Thứ Ba, 19 tháng 4, 2022

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 

Dẫu cấu trúc tổ chức bộ máy có chặt chẽ, hợp lý đến đâu, nhưng con người trong bộ máy đó không bảo đảm chất lượng thì hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy vẫn khó có thể nâng lên. Điều đó có nghĩa là chất lượng bộ máy và con người trong bộ máy phải đồng bộ, “ăn khớp” với nhau. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ chính là đầu tư cho phát triển đất nước lâu dài và bền vững. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả.

Phẩm chất, năng lực và uy tín của cán bộ

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước...; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(1).

Khi nói đến phẩm chất cán bộ thì phải chú ý đến cả hai mặt, đó là phẩm chất chính trị, tư tưởng và phẩm chất sinh hoạt cá nhân (đạo đức, lối sống). Phẩm chất chính trị, tư tưởng là hết sức quan trọng, nhưng nhất thiết không được coi nhẹ phẩm chất sinh hoạt cá nhân, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường. Vì từ những sai lầm về sinh hoạt cá nhân sẽ dần dần “di căn” sang phẩm chất chính trị, tư tưởng. Để quản lý, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá cán bộ đúng đắn, chuẩn xác, Đảng ta đã xác định một hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí có tính chất thước đo cho đội ngũ cán bộ, có thể tóm tắt một số điểm then chốt sau:

Về phẩm chất chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống: Phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Phải mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm. Tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

Về trình độ, năng lực và uy tín: Tốt nghiệp đại học trở lên; trình độ lý luận chính trị có bằng cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; trình độ ngoại ngữ, tin học phù hợp. Có quan điểm khách quan, toàn diện, biện chứng, lịch sử, cụ thể, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược; phương pháp làm việc khoa học; nhạy bén chính trị; có năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phân tích và dự báo tốt. Năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, dám đương đầu với khó khăn, thách thức; nói đi đôi với làm. Là hạt nhân quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tin tưởng, tín nhiệm cao. Có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ(2).

Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ta. Khi nói đến năng lực thì phải lưu ý cả ba thành tố hợp thành, đó là kiến thức, trình độ và khả năng. Riêng về khả năng, phải xem xét cả hai mặt, đó là khả năng nhận thức và khả năng hành động. Cả hai mặt đều quan trọng, nhưng hành động chính là thể hiện khả năng nhận thức. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong khả năng hành động còn phải xem xét khả năng điều hành, quản lý, lãnh đạo một tổ chức, một đơn vị ra sao?

Xem xét về năng lực thì phải tránh cho được những sự nhầm lẫn hiện vẫn đang tồn tại, có thể xem xét hai sự nhầm lẫn “đáng tiếc” sau: Một là, có lúc đem đồng nhất phẩm chất với quá trình hoạt động (đương nhiên phải đánh giá quá trình một cách đúng đắn, đầy đủ). Có nhiều cán bộ càng hoạt động lâu dài càng tôi luyện được phẩm chất sáng ngời, nhưng không hẳn cứ có quá trình công tác dài là phẩm chất tốt. Có những trường hợp ban đầu thì tốt, song về sau lại không giữ được mình, thường phát sinh “căn bệnh cuối đời”; lại có trường hợp liệt kê quá trình hoạt động để xin giảm nhẹ kỷ luật, hình phạt. Hai là, có không ít trường hợp đem học vị, học hàm, bằng cấp đồng nhất với năng lực. Đương nhiên, ở nhiều cán bộ, học vị, học hàm và bằng cấp tiến triển cùng chiều với phát triển năng lực, trình độ, nhưng lại cũng không hiếm trường hợp có đủ loại bằng cấp, học hàm, học vị, nhưng những thứ đó chỉ đọng lại ở dạng “tiềm năng”, để “đối ngoại”, làm “đối trọng” cho việc sắp xếp vị trí, tranh đua trong cất nhắc, đề bạt (đó là chưa nói đến nhiều trường hợp “dán nhãn mác rởm”).

Khi nói đến khả năng lãnh đạo, quản lý, điều hành có vấn đề khá quan trọng và tế nhị cần thiết phải nhắc lại để xem xét, đó là quan hệ giữa lãnh đạo và cấp dưới (thủ trưởng - người đứng đầu và người dưới quyền) về trình độ, năng lực trong quá trình vận hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Trên thực tế, quan hệ đó diễn ra ở nhiều cấp độ và khá phức tạp, nhưng các nhà khoa học quản lý đã khái quát thành 4 cấp độ (4 mô hình) sau:

Một là, thủ trưởng và cả đội ngũ cán bộ, công chức đều có trình độ và năng lực cao, giỏi. Trường hợp này mọi công việc, mọi nhiệm vụ đều trôi chảy, đều được giải quyết tốt nhất, nội bộ đoàn kết. Đây là mô hình tối ưu.

Hai là, thủ trưởng và cả đội ngũ cán bộ, công chức đều yếu kém về trình độ, năng lực. Trường hợp này mọi công việc, nhiệm vụ đều bê bết, không xử lý được, nội bộ mất đoàn kết, đổ lỗi cho nhau. Đây là mô hình yếu kém.

Ba là, thủ trưởng có trình độ và năng lực cao, giỏi toàn diện, nhưng đội ngũ cán bộ, công chức lại chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ (còn yếu về trình độ, kém về năng lực). Trong nhiều công việc, thủ trưởng phải sát sao, chỉ đạo từng bộ phận, từng chi tiết với thời gian tác nghiệp khá dài; nội bộ đôi khi có sự lủng củng. Đây là mô hình “chờ đợi”.

Bốn là, đội ngũ cán bộ, công chức rất giỏi (có trình độ, năng lực cao, rất thiện nghệ), nhưng thủ trưởng lại rất lơ mơ, yếu về nghiệp vụ, kém về năng lực. Mọi công việc, mọi nhiệm vụ đều bê trễ; nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng. Đây là mô hình “đường dẫn đến sụp đổ”.

Về cách xử lý: Trong 4 mô hình thì mô hình một là mô hình tồn tại và phát triển. Mô hình hai là mô hình phải cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và thay đổi người đứng đầu (thủ trưởng). Mô hình ba là mô hình có thể tạm thời chấp nhận, đây cũng là mô hình tương đối phổ biến. Theo các nhà quản lý có kinh nghiệm thì người đứng đầu có tài năng, họ sẽ biết cách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ từng bước dần dần “lớn lên” ngang tầm với công việc (đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một chức năng, một nhiệm vụ rất quan trọng của người lãnh đạo, quản lý). Còn mô hình bốn là mô hình phải xóa bỏ vì mấy lẽ sau: Trước hết, vì không có chuyên môn, năng lực quản lý yếu kém nên thủ trưởng không thể sử dụng được các cán bộ có trình độ và năng lực cao, nghĩa là sớm muộn thủ trưởng cũng sẽ làm thui chột đội ngũ cán bộ giỏi. Tiếp đó là, về mặt tâm lý, khi thủ trưởng yếu kém thì thường lo ngại bị cán bộ dưới quyền chê bai, coi thường, từ đó có thể kiềm chế, vô hiệu hóa cán bộ giỏi, làm mai một uy tín của họ, đến một lúc nào đó đội ngũ cán bộ giỏi sẽ “tan đàn, sẻ nghé” hết. Cuối cùng, thủ trưởng yếu kém thường chỉ tuyển dụng những người yếu kém hơn mình vào cơ quan, đơn vị để dễ bề sai khiến. Một đội ngũ cán bộ giỏi sẽ bị thay thế bởi một dây, một dàn cán bộ kém cỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và chỉ giỏi về “thưa bẩm”, ngoan ngoãn, vâng lời trong mọi trường hợp.

Trên thực tế thì mô hình một còn rất ít (thậm chí là hiếm), vì vậy, cần nhân rộng, phát huy mạnh mẽ để có nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị như thế. Biến đổi, cải tổ mô hình hai và mô hình ba để dần dần thành mô hình một. Và kiên quyết không để tồn tại mô hình thứ tư (đã là người đứng đầu - thủ trưởng thì phải tài cao, đức trọng song hành).

Tuyển chọn và sử dụng cán bộ

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”(3). Và theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, thì công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi thời kỳ cách mạng thông qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân.

Để thực hiện có hiệu quả cao Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tuyển chọn và sử dụng cán bộ thì phải giải quyết trước một bước chất lượng người đứng đầu và bộ máy làm công tác tổ chức và cán bộ, vì mọi việc thành, bại được bắt đầu từ hai vị trí này. 

Thứ nhất, về người đứng đầu. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ dẫn: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(4). Đây cũng được coi là các tiêu chí, là yêu cầu cần đạt đến để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý - người đứng đầu. Theo các tiêu chí đó, trước hết phải “xốc” lại đội ngũ những người đứng đầu hiện có, xem có bảo đảm các tiêu chí đó không? Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, người đứng đầu phải là người có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi; là người có phương pháp làm việc khoa học, thành thạo công nghệ thông tin, kỹ thuật số, xử lý công việc có nguyên tắc và hợp đạo lý; nói gọn hơn, thủ trưởng phải là người có tài, có đức (nếu không, đây sẽ là mảnh đất màu mỡ của tham nhũng quyền lực, sẽ cản trở việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng).

Thứ hai, phải chấn chỉnh lại các cơ quan, đơn vị làm công tác tổ chức và cán bộ. Có ý kiến cho rằng, không gì thú vị bằng làm việc về con người, nhưng cũng không có gì khó khăn, phức tạp, tế nhị bằng làm việc về con người. Bởi vì, con người không chỉ nói thật mà còn biết nói các kiểu khác nhau, tùy tình huống. Con người nói có suy nghĩ, nhưng suy nghĩ là một điều bí ẩn, chưa có công cụ đo đạc nào để biết được một người đang suy nghĩ gì. Bởi vậy, thủ trưởng và người làm công tác tổ chức và cán bộ ngoài những yêu cầu tinh thông nghiệp vụ, phẩm chất, đạo đức “trong sáng hơn người” (không tham nhũng, không ham hố quyền lực, thẳng thắn, công minh, chính trực...), nắm chắc cấu trúc bộ máy cơ quan hơn ai hết, còn phải có hiểu biết với mức độ sâu sắc lĩnh vực tâm lý quản lý, tâm lý lãnh đạo. Ở mỗi cơ quan, đơn vị, khi có được thủ trưởng -  người đứng đầu tài - đức và đơn vị làm công tác tổ chức và cán bộ vững mạnh thì mọi việc về công tác nhân sự mới có khả năng bảo đảm tính đúng đắn và chính xác theo yêu cầu.

Thứ ba, chú trọng công tác tuyển chọn cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ. Có hai nguồn chủ yếu để các cơ quan, đơn vị tuyển người vào làm việc, đó là, nhận người từ các cơ quan, đơn vị khác về cơ quan mình và tuyển sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đào tạo. Trường hợp nhận người từ cơ quan, đơn vị khác về để đáp ứng yêu cầu trước mắt (làm việc được ngay) thì phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng (người dự kiến nhận về phải đúng với chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan mình, có nhiều “sản phẩm” ở nơi đang làm việc; nghiêm túc trong thi hành nhiệm vụ, được tin dùng...). Nghĩa là phải lựa chọn được người thực sự tốt, đáp ứng yêu cầu công việc, tiếp nhận về là tác nghiệp được ngay công việc, có hiệu quả. Tuy nhiên, những cán bộ như thế thì cơ quan cũ thường tìm cách giữ lại, trừ những trường hợp đặc biệt, như hợp lý hóa gia đình theo nguyện vọng; theo yêu cầu luân chuyển của cấp quản lý cấp trên; hoặc các thủ trưởng hữu hảo giúp đỡ lẫn nhau... Phải hết sức tránh các trường hợp: thủ trưởng nơi cho đi giới thiệu và có bút phê rất hoa mỹ, nhưng khi cán bộ đó vừa ra khỏi cơ quan thì thủ trưởng vô cùng hoan hỷ vì đã “tống khứ” được “của nợ” này đi (bởi anh/chị này vừa có tư tưởng chống đối, vừa lười, vừa hay xúi bẩy ngầm, gây mất đoàn kết, làm cho cơ quan lúc nào cũng rối tung, rối mù cả lên). Cán bộ tổ chức hỏi, thế tại sao thủ trưởng lại nhận xét người đó “kêu” như chuông đồng vậy? Ừ, thì có làm như thế mới có người rước hộ đi cho!

Tuyển chọn từ nguồn các học viện, trường đại học: Đây là trường hợp tuyển chọn người vừa tốt nghiệp đại học về và tiếp tục đào tạo trong thực tế, vừa làm, vừa học, chuẩn bị kế nhiệm các lớp cán bộ sẽ nghỉ hưu hoặc thuyên chuyển công tác. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ đạo: Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài. Giải pháp này ít nhiều chúng ta cũng đã có kinh nghiệm, nay cần phát huy hơn nữa. Cũng theo cách làm của một số nhà quản lý giỏi, thì họ thường lấy trong tốp 10 người đứng đầu khoa, đứng đầu lớp theo kết quả học tập và nhận xét của nhà trường, rồi giao việc từ thấp đến cao và phân công người kèm cặp, chỉ dẫn. Trong thực tế thường diễn ra các tình huống: Có người học giỏi và thực hành cũng giỏi; có người học giỏi nhưng thực hành lại kém; có người học chưa thực sự xuất sắc lắm, nhưng thực hành lại rất tốt...; từ đó, mà tổ chức thi cử phân loại, tuyển chọn. Trường hợp đủ điều kiện thì lấy vào biên chế; trường hợp cần thử thách thêm thì tiếp tục gia hạn hợp đồng; trường hợp không đạt yêu cầu thì có thể chấm dứt hợp đồng. Trong tuyển lựa thì “hiệu quả công việc” phải là tiêu chí hàng đầu.

Trong một cơ quan, đơn vị, thông thường có 4 lớp cán bộ xếp theo “đội hình 2-3-4-1”, nghĩa là: 20% cán bộ mới, vừa học, vừa làm; 30% cán bộ, làm là chính, nhưng vẫn phải tiếp tục học thêm; 40% cán bộ đã trưởng thành, rất thành thục trong mọi công việc, là “chủ công” của cơ quan, đơn vị và 10% cán bộ cao niên, nhiều kinh nghiệm, có vai trò định hướng, hỗ trợ cho các lớp cán bộ trẻ. Các lớp cán bộ đó sẽ chuyển dịch lên, thay thế các lớp tiền nhiệm. Thực hiện được như thế sẽ khắc phục được tình trạng “đông mà không mạnh” (hàng tiểu đội ngồi chơi, còn hai, ba người làm được việc thì “đầu tắt, mặt tối”). Việc sử dụng cán bộ, thông thường nhất là phải đúng, sát với chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi người. Đối với vấn đề này, chúng ta phải tiếp tục học và làm theo Bác. Ngay từ năm 1947, Bác đã dạy: “Phải khéo dùng cán bộ - Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(5)

Tuyển lựa cán bộ quản lý, lãnh đạo: Quy luật “phát triển không đều” có ý nghĩa cả trong công tác cán bộ. Trong mỗi lớp cán bộ đều có người nổi trội, có người phát triển tốt, có người phát triển bình thường, có người cần nhiều thời gian hoạt động thực tiễn hơn mới thể hiện được năng lực. Bởi vậy, phải có quy trình tiến hành hợp lý, chắc chắn. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, quy trình đó là: Căn cứ tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý từng cấp mà lựa chọn những người tiêu biểu, xuất sắc, lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo từng chức danh. Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt và kỹ năng làm việc; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng. Đánh giá chính xác từng nhân sự theo chức danh dự kiến.

Việc đánh giá đúng đắn, chính xác từng nhân sự là công việc không đơn giản. Về kiến thức, trình độ thì có thể qua thi cử, qua tọa đàm, trao đổi trực tiếp mà nắm được; nhưng về phẩm chất, tư cách, đạo đức thì thật sự là khó. Đôi khi phải có những giải pháp kỹ thuật mới hóa giải được. Việc sử dụng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng, cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với họ. Hết sức tránh suy nghĩ, cứ có chức, có quyền là “hái” ra tiền, của. Ai mắc tội vơ vét, đục khoét, tham nhũng, có tội với cơ quan, với nước, với dân thì quốc pháp trừng trị đến nơi, đến chốn, hình phạt tương xứng với tội lỗi. Còn những cán bộ liêm, chính, tận tụy, tất cả vì công việc, có cống hiến nhất định cho cơ quan, cho đất nước thì phải được đãi ngộ xứng đáng. Trước mắt, theo Nghị quyết số 26-NQ/TW thì phải cải cách chính sách tiền lương gắn với giá trị sức lao động, để cán bộ, công chức có tiền lương, thu nhập phù hợp, tương ứng với sức lao động đã tiêu hao, đồng thời phải chú trọng nâng cao phúc lợi, an sinh cuộc sống cho họ. Đó cũng chính là nguyện vọng rất cơ bản, chính đáng của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.

Nâng tầm chất lượng đội ngũ  cán bộ lãnh đạo, quản lý

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu gương theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”(6).

Một là, lãnh đạo phải là ngọn cờ của niềm tin.

Để thực thi có hiệu quả cao nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã quyết định thì về quan điểm là phải nhìn thẳng vào sự thật của đội ngũ cán bộ, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao và nỗ lực lớn. Điều quan trọng bậc nhất đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý lúc này là phẩm chất chính trị, tư tưởng. Đó là nhận thức sâu sắc và kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Các nhà lãnh đạo, quản lý quyết không thể thiếu hụt những phẩm chất này. Vì chỉ một thoáng chần chừ trong suy nghĩ, chỉ một hành vi nhỏ trong hành động tỏ ra thiếu vững vàng, do dự ở niềm tin là đã có tác động “công phá” đối với lòng tin của đội ngũ cán bộ, công chức dưới quyền và nhân dân.

Đã là cán bộ lãnh đạo thì phẩm chất phải trong suốt, sáng ngời. Năng lực phải dồi dào, đủ sức xử lý được công việc trong mọi tình thế; sớm tìm ra hướng giải quyết trong những tình huống khó khăn, phức tạp nhất. Uy tín cao, luôn luôn là niềm tin vững chắc cho người dưới quyền. Người lãnh đạo phải là tấm gương mẫu mực mà bình dị, bất kỳ ai cũng có thể học tập được. Về tâm lý, cán bộ cấp dưới bao giờ cũng mong muốn học được ở lãnh đạo cấp trên một điều gì đó về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, lối sống, ứng xử, hoặc là một “nét tinh tế”, thành thạo, uyển chuyển trong xử lý chuyên môn nghiệp vụ hay là một “vẻ đẹp” trong lối sống giản dị đời thường.

Hai là, chú trọng những giải pháp thiết yếu.

Chúng ta đã thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, một hành động thực tế đem lại hiệu quả thiết thực có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn, thuyết giảng hùng hồn. Nhân dân ta cũng có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Thực tiễn hoàn toàn đúng như thế! Những nhiệm kỳ vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, nhân dân làm chủ, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong điều kiện khó khăn, phức tạp nhiều mặt. Điển hình là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, kết quả tuy mới chỉ là bước đầu song người dân vô cùng phấn khởi và tin tưởng. Trong hoàn cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành khắp toàn cầu, tác hại lớn gấp nhiều lần so với các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tác động nhiều mặt tới đời sống các tầng lớp dân cư... bởi vậy, đi đôi với giữ vững, củng cố và nâng cao niềm tin là hành động cụ thể, thiết thực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp. Cụ thể, trong nhiệm kỳ này là tổ chức, chỉ đạo, thực thi có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, để đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trước mắt, thực hiện thắng lợi mục tiêu kép, vừa phòng, chống đại dịch COVID-19 thành công, vừa phát triển kinh tế - xã hội thắng lợi.

Trên quan điểm “xây” và “chống”, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, phải có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân. Để thực hiện đúng đắn các biện pháp sàng lọc thì hằng năm phải đánh giá cán bộ một cách chính xác nhất. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra 5 nhóm khuyết điểm của cán bộ, đó là: Năng lực hạn chế, yếu kém; phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí; thiếu gương mẫu, uy tín thấp; cố ý làm trái, trục lợi và các ngả đường “chạy”. Có thể coi đây là “tiêu đề” về khuyết điểm và căn cứ vào những hậu quả của những khuyết điểm để sàng lọc. Cụ thể 5 nhóm khuyết điểm trên và cách sàng lọc như sau:

1- Năng lực hạn chế, yếu kém: Nghị quyết số 26-NQ/TW chỉ rõ, nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế... Cách sàng lọc đối với những lãnh đạo mắc vào nhóm khuyết điểm này có thể là: phân loại cụ thể, nếu cán bộ mắc “toàn diện” các khuyết điểm, nhất là kỹ năng làm việc quá yếu kém thì thay thế ngay, vì nhiệm kỳ chỉ có 5 năm, khó có thể khắc phục một sớm, một chiều tất cả. Những cán bộ chỉ mắc một, hai khuyết điểm thì gia hạn thời gian khắc phục không quá một năm.

2- Phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí: Nghị quyết số 26-NQ/TW đã vạch ra, không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo dư luận xã hội, trong số này có không ít những người thuộc diện “con cha, cháu ông” ở nhiều cấp, nhiều ngành được đưa vào “hàng ngũ”, rồi cứ thể đẩy lên (chẳng phải nhọc công phấn đấu gì!). Thậm chí có lãnh đạo cấp dưới còn phát biểu rằng, các anh bên trên làm được thì “chúng em” bên dưới cũng làm theo thôi! Đây là một thực tế đáng buồn, cần quan tâm xử lý ngay. Với cán bộ trong nhóm khuyết điểm này, sau khi đánh giá, những cán bộ xét thấy chưa có thành tích gì, không có triển vọng thì điều chuyển khỏi vị trí công tác, tiếp tục rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách.

3- Thiếu gương mẫu, uy tín thấp, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã cụ thể hóa: Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”... Các khuyết điểm trong nhóm này là rất trầm trọng, mất uy tín chính là hậu quả của khuyết điểm, là kết cục của việc lâm vào một hay nhiều khuyết điểm trong nhóm. Cách sàng lọc cán bộ mắc vào nhóm khuyết điểm này có thể là, trước hết, những ai đã mắc vào các tội phạm về tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tốt nhất là “dũng cảm” tự nguyện rút lui - từ chức; xử lý hành chính hoặc hình sự tùy mức độ vi phạm, vì đây là những trọng tội, là một trong những nguyên nhân gây nên những bức xúc cho xã hội. Không nên để người dân bị ám ảnh bởi trong đội ngũ lãnh đạo, quản lý lại vẫn tồn tại những người có hành vi tham nhũng, “lợi ích nhóm”...

4- Cố ý làm trái, trục lợi, Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định: Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là lĩnh vực “đặc thù”, người lãnh đạo, quản lý trực tiếp nắm giữ, quản lý tiền của, tài sản của Nhà nước. Lẽ ra, số cán bộ lãnh đạo, quản lý này phải góp phần đắc lực giúp Đảng, Nhà nước tổng kết hoạt động thực tiễn đổi mới từ cơ sở để có thể có những quyết sách mới về lãnh đạo, quản lý cho sản xuất - kinh doanh ở doanh nghiệp thì ngược lại, chẳng những họ không làm tròn nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao mà còn cố ý làm trái, trục lợi, vì lợi ích cá nhân, cục bộ. Chính họ là một trong những nguyên nhân của sự trì trệ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cách sàng lọc số cán bộ lãnh đạo, quản lý này là tiếp tục xử lý bằng kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước như đã làm, nhưng họ phải chịu trách nhiệm về hành vi làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Tiếp đó là tuyển chọn, thay thế bằng những lãnh đạo, quản lý có tâm huyết, có đức độ, có năng lực và đặc biệt là phải có trình độ nghiệp vụ quản lý sản xuất - kinh doanh.

5- Về nhóm người chạy đua các ngả: Nghị quyết số 26-NQ/TW đã liệt kê khá cụ thể các “con đường chạy”, đó là: Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Riêng nhóm khuyết điểm này phải “giải mã” cả hai chiều, “ai chạy” và “chạy ai”? Hai chiều có mối quan hệ nhân quả, “có chạy được thì người ta mới chạy”. Nhìn vào các “tuyến đường chạy”, khắc biết ai - cơ quan nào phụ trách các tuyến đường đó. Nhiều câu hỏi cần phải trả lời như: Vì sao họ chạy được, vô tư hay có điều kiện, điều kiện đó là gì? Đối với người chạy, phải kiểm tra xem “sức khỏe” của anh ta thế nào? Nghị quyết cũng đã khẳng định giải pháp này, đó là: Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương.../.

 

LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC VIỆT NAM..!

 

          Cố GS Trần Văn Khê: “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt?”

          Có một câu chuyện thể hiện niềm kiêu hãnh của người Việt đã được Giáo sư Trần Văn Khê kể lại nhiều lần cho các học trò của mình, và cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964…

          Tham dự buổi sinh hoạt này hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả hôm ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp. Ông khởi đầu buổi nói chuyện như thế này:

          “Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được.”

          Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Chính vì thế, khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu:

          “Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam?

          Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

          Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng ‘chọn mặt gửi vàng’, với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu”.

          Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ như: “Núi cao chi lắm núi ơi; Núi che mặt trời, không thấy người yêu” hay “Đêm qua mận mới hỏi đào; Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.

          Còn về số lượng âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên, gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:

                   “Thanh thiên nhất đóa vân

                   Hồng lô nhất điểm tuyết

                   Thượng uyển nhất chi hoa

                   Dao trì nhất phiến nguyệt

                   Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”

          Dịch nghĩa là:

                   “Một đám mây giữa trời xanh

                   Một bông tuyết trong lò lửa

                   Một bông hoa giữa vườn thượng uyển

                   Một vầng trăng trên mặt nước ao

                   Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!”

          Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.

          Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt:

          “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam.”

          Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”.

          Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”.

          Câu chuyện nhiều cảm hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể gìn giữ tôn nghiêm của dân tộc.

KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)

          Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

          Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.

          Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg.

          Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.

          Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899).

          Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905.

          Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng.

          Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.

          Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua.

          Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau.

          Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.

          Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.

          Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.

HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO VÀ XÂY DỰNG NƯỚC VIỆT NAM PHỒN VINH, HẠNH PHÚC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

          Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

          Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

          Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.

          Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

          Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

          Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

          Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

          Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

          Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

          Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

          Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.

CHỊ ÚT TỊCH



Bà tên thật là Nguyễn Thị Út, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1931,nguyên quán tại làng Tích Thiện, tổng Thạnh Trị, quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc xã Tam ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.


Bà nổi tiếng với câu nói:

- Còn cái lai quần cũng đánh.

- Nó đánh mình, mình đánh nó!

thể hiện quyết tâm đấu tranh của mình.

Như một nguồn mạch dạt dào bất tận, như một dòng chảy mạnh mẽ không ngừng. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã đi vào văn học một cách hết sức tự nhiên và rồi cứ thế nó xuất hiện xuyên suốt trên hầu khắp các trang viết từ xưa cho đến nay. Đáng quý biết bao người phụ nữ trong truyện cổ tích, ca dao với những phẩm chất cao quý. Đáng trân trọng biết bao người phụ nữ trong văn học trung đại dù trải qua nhiều bất hạnh nhưng vẫn giữ tấm lòng son sắt, để rồi qua bao thăng trầm của lịch sử cùng những thay đổi của thời gian.

“Yêu biết mấy những con người đi tới

Hai cánh tay như hai cánh bay lên

Ngực dám đón những phong ba dữ dội

Chân đạp bùn không sợ các loài sên.”

(Trích: Mùa Thu Mới của Tố Hữu)

Trong kháng chiến chống Mỹ người phụ nữ được miêu tả bằng những nét khỏe khoắn, trẻ trung dũng cảm một cách lạ thường. Hình ảnh chi Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi đã để lại đấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc với tinh thần chiến đấu mãnh liệt “ còn cái lai quần cũng đánh”. Mang bầu bảy tháng nhưng chị vẫn xông pha giết giặc. Chị đã đại diện cho người phụ nữ Miền Nam anh hùng bất khuất. Bên trong chị hơn cả người mẹ, người vợ mà còn là người chiến sĩ cách mạng hi sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Tác giả xây dựng hình tượng chị Út Tịch mang đầy đủ các đặc điểm của người phụ nữ Nam Bộ hết lòng vì chồng, vì con, vì đất nước mà hy sinh. Chính những lí do trên đã thôi thúc người viết chọn đề tài hình tượng người phụ nữ Nam Bộ trong tác phẩm Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi.


Chị Nguyễn Thị Út - người mẹ 5 con, sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cả gia đình đều phải đi ở đợ. Chính vì vậy ngay từ khi còn nhỏ chị út đã phải đi ở đợ và bị chủ đối xử tàn bạo, bị bóc lột…và lần nào chị cũng vùng lên đánh trả lại.

Năm 13 tuổi được sự ủng hộ của các cán bộ Việt Minh, chị được chuộc ra khỏi nhà địa chủ, thoát khỏi cảnh nô lệ, là người có tính khí mạnh mẽ, chị sớm chịu ảnh hưởng từ sự tuyên truyền về cuộc cách mạng của các cán bộ việt minh, từ đó tích cực ủng hộ những người cộng sản cho đến sau này…

Khi người Pháp tái chiến Nam bộ, chị xung phong tham gia chiến đấu và lập nhiều chiến công vẻ vang. Chị trở thành người giao liên, liên lạc cho các cán bộ quân sự.

Sau khi lập gia đình với anh Lâm Văn Tịch, chiến sĩ Việt Minh tại địa phương, 2 vợ chồng vẫn tiếp tục tham gia kháng chiến, vừa tham gia chiến đấu vừa chăm lo việc nhà.

Mãi đến cuối năm 1959, gia đình bà trở về Tam Ngãi. Sau Phong trào Đồng khởi, ông bà tham gia hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Dù phải chăm lo chuyện gia đình và con cái, ngay cả khi mang thai bà vẫn tích cực tham gia hoạt động binh vận, du kích, tham gia đánh nhiều trận, tuyên truyền vận động nhiều binh lính bỏ ngũ.


Chị Út Tịch năm 1965 khi ra Bắc dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang toàn miền Nam

Năm 1965, bà được cử đi dự Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua lực lượng vũ trang toàn miền Nam và được bầu là nữ anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương giải phóng hạng nhì với thành tích:

“Đã tham gia 23 trận lớn nhỏ (có 8 trận thời kháng chiến lần I)" góp phần quan trọng cùng đơn vị diệt và làm tan rã trên 200 giặc, thu 70 súng. Đồng chí là một chiến sĩ trinh sát dũng cảm và mưu trí, một chiến đấu viên ngoan cường, một chiến sĩ binh vận tài tình đã vận động phá vỡ nhiều binh sĩ địch, nhiều lần đưa bộ đội vào diệt bót lấy súng không tốn một viên đạn".

Chị Út Tịch - một người phụ nữ Việt Nam giỏi việc nước, đảm việc nhà thật xứng đáng với tám chữ vàng: "Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang".