Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

Bác bỏ luận điệu “Quốc hội Việt Nam nhận thức chưa chuẩn về pháp luật”

 Tri qua 76 năm xây dng, Quc hi Vit Nam đã không ngừng phát triển về mọi mặt, hoàn thành tốt vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, thực hiện tốt các chức năng, đặc biệt là chức năng lập Hiến, lập pháp. Trong những năm gần đây, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, thể hiện rõ tính dân chủ và hiệu quả ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, vì lý do nào đó mà vẫn còn những ý kiến trái chiều, một số người viện dẫn một số điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia khác, hoặc chỉ ra một số hạn chế của pháp luật để chỉ trích Quốc hội một cách thiếu khách quan: “Quốc hội nhận thức chưa chuẩn về pháp luật”, “việc xây dựng pháp luật không cần dựa vào các nguồn văn bản qui phạm pháp luật đã ban hành trước đó”, “chưa lắng nghe ý kiến các chuyên gia”. Vậy phải chăng “Quốc hội nhận thức chưa chuẩn về pháp luật”?

Th nht, Quc hi luôn lng nghe ý kiến đóng góp bên ngoài Quốc hội trong quá trình xây dựng luật.

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển đất nước; nên, các hoạt động của Quốc hội nói chung, hoạt động lập pháp nói riêng luôn được thực hiện theo những quy trình rất chặt chẽ, bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Các dự án luật trước khi trình ra Quốc hội cho ý kiến, xem xét, thông qua thì các cơ quan soạn thảo trình Chính phủ cho ý kiến, rồi Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi trình ra Quốc hội, nếu không đt phải tiếp tục chỉnh sửa.

Cùng với quá trình đó, dự thảo luật được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân bằng nhiều hình thức phù hợp. Bên cạnh đó, để góp phần không ngừng đổi mới, đưa hơi thở cuộc sống vào nghị trường, phục vụ tốt nhất lợi ích của người dân và đất nước, Quốc hội đã đẩy mạnh các hoạt động tham vấn chuyên gia, tăng cường sự tham gia của các chuyên gia vào các hoạt động của Quốc hội với nhiều hình thức khác nhau: Hội thảo, tọa đàm…

Khi dự án luật trình ra Quốc hội, cùng với tờ trình của Chính phủ, thì phải kèm theo tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân, của chuyên gia, báo cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội. Sau đó, Quốc hội sẽ cho ý kiến trên tinh thần dân chủ, công khai, theo quy trình thảo luận ở tổ, thảo luận tại hội trường, được cơ quan báo chí truyền thông phản ánh minh bạch, kịp thời. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thông thường một dự án luật được Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong trong 2 kỳ họp. Tuy nhiên với những dự án luật quan trọng, nhạy cảm thì Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến trong ba kỳ họp. Có những dự án luật phải được chỉnh sửa nhiều lần mới hoàn chỉnh để được Quốc hội thông qua. Với những vấn đề khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, Lãnh đạo Quốc hội đều giao cho Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức các hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến của đội ngũ chuyên gia giúp Quốc hội có thêm luận cứ, cơ sở khoa học trong xem xét, quyết định. Điều này cho thấy, trong quá trình xây dựng luật và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, bên cạnh việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến ca đi biu Quốc hội và các cơ quan Quốc hội, Chính phủ; Quốc hội luôn lắng nghe ý kiến đóng góp ca nhân dân và chuyên gia, chứ không phải “chưa lắng nghe ý kiến chuyên gia” như những lời xuyên tạc.

Thứ hai, Quốc hội xây dựng pháp luật luôn dựa trên sự kế thừa truyền thống pháp lý của dân tộc, tiếp thu tinh hoa luật pháp quốc tế và căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam.

Mỗi quốc gia khi xây dựng luật đều phải căn cứ vào điều kiện thực tiễn của đất nước, hệ thống pháp luật trước đó và các công ước quốc tế. Đảm bảo cho luật khi được ban hành nhanh chóng đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân và đất nước; đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế. Chứ không một quốc gia nào khi xây dựng pháp luật chỉ căn cứ vào pháp luật của một nước nào đó, mà không căn cứ vào tình hình và những văn bản pháp luật của nước mình có liên quan, đặc biệt là Hiến pháp. Pháp luật Việt Nam là phục vụ cho nhân dân và đất nước Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thực tế cho thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng trên cơ sở s kế tha truyn thng pháp lý, phong tc tp quán nhân đo, khoan dung ca dân tc và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới. Nên, việc cho rằng: khi xây dựng pháp luật chỉ cần “căn cứ vào luật pháp của một số nước nào đó mà không cần dựa vào các nguồn văn bản qui phạm pháp luật đã ban hành trước đó”, là điều quá hồ đồ. Mặc dù xây dựng pháp luật là hoạt động sáng tạo; nhưng không phải là không dựa trên các văn bản pháp luật có liên quan, không cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn của đất nước; không phải phủ nhận hoàn toàn các văn bản pháp luật trước đó.

K t khi ra đi đến nay, Quc hi Vit Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò, sứ mệnh của mình đối với đất nước, với dân tộc và nhân dân…hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng hoàn thin góp phn gi vng n đnh chính tr, xã hội và phát triển đất nước. Do vậy, cho rằng “Quốc hội nhận thức chưa chuẩn về pháp luật, chưa lắng nghe ý kiến của chuyên gia” chỉ là luận điu sai trái, cn đu tranh bác b./.

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng di sản Người để lại không chỉ là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta mà còn luôn tiếp tục đồng hành, soi đường cho nhân dân Việt Nam vững bước trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Không thể phủ nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn đã được UNESCO vinh danh và giá trị tư tưởng của Người, song thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội đã dùng danh nghĩa "phi chính phủ", “từ thiện” để lập một số quỹ hỗ trợ cho các tổ chức phản động chống phá, xuyên tạc về Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh như Quỹ Đầu tư phát triển Mỹ (USAID), Quỹ Hỗ trợ dân chủ nhân quyền (NDI), Quỹ Quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), Việt Tân... Cùng với đó là việc bảo trợ cho các "loa truyền thông" như Trung tâm Asia, Chantroimoi media, Danlambao, Tiếng Dân News… thường xuyên đăng tải các thông tin, bài viết, phỏng vấn để bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông qua các trang mạng xã hội trên, những kẻ tự xưng là yêu nước, dân chủ và cả những người “có tiếng nói phản biện" ở trong và ngoài nước đã không chỉ bịa đặt, bôi đen một số thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người nhằm hạ bệ thần tượng mà còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản; Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, đã bị xóa bỏ nên không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay…

Thâm độc hơn, là họ đã không từ một thủ đoạn nào để bôi xấu và tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, để khi thì đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thì lại cho rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng vì đó là một nhà hoạt động thực tiễn.

Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành với những nguyên lý của học thuyết cách mạng, khoa học và hiện đại này; không giáo điều mà chính là nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của nó để bổ sung, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự bổ sung và phát triển sáng tạo ấy thể hiện rõ trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; về xây dựng, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; về xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa; về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên… trong tiến trình cách mạng Việt Nam hơn 9 thập niên qua.

Hơn thế nữa, không phải tự nhiên Hồ Chí Minh lại nói chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột tàn bạo dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, có nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Bởi, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng trên báo L’Humanité, ngày 16 và 17/7/1920 và Người nhận thấy: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(1). Bởi, chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong 3 nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin) và là thành tố quan trọng nhất. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn là hòn đá tảng, là cơ sở để Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế của thời đại.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ cội nguồn chính yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin và “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc" như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua: "Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam"(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính chặt chẽ, liên tục, nhất quán, bao quát và toàn diện đúng như Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(3).

Trong Văn kiện Đại hội IX, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định gồm 9 nội dung cơ bản: 1) Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2) Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 3) Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. 4) Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 5) Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 6) Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 7) Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. 8) Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 9) Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”(4) . Điều này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” (5). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh " (6)…

Trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng tăng cường và đẩy mạnh hơn các chiến dịch, các thủ đoạn, các hình thức từ bên ngoài, câu kết và phối hợp với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở trong nước để chuyển tải, truyền bá các thông tin sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nói chung, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, việc chủ động phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, kiên định và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, toàn Đảng cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, mỗi cấp ủy đều phải nâng cao nhận thức và xác định rõ việc đấu tranh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài. Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng nhằm huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn làm chuyển hóa chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch.

Hai là, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Theo đó, đẩy mạnh và kịp thời phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin về chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng thiết thực, hiệu quả.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Gắn tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh - cội nguồn sức mạnh, tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong hành trình hướng đến tương lai.

Bốn là, chú trọng xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh học từ đại học đến sau đại học, để đội ngũ cán bộ đó có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tốt, góp phần bổ sung và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng các lực lượng nòng cốt, chuyên trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội; trở thành nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân.

 

Không thể lấy sự việc đánh giá bản chất

 Lợi dụng việc một số cán bộ Quân đội có sai phạm bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng ai cũng biết rằng, không thể đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng, đừng lấy sự việc đơn lẻ để đánh giá thành bản chất. Bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội và sự thật các vụ việc không cho phép chúng thực hiện được hành vi vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn đó.

        Những hành động và đóng góp nổi bật của toàn lực lượng Quân đội được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, xứng đáng là điểm tựa tinh thần của quần chúng nhân dân, là chỗ dựa vững chắc của đồng bào, đồng chí cả nước. Thế mà các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã lợi dụng việc một vài cán bộ quân đội có sai sót để vu cáo, bôi nhọ danh dự Quân đội, phủ nhận sự đóng góp tích cực, hiệu quả của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ. Trên thực tế Quân đội cũng đã kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, nghiêm minh với vi phạm của một số cán bộ, được dư luận chung đánh giá cao, thêm tin tưởng, yêu quý Quân đội, đồng thời bày tỏ sự bất bình, phê phán thái độ, hành động cực đoan với dụng ý không tốt của những kẻ xấu./. 

Các thế lực xuyên tạc về truyền thống tốt đẹp Quân đội

 Lợi dụng việc một số cán bộ Quân đội có sai phạm bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng ai cũng biết rằng, không thể đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và sự thật các vụ việc không cho phép chúng thực hiện được hành vi vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn đó…

Giữ nghiêm kỷ luật quân đội là bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây cũng là cội nguồn sức mạnh để quân đội ta luôn chiến thắng, trưởng thành và phát triển. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Trong gần 80 năm qua, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đã không ngừng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, đồng thời giữ vững kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, được Đảng, Nhà nước và nhân dân trân trọng, tin tưởng. Trong xã hội đã từ lâu xuất hiện dư luận đánh giá: Môi trường quân đội rất mẫu mực, là nơi rèn luyện con người nghiêm túc nhất! Nhiều thanh niên, gia đình mong muốn bản thân và con em mình được vào quân đội để rèn luyện, thử thách, trưởng thành.

        Trong hoạt động quân sự đầy gian nan, thử thách với biết bao khắc nghiệt đòi hỏi nhiều hy sinh, cống hiến, bên cạnh những chiến công, thành tích, ưu điểm của tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ, thì cũng có một số người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật Nhà nước. Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng, sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai, mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”. Quân đội luôn có quan điểm, thái độ đúng trong đánh giá, xử lý vấn đề này. Số ít cán bộ, chiến sĩ mắc sai phạm tuy chỉ là hiện tượng cá biệt, đơn lẻ, không làm phai nhạt, lu mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, không làm thay đổi bản chất tốt đẹp của Quân đội. Việc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo chỉ huy các cơ quan đơn vị trong toàn quân luôn có quan điểm đúng, sự nhìn nhận đánh giá khách quan, có biện pháp xem xét, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng việc, đúng tội, công khai, minh bạch, không có vùng cấm, không bao che, giấu giếm… đã làm cho Đảng, Nhà nước, nhân dân hiểu hơn, đánh giá đúng hơn và thêm tin tưởng, yêu qúy, qua đó góp phần để quân đội thêm trưởng thành, vững mạnh./.

Đấu tranh chống chiêu trò bịa đặt về công tác cán bộ của thế lực thù địch

 Trong thời gian gần đấy, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã tập trung đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác cán bộ của Đảng.

Các luận điệu hồ đồ quy chụp rằng, công tác cán bộ bị chi phối quyết định bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức Trung ương, ép buộc vận hành theo một kịch bản đã được lên sẵn. Cùng với đó, các bài viết còn chủ ý bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng; cố tình đưa ra các luận cứ cho thấy sự phân chia phe cánh, hình thành các đường dây đối lập trong nội bộ Đảng.

Cần nhận diện đúng đắn rằng: Những thông tin nêu trên là hòng gây nhiễu loạn tình hình, cố ý bôi nhọ tình cảm đồng chí, đồng đội trong tập thể lãnh đạo của Đảng; mưu đồ hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc. Bởi chính sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là sức mạnh nội sinh để toàn đảng, toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; cũng là bức tường thành vững chắc đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

        Dã tâm của những kẻ thiếu kiến thức, sự hiểu biết thực tiễn sẽ khiến những luận điệu mà chúng phơi ra dư luận trở thành những chiếc gậy tự đập vào lưng chính mình, đúng như bài học “gậy ông đập lưng ông” mà người xưa đã chỉ dạy, tất cả những chiêu trò đó chỉ như chút bóng tối lập lờ, sẽ nhanh chóng bị ánh sáng sự thật đẩy lùi, xua tan./. 

Những quyết sách vì nước, vì dân thì không có gì bất thường!

Trong những ngày qua, Quốc hội nước ta đang tổ chức kỳ họp bất thường nhằm đưa ra những chủ trương, quyết sách, tạo cơ chế, hành lang pháp lý cho việc phục hồi, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn của làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư.

Tuy nhiên trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động như Việt Tân, RFA, VOA, BBC… đã đăng tải nhiều bài viết có nội dung lập lờ, xuyên tạc kiểu “Quốc hội họp bất thường có bình thường không vào lúc này” ?

Chúng đặt ra những vấn đề nghi vấn, cho rằng có âm mưu hoặc ý đồ gì trong cuộc họp bất thường này và Quốc hội họp không phải vì các quyết sách cho dân, đây là những lý do không thuyết phục, cho rằng để xử lý vụ này vụ kia; rồi quy chụp cho Quốc hội chỉ là cơ quan bù nhìn, không có vai trò gì, chưa đại diện gì cho tiếng nói của nhân dân.

Tuy nhiên đây chỉ là luận điệu xảo trá, hoạt ngôn của những kẻ bịp bợm, dị hĩnh, những kẻ chống phá. Việc Quốc hội tổ chức phiên họp bất thường, đây là một trong những việc làm chưa có tiền lệ của Quốc hội nước ta, thể hiện vai trò, trách nhiệm vì nước, vì dân, là cơ quan đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân; Quốc hội đã chủ động nắm bắt tình hình dư luận nhân dân, tình hình phát triển kinh tế, vấn đề an sinh xã hội, những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn cuộc sống để đưa ra những cơ chế, chính sách, thể chế tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước phát triển.

Thế nên không thể nói có gì bất thường ở đây, có chăng là bất thường trong suy nghĩ của những kẻ chống phá, những kẻ ăn không nói có, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân, gây bất ổn tình hình trong nước.

Chính những việc làm kịp thời, tâm huyết, trách nhiệm của Quốc hội và những vị đại biểu quốc hội thể hiện tinh thần hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết đã đưa đất nước phát triển, từng bước vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19, ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao mức sống cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, công bằng, không để ai thiếu ăn thiếu mặc, bị bỏ lại ở phía sau.

Hòa bình, ổn định không dễ gì có được !

Lợi dụng tình hình hình chiến sự đang diễn ra tại Ukraine, tổ chức khủng bố Việt Tân có nhiều bài viết xuyên tạc, sai sự thật, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, trong đó có bài viết “Lãnh đạo xứ ta làm nhục đất nước ta”.

Chúng cho rằng lãnh đạo đất nước ta cam tâm cúi đầu khuất phục trước hành động của Trung Quốc ngang nhiên cướp biển đảo của đất nước và không ủng hộ những người mà chúng cho là yêu nước, ngược lại còn bắt bớ, giam cầm số này. Thực chất số người chúng cho là yêu nước chính là số đối tượng phản động, thù địch luôn chờ cơ hội; lợi dụng tình hình rối ren của đất nước để kích động, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động bất hợp pháp, chống đối chính quyền, gây rối ANTT, làm phức tạp tình hình trong nước.

Có thể nói rằng, Việt Nam đã và đang thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt, như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đây là Ngoại giao “cây tre Việt Nam”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, linh hoạt. Đây là truyền thống văn hóa dân tộc, tinh thần hòa hiếu, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, đưa đất nước tới hòa bình, phát triển; bằng biện pháp tự lực, tự cường, uyển chuyển, linh hoạt không chỉ giúp bảo vệ biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia mà còn nâng cao hình ảnh quốc gia, bảo vệ lợi ích quốc gia trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, thể hiện một Việt Nam anh dũng nhưng cũng rất mềm mỏng.

Trong thời gian qua, mặc dù Trung Quốc liên tục có những hành vi gây hấn, làm gia tăng phức tạp ở các vùng biển, đảo của nước ta. Nhưng với tinh thần, bản lĩnh vững vàng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia trên nhiều phương diện, chính trị, ngoại giao, tránh xung đột vũ trang, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận, bạn bè quốc tế buộc Trung Quốc phải chấm dứt các hoạt động phi pháp của mình. Điều đó thể hiện sự kiên quyết, không có sự khoan nhượng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trong  đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Hơn ai hết, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta thấu hiểu để có được hòa bình, ổn định phát triển đất nước như ngày hôm nay, chúng ta phải đổ mồ hôi, nước mắt, hi sinh xương máu của rất nhiều thế hệ. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, thách thức, Đảng, Nhà nước đã và đang bằng mọi biện pháp để giữ vững nền độc lập dân tộc, vì lợi ích quốc gia, sự hòa bình, ổn định, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thế nên không thể nói lãnh đạo đất nước ta cam tâm cúi đầu trước Trung Quốc, đây là lời lẽ của những kẻ hoạt ngôn, xảo trá, xuyên tạc, thù địch hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CÓ “BỎ RƠI” CÔNG DÂN ?

Ngày 03/03/2022, trên trang Fanpage mạng xã hội Facebook “Chân Trời Mới Media” đăng tải bài viết tiêu cực với tiêu đề: “Xung đột Nga – Ukraine: Phạm Minh Chính tự hào “bỏ rơi” công dân Việt Nam ở Ukraine!” kèm theo đường dẫn link video trên kênh Youtube của “Tổ chức khủng bố Việt Tân” với hàm ý, nội dung trách móc, phê phán Chính phủ Việt Nam “bỏ rơi”, “phản ứng chậm chạp” trước khó khăn của cộng đồng người Việt đang định cư tại quốc gia này do xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine gây ra. Bài viết thu hút được nhiều sự quan tâm, chủ yếu là các ý kiến bình luận trái chiều, tiêu cực và nhìn từ một phía.

Trang fanpage Facebook “Chân trời mới Media” thì chắc hẳn không còn xa lạ với cộng đồng mạng Việt Nam, cùng bản chất với các trang mạng, đài phản động như Việt Tân, VOA, RFA, BBC Tiếng Việt… chúng phối hợp với các phần tử chống đối trong nước lợi dụng sự tiện ích của mạng xã hội, thường xuyên cắt ghép, biên dựng các bài viết, hình ảnh, video có nội dung bịa đặt, vu khống Đảng, Nhà nước ta, bôi nhọ hạ thấp danh dự, uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao… nhằm che mắt đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, tạo ra góc nhìn lệch lạc, tiêu cực về xã hội Việt Nam.

Sự kiện xung đột Nga – Ukraine là sự kiện chính trị mang tính toàn cầu, nó ảnh hưởng trực tiếp không chỉ đối với sự ổn định của riêng hai quốc gia này mà còn tác động không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị khu vực và toàn cầu. Theo thống kê, hiện có hơn 7000 người Việt Nam đang học tập, lao động, sinh sống ở Ukraine, trong những ngày này, bà con kiều bào luôn trong tâm trạng bất an, thấp thỏm trước bầu không khí căng thẳng, khốc liệt của chiến sự tại đây. Trước tình hình diễn biến phức tạp đe dọa đến sự an toàn về tính mạng và của cải của công dân ta đang trong vùng nguy hiểm ở nước sở tại, Chính phủ đã chỉ đạo các ban ngành, đặc biệt là Bộ Ngoại giao, các cơ quan Việt Nam liên quan ở nước ngoài hướng dẫn, thực hiện các biện pháp hỗ trợ công dân Việt Nam sơ tán khỏi các vùng chiến sự, lánh nạn tại các nước láng giềng và có phương án đưa người Việt hồi hương theo nhu cầu đề nghị. Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn tình hình chiến sự căng thẳng hiện nay cùng những biện pháp quân sự thắt chặt của Ukraine thì không quốc gia nào dám “chơi liều” bay qua không phận của quốc gia này với các mục đích phi quân sự, vì vậy việc triển khai các phương án hỗ trợ người Việt Nam tại đây gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là thông qua các cơ quan thường trú của nước ta tại Ukraine và các nước láng giềng tập trung hỗ trợ công dân di tản đến nơi an toàn. Ở Việt Nam thời gian này, Chính phủ chỉ đạo các Bộ ngành tạo điều kiện để bà con Kiều bào về nước an toàn, đồng thời động viên đồng bào ở Ukraine và các nước lân cận phát huy truyền thống đoàn kết, tự lực tự cường, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn, hoạn nạn.

Hoạt động hỗ trợ, giải cứu công dân Việt Nam mắc kẹt trong vùng chiến sự tại các nước của Chính phủ ta không phải bây giờ mới được triển khai mà trước đây, khi có thiên tai, địch họa Chính phủ đều có các biện pháp tích cực, khẩn trương bảo hộ công dân được an toàn, tuy nhiên báo chí trước đây không đưa tin mạnh mẽ và đa chiều như bây giờ. Năm 2012, trước tình hình chiến sự phức tạp ở Syria, Chính phủ đã chỉ đạo Đại sứ quán và các văn phòng đại diện Việt Nam Syria và các nước lân cận thực hiện các biện pháp, giải cứu nhiều lao động Việt Nam đến các vùng an toàn như UAE, Thổ Nhĩ Kỳ… Hay gần đây, trong bối cảnh cả nước đang chung tay đối phó với đại dịch Covid-19 nguy hiểm chưa từng có thì Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia hiếm hoi trên thế giới tổ chức hơn 1000 chuyến bay quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động xuất, nhập cảnh để đưa khoảng 240 nghìn đồng bào ta ở nước ngoài về nước an toàn.v.v… Phải khẳng định rằng, Chính phủ ta chưa bao giờ “bỏ rơi” công dân ở nước ngoài và kể cả đối với những con người “lỡ bước lầm đường” trước đây, dân tộc Việt Nam vẫn luôn dang rộng vòng tay bao dung đón họ trở về quê hương khi họ đã thực sự “tỉnh ngộ”.

VIỆT NAM NHẤT QUÁN ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, HÒA BÌNH HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

Truyền thống ngoại giao Việt Nam có những đặc điểm rất đỗi tự hào, kiên định chủ trương “nội yên ngoại tĩnh” thể hiện tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thân thiện với láng giềng, ngoại giao công tâm, lấy lẽ phải, công lý và chính nghĩa để thuyết phục lòng người, đó là bản sắc ngoại giao Việt Nam. Các chính sách ngoại giao của nước ta được thực hiện một cách linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của chế độ. Trên hết, tất cả điều đó luôn vì lợi ích quốc gia – dân tộc, nhằm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng nền hòa bình lâu dài cho dân tộc.

Thế nhưng thời gian gần đây, trước xung đột giữa Nga – Ukraine, các tổ chức phản động lưu vong người Việt chống Việt Nam như: Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do (FFA), Báo Tiếng Dân, Hội Anh Em Dân Chủ… liên tục rêu rao “giảng dạy” cho Việt Nam về chính sách ngoại giao với các nước, đặc biệt là mối quan hệ với các nước lớn với các dòng giật tít “Cuộc chiến tranh xâm lược của Putin nước Nga! Một bài học xương máu cho Việt Nam”; “Việt Nam nên nhảy vào cuộc giải quyết xung đột lần này. Chắc chắn uy tín của Đảng sẽ lên như diều gặp gió. Cả thế giới phải nể phục Việt Nam nếu lần này thành công”; “những gì độc tài Putin làm đối với Ukraine thì độc tài Tập cũng rất muốn làm đối với Việt Nam”…Đó là những luận điệu thể hiện mong muốn Việt Nam bị lôi kéo tham gia các cuộc xung đột quốc tế, tham gia liên minh quân sự nhằm mục đích đối đầu quân sự, hay ngả về nước lớn nào đó để được che chở, bảo vệ và để rồi bị lệ thuộc về mọi mặt; thậm chí tham chiến gây chiến tranh. Với một đất nước đã từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, Việt Nam hơn ai hết hiểu rõ giá trị của hòa bình, tự do, thứ đất nước và nhân dân ta cần hiện nay là hòa bình, tự chủ, hợp tác cùng phát triển, điều đó thể hiện qua bài phát biểu trả lời của phóng viên Việt Nam và nước ngoài đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước diễn biến xung đột căng thẳng tại Ukraine, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: “Việt Nam hết sức quan ngại trước tình hình xung đột vũ trang ở Ukraine. Chúng tôi kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tuân thủ Hiến pháp Liên Hiệp Quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực, bảo vệ người dân, tiếp tục đối thoại tìm kiếm giải pháp hòa bình, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới”.

Lịch sử dân tộc đã chứng minh, để bảo vệ được chủ quyền, độc lập dân tộc, ông cha ta đã phải rất khéo léo trong xử lý mối quan hệ bang giao. Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết là nguyên tắc tạo nên sự đồng thuận giữa nhân dân và những người lãnh đạo, là kim chỉ nam dẫn dắt dân tộc Việt Nam xuyên suốt những thăng trầm của lịch sử. Hòa mục bên trong, hòa hiếu bên ngoài là bản sắc của ngoại giao Việt Nam và “trong xưng đế, ngoài xưng vương” là một trong những chính sách mà các triều đại phong kiến nước ta đã vận dụng để xử lý quan hệ của đất nước với các nước láng giềng, tất nhiên hòa mục không phải khuất phục, khi bị xâm lăng thì cũng phải đứng lên phản kháng và chiến đấu. Đối với lịch sử Việt Nam hiện đại cũng phải kế thừa truyền thống ngoại giao của ông cha và luôn phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở phù hợp với các giá trị phổ quát của nhân loại và hài hòa lợi ích chính đáng của các đối tác. Yêu chuộng hòa bình, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác vốn là những đức tính cao đẹp của người Việt Nam, điều này được đúc kết thành thuật trị nước để bảo đảm “trong ấm, ngoài êm”, Việt Nam biết rất rõ phải làm gì để mang lại cuộc sống bình yên và sự phát triển phồn thịnh cho đất nước. Thế nên các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong người Việt đang sinh sống tại các “thiên đường dân chủ” nơi chuyên đi reo rắc chiến tranh, xung đột, đi ban phát “dân chủ, nhân quyền” bằng các cuộc xâm lược, lật đổ thì không xứng đáng “giảng dạy” về ngoại giao cho một đất nước đã xây dựng được mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với hầu hết các quốc gia trên thế giới, vừa là đối tác tin cậy, vừa là thành viên tích cực, có trách nhiệm được đông đảo bạn bè quốc tế yêu mến.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực đầy bất ổn và biến động như hiện nay, nước ta cần phải thật sự khéo léo, vận dụng linh hoạt ngoại giao – đối ngoại với quốc phòng – an ninh trở thành lực lượng tiên phong, trọng yếu, thường xuyên trong bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để phục vụ phát triển đất nước./.

Bác Hồ dạy Bộ đội Biên phòng

    Tại buổi lễ thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT), nay là Bộ đội Biên phòng, ngày 3-3-1959, Bác Hồ đến dự, động viên và giao nhiệm vụ. Bác nói: Thành lập được lực lượng CANDVT là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an.

images1837244-3
Bác Hồ đến thăm các đơn vị bộ đội tham gia chiến dịch Biên giới 1950.

    Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính. Vì vậy, càng phải đoàn kết chặt chẽ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, ra sức phát triển ưu điểm, khắc phục những tư tưởng không đúng... CANDVT, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới. Nhất định phải như thế.

    Bác dặn thêm mấy điểm: Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài;... phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt;... khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được. Công an phải luôn luôn giúp đỡ, tổ chức, giáo dục nhân dân, làm cho mọi người dân đều là người giúp việc của mình, làm thành mạng lưới CAND. Như thế công tác mới có kết quả... Chúng ta phải dựa vào dân. Nhất là công an biên phòng, ở những nơi đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục tập quán của đồng bào, luôn giúp đỡ giáo dục đồng bào, làm cho đồng bào tin yêu, phục cán bộ thì đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ, có khi hy sinh cả cho ta. Đối với những đơn vị biên thùy hay ở các đảo, việc ấy phải hết sức chú ý; phải giúp đỡ dân, ngày thường tìm mọi cách giáo dục họ, giúp đỡ, tổ chức họ. Muốn làm như thế, phải nắm vững chính sách đối với đồng bào thiểu số, điều đó rất cần thiết.

    Một điểm nữa là phải cần kiệm xây dựng quân đội. Đối với công an cũng phải như thế. Không nên đặt ra nhiều bàn giấy, nhiều máy chữ, tránh quan liêu, vô ích, không thiết thực, phải nhớ là cần kiệm.

...    Đối với các anh em ở những nơi hẻo lánh, gian khổ, ra một bước phải trèo núi… thì cấp trên phải chú ý nhiều hơn đối với những đơn vị ở thành phố. Nhưng đồng thời các đơn vị ấy cũng phải có tinh thần kiên trì và tự lực cánh sinh một phần nào đó. Ví dụ: Đóng quân ở chỗ nào thì phải trồng rau, trồng khoai, trồng sắn mà ăn; nuôi gà, nuôi lợn để tự cải thiện đời sống của mình một chừng nào. Những việc ấy, cán bộ và chiến sĩ có sáng kiến là làm được. Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sĩ, nhưng chiến sĩ cũng phải có sáng kiến để cải thiện đời sống của bản thân mình. Đó là một kinh nghiệm.

Quân và dân ta kiên quyết chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn

    "Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ những âm mưu tàn bạo và quỷ quyệt. Quân và dân ta đang thắng lớn, càng phải kiên quyết chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn". Lời khẳng định trên là một phần nội dung bức thư khen Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân và dân Hải Phòng nhân sự kiện quân và dân ở đây bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của Mỹ vào ngày 6 tháng 3 năm 1968.

images316137
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên mặt trận Biên giới (Thu Đông năm 1950). 

    Lời thư của Bác ngợi khen thành tích của quân và dân Hải Phòng cũng chính là lời ngợi khen đối với thành tích của quân và dân miền Bắc nói chung trong quá trình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Trong những tháng năm đánh Mỹ, nhân dân hậu phương miền Bắc thực hiện khẩu hiệu "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng", vừa đẩy mạnh sản xuất vừa triển khai thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Địa phương nào, nhà máy xí nghiệp nào lập nhiều thành tích đều được Bác Hồ gửi thư khen ngợi, động viên, biểu dương thành tích sản xuất, chiến đấu, chi viện chiến trường miền Nam. Những bức thư khen của Bác như tiếp thêm động lực để quân và dân Hải Phòng nói riêng, quân và dân miền Bắc nói chung “ra sức thi đua với quân và dân miền Nam anh hùng, nâng cao cảnh giác, sản xuất tốt hơn nữa, chiến đấu giỏi hơn nữa, sát cánh cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

    Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc khen thưởng, biểu dương những địa phương, tập thể, đơn vị, cá nhân có thành tích trong lao động sản xuất, học tập, công tác nhằm kịp thời động viên, khích lệ tinh thần thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, giá trị của công tác động viên như lúc sinh thời Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Những gương “người tốt, việc tốt” được tập hợp, in thành sách, tạo ra tủ sách “người tốt, việc tốt”. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng ta cần hiểu đúng, hiểu rõ, có hành động thiết thực quan tâm, chăm lo những tập thể, cá nhân lập nhiều thành tích; tạo thêm động lực, xây dựng điển hình để nhân rộng “giá trị” của “người tốt, việc tốt” 

    Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện; là một tập thể, một môi trường đặc biệt để mỗi người phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác, Quân đội đã lập nhiều chiến công oanh liệt, cùng toàn dân đánh thắng “hai đế quốc to” (thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

    Trong chiến đấu, công tác, hàng nghìn đơn vị, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã lập chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các phần thưởng cao quý khác… Những tập gương ấy luôn sống động, là niềm tự hào đối với mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trong điều kiện đất nước hòa bình, dưới tác động của tình hình chính trị, xã hội phức tạp hiện nay, Quân đội luôn quan tâm xây dựng phong trào thi đua trong học tập, rèn luyện, huấn luyện, làm chủ khoa học công nghệ, vũ khí trang bị… Đó là một động lực để Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm tròn trọng trách bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. 

"Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”

    Đó là lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ Đảng, Dân, Chính ở cơ quan Trung ương vào khoảng đầu tháng 2-1953, khi nước ta đang đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

    Hồ Chí Minh đã dự cảm về một giai đoạn mới của cách mạng nước ta sau khi cuộc kháng chiến thắng lợi-giai đoạn kiến thiết và xây dựng. Do vậy, rất cần phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất và phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó có đội ngũ trí thức. Tuy nhiên, có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn chưa nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, chưa chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Thậm chí, một bộ phận cán bộ, đảng viên có thành kiến, chưa nhìn nhận, đánh giá đúng về trí thức, làm cho nhiều trí thức trong các cơ quan Nhà nước cho rằng, Đảng không coi trọng trí thức.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò to lớn của trí thức trong phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe nhân dân và mối quan hệ giữa trí thức với cách mạng; đồng thời cũng đưa ra tiêu chuẩn về người trí thức chân chính. Lời dạy của Người không chỉ giúp chúng ta có nhận thức và thái độ đúng về trí thức mà còn là một cơ sở để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng. Đây cũng là phương hướng, mục tiêu phấn đấu của mỗi trí thức và là cơ sở để đấu tranh với những nhận thức, quan điểm, tư tưởng sai trái về trí thức.

    Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn coi trọng, đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Trên cơ sở đó, quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trong quân đội; không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các học viện, nhà trường trong toàn quân và có chính sách đúng, cách làm hợp lý để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong quân đội.

    Cùng với việc đào tạo đội ngũ trí thức về chuyên môn, nghiệp vụ, các cấp trong toàn quân thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ trí thức về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức cách mạng, làm cho đội ngũ trí thức tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng; kịp thời phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp

Sinh thời, Hồ Chủ tịch luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí, vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày 8-3-1952, trong thư gửi phụ nữ Việt Nam (PNVN) nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế Phụ nữ, Người nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Nội dung thư đã nêu bật vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc kháng chiến của toàn dân tộc; các bà, các mẹ, các chị đã xung phong đi dân công, thanh niên xung phong; tham gia cứu chữa, giúp đỡ thương binh, bệnh binh; hòa lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành tình yêu thương vô bờ bến. Người yêu cầu các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn với phong trào phụ nữ để phong trào chắc hơn, rộng hơn, mạnh hơn. Đồng thời Người giao nhiệm vụ cho phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ: Phải thắt chặt đoàn kết thi đua tăng gia sản xuất, tiết kiệm, tích cực tham gia chính quyền, giúp đỡ bộ đội, bảo vệ nhi đồng…

Khắc ghi lời dạy của Người, những năm qua, đội ngũ cán bộ nữ luôn được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ có bước phát triển, các lực lượng phụ nữ khẳng định năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc. Đội ngũ cán bộ nữ có bước trưởng thành rõ rệt; trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Trong Quân đội ta, phụ nữ luôn nhận thức rõ vai trò trách nhiệm của mình, là những người chiến sĩ, Bộ đội Cụ Hồ, là người mẹ tảo tần, người vợ đảm đang, vun vén lo toan dựng xây tổ ấm gia đình. Nhiều người trong số đó là những nhà khoa học, những lãnh đạo tài năng; những chiến sĩ chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Cảnh giác với những biện pháp mới trong chiến lược “Diễn biến Hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Muốn chống tham ô, lãng phí, phải chống bệnh quan liêu

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định quan liêu là một trong những căn bệnh rất nguy hại đến đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Theo Người, “Quan liêu là xa rời quần chúng, không đi sâu sát, không hiểu lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng, sợ phê bình và tự phê bình”. Trong bài nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ tại buổi phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn chống tham ô, lãng phí, phải chống bệnh quan liêu. Nhưng tiến hành phải có chuẩn bị, có kế hoạch, có lãnh đạo, có trọng tâm”.

Những cán bộ mắc phải bệnh quan liêu thì “có mắt mà không thấu suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí”. Như vậy, bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, bao che cho nạn tham ô, lãng phí. Ở đâu có bệnh quan liêu nặng thì ở đó tham ô, lãng phí nhiều.

Quan liêu tiếp tay cho cán bộ yếu kém, thỏa hiệp với những kẻ xấu làm tổn hại tới sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, làm băng hoại đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Quan liêu, mệnh lệnh vô hình trung trở thành một bức tường ngăn cách, tách rời Đảng, Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng, Nhà nước.

Để chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả, theo Người, tiến hành phải có chuẩn bị, có kế hoạch, có lãnh đạo, có trọng tâm. Trước hết, cần làm cho mọi người thấy rõ tham ô, lãng phí là trọng tội, là có lỗi với nhân dân, với Nhà nước. Quan liêu là nguồn gốc sinh ra tham nhũng và lãng phí, cần phải được bài trừ. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải huy động sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân được tổ chức tốt, dưới sự chỉ đạo của các cơ quan.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công”. Ngoài ra, phải tuyên truyền giáo dục, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ trong việc quản lý kinh tế, tài chính; chấn chỉnh công tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan Đảng, Nhà nước. Có chính sách đúng đắn, lựa chọn cán bộ tốt; với tổ chức, quản lý tốt là những giải pháp hiệu quả trong việc chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.