Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2022

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG BIỂU HIỆN ĐỘC ĐOÁN, GIA TRƯỞNG, QUÂN PHIỆT

 Quán triệt quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương “Về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân cần phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi.
Biểu hiện thứ 8 trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”.
Cảnh báo hiện tượng làm xói mòn bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ
Trong tâm khảm, ký ức mỗi người lính, từ binh nhất đến vị tướng, trong cuộc đời quân ngũ của mình, hầu như ai cũng thấm nhuần sâu sắc lời thề thứ 7 trong 10 lời thề danh dự của quân nhân, đó là: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt, trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận; thực hiện toàn quân một ý chí”.
Có thể khẳng định rằng, đây là lời thề cô đọng nhất, sâu sắc nhất, thể hiện và tiếp nối truyền thống “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” trong văn hóa quân sự của ông cha ta; đồng thời phản ánh sự gắn bó mật thiết của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ đồng chí, đồng đội mình.
Quân đội ta là một đội quân cách mạng, đội quân văn hóa. Vẻ đẹp nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thống nhất ở niềm tin, lý tưởng cách mạng, ở tinh thần cống hiến, hy sinh và ở tình cảm đoàn kết cán binh mật thiết, trên dưới một lòng. Điều này khác xa với thái độ, hành vi “độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể”-những biểu hiện trái ngược hoàn toàn với phẩm chất truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.
Độc đoán là thái độ xử sự, lề lối làm việc nặng về áp đặt cá nhân, lợi dụng chức trách, quyền hạn, vị trí công tác của mình để định đoạt công việc theo ý riêng bản thân, bất chấp ý kiến xây dựng đúng đắn của người khác. Gia trưởng là thể hiện thái độ bề trên, cái gì cũng cho mình là đúng, là phải rồi tự ý phán quyết hầu hết mọi việc của đơn vị. Quân phiệt là cậy thế, cậy quyền để có lời nói, thái độ, hành vi xúc phạm, lăng mạ, sỉ nhục cấp dưới. Coi thường tập thể là xem nhẹ vai trò tập thể, không lắng nghe những góp ý, tư vấn, phản biện khoa học của tập thể cấp ủy, thiếu tôn trọng số đông cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.
Trước hết cần khẳng định rằng, hầu hết đơn vị hiện nay luôn giữ gìn truyền thống đoàn kết cán-binh, trên-dưới đồng lòng, nhưng cá biệt vẫn có đơn vị không khí nội bộ lại khá căng thẳng, nhân viên, chiến sĩ cấp dưới luôn sống trong cảm giác thiếu thoải mái. Tìm hiểu mới biết nguyên nhân sâu xa là do cấp dưới sợ sệt cán bộ chỉ huy cấp trên. Vì cấp trên không những không thường xuyên gần gũi, chia sẻ, động viên cấp dưới mà nhiều lúc còn quát mắng, đe nẹt chiến sĩ.
Trên thực tế, dù hành vi quân phiệt bằng bạo lực hiện nay cơ bản đã được chấm dứt, nhưng hành vi bạo lực tinh thần (còn gọi là “bạo lực miệng”) vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhỏ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Số cán bộ này thường vin vào tính cương trực, nóng nảy để nói với cấp dưới bằng những ngôn từ khó lọt tai, thậm chí dùng cả từ ngữ thông tục để chấn chỉnh, uốn nắn cấp dưới mắc khuyết điểm khiến anh em cảm thấy bị tổn thương về danh dự, nhân phẩm.
Lại nữa, có đơn vị khi báo cáo với lãnh đạo, chỉ huy cấp trên đến làm việc, kiểm tra thì khẳng định tình hình nội bộ đơn vị luôn đoàn kết thống nhất, trên dưới đồng thuận, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn lại có đơn thư khiếu nại vượt cấp.
Bên cạnh đó, một số đơn vị tuy có duy trì chế độ đối thoại giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng cấp dưới cũng không dám mở lòng nói thẳng, nói thật. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng này, một mặt do cán bộ không thật sự thương yêu, tôn trọng cấp dưới, thiếu sự gần gũi, chia sẻ với cấp dưới; mặt khác cấp trên còn cố tạo ra khoảng khách với cấp dưới để chứng tỏ “cái uy”, “cái oai” của mình.
Nêu cao tình cảm cách mạng, nâng tầm phong cách ứng xử nhân văn của người cán bộ
Tổ chức quân đội có hệ thống chỉ huy chặt chẽ từ trên xuống dưới và đề cao kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Việc phân định giữa cấp trên với cấp dưới cũng không ngoài mục đích tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, bảo đảm cho mọi quân nhân nghiêm túc tuân thủ phương châm kỷ luật “Quân lệnh như sơn”, sẵn sàng nhận và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.
Do vậy, việc duy trì chế độ “Làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh” là yêu cầu tất yếu để không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội nói chung, của mỗi đơn vị nói riêng.
Muốn góp phần phòng ngừa, hạn chế, đẩy lùi các biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, trước hết đòi hỏi mỗi cán bộ cần nhận thức đúng đắn, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa thực hiện nhiệm vụ theo cương vị, chức trách, quyền hạn được giao với đề cao tình cảm đạo đức cách mạng, yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nào mà tuyệt đối hóa chức trách, cương vị, quyền hạn của mình dễ dẫn đến áp đặt ý chí chủ quan, ảo tưởng quyền lực, từ đó tự cho mình cái quyền đứng trên tập thể và coi thường người khác.
Yêu thương con người, tôn trọng cấp dưới chính là “bảo bối” giúp người cán bộ luôn tinh anh, sáng suốt, nhân văn trong quan hệ ứng xử với cấp dưới, từ đó có thể phòng tránh được những biểu hiện áp đặt vô lối đối với nhân viên, chiến sĩ thuộc quyền. Thấu hiểu, chia sẻ, đồng cảm với điều kiện, hoàn cảnh của những người ở vị trí công tác thấp bé hơn mình để có cách ứng xử phù hợp, thấu tình đạt lý cũng là một cách hữu hiệu giúp cán bộ phòng ngừa, tránh xa tư tưởng bề trên, thái độ trịch thượng, coi thường người khác.
Một trong những cội nguồn làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 8 thập niên qua là tinh thần yêu thương đồng chí, đồng đội. Phẩm chất này vừa là biểu hiện cốt lõi trong truyền thống, bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là giá trị cơ bản làm nên chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ.
Do vậy, trong thời bình hiện nay, cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục những giá trị truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, trong đó có truyền thống yêu thương đồng chí, đồng đội, giữ gìn tình cảm cấp trên-cấp dưới trong sáng, thân thiết. Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở đơn vị cơ sở cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách ứng xử đối với bộ đội, đó là “thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”.
Lời dạy của Bác ngắn gọn, súc tích, thể hiện tình cảm đạo đức cách mạng cao đẹp, phong cách ứng xử nhân văn không riêng của người chính trị viên, mà là của mỗi cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
“Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt” không chỉ làm xói mòn bản chất truyền thống, đức tính tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, mà nó còn cổ xúy những thói hư tật xấu, làm tha hóa nhân cách người cán bộ.
Dù đây chỉ là hiện tượng cá biệt, nhưng đúng như Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từng bày tỏ trăn trở: "Dù bất cứ biểu hiện vi phạm kỷ luật nào của một số ít quân nhân đều làm ảnh hưởng rất xấu đến uy tín đơn vị, uy tín quân đội".
Do vậy, để phòng ngừa, giảm thiểu triệt để hiện tượng trái văn hóa quân sự này đòi hỏi các đơn vị phải chú trọng quan tâm chăm lo xây dựng môi trường văn hóa ứng xử thật sự thân thiện, nhân văn, làm cho cái tốt, cái đẹp không ngừng nảy nở, lan tỏa và thấm vào suy nghĩ và việc làm của mỗi quân nhân, qua đó gắn chặt thêm tình đoàn kết cán-binh, tạo động lực giúp cho cán bộ, chiến sĩ tăng thêm sức mạnh niềm tin, tình cảm cách mạng, ý chí khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chung sức đồng lòng, nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ.
                                                                                                Theo Bảo Như - Báo QĐND

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


          Có thể khẳng định rằng, trong bất kỳ chế độ xã hội nào, ở bất cứ quốc gia nào, quân đội cũng chịu sự chi phối của chính trị, không thể có quân đội phi giai cấp, quân đội đứng ngoài chính trị. V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”.

          Hiện nay, có một số người vẫn nghĩ rằng: Quân đội của các nước tư bản là “trung lập”, không chịu sự chi phối của chính trị. Đây là một sự mơ hồ, ảo tưởng trong nhận thức mắc bẫy âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội nhằm kéo quân đội thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hóa công cụ bạo lực bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

          Thực tế cho thấy, ở các nước tư bản chủ nghĩa, có thể tồn tại nhiều đảng phái nhưng bao giờ quyền lãnh đạo cũng thuộc về một đảng. Chẳng hạn như ở Hòa Kỳ, dù có nhiều đảng phái nhưng chỉ có đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ thay nhau nắm quyền. Trong hai đảng ấy cho dù đảng nào giành quyền lãnh đạo đất nước đi chăng nữa thì Quân đội Hoa Kỳ cũng không thể đứng ngoài chính trị. Tương tự với các nước tư bản khác cũng vậy, quân đội là do nhà nước tư bản lập ra và nuôi dưỡng, nên dứt khoát nó phải phục vụ và bảo vệ quyền lợi cho nhà nước tư bản. Thế nên, nếu ai đó cho rằng ở các nước tư bản chủ nghĩa, quân đội là “trung lập”, là “phi giai cấp”, “phi chính trị”… là hoàn toàn sai trái.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp tiến hành công việc hệ trọng này.     Ngay từ khi thành lập, cùng với tổ chức chỉ huy, tổ chức đảng trong Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay). Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam đã được khẳng định ngay từ ngày đầu thành lập.

          Trong suốt hành trình hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của mình đối với Quân đội nhân dân cũng như đối với lực lượng vũ trang. Để phù hợp với tình hình và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, hệ thống tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam có những điều chỉnh, nhưng quan điểm nhất quán của Đảng ta về sự lãnh đạo đối với quân đội là: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt…”. Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối có nghĩa là không nhường quyền lãnh đạo cho bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào khác. Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp về mọi mặt nghĩa là Đảng lãnh đạo quân đội bằng hệ thống tổ chức của Đảng trong quân đội, không thông qua bất kỳ một bộ phận, khâu trung gian nào; Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt công tác, các nhiệm vụ mà quân đội thi hành…

          Đảng ta tổ chức ra hệ thống tổ chức của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là để ngày càng khẳng định và tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với quân đội. Hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo hệ thống dọc từ Quân ủy Trung ương cho đến chi bộ. Cùng với quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Đảng trong quân đội trong Điều lệ Đảng, Ban Bí thư cũng ban hành các quy định về tổ chức Đảng, về cơ quan chính trị; Quân ủy Trung ương quy định về tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam rất rõ ràng, cụ thể.

          Cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam được xác định trong các văn kiện của Đảng đều xuất phát từ cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đồng thời, cơ chế lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội cũng được xây dựng trên cơ sở quán triệt đường lối, nhiệm vụ chính trị, đường lối nhiệm vụ quân sự của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. Cơ chế ấy còn thể hiện sự kế thừa, phát huy được truyền thống tốt đẹp và kinh nghiệm quý báu của Đảng ta, quân đội ta trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

          Như vậy, cả lý luận và thực tiễn lịch sử đã chứng minh và khẳng định mạnh mẽ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nguyên tắc cơ bản, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Những quan điểm, luận điệu sai trái cho rằng quân đội phải “trung lập”, “đứng ngoài chính trị” là hoàn toàn phiến diện, chủ quan, vô căn cứ. Chúng ta chẳng lạ, trong thực hiện “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động dùng nhiều chiêu trò, tung nhiều luận điệu hòng bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Những luận điệu, chiêu trò ấy sẽ ngày càng tinh vi, biến ảo hơn trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nói riêng. Trước yêu cầu mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh mạnh mẽ với những quan điểm, luận điệu, chiêu trò chống phá. Đồng thời, phải thường xuyên khẳng định và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa xã hội.

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ LÀ ANH EM


          Ngày tiễn con lên đường nhập ngũ, chị tôi dặn dò đủ điều và liên tục động viên: Con phải xác định tốt tư tưởng, yên tâm học tập, rèn luyện. Xem anh em, đồng đội với nhau như ruột thịt trong gia đình; đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ con nhé!

          Sự lo lắng, dặn dò của người thân các chiến sĩ mới là điều dễ hiểu. Bởi phần lớn các chiến sĩ mới lần đầu tiên xa gia đình, xa quê hương; bước chân từ ghế nhà trường phổ thông vào môi trường quân đội, còn ít những va vấp trong cuộc sống.

          Nay vào quân đội, các chiến sĩ tụ hội về một mái nhà chung với những đồng đội không cùng quê quán, khác nhau về tập quán, vùng, miền... nhưng cùng chung một lý tưởng, mục tiêu vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, từ đó mà vun đắp nên tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội.

          Cần khẳng định, lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã minh chứng, chính tình đoàn kết, cán-binh một lòng, yêu thương, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt đã tạo nên cội nguồn sức mạnh để Quân đội ta nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

          Những người lính Bộ đội Cụ Hồ từ thuở 34 chiến sĩ đến nay luôn yêu thương, giúp đỡ nhau để "Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành". Tuy vậy, chúng ta cũng thừa nhận rằng: Thời gian qua, vẫn còn những cán bộ, chiến sĩ vì một lý do nào đó đã xem nhẹ tình đồng chí, đồng đội, dẫn đến những lời nói, việc làm thiếu chuẩn mực, làm “sứt mẻ” mối đoàn kết gắn bó keo sơn, ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ các cấp trong quân đội: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”.

          Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”. Lời căn dặn của Người nhắc nhở chúng ta rằng: Mối đoàn kết cán-binh, tình yêu thương đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt cần được nuôi dưỡng, vun đắp hằng ngày thông qua những việc làm cụ thể. Bởi nguy cơ về lối sống ích kỷ, biểu hiện “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát” như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã cảnh báo sẽ hiện hữu nếu trong mỗi con người không được bồi đắp tình yêu thương mỗi ngày.

          Để góp phần vun đắp tình cảm gắn bó keo sơn giữa cán bộ, chiến sĩ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chú trọng đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội. Tùy vào điều kiện thực tế mỗi đơn vị mà tạo các diễn đàn, sân chơi bổ ích để cán-binh có dịp giao lưu, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, qua đó giúp chiến sĩ mới cảm nhận rõ ràng “đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, từ đó yên tâm học tập, công tác, huấn luyện.

          Đối với cán bộ các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý chiến sĩ mới từ cấp tiểu đội trở lên, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực sự là hạt nhân đoàn kết; gương mẫu trong lời nói, việc làm, sống có tình thương, trách nhiệm; chăm sóc, chỉ dạy, gần gũi, yêu thương chiến sĩ như chính những người em ruột thịt của mình. Mỗi chiến sĩ cần xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm để cố gắng trong rèn luyện và học tập; cùng nhau xây dựng môi trường văn hóa trong đơn vị, cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ, thách thức, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG - NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, THƯỜNG XUYÊN VÀ LÂU DÀI

 

          Điều dễ nhận thấy hiện nay là sự phát triển ngày càng nhanh, mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng, các trang web, blog, các mạng xã hội lớn như Facebook, Instagram, Zalo… cũng góp phần không nhỏ tạo ra sự bùng nổ thông tin.

          Với ưu thế tốc độ lan truyền nhanh, tiếp cận đến từng cá nhân, Internet và mạng xã hội là công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với đó, Internet, mạng xã hội còn cung cấp nhiều thông tin và tư liệu bổ ích, kịp thời tới từng cá nhân và tập thể; ký kết các văn bản hợp tác và mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các đối tác, các tổ chức trong nước cũng như quốc tế. Ngoài ra, mạng xã hội còn cung cấp nhiều dịch vụ giao lưu, vui chơi và giải trí phù hợp với nhiều lứa tuổi, từ thiếu niên đến các bậc cao niên.

          Chúng ta không phủ nhận những lợi ích to lớn mà các phương tiện thông tin và mạng xã hội đem lại. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển ngày càng đa dạng, hiệu quả và thiết thực của các phương tiện thông tin cũng được các thế lực thù địch, phản động triệt để khai thác nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

          Các thế lực thù địch chống phá Việt Nam toàn diện trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, nhất là quốc phòng, an ninh và đối ngoại; cả về lý luận cũng như thực tiễn. Mục tiêu không bao giờ thay đổi của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh của Đảng, phủ định thành quả đấu tranh cách mạng, cũng như xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Để thực hiện mục tiêu đen tối ấy, các thế lực thù địch không từ bỏ bất cứ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, tinh vi nào.

          Do vậy, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các phương tiện thông tin, đặc biệt trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài của các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị và từng người dân. Đây được coi là một mặt trận đấu tranh rất quan trọng, nhằm giữ vững nền hòa bình, độc lập dân tộc, cũng như bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN ở nước ta trong bối cảnh mới. Để đấu tranh có hiệu quả với ý đồ khai thác triệt để thế mạnh trên không gian mạng nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp.

          Trước hết, trên lĩnh vực chính trị và tư tưởng, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và mọi người dân trong và ngoài nước, cũng như bạn bè quốc tế hiểu rõ vai trò lãnh đạo, chủ trương, đường lối, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhất là thành quả đấu tranh giành độc lập, thành tựu sau hơn 35 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đây là yếu tố quan trọng để chúng ta đấu tranh làm thất bại mưu đồ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã giành được.

          Đồng thời, chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên, trước hết là lực lượng chức năng có lập trường tư tưởng vững vàng, trình độ lý luận và chuyên môn kỹ thuật cao; đủ năng lực quản lý và đấu tranh trên các phương tiện thông tin, nhất là trên không gian mạng. An ninh, an toàn không gian mạng là một bộ phận không thể tách rời của an ninh quốc gia. Do đó, một trong những nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu hiện nay của chúng ta là phải làm chủ không gian mạng. Nâng cao bản lĩnh, trình độ lý luận và chuyên môn kỹ thuật cao cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên và toàn dân chính là phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng thế trận lòng dân trên không gian mạng. Đây là cơ sở để chúng ta phát huy sức mạnh tổng hợp, động viên sức mạnh toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi ý đồ và những luận điểm tuyên truyền và xuyên tạc của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ và Tổ quốc XHCN. Cùng với đó, cần xây dựng nhiều chương trình vui chơi bổ ích, mang tính giáo dục cao, thiết thực, phù hợp với nhiều lứa tuổi trên mạng Internet và điện thoại di động, định hướng để các tầng lớp nhân dân sử dụng có hiệu quả.

          Thực tiễn biến động chính trị ở một số nước trên thế giới thời gian qua cho thấy, các thế lực thù địch, các lực lượng đối đầu đã triệt để tận dụng những sai lầm thiếu sót trong quản lý và điều hành đất nước của cá nhân hoặc giai cấp lãnh đạo. Từ đó họ đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc và vu cáo trên các phương tiện thông tin, trọng điểm là vấn đề tham nhũng, tự do, dân chủ và nhân quyền... kích động quần chúng nổi dậy chống đối, tiến tới lật đổ chế độ. Đây là vấn đề ta cần đi sâu nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân, làm rõ bản chất, chỉ rõ đối tượng, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch và tìm ra giải pháp phòng chống, ngăn chặn.

          Đặc biệt, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị phải tích cực, chủ động giải quyết các tranh chấp bất đồng, khắc phục những tồn tại yếu kém, xử lý dứt điểm những vụ việc xảy ra. Đi kèm với đó chúng ta phải chủ động, kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế; không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, vu cáo. Sẽ là rất khó cho chúng ta nếu trận địa thông tin bỏ trống hoặc bị động, lúng túng trong xử lý thông tin. Chủ động chiếm lĩnh trận địa thông tin là cách tốt nhất để chúng ta định hướng tư tưởng, tạo sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân trong nước cũng như bạn bè quốc tế và chủ động đấu tranh phản bác làm thất bại mọi luận điệu, chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch.

Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng

  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng toàn diện về mọi mặt, cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trong đó, nội dung phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng được Đại hội XIII đặc biệt nhấn mạnh, làm rõ, toàn diện hơn và là sự tổng kết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng thời gian qua. Yêu cầu đặt ra là cần quán triệt nghiêm túc và triển khai đầy đủ nội dung phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng để thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị trong nhiệm kỳ.


 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân tại Di tích lịch sử - văn hóa Đền Đô (phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: TTXVN

Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, hình thành nên tư tưởng về dân vận, về phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(1). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng không chỉ là công việc quan trọng, sống còn của Đảng, mà còn là công việc, trách nhiệm của nhân dân, bởi Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn gốc mọi sức mạnh của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu duy nhất, mục tiêu tối thượng, là bản chất của Đảng. Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên tắc xây dựng Đảng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Đảng ta luôn thấm nhuần và hết sức coi trọng việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá thực trạng về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng Đảng, cũng như xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ này trong thời gian tới.

Thực trạng việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá việc phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, rút ra bài học kinh nghiệm; trong đó, nhấn mạnh Đảng phải thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định những ưu điểm: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”(2).

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định liên quan trực tiếp đến phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng(3). Trước đó, Đảng cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ này(4). Nhờ đó, công tác tiếp dân và đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp từng bước đi vào nền nếp. Các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân(5).

Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân được đẩy mạnh, có chuyển biến tích cực. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 10 chương trình giám sát về các vấn đề, lĩnh vực có ý nghĩa cấp bách đối với toàn xã hội; phản biện một số văn bản quan trọng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh tổ chức 721 cuộc giám sát, 784 hoạt động phản biện; cấp huyện tổ chức 6.404 cuộc giám sát, 4.403 hoạt động phản biện và cấp xã tổ chức 49.564 cuộc giám sát, 25.834 hoạt động phản biện. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân đã có 32.064 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền(6).

Bên cạnh những kết quả và thành công đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”(7).

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội XIII của Đảng rút ra năm bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai là bài học về vị thế, vai trò của nhân dân: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(8).

   Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Pò Hèn và đồng bào dân tộc xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: 

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII cũng rút ra 5 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai có đoạn nhấn mạnh việc cần thường xuyên tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Đại hội XIII của Đảng đã đề cập đầy đủ, toàn diện, sâu sắc hơn về phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng

Vấn đề phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng được đề cập trong chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển, định hướng phát triển đất nước 10 năm (2021 - 2030); nhiệm vụ, giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII; cụ thể như sau:

Một là, phát huy vai trò của nhân dân là một thành tố trong chủ đề Đại hội.

“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” là một thành tố trong chủ đề Đại hội XIII. Điều này thể hiện, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò hết sức quan trọng của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng răn dạy: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(9).

Hai làphát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nội dung trong mục tiêu tổng quát phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI.

Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(10).

Trong mục tiêu tổng quát trên, mục tiêu “củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” được đặc biệt quan tâm nhấn mạnh. Thực hiện mục tiêu này cùng các mục tiêu khác đều hướng tới đạt được mục tiêu chung là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Ba làphát huy vai trò của nhân dân là một nội dung trong quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển đất nước và phương hướng xây dựng Đảng trong những năm tới.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã nêu 5 quan điểm chỉ đạo; trong đó, quan điểm thứ hai về động lực phát triển đất nước là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(11). Trong quan điểm chỉ đạo thứ năm về các nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta có nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng nêu 12 định hướng phát triển đất nước 10 năm (2021 - 2030), liên quan trực tiếp đến phát huy vai trò của nhân dân; trong đó, “xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước” là định hướng thứ năm; “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” là định hướng thứ chín; “tăng cường... công tác dân vận của Đảng” là định hướng thứ mười một; tiếp tục giữ vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ “giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là định hướng thứ mười hai.

Phương hướng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng 5 năm tới nhấn mạnh: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(12).

Bốn làphát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một trong những nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng những năm tới.

Đại hội XIII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nội dung về phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng tập trung ở nhiệm vụ, giải pháp thứ tám: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Nhiệm vụ, giải pháp này nhấn mạnh những nội dung sau:

Về nhận thức, Đại hội XIII đặt ra nhiệm vụ phải tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Về yêu cầu của cán bộ trong quan hệ đối với nhân dân và trách nhiệm thực hiện quy chế công tác dân vận, Đại hội XIII xác định giải pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”; tăng cường phối hợp, thực hiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.


              Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam giúp đồng bào dân tộc thu hoạch lúa_Nguồn: qdnd.vn

Về công tác dân vận của các cơ quan của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, Đại hội XIII nhấn mạnh giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các  quan của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp; chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài; chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận; nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với biến đổi cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận, Đại hội XIII yêu cầu phải kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận; tiếp tục cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; lãnh đạo thể chế hóa Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nhằm phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước; nghiên cứu, ban hành cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ; tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.

Đại hội XIII bổ sung nội dung “dân giám sát, dân thụ hưởng” để hoàn chỉnh phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là bước tiến trong nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của nhân dân trong quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Điều 2, Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Có thể thấy, chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã được Đảng ta đề ra từ lâu, nhưng vấn đề cấp bách là cần có cơ chế để cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tế, bảo đảm nhân dân tham gia tích cực, mạnh mẽ vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Về công tác vận động nhân dân, Đại hội XIII yêu cầu đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và quan tâm chăm lo đời sống của nhân dân; thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định về dân chủ ở cơ sở; công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị hợp pháp, chính đáng của nhân dân và xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội.

Năm làphát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nội dung trong những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.

Đại hội XIII xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có ba nhiệm vụ trọng tâm đề cập đến phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất nhấn mạnh: “Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(13). Nhiệm vụ trọng tâm thứ tư nêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(14). Nhiệm vụ trọng tâm thứ năm là: “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân…”(15).

Đại hội XIII xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó đột phá thứ hai về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đã nêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(16).

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc và thực hiện nghiêm túc việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, chắc chắn sẽ góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện./.

PHÒNG, CHỐNG XUYÊN TẠC, BẢO VỆ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


          Gần 8 thập kỷ xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam thực sự là một quân đội anh hùng, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; được Đảng và nhân dân ta hết mực tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ và ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục.

          Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có những luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.

          Trong quá trình thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc những giá trị truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam, nhất là xuyên tạc về lòng trung thành của quân đội với Đảng, với Nhà nước và nhân dân; xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế của quân đội với những lời lẽ hết sức phản động, phản khoa học nhằm thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, hòng làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội, làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

          Sự xuyên tạc đó được thể hiện ở một số luận điệu như: “Lực lượng vũ trang (LLVT) chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức, lực lượng nào”; “xóa bỏ quy định LLVT phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”; “quân đội là chỉ của quốc gia dân tộc” và có nhiệm vụ “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân chứ không phải bảo vệ chế độ nào”(!). Khi Quân đội ta thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân công tác, tiến hành công tác dân vận, giúp đỡ nhân dân giải quyết các “điểm nóng” về xã hội, đấu tranh chống việc lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo thì các thế lực lại xuyên tạc, vu cáo “quân đội cứu Đảng, đàn áp nhân dân”... Lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với nhân dân, các thế lực thù địch ra sức kích động nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân: “Tuy gọi là QĐND song thực chất chỉ là công cụ bạo lực của một tập đoàn cầm quyền, không phải là quân đội mang lại lợi ích cho dân”(!)... Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch còn xuyên tạc nghĩa vụ quốc tế vô sản cao cả của QĐND Việt Nam đối với cách mạng Lào và Campuchia trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây. Chúng xuyên tạc việc QĐND Việt Nam cử lực lượng tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng lại là “hành động xâm lược”(!).

          Những luận điệu trên được các thế lực thù địch “nhai đi nhai lại” nhiều lần, do vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt, một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, có thể bị tiêm nhiễm những luận điệu phản động đó. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết phê phán, đấu tranh.

 

“KHÔNG CÓ BỮA TRƯA MIỄN PHÍ”


          Việt Tân lại vừa nhỏ những giọt nước mắt cá sấu để tỏ ra… “thương dân” trong bài ĐẢNG THƯƠNG DÂN tung lên mạng ngày 20/2/2022. Trong bài, Việt Tân rên thảm thiết: “Cầu Mỹ Thuận Úc xây, dân đi miễn phí/Cầu Cần Thơ Nhật xây, dân đi miễn phí/Cầu Vàm Cống Hàn xây, dân đi miễn phí/Hầm Thủ Thiêm Nhật xây, dân đi miễn phí/ Bot Đảng xây khắp nơi, dân trả tiền sặc máu?”

          Việt Tân, ai không biết: Cấm có tử tế bao giờ. Thế nên, đưa bất cứ điều gì, nếu không xuyên tạc, bịa đặt, thì họ cũng bóp méo để chống phá đất nước. Trong bài trên, Việt Tân đề cao hết cỡ “cái tốt” của nước ngoài xây cầu để dân sử dụng mà “không thu phí”, và so sánh với “cái xấu” của Việt Nam trong các dự án BOT mà người tham gia cần trả tiền. Người nhẹ dạ tin vào Việt Tân rất có thể sẽ phẫn nộ đổ cho Nhà nước Việt Nam nhẫn tâm, bóc lột dân.

          Nhưng tiếc cho Việt Tân, những người cả tin hiện thời ít lắm. Người khôn thì ngày càng nhiều. Họ đọc và hiểu ngay rằng: cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Vàm Cống và hầm Thủ Thiêm mà Việt Tân cho là “Úc xây”, “Nhật xây”, “Hàn xây”,  người dân (Việt Nam) được đi miễn phí… chỉ là sự tưởng tượng của kẻ, nếu không dốt nát thì cũng ấu trĩ.

          Những công trình giao thông nổi bật nêu trên được dựng từ nguồn Viện trợ phát triển (ODA). ODA có thể là viện trợ song phương (chiếm 70%) của các quốc gia (như đối với các công trình trên), hoặc viện trợ đa phương (chiếm 30%), do quốc gia tài trợ trao cho một tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới hoặc các tổ chức của Liên hợp quốc (UNDP, UNICEF, UNAIDS…), để các tổ chức này phân phối nó cho các nước đang phát triển. Dù có từ “viện trợ”, nhưng ngoài điều kiện vốn đối ứng, nước tiếp nhận ODA phải trả lãi, phí dịch vụ ngân hàng (dù thấp), đặc biệt, kèm theo điều kiện công trình phải do các tập đoàn, công ty nước viện trợ (chủ nợ) thi công – có thể hiểu như một cách bán công nghệ của các quốc gia phát triển, có khi với giá rất hời để trong thế khó, bên mua phải cắn răng chịu.

          Nhà nước trả lãi cho quốc gia viện trợ (chủ nợ) bằng tiền ngân sách, cũng là  tiền do người dân, doanh nghiệp Việt Nam đóng góp qua thực hiện nghĩa vụ thuế, chứ lấy đâu ra. Nói cách khác, dù là Nhật, là Hàn, là Úc hay ai chăng nữa, chẳng ai cho không ai cái gì; chính Nhà nước, đã thay mặt người dân thực hiện việc “trả phí” rồi. Người đời hay nói câu “không có bữa trưa nào miễn phí” là do vậy.

          Còn BOT là dự án đầu tư xây dựng công trình, tổ chức quản lý và kinh doanh có thu phí các dịch vụ sử dụng công trình với thời hạn dự tính thu hồi đủ vốn và thu được lợi nhuận; sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng thì công trình đó được chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước để tiếp tục quản lý và sử dụng. Với đặc điểm đó, BOT thường được các nước chậm phát triển, còn khó khăn về vốn, công nghệ và  quản lý thực hiện với phương châm “xã hội hóa” các nguồn lực phục vụ cho phát triển hạ tầng (như 8 dự án BOT cao tốc Bắc – Nam phía Đông, giai đoạn 2017 – 2020: Mai Sơn – Quốc lộ 45; đoạn Quốc lộ 45 – Nghi Sơn; đoạn Nghi Sơn – Diễn Châu; đoạn Phan Thiết – Dầu Giây…, tổng chiều dài 530 km với tổng mức đầu tư dự kiến lên tới 104.079 tỷ đồng mà ngành giao thông Việt Nam đã hoàn thành hoặc đang thi công. Với các dự án BOT, người dân khi sử dụng sẽ trả phí trực tiếp cho nhà đầu tư.

          Những tiêu cực, bất hợp lý trong triển khai một số các dự án BOT giao thông là thực tế, cần xử lý nghiêm khắc hoặc điều chỉnh. Tuy nhiên, không thể vì thế mà phủ nhận tác dụng, hiệu quả tích cực của phương châm, cách làm này. Càng không thể xuyên tạc chủ trương, bản chất các dự án BOT giao thông để kích động dư luận và nhằm những mục tiêu đen tối khác – như Việt Tân trong bài viết nêu trên.

BẢN LĨNH VIỆT NAM


          Quân Mông Cổ tuyên bố: “Dẫm nát quân dân nhà Trần dưới vó ngựa Nguyên Mông...”

          Sau 3 lần tấ.n công, toàn bộ tướng lĩnh tiên phong Nguyên Mông đều bị mất đ.ầ.u - hoàng tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn về Bắc Quốc.

          - Người Pháp tuyên bố: “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm...”

          Sau 56 ngày đêm Việt Minh tấn công, Điện Biên Phủ đã xuất hiện từng đoàn lính Pháp xếp hàng dài vài cây số, giơ hai tay lên trời từ trong pháo đài bất khả xâm phạm đi ra.

          - Người Mỹ tuyên bố: “Đưa Miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá ...”

          Sau gần chục năm Mỹ và chư hầu tham chiến - Miền Bắc Việt Nam tiến thẳng lên thời kỳ đồ nhôm (mà lại là nhôm xịn khai thác trên trời)

          - Quân bành trướng Bắc Kinh tuyên bố: "Sáng ăn cơm Bắc Kinh - Trưa duyệt binh Hà Nội...”

          Sau 9 năm từ 1979-1988 quân TQ vẫn loanh quanh ăn cơm trộn đạn dọc tuyến biên giới và phía biển, để rồi 6,2 vạn quân TQ được duyệt binh dưới âm phủ.

          - Khơ-me đỏ tuyên bố: “Đổi 2 triệu quân Khơ Me để tiêu diệt 20 triệu quân CS Việt Nam...”

          Sau một tuần CS VN chính thức tổng tấn công, đã tiêu diệt hoàn toàn chế độ Khơ me đỏ, giúp đỡ bạn xây dựng lại đất nước.

          - Ngụy VNCH tuyên bố: “Lấy lại đất tổ, không làm khổ dân...”

          Sau 47 năm quân số VNCH ngày càng bị thiếu hụt trầm trọng do quân lực được điều động lên trời hưởng nhang.

          - Như lời mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút - Đánh cho ngụy nhào". "Xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn...”

Không chỉ Mỹ cút, không chỉ ngụy nhào (mà còn nhào qua bển), để rồi đất nước Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Dẫu vẫn có những khó khăn, thử thách trước mắt, nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào một tương lai tươi sáng cho đất nước, con người Việt Nam.

 

 

Thiên tai, đất vàng của những kẻ “bới lông tìm vết”

 Việc lợi dụng thiên tai, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, bôi xấu quân đội, chia tách quân đội với nhân dân với Đảng không mới nhưng nguy hiểm bởi cường độ, tần suất ngày càng tăng lên giống như nước chảy đá mòn, phá vỡ tinh thần đoàn kết quân dân cá nước, phá vỡ sự lãnh đạo tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng với quân đội.