Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Đảng viên phải tự nguyện "khép mình" trong kỷ luật

 

Đảng viên phải tự nguyện "khép mình" trong kỷ luật

Chia sẻ về Quy định số 37 của Ban Chấp hành trung ương khóa XIII quy định 19 điều đảng viên không được làm, GS.TS Phùng Hữu Phú cho rằng, đảng viên phải "khép mình" trong kỷ luật, không thể khác được, ở đây là khép tự nguyện.

Chia sẻ về Quy định số 37 của Ban Chấp hành trung ương khóa XIII quy định 19 điều đảng viên không được làm, GS.TS Phùng Hữu Phú, Chủ tịch Hội đồng khoa học cơ quan Đảng cho rằng, Trung ương đã có bước đổi mới, trước đây thường sau khi ban hành Nghị quyết, tổ chức thực hiện mới tiến hành xây dựng các quy định. Lần này, ngay trong quá trình chuẩn bị Kết luận, đã đồng thời chuẩn bị luôn quy định, điều đó thể hiện tinh thần nói là làm ngay. Đây là điểm mới.

Vì sao cần có quy định những điều đảng viên không được làm?

Theo GS.TS Phùng Hữu Phú, qua theo dõi tình hình tư tưởng trong Đảng, cũng có người băn khoăn, có người phỏng vấn hỏi “quy định như thế có vi phạm nhân quyền không, mất dân chủ không, có “bó chân, bó tay” cán bộ, đảng viên không?”.

Nhấn mạnh là "không", ông Phùng Hữu Phú nêu rõ, phải có quy định đó trước hết, về nguyên lý, Đảng viên là những người ưu tú nhất của giai cấp, của dân tộc. Đảng là tổ chức tập hợp những phần tử ưu tú nhất, đã là người ưu tú thì yêu cầu phấn đấu, rèn luyện phải cao hơn so với công dân bình thường. Là thành viên của một tổ chức chính trị thống nhất, có kỷ luật cao nhất; sức mạnh của Đảng bắt nguồn chính từ sự thống nhất và kỷ luật nghiêm minh, nên đảng viên phải khép mình trong kỷ luật, không thể khác được, ở đây là khép tự nguyện.

“Ai vào Đảng cũng đều giơ tay xin thề phục tùng, chấp hành kỷ luật của Đảng. Là đảng viên thì trách nhiệm nặng nề hơn, anh là công dân, anh phải thực hiện theo pháp luật; nhưng anh là công dân đảng viên thì vừa phải thực hiện theo pháp luật vừa phải thực hiện quy định của Đảng. Đấy là nguyên tắc. Anh đã tự nguyện chấp hành thì không thể nói là vi phạm nhân quyền, mà đấy là trách nhiệm”, GS.TS Phùng Hữu Phú phân tích.

Ông Phú cũng cho rằng, quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm cũng chính là “hành lang”, là “hàng rào” để bảo vệ đảng viên. Dẫn lời Bác Hồ từng nói, đảng viên không phải thần thánh, cũng là người trần mắt thịt, cũng là con người, cũng dễ bị cám dỗ, tha hóa cho nên cần có hàng rào để bảo vệ, ông Phú nhấn mạnh Quy định 37 bảo vệ đảng viên không rơi vào sa ngã, biến chất. Quy định này cũng là căn cứ để đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mình.

Lần thứ 5 Đảng quy định những điều đảng viên không được làm

GS.TS Phùng Hữu Phú cho rằng, nội dung của Quy định 37 không mới. Đảng đã có quy định những điều đảng viên không được làm từ Đại hội VIII. Quy định 37 là quy định thứ 5.

Quy định 37 đã bổ sung những quy định mới để giải quyết những "nhức nhối" thực tiễn như “đưa, nhận, môi giới, hối lộ”, “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh"; "không thực hiện trách nhiệm nêu gương, chủ nghĩa cá nhân, vụ lợi, tư duy nhiệm kỳ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân”...

Ở điều 13 quy định “không được can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại tố cáo, để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, của Nhà nước, tác động ép buộc, mua chuộc tổ chức cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

“Quy định này để ngăn chặn các hành vi chạy tội. Sở dĩ nhiều vụ việc, vụ án xử lý rất khó là vì có những lực lượng can thiệp vào hoặc dùng uy tín hoặc tiền tài để mua chuộc, làm méo mó sự việc. Cuộc đấu tranh để giữ công lý là rất khó khăn, phức tạp. Hiện tượng này vẫn đang diễn ra. Điều 13 này để ngăn chặn các hành vi rất nguy hiểm khiến cán cân công lý không nghiêm, kỷ luật kỷ cương cũng không nghiêm. Kỷ cương trong Đảng mà không nghiêm tránh sao xã hội không rối ren”, ông Phú phân tích./.

 

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT - CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG CHÍNH MÌNH MỚI LÀ CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI NHẤT!

         V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc nào cả!

Chân lý đó cũng đã được Bác Hồ hết sức quan tâm lúc sinh thời và ngay trong Bản di chúc, điều đầu tiên mà Bác Hồ nhắc đến đó là “Trước hết nói về Đảng”, Người căn dặn những Đảng viên, những người vừa là lãnh đạo vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân với 4 điểm cốt lõi, xuyên suốt và có giá trị cho muôn đời sau:

+ Các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình;
+ Trong Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hành dân chủ rộng rãi;
+ Thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình;
+ Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Bác Hồ thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên "Tôi không sợ bọn đế quốc, bọn phản động. Đồng bào sẽ đánh thắng chúng. Tôi chỉ sợ những hành vi xấu xa của cán bộ, làm cho đồng bào mất lòng tin với chế độ, Nhà nước và Đảng. Có thể nói, kẻ phá hoại sự nghiệp cách mạng đáng sợ nhất là những người ấy, vì trước mắt đồng bào, họ là Đảng và Nhà nước. Kẻ thù hàng ngày nói xấu chúng ta, đồng bào ta không mắc lừa. Người của ta làm hại cách mạng là nguy hiểm nhất. Đồng bào sẽ xa lánh, không tin chúng ta. Đưa những người yếu kém về năng lực, nhất là kém cỏi về phẩm chất, nhân cách vào bất kỳ nhiệm vụ nào cũng nguy hại “. (Lời Bác Hồ căn dặn cán bộ, Báo Nhân Dân ngày 19/8/1967)

Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì. 

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 

 3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch để họ nhận thức đầy đủ hơn, để họ vững vàng trong việc soi đường chỉ lối cho quốc dân đi theo.

4. Lịch sử là cội nguồn, là gốc rễ, là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Thông qua môn lịch sử để giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, truyền thống anh hùng bất khuất, đánh giặc giữ nước. Tri ân hàng hàng lớp lớp các thế hệ người Việt Nam đã hy sinh vì tổ quốc, từ đó giáo dục thế hệ trẻ về lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước thương nòi. Kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng cách mạng vẻ vang của dân tộc, xây dựng đất nước hùng cường

5. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gủi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi. 

Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta./.
Yêu nước ST.

MÔN LỊCH SỬ, XIN ĐỪNG TRỞ THÀNH "KÉP PHỤ"

 

Suốt nhiều ngày qua, thậm chí nhiều năm qua, xung quanh việc dạy và học môn Lịch sử ở cấp THPT thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.

Phải chăng người đời rỗi việc mà lại bận tâm nhiều đến việc con trẻ nên được học lịch sử theo cách nào, học nhiều hay ít? Xin thưa, hoàn toàn không phải như vậy. Bởi, kiến thức về lịch sử dân tộc không chỉ góp phần hình thành nhân cách mà còn tạo nên nền móng vững chắc xây đắp tình yêu Tổ quốc trong mỗi người con đất Việt. Không hiểu lịch sử, không biết lịch sử của dân tộc, sao có thể đòi hỏi thế hệ tiếp sau yêu được đất nước mình, yêu được quê hương của mình. Giá trị của lịch sử làm nên giá trị của dân tộc.

Nhìn lại, hẳn không phải ngẫu nhiên, ngay từ năm 1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết bài diễn ca "Lịch sử nước ta" gồm 210 câu về lịch sử hào hùng của dân tộc với hai câu thơ mở đầu: "Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Bài diễn ca của Người không chỉ khái quát những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc mà chính là một cách dạy lịch sử phù hợp trong điều kiện phần lớn người Việt Nam lúc bấy giờ đều không biết đọc, biết viết. Chính từ những vần thơ ấy, chính hiểu rõ được lịch sử của dân tộc mà lớp lớp người Việt Nam tự nguyện hiến dâng thân xác của mình đi theo cách mạng, đi theo Bác Hồ làm nên những thắng lợi mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Vậy, việc học lịch sử hiện nay của các em học sinh cấp THPT ra sao? Thật khó có thể nói hết thực trạng về vấn đề này, chỉ xin dẫn ra một vài số liệu để bạn đọc suy ngẫm. Theo số liệu được công bố trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam qua đánh giá của nhiều cán bộ trực tiếp chấm thi, phổ điểm môn Lịch sử năm 2021 của thí sinh chỉ từ 0 đến 3 điểm. Nhiều trường đại học có trên 98% bài thi môn Lịch sử dưới điểm trung bình, thậm chí có trường chỉ một thí sinh đạt điểm trung bình môn này. Số lượng bài đạt điểm trên trung bình chỉ hơn 25%, còn lại gần 75% là điểm dưới trung bình. Trong đó, số lượng học sinh bị điểm 0 tương đối nhiều. Số học sinh đạt 7, 8 điểm chiếm chưa đến 5%. Trong số 10.000 bài thi môn Lịch sử thì may ra mới có một bài đạt điểm 9.

Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của môn học Lịch sử chắc hẳn ai cũng hiểu rõ. Thực trạng chất lượng học tập môn Lịch sử cũng chẳng cần phải mất nhiều công nghiên cứu, khảo sát cũng đủ để minh chứng về kết quả và niềm đam mê của học sinh đối với môn học này. Kết quả đó là khi Lịch sử còn được nhiều địa phương chọn là môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc thì liệu tới đây, tự chọn sẽ ra sao? Câu trả lời này chắc phải dành cho ngành giáo dục.

Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử hào hùng và những giá trị văn hóa hết sức đặc sắc. Lịch sử và giá trị văn hóa dân tộc tạo nên cốt cách, hình hài của người Việt. Nhờ vào lịch sử, dựa chính vào lịch sử, tôn trọng lịch sử mà dân tộc ta đứng vững không bị đồng hóa và thôn tính. Bởi vậy, là người Việt Nam, không học lịch sử Việt Nam, không biết lịch sử nước nhà thì sao có thể xây đắp được tình yêu quê hương, đất nước. Vậy nên xin hãy, đừng để môn Lịch sử trở thành “kép phụ” trong việc trang bị kiến thức và bồi dưỡng nhân cách cho một thế hệ tương lai.

-Nguồn: Quân đội nhân dân-

CÓ NÊN XẾP MÔN LỊCH SỬ LÀ MÔN TỰ CHỌN?

 

Gần đây, một số "chuyên gia" của Bộ Giáo dục đào tạo, một số giáo sư, tiến sĩ đăng đàn trên các mạng xã hội để nói bảo vệ cho quan điểm cho rằng môn Lịch sử là không thiết yếu bằng các môn toán, ngữ văn, ngoại ngữ. Theo tôi đây là một thủ đoạn "rút gạch chân tường".

Họ đưa ra cả một đống những ví dụ về nước này, nướckia đã không coi môn lịch sử là môn quan trọng, trong đó có Mỹ, các nước phương Tây, Israel Australia.v.v... Không ai nhắc đến những trường hợp Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, CHDCND Triều Tiên, Cuba.v.v... vẫn duy trì môn lịch sử là môn bắt buộc. Vậy mục đích của các nước kia là gì ?

Nói thẳng luôn là những nước muốn coi nhẹ môn lịch sử là gì. Đó là họ muốn xóa đi khỏi lịch sử nhân loại những tội ác tày trời mà họ đã gây ra khi thống trị các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam và nhiều quốc gia nhỏ yếu khác mà họ coi là mọi rợ, là dã man. Trong khi những tội ác của họ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ trong cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản tại Parí năm 1921) còn cho thấy các chế độ thuộc địa còn độc ác và vô nhân đạo hơn cả những loài cầm thú.

Vì vậy, tôi xin gửi đến các bác lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đặc biệt tới Bộ Giáo dục đào tạo mấy ý kiến vắn tắt dưới đây:

Mỹ và phương Tây đang viết lại nhận thức về lịch sử thế giới theo hướng xuyên tạc:

- Đánh đồng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phát xít.

- Phủ nhận độc lập, thống nhất dân tộc của Việt Nam, coi ngụy Sài Gòn là một quốc gia riêng, qua đó, âm mưu phục dựng "thây ma" ngụy Sài Gòn, dẫn đến sự vu cáo "miền Bắc xâm lược miền Nam".

- Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lịch sử hiện đại từ năm 1930 đến nay và quy kết Việt Nam đi theo chủ nghĩa xã hội, theo chủ nghĩa cộng sản là sai lầm.

Nhà cách mạng yêu nước Nam Phi Nelson Madela đã nhận định: "Muốn phá hủy một dân tộc, không cần đến vũ khí hạt nhân mà chỉ cần phá hủy lịch sử của nó". Điều này đã được chứng minh không chỉ ở Liên Xô mà còn ở Việt Nam. Trong 21 năm thống trị của giặc Minh (Trung Quốc), chúng đã đốt phá hầu hết các sách sử và văn chỉ của Việt Nam ta. Trong đó có cuốn Đại Việt Sử ký của sử gia Lê Văn Hưu (đời nhà Trần) đã vĩnh viễn thất truyền.

Nước nào coi nhẹ sử học thì kệ người ta. Đừng a dua như con gà thấy thóc vãi ra là chạy đến. Đã là người Việt thì phải gắng giữ lấy truyền thống lịch sử, phải dạy kỹ lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới.

Bác Hồ từng viết:

"Dân ta phải biết sử ta.

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"

Vậy mà không coi sử ta là môn quan trọng, thậm chí là đặc biệt quan trọng thì chỉ có thể là "MẤT GỐC".

Vì những lẽ trên, quan điểm của một số giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia biện hộ cho việc coi môn sử là môn học không bắt buộc là cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt có hại cho nền giáo dục nước nhà. Cần phải phê phán, lên án. Một dân tộc mà không tôn trọng lịch sử của mình thì chỉ có thể làm nô lệ cho dân tộc khác mà thôi, bất kể kẻ muốn nô dịch ta là Mỹ, là Tàu, là Nhật.v.v...

ĐẤU TRANH, ĐẨY LÙI LỐI SỐNG THỰC DỤNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng.

LỜI BÁC DẠY

 

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961. Người gửi đến quốc dân đồng bào thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự. Theo Bác, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới thì phải huy động sức mạnh toàn dân mới thắng lợi, hoàn thành được. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,… phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội XHCN, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc. Với các tôn giáo, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người nhắn nhủ: Đoàn kết thì thành công và đại đoàn kết thì sẽ đại thành công.

Thực hiện lời Bác dạy về sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đề cao thực hành và giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó và đã trở thành lời thề danh dự của quân nhân. Tinh thần đoàn kết trong quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thực hiện chức năng đội quân công tác và tiếp tục phát huy tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn sát cánh cùng nhân dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xung kích đi đầu trong giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, chung sức xây dựng nông thôn mới… góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ./.

                                                                                             VHT.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng. Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra. Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   

Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Hiện nay Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

                                                                                                    VHT.

 

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 23/4

 

“Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình...". Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình. Song hòa bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy, phải do kháng chiến thắng lợi mà tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng không ngồi chờ nó đến.” Đây là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và luôn tôn trọng mối quan hệ với các dân tộc anh em, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện tiêu biểu cho lẽ sống đó. Khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua mong muốn giải quyết xung đột giữa các dân tộc bằng con đường đàm phán hòa bình, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng khi hoàn toàn không còn khả năng đàm phán. Không chỉ vậy, ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục kiếm tìm giải pháp thương lượng hòa bình với điều kiện tiên quyết là kẻ thù phải thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Tư tưởng hòa hiếu, khát vọng hòa bình của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ khi kẻ thù sa lầy và muốn xuống thang chiến tranh thì sẵn sàng đàm phán để kẻ thù rút lui. Hồ Chí Minh cho rằng, đánh giặc không phải là tiêu diệt hết lực lượng của đội quân xâm lược, mà chủ yếu là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Thiết tha yêu chuộng hòa bình, cố gắng giải quyết mọi xung đột bằng con đường đàm phán hòa bình, kể cả phải chấp nhận một sự nhân nhượng có nguyên tắc, nhưng cũng kiên quyết chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược với ý chí và quyết tâm dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập; chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ  để bảo vệ hòa bình một cách thực sự.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng, Nhà nước tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Song, chúng ta cũng luôn nêu cao cảnh giác, không ngừng xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Muốn vậy, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước. Đó là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển ở trình độ cao; khi đất nước xảy ra chiến tranh thì “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; trong đó quân đội luôn là lực lượng nòng cốt.

Cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo lời Bác dạy, được thể hiện sâu đậm ở bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; luôn nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, sớm phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá chế độ chính trị, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, giữ vững hòa bình, ổn định, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.

                                                                                                  VHT.

 

LUẬN CHỨNG PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI HIỆN NAY VỀ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong giai đoạn hiện nay, để tấn công trực diện vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhất là xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

Các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, coi tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin” Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng ở Việt Nam, mở đường cho các dân tộc và thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng. Những tư tưởng của Người đã được kiểm nghiệm trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mở ra những tiềm năng chưa từng có cho các phong trào giải phóng dân tộc”.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Bác cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất. Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng, phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay.

                                                                                                        VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 21/4

 

“Biết đồng sức, biết đồng lòng, việc gì khó, cũng làm xong”. Đoàn kết là yếu tổ hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến cấu kết với nhau hòng ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Người đã dùng hòn đá làm nên một hình tượng văn học rất gần gũi, giản dị khiến mọi người, từ già đến trẻ ai cũng hiểu “Hòn đá” ấy là những thế lực nào; bọn chúng dù có xảo quyệt, ngoan cố và tàn bạo đến đâu thì với sự đoàn kết, nhất trí, triệu người như một, đồng lòng hiệp lực nhất định cuối cùng nhân dân ta cũng sẽ giành được thắng lợi.

Đoàn kết luôn là yếu tố hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh; vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, chung sức, chung lòng, nhân dân Việt Nam đã luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, dù đó là kẻ địch lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Do đó, trong bài thơ “Hòn đá”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định hòn đá dù to và nặng thế nào nhưng nếu nhiều người đoàn kết lại sẽ nhấc được nó một cách dễ dàng. Ngược lại, nếu không đoàn kết, chỉ thực hiện một cách đơn lẻ thì sẽ không bao giờ thực hiện được. Suy rộng ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói rằng, nếu chúng ta biết đoàn kết thì kẻ thù lớn như hòn đá nặng kia, sớm muộn cũng sẽ bị tiêu diệt. Đoàn kết chiến thắng giặc ngoại xâm, đồng thời đoàn kết cũng là cội nguồn thắng lợi của mọi việc. Đoàn kết thống nhất là một vấn đề thuộc về truyền thống, bản chất và nguyên tắc xây dựng của Quân đội ta. Vì vậy, việc quán triệt và vận dụng những quan điểm về đoàn kết, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là một nhiệm vụ thường xuyên, là nền tảng quan trọng làm nên bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thực tế đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và thắng lợi trong chiến đấu là bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa nhân dân và bộ đội, tiền tuyến và hậu phương, cán bộ và chiến sĩ. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta là những người cùng lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu và nhiệm vụ chiến đấu. Mối quan hệ trên dưới, quan hệ cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội ta được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí giữa những người bạn chiến đấu chung một lý tưởng.

Vì vậy, trong quan hệ hằng ngày đối với đồng chí, đồng đội thì phải thực sự thương yêu, lấy tập thể làm gia đình, đồng chí, đồng đội làm anh em, đơn vị là nhà; cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tin tưởng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh với bệnh thờ ơ, vô cảm, quân phiệt… làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong cán bộ, chiến sĩ, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

                                                                                             VHT.

CẨN THẬN TIẾP TAY CHO KẺ XẤU

 

Hiện nay cuộc tranh giữa Ukraine và Nga đang là một vấn đề rất nóng và được rất nhiều người quan tâm. Việt Nam đã đưa ra những ý kiến, cũng như những đường lối hợp lý về vấn đề đó. Chúng ta quyết chọn theo lẽ phải, chọn hòa bình chứ không chọn phe này nhằm chống lại nước khác. Tuy nhiên, có nhiều người do không tiếp cận đúng nguồn thông tin, cũng như chưa nhận thực được suy nghĩ của mình mà nóng vội đưa ra những ý kiến nhằm không tán thành với ý kiến của đất nước chúng ta.

Vai trò của V.I.Lênin đối với tiến trình phát triển lịch sử thế giới là không thể phủ nhận

 

V.I.Lênin là vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Lật tẩy chiêu trò bôi nhọ, kích động

 

Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

KHI SỬ LÀ MÔN HỌC TỰ CHỌN?, BÀI HỌC NHÃN TIỀN TỪ HÀN QUỐC

 

Từ năm 2005, Hàn Quốc cho phép các môn khoa học xã hội trong khối phổ thông là môn tự chọn và hệ lụy là tỷ lệ đăng ký học Lịch sử giảm dần đều theo thời gian. Kéo theo đó là hệ lụy về một thế hệ trẻ không biết Chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào thời gian nào, không biết gì về tướng Lý Thuấn Thuần - vị tướng nổi danh nhất lịch sử dân tộc Triều Tiên. 

VAI TRÒ CỦA V.I. LÊNIN ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ THẾ GIỚI LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN!

     V.I.Lênin là vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Người đã cùng với Đảng Bolshevik Nga lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười năm 1917, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại.

Kể từ sau sự kiện Cách mạng Tháng Mười với sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Xô viết đến nay, các thế lực phản động quốc tế vẫn không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận tư tưởng, lý luận và vai trò của Lênin đối với tiến trình phát triển của thế giới trong thế kỷ 20. Họ phê phán quan điểm của Lênin về thực hiện cách mạng bạo lực trong đấu tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp vô sản, cho đó là “biện pháp cực đoan”, “xóa bỏ dân chủ”. Họ ra sức tán dương, cổ xúy cho các cuộc cách mạng xã hội bằng phương pháp hòa bình như đã diễn ra ở một số nước tư bản trong thế kỷ 19.

Trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 80 và 90 của thế kỷ 20, các thế lực thâm thù với cách mạng viện cớ vào “khúc quanh” này của lịch sử để tấn công nhằm hạ bệ vai trò lãnh tụ của Lênin đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH trong thế giới đương đại.

Vậy vì sao các loại kẻ thù lại điên cuồng chống đối quyết liệt nhằm xóa bỏ vai trò của Lênin đối với tiến trình phát triển của lịch sử thế giới hiện nay? Điều này thật dễ lý giải, đó là từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, không có một nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới mà tư tưởng, lý luận của họ lại được hàng triệu, hàng triệu người thấm nhuần, ủng hộ và vận dụng; không một nhân vật lịch sử nào có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng, xuất bản lưu hành ở nhiều nước với số lượng rất lớn như các tác phẩm kinh điển của Lênin.

Lênin không chỉ là nhà lý luận thiên tài mà còn là một lãnh tụ cách mạng với hoạt động thực tiễn phong phú và đầy bản lĩnh. Trong cao trào cách mạng của giai cấp công nhân ở châu Âu, tháng 3-1919, Lênin đã cùng lãnh tụ cách mạng các nước lập nên Quốc tế Cộng sản III để lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới. Khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!” của Mác đã được Lênin bổ sung thành: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Người chỉ rõ: “Không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”(1). Đoàn kết giai cấp công nhân thế giới, quan tâm giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa... là những cống hiến to lớn của Lênin trong việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Tư tưởng, lý luận cách mạng và vai trò của Lênin đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là vô cùng to lớn. Chính từ nguồn cổ vũ lớn lao của Cách mạng Tháng Mười, từ tính ưu việt của chế độ XHCN của Nhà nước Liên Xô, với sức mạnh về kinh tế và quốc phòng, đã trở thành nhân tố quan trọng gìn giữ hòa bình thế giới và cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy Nhà nước Liên Xô luôn ở trong vòng kiềm tỏa toàn diện của chủ nghĩa đế quốc nhưng trong nhiều thập kỷ của thế kỷ 20, Liên Xô vẫn là trụ cột của hệ thống XHCN, là điểm tựa cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới.

Đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng và lý luận của Lênin về cách mạng vô sản đã mở ra chân trời mới, soi đường cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xây dựng CNXH. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã vô cùng cảm động và hạnh phúc khi đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề thuộc địa” của Lênin. Người nói: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản”(2). Từ đó, Người đi theo lãnh tụ Lênin, theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, xây dựng lý luận cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc theo khuynh hướng vô sản, giải quyết thành công mối quan hệ giữa đất nước và thời đại, giữa dân tộc và quốc tế. Những luận điểm đó có giá trị lâu dài chỉ đạo đường lối cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta được dẫn đường bởi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây vừa là bài học lớn, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn 92 năm qua, vừa là cội nguồn dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH, đổi mới đất nước. Đó là những đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng ta trong thời đại mới.

Kỷ niệm 152 năm Ngày sinh của lãnh tụ Lênin, chúng ta tiếp tục khẳng định, cho dù hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức chống phá điên cuồng Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH, song, với bản chất cách mạng, khoa học và thực tiễn lịch sử không thể phủ nhận, những di sản tư tưởng, lý luận cách mạng của Lênin vẫn đang hiện hữu và có sức sống mãnh liệt trong trái tim, khối óc của hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới. Hình ảnh và vai trò của Lênin vẫn luôn đồng hành trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới đương đại, không một thế lực nào có thể “đổi trắng thay đen” và bác bỏ được./.
(1) V.I. Lênin, Toàn tập, Nhà xuất bản Tiến bộ, Moscow, 1980, tập 41, tr.206.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.563.
Yêu nước ST.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”.

Đó là lời trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 4- 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, là hạt nhân của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức; bởi họ là giai cấp kiên quyết, triệt để, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ. Do đó, khi phân tích đặc điểm của các giai cấp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có giai cấp công nhân mới gánh vác được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc để xây dựng một xã hội mới. Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, giai cấp công nhân phải có chính Đảng cách mạng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nòng cốt.

Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân và là đội quân chủ lực của cách mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập, họ cũng không có khả năng tự xây dựng một chế độ xã hội mới. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấp và các tầng lớp trong xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin và thành công trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến với việc bổ sung phong trào yêu nước cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Người đã nhận rõ sức mạnh to lớn từ phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, mà lực lượng đông đảo, nòng cốt là giai cấp nông dân.

Trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định rõ: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Tuy thành phần xuất thân, thành phần giai cấp của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đa dạng, song cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác giáo dục, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị, thực hiện toàn quân một ý chí; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.

HAIVAN

 

Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên

 

- Thường xuyên chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Góp phần phát huy vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Hiện nay “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”(3). Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, những vấn đề toàn cầu của thời đại, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ đã và đang tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được Đại hội XIII tổng kết là “... kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(4). Điều đó đã củng cố niềm tin của thanh niên vào lý tưởng cách mạng, khơi dậy sức mạnh và khát vọng cống hiến của thanh niên vào sự nghiệp chung.

Tuy nhiên, những tác động khó tránh khỏi từ mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch với cách mạng nước ta cũng đang tác động đến nhận thức, tư tưởng, lối sống, niềm tin, lý tưởng của thanh niên. Mặt khác, giai đoạn phát triển mới của đất nước cũng đang làm nảy sinh trong thanh niên những nhu cầu, định hướng giá trị mới phong phú, đa dạng, đòi hỏi phải có chính sách và giải pháp giáo dục phù hợp, tạo điều kiện để thanh niên củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng và định hướng giá trị đúng đắn.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay, cần lưu ý các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị các cấp và toàn xã hội về tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược lâu dài của việc giáo dục lý tưởng cách mạng đối với thanh niên.

Với tư cách là đối tượng giáo dục, quá trình hình thành lý tưởng cách mạng chịu tác động bởi các chủ thể chính là sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia của các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có vai trò trực tiếp của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam... Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cơ bản, bao trùm, chi phối các giá trị định hướng khác trong hoạt động của thanh niên. Vì vậy, trong công tác giáo dục thanh niên, cần nhận thức vai trò đặc biệt của giáo dục lý tưởng cách mạng, gắn giáo dục lý tưởng cách mạng với giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên.

Mặt khác, lứa tuổi thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) là tiếp tục của tuổi thiếu nhi. Do đó, gia đình, nhà trường và xã hội cần quan tâm từ sớm, từ đầu việc định hướng lý tưởng cách mạng cho thanh niên thông qua việc giáo dục những phẩm chất cần thiết cho thiếu nhi theo “Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” để tạo tiền đề cho bước chuyển tiếp trong quá trình giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào mà việc giáo dục nói chung, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên nói riêng được quan tâm thì tính tích cực chính trị - xã hội của họ sẽ được phát huy.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng đối với thanh niên.

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần đổi mới nội dung, hình thức giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của tuổi trẻ thông qua việc trang bị những tri thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, pháp luật của Nhà nước; làm cho thanh niên nhận thức đúng đắn tính cách mạng, khoa học và nhân văn của lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc và cũng là lý tưởng của thanh niên. Chú trọng giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, ý thức phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, lợi ích của nhân dân. Kết hợp giữa nâng cao giác ngộ về lý tưởng cách mạng với tăng cường ý thức cảnh giác, đấu tranh chống âm mưu và hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. 

Ba là, quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của thanh niên, tổ chức thanh niên tham gia tích cực vào phong trào thi đua yêu nước, phong trào hành động cách mạng.

Nhu cầu, lợi ích là động lực trực tiếp trong hoạt động của con người. Việc bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cầu, lợi ích hợp lý, chính đáng, thiết thực của thanh niên về nhiều mặt, nhất là vấn đề việc làm, thu nhập; việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa.

Phong trào thi đua yêu nước là một hình thức đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, là môi trường thực tiễn để giáo dục lý tưởng cách mạng, phát huy tài năng, phẩm chất của thanh niên. Các phong trào thi đua “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”; “Tuổi trẻ tham gia xây dựng văn minh đô thị”; “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”; “Cán bộ công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” và các phong trào khác do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam phát động đã thu hút đông đảo thanh niên hăng hái tham gia, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những trải nghiệm từ cuộc sống, từ quá trình tham gia các phong trào hành động cách mạng là cơ sở để biến nhận thức về lý tưởng cách mạng trở thành tình cảm, ý chí, niềm tin vững chắc của thanh niên vào lý tưởng cách mạng vì: “Đa số người ta đều tin tưởng vào những điều họ rút ra được từ đời sống thực tế”.