịp nghỉ lễ như Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán…Tuy nhiên, ở góc nhìn khác, “nỗi lo nghỉ lễ” liên quan đến dịch COVID-19 chỉ thực sự được giải tỏa trên cơ sở ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân. Mặc dù đến nay, Việt Nam đang là một trong 10 nước có tỷ lệ tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới, nhưng sự lo lắng về nguy cơ dịch bệnh vào các dịp lễ, tết như Tết dương lịch, Tết Nguyên đán… là hoàn toàn có cơ sở. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đối mặt với tình trạng “siêu lây nhiễm” do biến chủng mới Omicron xuất phát từ các hoạt động tập trung đông người. Vì vậy, mỗi người dân cần đề cao ý thức trách nhiệm; hạn chế đến nơi công cộng, tập trung đông người; không được chủ quan, lơ là; luôn đề cao cảnh giác phòng, chống dịch. Mỗi người, trong mọi hoàn cảnh cần thực hiện triệt để khuyến cáo 5K của Bộ Y tế, nhất là đeo khẩu trang và giữ khoảng cách an toàn. 

Người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong “cuộc chiến” phòng, chống dịch COVID-19. Cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, chỉ khi người dân tích cực, chủ động phòng, chống dịch từ những việc làm nhỏ nhất, thì công tác phòng, chống dịch COVID-19 mới bảo đảm hiệu quả.

Vui lễ, tết là quyền lợi và mong muốn chính đáng của môiĩ người. Song sẽ không ai muốn vì niềm vui của cá nhân lại khiến dịch bệnh tái bùng phát bởi dịch COVID-19 được khống chế như hiện nay là thành quả được đánh đổi bằng công sức, mồ hôi và cả tính mạng của rất nhiều người thuộc các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch. “Nỗi lo nghỉ lễ” chỉ thực sự không còn khi mỗi người có trách nhiệm với sức khỏe của chính mình, gia đình và sự an toàn của cộng đồng, xã hội./.

Tạo tiền đề cho những mục tiêu cao hơn

 

Vượt qua hàng loạt khó khăn, thách thức, hoạt động xuất nhập khẩu năm 2021 đã về đích ngoạn mục với con số cao hơn dự báo rất nhiều. Dù đó chưa phải là những con số quá cao, nhưng rất đáng khích lệ. Bước sang năm 2022, với bối cảnh dịch bệnh chưa thể chấm dứt và vẫn sẽ là nhân tố quan trọng tác động đến đời sống cũng như kinh tế của Việt Nam, thì việc tạo dụng niềm tin và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo dựng tiền đề, nền tảng cho xuất nhập khẩu hướng tới những mục tiêu cao hơn là yêu cầu tiên quyết.

Không phải ngẫu nhiên, ở thời điểm bước vào năm 2021, Bộ Công Thương đã rất khiêm tốn khi đưa ra dự báo về xuất nhập khẩu chỉ tăng trưởng khoảng 5%, cán cân thương mại có thể ở mức cân bằng hoặc nhập siêu nhẹ trong năm 2021. Thế nhưng, thực tế cũng minh chứng, dù năm 2021 là năm rất khó khăn do dịch bệnh nhưng tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt con số rất khả quan và đáng ghi nhận. Theo thông tin Tổng cục Thống kê công bố, năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 336,25 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 332,25 tỷ USD…

 Đây không phải là con số quá cao, nhưng theo nhận định của ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), kết quả này rất đáng khích lệ trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp dẫn đến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, nhập siêu trong nhiều tháng. Dịch bệnh cũng đã tác động rất nặng nề đến các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam - khu vực động lực tăng trưởng xuất khẩu của chúng ta. Kết quả xuất, nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu đã cho thấy sự kiên trì của các doanh nghiệp để nỗ lực vượt qua khó khăn trong giai đoạn giãn cách. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP về quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” thì các doanh nghiệp đã nhanh chóng phục hồi sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, bắt kịp các cơ hội để duy trì tăng trưởng xuất khẩu.

Hai năm vừa qua, dịch bệnh đã hạn chế các hoạt động xúc tiến thương mại trực tiếp. Do đó, Bộ Công Thương đã nhanh chóng chuyển hướng tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại trực tuyến, kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua mạng lưới thương vụ. Có thể nói, đây là sự chuyển hướng kịp thời, nhanh nhạy và đem lại hiệu quả thiết thực giúp cho các doanh nghiệp không bị đứt gãy chuỗi cung ứng cũng như quan hệ kinh doanh. Thậm chí, doanh nghiệp có thể tìm được đối tác, bạn hàng ở những địa bàn mà trước đây chúng ta gần như khó có thể tiếp xúc như châu Phi, châu Đại Dương, Trung Đông thông qua nền tảng trực tuyến.

Trong bối cảnh dịch bệnh thì khâu lưu thông hàng hóa trong nước đã bị ảnh hưởng, thậm chí là đứt gãy ở một số khu vực. Bộ Công Thương đã nhanh chóng vào cuộc, tham gia cùng với Bộ Giao thông vận tải để tháo gỡ những điểm đứt gãy, đặc biệt là ở khu vực phía Nam trong đợt cao điểm từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021. Bên cạnh đó, để đảm bảo duy trì hoạt động bình thường ở những cửa ngõ xung yếu của hoạt động xuất, nhập khẩu, đặc biệt là các cảng biển, Bộ Công Thương đã phối hợp Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn, kiểm tra, hỗ trợ các doanh nghiệp ở khu vực này bảo đảm sản xuất để duy trì được nguồn hàng xuất nhập khẩu, đặc biệt là nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Không chỉ vậy, vai trò của Bộ Công Thương qua việc tháo gỡ khó khăn trong logistics và vận chuyển hàng hóa, đóng góp vào thành tích xuất, nhập khẩu được nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp đánh giá rất cao.

Một minh chứng rõ nét nhất của hoạt động tháo gỡ khó khăn về logistics là Bộ Công Thương đã kiến nghị Chính phủ tạo “luồng xanh” đường thủy cho xuất khẩu gạo. Bởi xuất khẩu gạo chủ yếu tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có mạng lưới đường thủy phát triển. Trong khi đó, chi phí về vận tải đường thủy khá thấp so các phương thức vận chuyển khác. Hoặc, trong giai đoạn giãn cách, có nhiều ý kiến tranh luận thế nào là hàng hóa thiết yếu được phép lưu thông. Bộ Công Thương đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ bỏ quy định về hàng hóa thiết yếu. Tất cả hàng hóa đều được đối xử ngang nhau, được bảo đảm lưu thông thuận lợi, trừ hàng hóa bị cấm. Nhờ đó tạo điều kiện lưu thông hàng hóa thuận lợi hơn giữa các địa phương.

Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt, đã được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ và Bộ Công Thương đã có đóng góp rất tích cực. Điểm nổi bật của Nghị quyết này chính là sự thích ứng an toàn, trong đó hàm nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận mức độ rủi ro nhất định khi các yếu tố như ca nhiễm COVID- 19 xuất hiện thì chúng ta không dừng sản xuất, chỉ tạm dừng hoạt động ở phạm vi nhỏ nhất có thể. Thí dụ, khi có một công nhân mắc COVID-19 thì có thể chỉ một nhóm, tổ sản xuất liên quan phải cách ly, theo dõi, còn các tổ, đội và bộ phận khác vẫn được duy trì sản xuất bình thường. Đây là điểm rất khác biệt so trước đây.

Kết quả khả quan của năm 2021 có được nhờ sự nỗ lực rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp, cùng sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Kết quả này thể hiện sự tận dụng môi trường thuận lợi từ các hiệp định thương mại tự do chúng ta đang có. Kể cả trong bối cảnh hiện nay, khi khả năng cung ứng hàng hóa cũng như nhu cầu sử dụng trên thế giới đã bị ảnh hưởng và có sự thay đổi thì chúng ta cũng có thể chớp cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu. Đây là những yếu tố quan trọng giúp duy trì kim ngạch xuất khẩu trong năm 2022.

Bước sang năm 2022, với bối cảnh dịch bệnh chưa thể chấm dứt và vẫn sẽ là nhân tố quan trọng tác động đến đời sống cũng như kinh tế của Việt Nam, thì việc tạo dụng niềm tin và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo tiền đề, nền tảng cho xuất nhập khẩu hướng tới những mục tiêu cao hơn là yêu cầu tiên quyết.

Do vậy, mối quan tâm hàng đầu hiện nay là làm sao để bảo đảm thích ứng an toàn với dịch bệnh. Sẽ có những nơi, có những khu vực có thể tiếp tục bùng phát những đợt lây lan dịch bệnh mới, nhưng với tinh thần nhất quán và linh hoạt của Nghị quyết số 128/NQ-CP thì chúng ta hoàn toàn có thể có được niềm tin và định hướng phù hợp để vừa chống dịch nhưng vừa phải duy trì được hoạt động sản xuất. Từ đó, tránh việc đứt gãy chuỗi cung ứng gây ảnh đến hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.

Tết này mình có về quê?

 

Những ngày này, nhiều người lao động xa quê đang lên kế hoạch về quê ăn tết cùng gia đình. Nhưng trước tình hình dịch bệnh COVID-19 vẫn đang rất phức tạp, hãy suy nghĩ thật kỹ để mỗi gia đình, người thân chúng ta được hưởng một cái tết trọn vẹn trong an toàn, hạnh phúc...

Một số địa phương đã có thông báo người về quê ăn tết từ khu vực dịch bệnh có nguy cơ rất cao và nguy cơ cao phải khai báo y tế và tự cách ly 7 - 14 ngày; một số địa phương khác gửi thông báo, vận động người dân đang sinh sống, công tác xa quê cân nhắc kỹ trước khi về quê, yêu cầu tạm thời không trở về quê nếu không thật sự cần thiết, để hạn chế dịch bệnh lây lan. Lãnh đạo một số địa phương cho biết, chính quyền không cấm người dân đi lại, thăm người thân và gia đình trong thời điểm này, chỉ mong người dân hiểu và thông cảm trong tình hình dịch bệnh chưa được kiểm soát tốt... Nếu có trở về, cần chấp hành tốt, đầy đủ các quy định về phòng chống dịch để đón tết an toàn, vui vẻ.

Mỗi người con xa quê đều mong Tết đến để được trở về với quê hương, bản quán, về với nguồn cội, để được sống trong bầu không khí ấm áp, đoàn viên của gia đình, được quây quần bên nhau trong bữa cơm tất niên. Khi nghe thông báo này, nhiều người không khỏi buồn bã, thậm chí bất bình. Dịch bệnh ròng rã đã 2 năm trời, nhiều địa phương phải giãn cách xã hội dài ngày, nên cơ hội để về quê không có nhiều. Lúc này, khi vắc xin đã phủ hầu khắp cả nước, thì tại sao lại không được về quê?

Theo đánh giá của các chuyên gia, hiện nay dịch COVID vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và vẫn đang hết sức nghiêm trọng. Hơn nữa, thực tế dịch bệnh ở nhiều nước cho thấy, dù dân chúng đã được tiêm phòng mũi thứ 3, thứ 4, thì thiệt hại về người và của do COVID vẫn đang tiếp tục gia tăng, họ vẫn phải áp dụng các biện pháp hạn chế. Và phải hiểu rằng, số ca nhiễm COVID được thống kê hàng ngày chắc chắn chưa phải là số cuối cùng bởi sẽ còn rất nhiều ca nhiễm trong cộng đồng chưa bị phát hiện. Ai cũng có thể trở thành F0, ai cũng có nguy cơ trở thành nguồn lây nhiễm cho gia đình, bố mẹ, họ hàng, thậm chí là nguồn lây cho quê hương, địa phương.Trước khi trả lời câu hỏi đó, xin mỗi chúng ta, hãy bình tĩnh để suy nghĩ. Đã có hàng chục nghìn đồng bào ta không còn được ăn thêm một cái tết, hàng nghìn đứa trẻ mồ côi bởi COVID; thiệt hại về kinh tế, xã hội thì chưa thể thống kê được. Hãy nhớ, ông bà, cha mẹ ta nhiều người mắc bệnh nền, các cháu nhỏ chưa được tiêm vắc xin. Hiện nay, biến chủng Omicron lại đang xâm nhập vào các tỉnh thành nước ta với tốc độ lây lan gấp hàng vài chục lần chủng thông thường và có khả năng làm suy yếu hiệu quả của vắc xin; biến chủng mới cũng mới được phát hiện. Nếu cộng đồng có nhiều người mắc sẽ gây quá tải hệ thống y tế, đặc biệt vùng nông thôn, và sẽ dẫn đến số người tử vong tăng cao.

Điều may mắn là đến nay, ở nước ta, tỷ lệ người trên 18 tuổi và trẻ em từ 12-18 tuổi đã tiêm phòng vắc xin cao, tỷ lệ người mắc COVID trở nặng giảm rất nhiều. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát dịch hiệu quả. Chính phủ không cấm, địa phương cũng không cản trở các hoạt động đi lại của người dân, nhưng phải hiểu rằng, chúng ta đang “thích ứng an toàn, linh hoạt để kiểm soát dịch hiệu quả”, tức là chúng ta vẫn cần áp dụng những biện pháp để giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh, giảm thiểu sự tiếp xúc giữa người nhiễm bệnh và người lành.

Dịch COVID vẫn gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, hoạt động kinh tế của mỗi người dân cũng như của toàn xã hội. Nếu chẳng may mắc COVID, bản thân người nhiễm và gia đình họ phải cách ly; chính quyền phải quản lý, điều tra, truy vết người bệnh; hệ thống y tế phải quản lý, theo dõi, chăm sóc và điều trị nếu bệnh trở nặng. Do đó, giảm thiểu sự lây lan dịch bệnh là mục tiêu lớn nhất hiện nay.

 “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người”. Những câu thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân càng trở nên da diết mỗi độ tết đến xuân về. Nhưng nếu biết yêu và bảo vệ quê hương, mỗi chúng ta hãy suy nghĩ kỹ trước khi sắp xếp hành lý về quê. Chúng ta có thể không ăn một cái tết cùng người thân và gia đình, có thể buồn một chút, có thể nhớ thật nhiều, nhưng sẽ chẳng thành vấn đề, bởi chúng ta có thể ăn tết, gặp mặt, chúc tết online cơ mà. Có một cái tết thật sự an toàn, không COVID với gia đình và người thân, thật hạnh phúc và vui vẻ biết bao!

“Dịch bệnh còn đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Cần ăn tết vui vẻ, tiết kiệm, hạn chế đi lại và tiếp xúc đông người, thực hiện tốt 5K để tránh lây lan dịch bệnh” – xin nhắc lại lời của PGS.TS Trần Đắc Phu, Nguyên cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, để nhắc nhở mọi người. Hãy tin rằng, sẽ không còn xa nữa, dịch bệnh COVID-19 sẽ được đẩy lui, và “chùm khế ngọt” vẫn luôn dang rộng vòng tay chào đón chúng ta trở về.

Tránh “bỏ hết trứng vào một giỏ”.

 

Sự việc ùn tắc nghiêm trọng hàng nghìn xe chở nông sản tại các cửa khẩu phía Bắc thời gian qua cho thấy đã đến lúc thị trường tiêu thụ của nông sản Việt Nam cần có những bước đi, chiến lược, hoạch định cụ thể để tránh “vết xe đổ” vốn đã tồn tại năm này qua năm khác...

Những ngày gần đây, dư luận không khỏi quan tâm và cả lo lắng nữa trước việc hàng nghìn xe nông sản bị dồn ứ tại các cửa khẩu phía Bắc. Cao điểm có những ngày lên đến hơn 4.000 xe dồn ứ tại Lạng Sơn, tại các cửa khẩu của Quảng Ninh cũng tồn một lượng xe rất lớn. Với các biện pháp triển khai cấp bách từ các ngành, các cấp chính quyền địa phương và của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cập nhật của Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, tổng số phương tiện chờ xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh tính đến 8h ngày 5/1/2022 vẫn còn tới con số 2.299 xe – một con số vẫn rất lớn sau nhiều ngày nỗ lực giảm ùn tắc.

Theo các cơ quan chức năng, việc ùn tắc này, trong đó chủ yếu là các mặt hàng nông sản, với thời gian thông quan kéo dài, hầu hết hàng hóa nông sản sẽ bị hỏng, không còn khả năng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ gánh chịu thiệt hại rất lớn. Bên cạnh đó, với bối cảnh sắp đến vụ thu hoạch cuối năm, là vụ cao điểm của lượng hàng hóa nông, thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, nếu khả năng thông quan không được cải thiện, con số thiệt hại sẽ còn lớn hơn rất nhiều lần.

Thực tế, chúng ta đã phải chứng kiến rất nhiều xe hàng chở nông sản như: mít, dưa hấu, xoài, thanh long,…đã phải quay đầu về các tỉnh trong nước để bán xả hàng với giá rẻ để giảm lỗ. Thậm chí có những tài xế phải đổ bỏ hàng vì phải chờ quá lâu để thông quan hàng hóa. Đây là không chỉ là một thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp có hàng chờ tại các cửa khẩu, mà ở đó, chúng ta cũng thấy được công sức, mồ hôi của những người nông dân từ khi trồng, chăm sóc, đến thu hoạch, đặt bao niềm tin vào chuyến hàng nhưng đổi lại, đó là sự chờ đợi và nhận lại chỉ còn là những thiệt hại về kinh tế hoặc đã trở thành đống phế phẩm.

Điều đáng nói, đây không phải là lần đầu tiên xảy ra tình trạng nông sản bị ùn tắc tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc. Hầu như hàng năm, việc ùn tắc nông sản lại diễn ra tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc, gây thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp. Nhưng có lẽ đến năm nay, với số lượng xe ùn tắc rất lớn cho thấy, đã đến lúc thị trường tiêu thụ nông sản của Việt Nam cần có những chiến lược, bước đi được hoạch định riêng để tránh phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường, để khi có những thay đổi bất ngờ, chúng ta “trở tay không kịp”, gây những thiệt hại đáng tiếc như vừa qua.  

Tại Diễn đàn trực tuyến “Kết nối sản xuất – chế biến nông sản và thúc đẩy thị trường nội địa” do Bộ NN&PTNT tổ chức gần đây, một loạt các doanh nghiệp chế biến, tập đoàn bán lẻ cho biết đã sẵn sàng chờ các xe tại các cửa khẩu quay đầu về để thu mua nông sản. Cụ thể, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (Doveco) Đinh Cao Khuê cho biết, sẵn sàng thu mua số lượng lớn nông sản gồm xoài, chuối,..,của các doanh nghiệp đang ùn tắc tại cửa khẩu. Cụ thể, mỗi ngày Công ty tiêu thụ khoảng 100 - 150 tấn sản phẩm nông sản các loại, đặc biệt là sản phẩm xoài.  Hiện nay, riêng về xoài thì công ty vẫn tiếp tục thu mua với số lượng lớn nếu như các doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ. Hoặc đại diện của tập đoàn Nafoods Group cũng cho biết, thời gian từ giờ đến Tết, Nafoods có thể hỗ trợ cho chanh leo và thanh long. Với các sản phẩm tại cửa khẩu phía Bắc sẽ chuyển về Nghệ An, còn phía Nam sẽ đưa về Long An. Sản lượng khoảng 1.000 tấn,…

Điều đó cho thấy, tiềm năng của thị trường nội địa vẫn còn rất lớn cho việc tiêu thụ nông sản, điều quan trọng đó là hàng hóa cần đáp ứng yêu cầu của các nhà máy chế biến, của các nhà bán lẻ và đặc biệt, cần kết nối được bên cung, bên cầu để hai bên được gặp nhau.

Một thực tế, sau đợt ùn tắc nông sản nghiêm trọng tại các cửa khẩu, có thể nhận thấy rằng, việc chuẩn bị cho các doanh nghiệp bán nông sản “con đường lui” là rất quan trọng và cần thiết. Do đó, đây cũng là bài toán mà ngành Nông nghiệp và các địa phương, doanh nghiệp cần phải tính đến, đó là việc đa dạng hóa các thị trường. Việc xuất khẩu một sản phẩm của tỉnh không chỉ hướng đến một thị trường mà còn cần hướng đến nhiều thị trường khác thông qua việc đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, thương hiệu. Ở đây, giống như phương châm được nhiều thương gia đánh giá cao và áp dụng, đó là đừng “bỏ hết trứng vào một giỏ”, để tránh những thiệt hại, rủi ro khi quá phụ thuộc vào một hình thức kinh doanh, một thị trường.

Thêm một điểm mà các địa phương cần chú ý, đó là công tác định hướng quy hoạch diện tích vùng trồng, cần bám sát vào thị trường. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc lúc đương nhiệm đã từng lưu ý, trước khi gieo hạt đã phải biết thị trường tiêu thụ ở đâu?. Do đó, các địa phương cần bám sát thị trường để từ đó chỉ đạo, tổ chức sản xuất, quy hoạch diện tích vùng trồng, tránh sự phát sinh trong diện tích trồng dẫn đến sản lượng ùn ứ, dư thừa quá nhiều, gây áp lực cho việc tiêu thụ.

Một mặt khác, ngành Nông nghiệp, các địa phương cũng cần có có những chính sách thực sự hấp dẫn, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp có thế mạnh vào khâu chế biến nông sản. Nếu như địa phương có lợi thế về vùng nguyên liệu thì việc có nhà máy chế biến sẵn có tại địa phương là điều rất thuận lợi cho đầu ra của nông dân, giúp cho nông sản được tiêu thụ tại chỗ ổn định. Đồng thời, cần tăng cường cho công tác đầu tư kho bãi, kho lạnh để bảo quản, tích trữ nông sản khi chưa được tiêu thụ kịp thời. Dù vấn đề này đang là khó khăn cho nhiều địa phương, tuy nhiên, đây là bài toán về lâu dài, các địa phương cần tập trung triển khai thực hiện để tạo sự chủ động trong giải quyết các tình huống cấp bách, tức thời, giảm thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp tham gia thu mua nông sản.

Đặc biệt, một điểm quyết định hơn cả, đó chính là đầu tư nâng cao chất lượng của chính sản phẩm nông sản. Một điều dường như bấy lâu nay chúng ta đã thấy rõ, đó là những sản phẩm thực sự ngon luôn tự hấp dẫn các thị trường tiêu thụ. Vụ vải thiều thành công tại Bắc Giang, Hải Dương trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trong mùa vụ năm 2021 đã minh chứng thấy rõ điều đó, khi quả vải của Việt Nam được xuất bán nhanh, được giá, không bị ế hàng, và đến khắp các thị trường khó tính tại Nhật Bản, EU,…,giúp các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân thu về nguồn lợi nhuận lớn. Đây cũng là những kinh nghiệm thực tế để các địa phương khác tham khảo trong bối cảnh thị trường xuất khẩu diễn biến bất thường, thực sự cần có sự quan tâm, đầu tư cho việc nâng cao chất lượng nông sản, đồng thời đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, quy trình đóng gói, bao bì, nhãn mác đáp ứng yêu cầu của các thị trường,…

Dù biết Trung Quốc là thị trường rộng lớn, rất tiềm năng cho nông sản của nước ta. Tuy nhiên, việc cần tự chủ động trong kế hoạch tiêu thụ, xuất khẩu các mặt hàng nông sản là việc cần được tính đến ngay từ lúc này. Đây cũng là bài toán nếu được các cấp, các ngành, các hiệp hội, ngành hàng từng bước tháo gỡ và giải quyết sẽ góp phần quan trọng cho việc thúc đẩy tiêu thụ nông sản Việt Nam, để không còn tình trạng ùn tắc, để không còn tình trạng phải “giải cứu” mỗi khi có sự biến động về thị trường. Và hơn cả, sẽ không để những công sức của chính các doanh nghiệp và người nông dân trở thành vô nghĩa./.

Để Nhân dân giám sát đến cùng

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Cán bộ tốt hay xấu, cứ hỏi dân là biết hết”. Chính tai mắt Nhân dân đã góp cho tổ chức đảng có cái nhìn khách quan, chân thật để có những giải pháp lãnh đạo hợp lòng dân, đúng ý Đảng. Vì thế, cần có các biện pháp phù hợp để Nhân dân giám sát đến cùng.

 Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”. Cụ thể hóa nội dung này, năm 2021, Mặt trận các cấp đã tổ chức gần 21.800 cuộc giám sát, trong đó Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh chủ trì giám sát 454 cuộc, cấp huyện giám sát 3.327 cuộc, cấp xã giám sát 17.947 cuộc. Tổng số hoạt động giám sát do ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp tham gia phối hợp với các cơ quan hữu quan là hơn 29.000 cuộc. Trong đó, có 3 chuyên đề giám sát tiếp công dân, giám sát cán bộ, đảng viên và giám sát Luật Đất đai được triển khai trong hệ thống MTTQ Việt Nam và các đoàn thể, đã kiến nghị nhiều nội dung xác đáng.

Đáng chú ý, kết quả thực hiện giám sát và phản biện xã hội năm 2021 của Mặt trận các cấp cho thấy, nhiều ý kiến, kiến nghị sau giám sát đều được chính quyền và các ngành chức năng chỉ đạo xem xét, giải quyết, góp phần tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và Nhân dân.

Kết quả này có được là do hàng loạt cơ chế, chính sách, các chủ trương tạo điều kiện và hành lang pháp lý của Đảng và Nhà nước về công tác giám sát, phản biện ngày càng đi vào cuộc sống. Đặc biệt, Nhân dân ngày càng quan tâm hơn đến hoạt động giám sát, thể hiện rõ trách nhiệm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong mọi lĩnh vực đời sống, từ kinh tế - xã hội đến xây dựng Đảng…

Tuy nhiên, có thể thấy, bên cạnh kết quả đạt được, công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Nhân dân còn những hạn chế, khó khăn nhất định. Dù đã có các quyết định, quy định từ Trung ương nhưng công tác tổ chức triển khai đến người dân vẫn chưa thật tốt nên việc triển khai giám sát cá nhân cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc còn lúng túng về phương pháp, cách làm. Phạm vi giám sát, phản biện xã hội rất rộng, nhưng năng lực, trình độ, số lượng cán bộ Mặt trận, đoàn thể còn rất hạn chế, bất cập; chưa thực hiện tốt việc phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và Nhân dân trong giám sát cá nhân cán bộ, đảng viên.

Cùng với đó, hoạt động giám sát của Nhân dân hiện nay chủ yếu thể hiện qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng nhưng hoạt động của tổ chức này ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế, hình thức… Ngoài ra, những cơ chế bảo vệ người tố cáo tiêu cực dù đã được ban hành nhiều nhưng vẫn chưa đủ tạo lòng tin đối với quần chúng nhân dân trong việc phản ánh những sai phạm của cán bộ, đảng viên đến cấp có thẩm quyền...

Vẫn biết đấu tranh với những sai phạm không bao giờ là dễ dàng. Trong khi đó công cuộc đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang tiếp tục tạo được sự đồng thuận, nhất trí rất cao của các tầng lớp Nhân dân. Đặc biệt, công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được thực hiện quyết liệt, đã tăng cường thêm niềm tin của Nhân dân. Kết quả đó có vai trò của việc đẩy mạnh giám sát của Mặt trận, của Nhân dân để kịp thời ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng.

Vì vậy, để mọi việc đạt kết quả như mong muốn, để Nhân dân giám sát đến cùng thì rõ ràng phải kiên quyết, quyết liệt với những cái xấu, cái chưa tốt như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Sắp tới còn làm mạnh hơn nữa, đúng pháp luật, đúng lương tâm, để giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn là chính, chứ không phải cốt xử nhiều mới là tốt”.

Do đó, tại Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam mới đây, nhiều ý kiến trong Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã thẳng thắn cho rằng, MTTQ các cấp cần nâng cao thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII; các quy định, quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; đa dạng hóa cách thức lắng nghe được nhiều ý kiến của các tổ chức thành viên; kịp thời tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh tới Đảng và Nhà nước; tăng cường hơn nữa công tác phối hợp, thống nhất hành động với các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam, để tạo thành sức mạnh tổng hợp của hệ thống Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở…

Cụ thể là để phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân hơn nữa, Mặt trận cần xây dựng những kế hoạch cụ thể, không chỉ làm phong trào theo hướng chung chung mà cần cụ thể ở từng vùng, từng lĩnh vực, chuyên mục khác nhau. Phải tập trung giám sát, phản biện một số vấn đề, vụ việc cụ thể, trọng điểm. Giám sát phải đi xuống tận nơi, lắng nghe ý kiến nhiều chiều, đặc biệt là ý kiến người dân chứ không chỉ là thông qua các bản báo cáo. Vì chỉ khi đến tận nơi, giám sát, phản biện xã hội đến cùng, “truy” triệt để vấn đề, “theo đuổi” đến khi vụ việc được giải quyết xong thì việc giám sát mới tạo tiếng vang, có tác dụng thay đổi những bất cập, đồng thời tạo được niềm tin cho người dân.

Mặt khác, với vai trò giám sát, phản biện xã hội, Mặt trận cần lựa chọn những vấn đề bức xúc trong dân để giám sát, phản biện. Ví như hiện nay là các vụ việc tiêu cực, tham nhũng làm Nhân dân mất niềm tin trong lĩnh vực y tế, trong lĩnh vực liên quan đến phòng chống dịch COVID-19 đang làm “nóng” dư luận xã hội. Hay các vấn đề sai phạm liên quan đến quản lý đất đai và quản lý sử dụng tài sản nhà nước khiến Nhân dân bất bình suốt thời gian qua cũng cần được Mặt trận vào cuộc giám sát, bao gồm cả giám sát, phản biện những vấn đề cần thiết như hoạch định chính sách, có chủ trương trên lĩnh vực đất đai để chủ động khép lại dần những kẽ hở, vấn đề, ngăn chặn kịp thời những sai phạm.

Nhiều ý kiến cũng nhấn mạnh đến việc MTTQ Việt Nam cần đóng vai trò nòng cốt để các tổ chức chính trị - xã hội triển khai các chương trình giám sát, phản biện ngay từ đầu mỗi năm thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội. MTTQ cũng cần xây dựng cơ chế, chính sách để đảm bảo tính khoa học của giám sát, phản biện xã hội, phù hợp với thực tiễn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của người dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Mà muốn thế, rất cần sự vào cuộc tích cực, năng lực, trình độ, bản lĩnh của cán bộ mặt trận các cấp để phát huy hơn nữa vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận…/.

Kỳ vọng kiểm soát những bất ổn nội tại​

 

Thực tế, năm 2021, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, được coi là một năm nhiều thành công của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi hầu như tất cả các mục tiêu lớn đều đạt được. bên cạnh giữ ổn định vĩ mô, năm qua, ngành ngân hàng cũng có rất nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, thể hiện sự đồng hành cùng doanh nghiệp.

Như khẳng định của Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú, thành công lớn nhất của Ngân hàng Nhà nước là ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Ổn định vĩ mô chính là điều kiện để tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất và là nền tảng để phát triển các thị trường khác, như: thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản…

Và tất nhiên, mọi con mắt dường như đều đổ dồn về phía ngân hàng, có cả sự mong mỏi, sự trách móc, lẫn nỗi đồng cảmCó người thì cho rằng, Ngân hàng Nhà nước “gặp may”, bởi sức mua suy giảm là một trong những nguyên nhân khiến lạm phát thấp, song đây không phải là lý do duy nhất. Trên thế giới, nhiều quốc gia đang rơi vào cảnh lạm phát tăng phi mã, dù tăng trưởng GDP ở mức rất thấp. Trong khi đó, hoạt động điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, uyển chuyển, “bơm – hút” nhịp nhàng của Ngân hàng Nhà nước đã góp phần giúp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) về mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua.

Trong bối cảnh ấy, ai cũng muốn kinh tế nhanh chóng phục hồi, thậm chí, nhiều người kêu gọi chấp nhận tăng lạm phát, tăng thâm hụt ngân sách, bơm tiền ra để kích thích tăng trưởng. Song điều quan trọng nhất là phải ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát bùng lên để không ảnh hưởng đến sự phục hồi của doanh nghiệp, đời sống của người lao động.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, sự thận trọng của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước là rất cần thiết. Với sức hấp thụ vốn của nền kinh tế hiện nay, bơm tiền ồ ạt sẽ không vào tăng trưởng, mà sẽ đẩy lạm phát lên cao, dòng vốn chảy vào các kênh đầu cơ. Nếu lạm phát tăng cao, thì các doanh nghiệp sẽ phải  chạy cuốn theo vòng xoáy vay nợ, tăng giá, có hồi phục cũng rơi vào bất ổn. Vì vậy, ổn định kinh tế vĩ mô phải được đặt lên hàng đầu.

Chia sẻ về vấn đề này, TS Nguyễn Đức Kiên - Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, cho biết, năm 2021, rất nhiều người kiến nghị in tiền, song in tiền để làm gì? Tính đến ngày 31/11/2021, giải ngân đầu tư công mới đạt 63% trên tổng vốn chúng ta đã dành ra. Vậy thì “bơm thêm vốn” vào nền kinh tế không giải quyết được vấn đề gì, mà ngược lại, còn đẩy lạm phát tăng lên phi mã. Bài học kinh nghiệm về gói hỗ trợ lãi suất của năm 2008 - 2009 vẫn còn đó và vẫn còn nguyên giá trị.

Trong năm 2021, dù “sức khỏe” doanh nghiệp bị tổn hại nghiêm trọng, nhiều doanh nghiệp thực tế đã rơi vào nợ xấu, không đủ điều kiện cấp tín dụng, nhưng nhờ chính sách giãn, hoãn nợ của Ngân hàng Nhà nước, các doanh nghiệp này vẫn có cơ hội tiếp cận vốn để phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Thực tế, mặc dù nền kinh tế hết sức khó khăn, song năm 2021, tín dụng toàn nền kinh tế tăng ngay từ đầu năm và cao hơn so cùng kỳ năm trước. Tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 10,38 triệu tỷ đồng, tăng 12,97% so thời điểm cuối năm 2020. Quy mô tín dụng được kiểm soát, phù hợp khả năng hấp thụ của nền kinh tế, room tín dụng nhiều lần được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh linh hoạt vào những thời điểm dịch bệnh được kiểm soát, vốn được hướng vào lĩnh vực ưu tiên.

Cũng nhắc lại gói kích cầu năm 2009, nhiều chuyên gia cho rằng, thời điểm đó, dù quy mô gói kích cầu rất lớn, song GDP chỉ tăng 1%, trong khi hệ lụy lạm phát lại rất lớn. Vì vậy, việc Ngân hàng Nhà nước kiên quyết kiểm soát chặt chẽ cung tín dụng, kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô là thành công lớn nhất của chính sách tiền tệ năm 2021. Mặc dù không ồ ạt “bơm tiền”, song Ngân hàng Nhà nước có nhiều biện pháp gỡ khó rất thiết thực cho doanh nghiệp. Đó là hai lần gia hạn cơ cấu nợ, hối thúc các ngân hàng thương mại giảm lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp.

Dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường, khiến triển vọng kinh tế, lạm phát toàn cầu năm 2022 khó dự báo. Chưa kể, những bất ổn nội tại của hệ thống ngân hàng như “tảng băng chìm” dần phát lộ là thách thức đối với Ngân hàng Nhà nước thời gian tới.

Cụ thể, tính đến cuối năm 2021, tổng số tiền lãi mà các tổ chức tín dụng đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng khoảng 34.900 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ với giá trị nợ đã cơ cấu lũy kế từ khi có dịch đạt hơn 607.000 tỷ đồng; các ngân hàng đã miễn, giảm, hạ lãi suất cho trên 2 triệu khách hàng với dư nợ hơn 3,87 triệu tỷ đồng… Trong khi đó, xu hướng tăng lãi suất trên toàn cầu, áp lực cung tiền từ các gói hỗ trợ phục hồi kinh tế năm 2022 khiến nguy cơ lạm phát chi phí đẩy và lạm phát cầu kéo ngày càng hiển hiện.

Việc cho phép cơ cấu nợ của Ngân hàng Nhà nước giúp các ngân hàng và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, song cũng phần nào làm lệch lạc kỳ hạn khoản vay. Rất nhiều khoản vay từ ngắn hạn, nếu tính cả thời gian cơ cấu đã biến thành nợ trung hạn. Tương tự, có khoản vay trung hạn đã biến thành dài hạn.

Chính Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cũng khẳng định, tình trạng này nếu kéo quá dài sẽ không có lợi cho an toàn hệ thống, gây ra rủi ro kỳ hạn. Tuy nhiên, nếu thời gian tới, dịch bệnh diễn biến phức tạp, doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, thì Ngân hàng Nhà nước vẫn phải cân nhắc có giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Về lâu dài, nền kinh tế phải giảm dần sự phụ thuộc vốn trung, dài hạn vào ngân hàng và thay vào đó, phải dựa vào thị trường vốn, như chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp.

Không chỉ vậy, một mối lo nữa của Ngân hàng Nhà nước là nợ xấu. Dù nợ xấu nội bảng năm 2021 vẫn dưới 2%, song, nếu tính cả các khoản nợ được cơ cấu lại, thì tỷ lệ nợ xấu dự báo lên tới 8,2%, tăng vọt so cuối năm 2020 là 5,08%.

Rất may, thực tế minh chứng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có dày dặn kinh nghiệm xử lý nợ xấu, đã đưa nợ xấu từ mức 17,2% năm 2012 về mức dưới 2%, thì việc xử lý nợ xấu thời gian tới, khi dịch bệnh được kiểm soát, không phải là quá khó. Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất là hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu đang gặp khó khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu sắp hết hiệu lực. Các ngân hàng thương mại đang rất trông chờ Chính phủ sớm luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14, bởi nếu không, nguy cơ về “cục máu đông nợ xấu” như giai đoạn trước sẽ quay lại.

Bước sang năm 2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14%, điều chỉnh tùy thuộc vào tình hình thực tế. Quan điểm của cơ quan này hiện nay là nắn dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt tín dụng rủi ro. Tuy vậy, trên thực tế, bất chấp sự kiểm soát của cơ quan này, năm 2021, một lượng không nhỏ dòng tiền ào ạt chảy vào chứng khoán, bất động sản. Chính vì vậy, tiếp tục nắn dòng tín dụng bất động sản vẫn tiếp tục là một trong những áp lực lớn nhất của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2022.

Trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2022 mới đây, Phó thủ tướng Lê Minh Khái cũng nhận định, mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có nhiều cố gắng, song việc kiểm soát, hướng luồng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh còn một số bất cập. Trong đó, vẫn còn hiện tượng vốn tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán...

Chính vì vậy, năm 2022, bên cạnh tiếp tục triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng góp phần hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Phải kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán... trong đó, kiểm soát chặt chẽ việc mua trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng, giảm thiểu rủi ro hệ thống.

Mặt khác, thời gian tới, Chính phủ có gói hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, theo kỳ vọng của nhiều chuyên gia kinh tế, Chính phủ và các ngân hàng sẽ rút kinh nghiệm từ bài học năm 2009 để “bơm vốn” cho đúng đối tượng ưu tiên, chảy vào sản xuất, thay vì chảy vào kênh đầu cơ như chứng khoán, bất động sản…

Điều này sẽ được thực hiện như thế nào, và kết quả sẽ ra sao, tất nhiên phải trông cậy vào năng lực điều hành, quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam./.