Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

CUỘC CHIẾN NGA- UKRAINE QUA LĂNG KÍNH MẠNG XÃ HỘI


          Mạng xã hội ở Việt Nam suốt mấy ngày gần đây nóng rực vì những bình luận trái chiều về cuộc chiến đang diễn ra tại Ucraina. Nhiều người bênh Nga, nhưng cũng có không ít người phê phán Putin một cách dữ dội. Các cuộc tranh luận đối kháng trên mạng xã hội (MXH) có lúc căng thẳng đến mức một số bạn bè Facebook “cắt đứt quan hệ ngoại giao” với nhau. Có chủ tút tuyên bố thẳng thừng: “Ai ủng hộ Putin là tôi block luôn đấy nhé”.

          Những người phản đối việc Nga công nhận hai nước cộng hòa tự xưng Donesk, Lugansk và đưa quân vào đánh Ukraine cho rằng, việc tổng thống Putin dùng lí do an ninh nước Nga bị đe dọa do Ukraine theo Mỹ và phương Tây, phớt lờ lời kêu gọi của Nga không mở rộng NATO về phía Đông chỉ là một cái cớ để Nga phát động chiến tranh, xâm phạm thô bạo một quốc gia có chủ quyền. Điều này là không thể chấp nhận được và không thể đánh lừa được dư luận. Họ bảo rằng nếu ủng hộ Nga trong việc này sẽ tạo thêm một tiền đề xấu cho các nước lớn khác dùng sức mạnh để bắt nạt, xâm chiếm các nước nhỏ. Nhiều người gọi Putin là kẻ độc tài, là bạo chúa, là kẻ châm ngòi cho thế chiến thứ ba.

          Ở chiều ngược lại, cũng có nhiều người ca ngợi hành động của tổng thống Putin, gọi ông là anh hùng, đã ra quyết sách rất kịp thời, đúng đắn. Họ cho rằng, nước Nga phải hành động chứ không thể ngồi yên mãi để cho Mỹ “làm mưa, làm gió” như trong suốt bao nhiêu năm qua. Một facebooker viết: “Tôi tin nước Nga đang phải tự cứu mình, chứ không tin vào truyền thông phương Tây. Ông Putin ra quyết sách rất kịp thời, đúng đắn. Tôi thích sự quyết đoán của tổng thống Putin. Một nước Nga kiêu dũng, dưới sự dẫn dắt sáng suốt và cứng rắn của Putin đã khiến Mỹ và phương Tây phải choáng váng”.

          Mặc dù có nhiều quan điểm trái chiều trên MXH về tính đúng – sai trong quyết định của của tổng thống Putin đưa quân đội vào Ukraine, nhưng có một điểm mà hầu như đại đa số dân cư mạng đều có nhận định giống nhau. Đó là việc chính quyền nhà nước Ukraine những năm gần đây đã mắc sai lầm nghiêm trọng trong việc lựa chọn con đường đi cho dân tộc mình. Ở vị trí địa chính trị quan trọng, nhạy cảm như Ukraine và có lịch sử nhiều năm gắn bó với Liên Xô cũ, hơn nữa lại có rất nhiều người Nga sinh sống lâu đời tại nhiều vùng đất giáp Nga, lẽ ra Ukraine phải lựa chọn cho mình một con đường phát triển khôn ngoan hơn, cân bằng hơn giữa Mỹ, phương Tây với người láng giềng anh em là nước Nga.

          Từ năm 2014, các nhà lãnh đạo Ukraine đã phạm phải những sai lầm liên tiếp để dần trở thành một nhà nước ở vào thế đối đầu trực tiếp, đe dọa an ninh của Nga. Hơn thế nữa, nền kinh tế Ukraine ngày càng thụt lùi và phụ thuộc vào phương Tây. Từ một nước cộng hòa phát triển nhất của Liên Xô cũ, Ukraine đã trở thành một trong những nước nghèo nhất châu Âu hiện nay. Để rơi vào tình thế “không thấy ai đến cứu mình” hiện nay, Ucraina chỉ nên tự trách mình.

          Cư dân mạng cũng không quên so sánh trường hợp của Ucraina với Việt Nam. Từ bài học của Ucraina, mọi người càng thấy rõ đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào một nước này để chống nước khác mà Việt Nam đã lựa chọn là con đường khôn ngoan, nhìn xa, trông rộng.

          Ông Carl Thayer, một chuyên gia nước ngoài nghiên cứu lân năm và có uy tín về Việt Nam, có một nhận xét đáng chú ý: “Một trong những thành công lớn nhất của Việt Nam kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới là đã định hướng đường lối đối ngoại đúng đắn”. 

          Trong suốt những năm qua, Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại này và đó chính là tiền đề vững chắc giúp Việt Nam duy trì được môi trường hòa bình, sự ổn định chính trị, xã hội để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như ngày hôm nay.

          Từ nhiều năm nay, các thế lực cơ hội, thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc đường lối đối ngoại Việt Nam. Chúng xuyên tạc rằng, chính sách đối ngoại độc lâp, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam là “di dây nguy hiểm”, “tự cô lập mình”, là “lạc hậu, không kịp thời”… Lợi dụng triệt để MXH, chúng giả danh thay mặt một bộ phận người sử dụng MXH “kiến nghị” lãnh đạo Việt Nam cần phải “chọn phe”, đi theo một nước lớn để bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Sự chống phá đó đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh mâu thuẫn giữa Mỹ với Trung Quốc ngày càng trở nên sâu sắc, có lúc bên bờ vực xung đột, đe dọa hòa bình, ổn định tại khu vực.     

          Những thành tựu phát triển của Việt Nam cùng với vai trò, vị thế quốc tế ngày càng lớn mạnh của đất nước và những bài học từ cuộc khủng hoảng tại Ucraina hiện nay chính là sự bác bỏ thuyết phục nhất đối với những thông tin, luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại Việt Nam của các thế lực chống phá.

 

PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ LÀ “NGỌC CÀNG MÀI CÀNG SÁNG”


          Việc giữ gìn và phát huy truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn cần thiết, nó như “ngọc càng mài càng sáng”.

          Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, chỉ ra rất rõ đó là: “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...”.

          Từ sự “vạch mặt chỉ tên” chủ nghĩa cá nhân đó, càng cho thấy, việc giữ gìn và phát huy truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn cần thiết, nó như “ngọc càng mài càng sáng”.

          1. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo vốn trưởng thành từ người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường rồi chuyển ngành, phát triển thành cán bộ cấp cao. Ông đã trải qua tất cả thăng trầm của sự nghiệp và cuộc sống cho đến lúc về hưu. Vậy nhưng mỗi khi nói điều gì đó về mình, ông luôn nhận rằng: “Tôi là người lính chiến”.

          Đọc kỹ lý lịch của ông tôi biết, những năm tháng là người chiến sĩ cầm súng trên chiến trường của ông không dài, thậm chí rất ngắn so với quãng thời gian ông đã chuyển ngành cho đến lúc về hưu. Vì sao ông vẫn luôn hoài niệm, tự hào với những năm tháng trong quân ngũ? Điều gì làm nên giá trị đó?

          Không khó lý giải, đó là phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, một nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Khi còn sống, Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho rằng, Bộ đội Cụ Hồ là một danh hiệu vinh dự mà nhân dân trao tặng.

          Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, là những giá trị cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của Quân đội ta được hun đúc qua nhiều thế hệ, trở thành bản chất, truyền thống của quân đội. Bộ đội Cụ Hồ là sự kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc và đây là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị.

          Trong khi đề cập rất sâu kỹ những giá trị tốt đẹp của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương cũng chỉ rõ: “Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình...; trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm kỷ luật, pháp luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, quân đội, làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

          2. Nhận định của Quân ủy Trung ương thể hiện trong Nghị quyết 847 là thẳng thắn, khách quan. Thời gian qua, hàng loạt cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những cán bộ giữ các cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước có vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý.

          Trong quân đội, số cán bộ, chiến sĩ bị kỷ luật rất đáng suy nghĩ, trong đó có cả các đồng chí là cán bộ cấp cao. Qua nhiều vụ án, tìm hiểu về lai lịch chính trị của các cá nhân vướng vào vòng lao lý, mỗi chúng ta không khỏi xót xa, tiếc nuối.

          Nhiều người trong số đó đã từng vào sinh ra tử trên chiến trường, cận kề giữa cái sống và cái chết. Có những người từng sẵn sàng nhường mạng sống cho đồng đội. Họ không bị gục ngã bởi bom đạn, không bị khuất phục bởi sức mạnh của kẻ thù, vậy mà giữa thời bình, họ đã gục ngã bởi “những viên đạn bọc đường”.

          Cơ chế thị trường, sự tác động của ngoại lai... khiến một số người không còn giữ được những phẩm chất của anh Bộ đội Cụ Hồ ngày nào. Chủ nghĩa cá nhân đã lấn át, đã ăn sâu vào họ. Các Mác vĩ đại có một câu kinh điển: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".

          Bản chất con người không phải trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, đồng thời biến đổi chính bản thân mình. Mọi thay đổi của mỗi con người thường bắt đầu từ những hành vi, thói quen, nhưng nếu là thói quen xấu, lại tự mình không nhận ra, không được người khác góp ý, phê bình sẽ dần dần tạo thành tính cách.

          Khi có chức vụ, có địa vị, có tiền bạc, con người ta dễ dẫn đến tư tưởng hưởng thụ, thỏa mãn, coi thường. Đôi khi, một số người có được chức vụ, tiền bạc một cách dễ dàng, ít phải đổ mồ hôi, công sức dẫn đến tư tưởng tự mãn, quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Và chính họ đã sa vào chủ nghĩa cá nhân mà không nhận ra. Chủ nghĩa cá nhân vừa là nguyên nhân vừa là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

          Những cá nhân sai phạm sẽ bị pháp luật xử lý. Luật pháp là công bằng. Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước.

          Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Nhưng rồi, sau mỗi vụ việc đều để lại bao điều trăn trở, giá như... Trách người vi phạm là lẽ thường, nhưng tổ chức đã ở đâu khiến cho các cá nhân đó lún sâu vào vi phạm? Vì sao các nguyên tắc, quy định của tổ chức, của Đảng lại bị xem nhẹ, bị bỏ qua trong các vụ việc đó?

          3. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

          Điều đó cho thấy, quá trình tu dưỡng, rèn luyện của mỗi con người phải là quá trình thường xuyên, liên tục, nó như việc “rửa mặt” hằng ngày. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”.

          Trong điều kiện hiện nay, việc gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là vô cùng cần thiết, nó vẫn còn nguyên tính thời sự, như Nghị quyết 847 đã đề cập. Phẩm chất, giá trị Bộ đội Cụ Hồ không phải là cái bất biến mà nó đòi hỏi cần luôn gìn giữ và phát huy cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.

          Điều này cũng bác bỏ quan điểm của một số người còn băn khoăn, chần chừ khi cho rằng, phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ chỉ được thể hiện sâu sắc trong thời chiến, còn thời bình đã có phần phai nhạt. Cách suy nghĩ này là không thuyết phục. Cái đã trở thành văn hóa thì nó đã trở thành bản chất, thành cái thường xuyên ở trong mỗi con người.

          Phẩm chất, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không đi ra ngoài quy luật đó. Tuy vậy, nó đòi hỏi mỗi cá nhân, mỗi con người nhận thức đúng về nó. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên hay quần chúng đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng.

          Giáo dục, rèn luyện, gìn giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đi liền với chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm vừa cấp bách, vừa thường xuyên, là trách nhiệm của mọi người để xứng đáng với truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng mà lớp lớp cha ông đã vun đắp.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ CUỘC CHIẾN NGA - UCRAINA ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC Ở VIỆT NAM


          Nga đã phát động cuộc chiến với danh nghĩa phòng thủ từ xa , ngăn không cho Ucraina gia nhập Nato phi quân sự hoá và chống phát xít hoá Ucraina như lời Tổng Thống Nga Putin.

          Từ cuộc chiến tranh này có thể rút ra nhiều vấn đề về sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của chúng ta .

          Ucraina là một nước nhỏ bên cạnh nước láng giềng bà con gần gũi là Nga ( gần tương tự về mặt địa lý như nước ta với Trung Quốc ) vốn được khôi phục và ra đời từ cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga. Là một trong những nước Cộng hoà đầu tiên tham gia hình thành Liên bang Xô viết ( có truyền thống gắn bó với dân tộc Nga ). Sau khi Liên Xô tan rã Ucraina cùng Nga và 10 nước thuộc Liên Xô đã tuyên bố độc lập. Sau nhiều lần nghiêng ngã lúc thân Nga lúc thân phương Tây qua các nhiệm kỳ bầu cử, đã làm cho Ucraina ngày càng thụt lùi về kinh tế xã hội, từ một trong những nước phát triển nhất của Liên Xô nhưng sau cuộc “ Cách mạng Màu “đất nước chia cắt bị Nga thu hồi Crưm và hình thành hai vùng ly khai đòi độc lập Donnhetxke và Luganxke, nền kinh tế Ucraina ngày càng sa sút và trở thành nước nghèo nhất châu Âu như hiện nay. Đã thế vì sức ép của Mỹ Tổng thống Zelenxki không chịu thực hiện thỏa thuận Noocmandi tìm biện pháp hoà bình thống nhất đất nước mà đẩy mạnh xây dựng quân đội, phát triển quân sự với ý định gia nhập Nato dựa vào Mỹ để thu hồi các vùng đã mất và ly khai, đối đầu chống Nga, cùng Mỹ bao vây kiềm chế làm suy yếu nước Nga. Một chính quyền chấp nhận phụ thuộc Mỹ đã đẩy Ucraina đến hoàn cảnh như hiện nay.

          Với Nga hay bất cứ nước nào như Nga cũng không thể chấp nhận một nước láng giềng gần gũi cùng chung biên giới quay lưng cùng các nước khác chống mình , đặc biệt Nga càng không thể bị nhiều lần phản bội nên họ cần có biện pháp ngăn chặn xoá bỏ nguy cơ đưa chiến tranh đến với nước mình .

          Từ nguy cơ trên Nga đã phát động chiến dịch Quân sự đặc biệt nhằm chống quân sự hóa và phát xít hoá ở Ucraina, với mục tiêu này ngày 24/2 Nga đã tiến công Ucraina như chúng ta đã biết.

          Từ tình hình trên ta có thể nhận định Mỹ - Nato sẽ không vì Ucraina mà trực tiếp đối đầu cuộc chiến với Nga, họ sẽ vì họ mà xúi giục Ucraina chống Nga đến người Ucraina cuối cùng . Một chính quyền phụ thuộc ngoại bang thì tất yếu quân đội của nó dù có trang bị vũ khí hiện đại đến đâu cũng không có sức mạnh chiến đấu đủ sức đương đầu với Quân đội Nga hiện nay, sớm muộn Ucraina trước nguy cơ thất bại hoàn toàn sẽ phải đề nghị Nga ngừng bắn và chấp nhận những điều kiện của Nga như đã từng xảy ra ở Gruzia .

          Qua cuộc chiến này bài học đầu tiên với nước ta là về đối ngoại phải hết sức khôn khéo giữ vững độc lập tự chủ nhưng luôn mềm dẻo về sách lược để gìn giữ môi trường hoà bình ổn định để phát triển.

          Thứ hai là phải cân bằng các mối quan hệ với các nước lớn, nhất là Trung Quốc và Mỹ, luôn thể hiện Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước “vượt qua khác biệt, bất đồng; phát huy tương đồng; hướng tới tương lai “ chung tay gìn giữ hoà bình ổn định khu vực và thế giới.

          Thứ ba là đẩy mạnh phát triển kinh tế, chăm lo củng cố quốc phòng an ninh; tạo nên sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc và khả năng răn đe chiến tranh (để bất cứ thế lực thù địch nào khi nghĩ đến xâm lược nước ta phải nghĩ đến sức mạnh Quốc phòng của Việt Nam).

          Thứ tư là phải giữ vững sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, xoá đói giảm nghèo đi đến xoá nghèo, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh , hiện đại .

          Từ những bài học trên ta càng thấy đường lối phát triển của đất nước ta do Đại hội Đảng XIII xác định là hoàn toàn đúng đắn nhất là đường lối đối ngoại Độc lập, tự chủ, hội nhập và phát triển, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước và các tổ chức quốc tế, kiên trì đấu tranh giữ vững hoà bình ổn định trong khu vực, không tham gia liên minh Quân sự, không để nước ngoài xây dựng căn cứ Quân sự trên lãnh thổ Việt Nam, không dựa vào nước này để chống nước khác và không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế ; từ đó chúng ta bác bỏ những quan điểm, tư tưởng núp dưới danh nghĩa yêu nước đòi phải dựa vào nước này, nước khác để bảo vệ Tổ quốc là sai trái cần phải đấu tranh loại bỏ.

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG CHIẾN SỰ NGA – UKRAINE ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM


          Những ngay qua liên quan chiến sự giữa Nga – Ukraine được người dân trên cả thế giới đặc biệt quan tâm, trong đó cũng có nhiều cộng đoàn, tín hữu Người Công giáo trên toàn thế giới cũng đã tổ chức cầu nguyện cho sự bình an, cho giải pháp hòa bình để không để xảy ra cuộc chiến đẫm máu của những dân chúng của các quốc gia. Ở Việt Nam, liên quan đến chiến sự giữa Nga – Ukraine cũng đã được người dân, cộng đồng mạng xã hội và các tờ báo chính thống cập nhật, đăng tải với tốc độ chóng mặt để giúp truyền tải những thông điệp, những thông tin cập nhật nhất đến với độc giả và người dân trên mọi miền Tổ quốc. Vậy nhưng lợi dụng chiến sự giữa Nga – Ukraine đang là tâm điểm của thế giới và đang trong thời điểm “nóng” nhất này, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí lại cố tình thực hiện chiêu trò "thọc gậy bánh xe” lợi dụng chiến sự này để xuyên tạc, chống phá Việt Nam, vu cáo, kích động về đường lối đối ngoại của Việt Nam về vấn đề này.

          Điển hình như trên facebook cá nhân của anh Lê Công Định, được biết đến là nhân danh là luật sư, đã từng bị xử lý về các hoạt động tuyên truyền chống phá Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đăng tải thông tin cho rằng “Vì sao Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, nhưng lại ngần ngại lên án cuộc xâm lược phi pháp của Nga vào Ukraine? Tiêu chuẩn kép chăng?” hay trang “Việt Tân”- một tổ chức được Bộ Công an đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố cũng đã đăng tải bài viết “lãnh đạo xứ ta làm nhục đất nước ta” kèm theo hình ảnh để xuyên tạc về quan điểm của Việt Nam về chiến sự Nga – Ukraine. Thậm chí nhiều kẻ lại đi so sánh cuộc chiến Nga-Ukraine và áp đặt vào Trung Quốc và Việt Nam. Đó là những luận điệu hoàn toàn xuyên tạc, vu cáo về quan điểm, đường lối đối ngoại của Việt Nam.

          Đối với chiến sự về vấn đề xung đột tại Ukraine, như thông tin đã được truyền thông, báo chí của Nhà nước đã đăng tải, ngày 25/2/2022, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thu Hằng đã kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc, không sử dụng vũ lực, tiếp tục đối thoại tìm kiếm giải pháp hoà bình, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên toàn thế giới. Thực tế trong quá trình dựng nước, giữ nước, Việt Nam đã kiên định con đường độc lập, tự chủ, không liên minh, liên kết với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào để chống lại quốc gia nào và không có một quốc gia nào có thể điều khiển dược ý chí của dân tộc Việt Nam theo hướng hay ý đồ của họ. Lợi ích quốc gia, dân tộc là mãi mãi.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, chính nhờ dựa vào sức mình là chính, kết thành sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta đã đánh bại những đế quốc, thực dân sừng sỏ nhất thế giới để bảo vệ hòa bình, độc lập cho dân tộc Việt Nam. Bây giờ, nhìn vào Ukraine khi lãnh đạo đất nước đã ảo tưởng đi cầu vọng các nước ngoại bang để chống Nga, đã biến từ một nước xinh đẹp trở nên tan hoang, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Người. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã từng nói rằng; “Đừng tưởng lờ Cuba đi mà người Mỹ sẽ tốt với chúng ta. Đừng tưởng căng với Trung Quốc sẽ lấy được lòng người Mỹ. Cũng đừng tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ giọng với mình.”

          Việt Nam không theo Trung Quốc để chống Mỹ, không theo Mỹ chống Trung Quốc. Chơi được với cả Nga, Trung, Ấn, Mỹ, châu Âu và đặc biệt chúng ta là một trong những quốc gia hiếm hoi có mối quan hệ thân thiết với cả Triều Tiên - Hàn Quốc và Nhật Bản... Việt Nam - Trung Quốc có lịch sử riêng biệt, cả cương vực, lãnh thổ và nguồn gốc khác nhau. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đơn thuần là quan hệ láng giềng nhưng phân biệt rạch ròi kiểu "sông núi nước Nam, Vua Nam ở" và ngược lại. Vậy nên đừng có lấy Nga, Ukraine để ứng với mối quan hệ Việt - Trung. Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước, miễn là tôn trọng độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ, tôn"Việt Tân" hay anh Lê Công Định cũng đừng chơ trò "thọc gậy bánh xe" nữa.

 

VIỆT TÂN: CỐ ĐẤM ĂN XÔI ĐÒI TRẢ TỰ DO CHO CHÂU VĂN KHẢM

 

      Thời gian gần đây, tổ chức phản động Việt Tân tại Úc liên tục kêu gọi người biểu tình tại một số địa điểm công cộng đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm. Thậm chí số này còn đưa ra những yêu sách đối với một số dân biểu, quan chức ở Úc gây áp lực để Việt Nam phóng thích vô điều kiện cho Khảm trở về Úc.

        Dù biểu tình liên tục nhưng thật nực cười khi chúng lấy lý do đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm vô căn cứ và hoàn toàn không thuyết phục chút nào rằng: Khảm bị bắt vì tìm hiểu vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hay Khảm bị bắt vì “yêu quê hương”… Thực tế sẽ chẳng có ai bị bắt vì những lý do như vậy, rõ ràng những người này đang tìm cách phớt lờ “bản chất” việc Khảm vi phạm pháp luật, bị bắt và xét xử ở Việt Nam.

        Châu Văn Khảm là thành viên của tổ chức phản động Việt Tân nên tổ chức này luôn ráo riết, tìm mọi cách để “đánh tráo” bản chất hành vi phạm tội của Khảm để gây sức ép đòi trả tự do cho Châu Văn Khảm - công dân của Úc. Tuy nhiên, dù bao biện cho hành vi của Châu Văn Khảm và vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhưng tội trạng của Châu Văn Khảm vốn không thể thay đổi.

        Mục đích của Châu Văn Khảm khi vào Việt Nam đã thể hiện ngay từ khi Khảm tìm cách nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua biên giới Campuchia – Việt Nam bằng giấy tờ giả. Tại Việt Nam, Châu Văn Khảm đã lôi kéo, kết nạp một số người vào tổ chức phản động Việt Tân và đã đưa tiền, huấn luyện, giao nhiệm vụ cho những người này hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân.

          Châu Văn Khảm không phải là thành viên đầu tiên của Việt Tân tìm cách xâm nhập vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Và rõ ràng với những hành vi vi phạm pháp luật như vậy thì không thể bao biện, lấp liếm cho đó là vì dân chủ, nhân quyền. Và chắc chắn một điều rằng, những hành vi vi phạm pháp luật, móc nối lôi kéo chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thì sẽ bị nghiêm trị và không thể dung thứ.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, có vai trò quyết định thành công của cách mạng

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

3. Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; đồng thời quan tâm đến quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

4. Phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu.

HAIVAN

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG

 

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN VÀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là “nền gốc” của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN