Thứ Năm, 21 tháng 4, 2022

Bộ Chính trị tổ chức hội nghị về phát triển vùng ĐBSCL

 

Bộ Chính trị tổ chức hội nghị về phát triển vùng ĐBSCL

Hội nghị về thực hiện Nghị quyết phát triển vùng ĐBSCL diễn ra sau Hội nghị về thực hiện Nghị quyết phát triển vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Hôm nay (22/4), dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đây là hội nghị thứ 2 về phát triển vùng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức. Hội nghị đầu tiên được tổ chức vào sáng 15/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhằm quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 11 ngày 10/2/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

ĐBSCL là vùng kinh tế quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước, có vị trí địa chính trị và an ninh quốc phòng hết sức quan trọng, là đồng bằng châu thổ lớn nhất của Đông Nam Á, vựa lúa của cả nước, có nền văn minh sông nước độc đáo, nơi sinh sống của hơn 17 triệu đồng bào dân tộc anh em như Kinh, Khmer, Chăm,...

Với ý nghĩa, vai trò quan trọng như vậy, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến vùng ĐBSCL. Nhiều nghị quyết, văn bản quan trọng về vấn đề này đã được Đảng ta ban hành, trong đó có Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010.

Nghị quyết số 21-NQ/TW đã xác định những định hướng, mục tiêu, giải pháp quan trọng để đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững của Vùng, trong đó nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hiệu quả, bền vững; gắn phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất mới, phù hợp; các mặt văn hóa, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là với đồng bào Khmer và nhân dân vùng ngập lũ; phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc phòng vững chắc”.

Mục tiêu của Nghị quyết số 21 đã cơ bản được hoàn thành; tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL, phát huy được tiềm năng, lợi thế của vùng, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của cả nước thời gian qua…

Sau gần 20 năm triển khai, Bộ Chính trị thống nhất ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 21 về "Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" với tư duy, quan điểm, tầm nhìn phù hợp bối cảnh mới, nhằm đưa ra các mục tiêu, chủ trương, giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, yếu kém, tháo gỡ các khó khăn trong thực hiện Nghị quyết số 21, để tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới.

 

Tư tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 

Tư tưởng của V.I.Lênin soi sáng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Ngày 22/4/1870, V.I.Lênin-nhà tư tưởng vĩ đại, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới chào đời tại Simbirsk (nay là Ulianovsk), nước Nga. 152 năm trôi qua nhưng đến nay, những quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin vẫn là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại tiến bộ hướng đến xây dựng một xã hội thật sự tốt đẹp mà ở đó con người được giải phóng triệt để, có cuộc sống tự do, hạnh phúc.

Với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin không chỉ mở ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà còn soi sáng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đặc biệt, nhiều quan điểm của V.I.Lênin còn cung cấp cho chúng ta những luận cứ khoa học để đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thù địch phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một trong số đó phải đề cập đến quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của chính trị với kinh tế đã trở thành cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điểm phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa-mô hình kinh tế tổng quát ở Việt Nam hiện nay.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đây là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới vừa phù hợp xu thế chung của nhân loại, vừa căn cứ trên tình hình thực tiễn của Việt Nam.

Xoay chung quanh mô hình kinh tế này, các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, chẳng hạn như: Kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa như nước với lửa về bản chất là không thể kết hợp được với nhau, do đó Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế này là sai lầm, ảo tưởng, trái quy luật; kinh tế thị trường ở Việt Nam về hình thức là chủ nghĩa xã hội nhưng thực chất đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, vì thế thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là thành công của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa…

Những quan điểm này hướng đến đích cuối cùng là phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy những quan điểm này là sự bịa đặt vô căn cứ.

Khi bàn đến mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”(1), chính trị nảy sinh trên cơ sở kinh tế, phản ánh kinh tế, do kinh tế quyết định; nhưng ngược lại chính trị cũng có thể tác động trở lại kinh tế, nhất là chính trị giữ vai trò lãnh đạo, định hướng cho sự phát triển kinh tế. V.I.Lênin chỉ rõ: các giai cấp đấu tranh chính trị với nhau (đấu tranh để giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước) trước hết là vì mục đích kinh tế, chỉ giai cấp nào nắm trong tay quyền lực chính trị mới có thể đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách bảo vệ tối đa cho quyền, lợi ích của giai cấp mình mà đầu tiên là lợi ích kinh tế.

Bởi vậy, khi chưa có chính quyền trong tay, các giai cấp sẽ đấu tranh để giành chính quyền, khi đã có chính quyền, các giai cấp sẽ tìm mọi cách giữ chính quyền lâu nhất có thể và sử dụng chính quyền đó một cách hiệu quả định hướng cho sự phát triển kinh tế-xã hội để nhằm bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình. Từ đây, V.I.Lênin cũng khẳng định rằng bản thân giai cấp vô sản và nhân dân lao động muốn đấu tranh để tự giải phóng mình về mặt kinh tế thì trước hết phải giành cho được một số quyền chính trị nhất định. Do đó, theo V.I.Lênin: “Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế” (2).

Cũng chính vì thế mà trên thực tế, không có một mô hình kinh tế nào trong bất kỳ chế độ xã hội nào kể từ khi xuất hiện giai cấp, nhà nước lại không chịu sự định hướng bởi một nền chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội và kinh tế thị trường cũng không phải là một ngoại lệ. Mặt khác, bản thân kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường là thành tựu của nền văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, do đó dù là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản đều có thể sử dụng kinh tế thị trường để thúc đẩy kinh tế phát triển.

Tất nhiên, cùng là kinh tế thị trường nhưng do được lãnh đạo, định hướng bởi những nền chính trị của các giai cấp cầm quyền khác nhau, nên về bản chất và mục tiêu phát triển của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khác nhau. Đó là một sự thật không gì có thể phủ nhận được.

Thực tế cho thấy: Trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nhà nước tư sản can thiệp, điều tiết nền kinh tế chủ yếu là nhằm tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ theo những quy luật vốn có của nó, bảo đảm kinh tế tăng trưởng tối đa để phục vụ cho lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản thống trị trong xã hội, bảo vệ chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

Tiến bộ và công bằng xã hội không phải là đích đến của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa cho nên vấn đề thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, bảo vệ lợi ích cho người lao động chỉ được nhà nước tư sản đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường làm cho xã hội phân hóa (giàu nghèo), mâu thuẫn xã hội (nhất là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động-biểu hiện xã hội của mâu thuẫn tất yếu về mặt kinh tế giữa lực lượng sản xuất đã đạt trình độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) trở nên sâu sắc, gay gắt đe dọa sự thống trị của giai cấp tư sản.

Cũng chính vì các chủ trương, chính sách đưa ra chỉ nhằm xoa dịu, điều hòa mâu thuẫn tạm thời, tạo cơ sở cho chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển mạnh mẽ chứ không giải quyết triệt để được mâu thuẫn, do đó nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa càng phát triển, càng phục vụ tốt hơn cho lợi ích của giai cấp tư sản thì lại càng chà đạp nhiều hơn lên lợi ích, quyền lợi của đa số nhân dân lao động, bởi thế nó lại càng không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có và tất yếu không thể tránh khỏi rơi vào các cuộc khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng.

Đây là hậu quả tất yếu “của một quá trình phát triển kinh tế-xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(3) như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã từng chỉ rõ.

Trái lại, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý, điều tiết nền kinh tế lại vì mục đích chính là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường dễ làm nảy sinh các hiện tượng bất công, bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo…; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội được chủ động giải quyết ngay từ đầu nhằm bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả các giai tầng trong xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân để không một ai bị bỏ lại phía sau.

“Gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(4) là một đặc trưng mang tính bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nó khác biệt hoàn toàn so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Cũng bởi thế, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: chúng ta “không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”.

Ngược lại, “mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(5).

Như vậy, về hình thức cùng là kinh tế thị trường nhưng khi nó được định hướng bởi những nền chính trị khác nhau thì bản chất và mục tiêu phát triển của nó cũng khác nhau. Rõ ràng, khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa chủ yếu phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của thiểu số giai cấp tư sản thống trị thì với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tăng trưởng kinh tế là nhằm hiện thực hóa những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vì mục tiêu này mà trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước có thể chủ động hy sinh những lợi ích kinh tế để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân. Điều đó có thể rất rõ trong suốt hơn hai năm chống dịch Covid-19 vừa qua. Tại thời điểm dịch bùng phát, trong khi nhiều quốc gia còn đang băn khoăn giữa việc chọn lựa thực hiện các quy định giãn cách, phong tỏa, tạm thời đóng cửa… để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân hay tiếp tục những mục tiêu phát triển kinh tế mà bỏ lỡ thời cơ chống dịch thì ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ động xác định và quyết tâm thực hiện mục tiêu: đặt sức khỏe và tính mạng của người dân lên hàng đầu, không hy sinh sức khỏe và tính mạng của người dân vì những lợi ích kinh tế trước mắt.

Thậm chí, chúng ta chấp nhận đánh đổi những lợi ích kinh tế ngắn hạn, trước mắt để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân. Nhờ đó, Việt Nam đã trở thành một trong những nước đi đầu thế giới về kiểm soát dịch bệnh, sớm đưa người dân quay về cuộc sống bình thường mới.

Có thể thấy, chính quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của chính trị với kinh tế đã cung cấp cho chúng ta luận cứ khoa học để phản bác những quan điểm xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những thành tựu vượt bậc trong phát triển kinh tế-xã hội qua 35 năm đổi mới đất nước: kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm), chính trị, xã hội ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt về mọi mặt (6); từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, hiện nay Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN… là minh chứng rõ nét nhất cho sự thành công và tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đó cũng là cơ sở để khẳng định mặc dù chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhưng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện là lựa chọn tất yếu của lịch sử, phù hợp xu hướng phát triển chung của nhân loại, phù hợp thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 42, tr.349.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 42, tr.349.

(3), (4), (5) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Báo Nhân Dân, https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam - 646305/, ngày 1/8/2021.

(6) xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, tập 1, tr.20-21.

 

Bộ Công an rà soát, xử lý nghiêm hành vi tung tin đồn thất thiệt

 

Bộ Công an rà soát, xử lý nghiêm hành vi tung tin đồn thất thiệt

Chánh Văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô nhấn mạnh các lực lượng chức năng sẽ kiên quyết xử lý nghiêm mọi hoạt động tung tin đồn làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh.

Trước tình trạng xuất hiện những tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đến thị trường đầu tư, kinh doanh, Chánh văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô cho biết Bộ Công an đang tiến hành triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn những đối tượng này.

Mới đây nhất, Facebooker có 318.000 người theo dõi là Đặng Như Quỳnh đã bị khởi tố, bắt tạm giam về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

Chỉ thị số 12 của Bộ Chính trị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm An ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế xác định “Bảo vệ An ninh kinh tế là bảo vệ An ninh quốc gia”.

Chánh văn phòng Bộ Công an - Trung tướng Tô Ân Xô cho biết, quán triệt thực hiện nghiêm túc quan điểm chỉ đạo của Đảng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết liệt chỉ đạo tăng cường các biện pháp bảo vệ An ninh kinh tế với tinh thần mọi hoạt động vi phạm pháp luật, trong đó có hoạt động tung tin đồn thất thiệt làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Cũng theo Trung tướng Tô Ân Xô, hiện nay có việc đối tượng tung tin đồn thất thiệt, đưa tin thiếu kiểm chứng trên không gian mạng, như đối tượng Đặng Như Quỳnh vừa qua đã tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư kinh doanh. Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tập trung rà soát, phát hiện, có thể khẳng định, mọi tài khoản mạng xã hội. Mọi hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng trên không gian mạng đều đang được lực lượng Công an rà soát, những đối tượng, hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ có những hình thức xử lý nghiêm minh trong thời gian tới theo đúng quy định của pháp luật.

Để hạn chế tình trạng tung tin đồn thất thiệt làm ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh, Bộ Công an đã triển khai bài bản rất nhiều giải pháp: Tham mưu Đảng Nhà nước hoàn thiện chính sách pháp luật, trọng tâm là Luật An ninh mạng và các văn bản hướng dẫn thi hành, củng cố cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý những hành vi đưa tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng, vi phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, lực lượng chức năng tiến hành tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến thực hiện pháp luật, để người dân hiểu, chấp hành pháp luật, không có các hành vi tung tin thất thiệt thiếu kiểm chứng, xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh. Tổ chức lực lượng, biện pháp, bao gồm cả biện pháp nghiệp vụ chuyên biệt để thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ về các hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng môi trường đầu tư kinh doanh; giáo dục, thuyết phục những đối tượng có hành vi đưa tin sai sự thật.

Trung tướng Tô Ân Xô nhấn mạnh: Bộ Công an sẽ kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật về hành chính và hình sự đối với những đối tượng có hành vi đưa tin thiếu kiểm chứng, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đến sự phát triển kinh tế - xã hội, môi trường đầu tư kinh doanh.

Bộ Công an khuyến nghị nhà đầu tư cần tỉnh táo, không bị tác động bởi các tin đồn thất thiệt, chưa được kiểm chứng, theo dõi sát thông tin từ các nguồn chính thống. Cảnh giác với thông tin lợi dụng việc cơ quan chức năng xử lý một số doanh nhân có hành vi vi phạm pháp luật vừa qua để tung tin thất thiệt, mục tiêu chống Đảng, Nhà nước, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư.

/.

 

Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững phải đồng bộ, không chồng chéo

 

Xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững phải đồng bộ, không chồng chéo

Sáng 21/4, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.

Cùng dự có Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Trần Văn Sơn; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương và lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố tại các điểm cầu trực tuyến…

Phát biểu khai mạc, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đánh giá việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp đã phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển nông thôn. Các thiết chế hạ tầng kinh tế-xã hội cơ bản đã được cải thiện. Đời sống người dân nông thôn ngày càng được nâng cao.

Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm, điều kiện cho người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhiều chính sách xã hội đã đi vào đời sống, đóng vai trò hỗ trợ thiết thực cho các đối tượng yếu thế.

Từ những kết quả đã đạt được, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận, đề xuất và thống nhất các giải pháp để triển khai đồng bộ các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025, phương án phân bổ, lồng ghép các nguồn lực; cơ chế kiểm tra, giám sát… với yêu cầu không trùng lặp nhiệm vụ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhưng không bỏ sót các nhóm đối tượng cần hỗ trợ.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Trần Quốc Phương cho biết, trong giai đoạn tới, địa phương, nhất là cấp cơ sở, được phân cấp, trao quyền chủ động nhiều hơn trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Các nguồn vốn thực hiện được lồng ghép thông qua việc sử dụng vốn của nhiều chương trình, dự án, hoạt động có cùng mục tiêu trên cùng địa bàn; khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, dàn trải, phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.

Các dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp được áp dụng quy chế đặc thù với quy trình đơn giản, thủ tục rút gọn.

Ngân sách nhà nước hỗ trợ có điều kiện, một phần, người dân, các tổ chức cùng chia sẻ trách nhiệm trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, xóa bỏ tư tưởng "trông chờ, ỷ lại".

Trao đổi về tiến độ triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan cho biết, mục tiêu đặt ra đến năm 2025, cả nước có 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (hiện nay là 69,4%); 50% đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới (hiện nay là 34,1%); 60% thôn, bản, ấp thuộc các xã đặc biệt khó khăn được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; cả nước có từ 17-19 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (hiện có 5 tỉnh)…

Dự kiến ngân sách bố trí cho chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 tối thiểu 196.332 tỷ đồng.

Về chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung nhấn mạnh mục tiêu tổng quát là thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình đặt mục tiêu hàng năm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm 1-1,5%, hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%, hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm 4-5%; trong cả giai đoạn sẽ có 30% huyện nghèo, 30% xã đặc biệt khó khăn thoát khỏi tình trạng nghèo, đặc biệt khó khăn.

Dự kiến tổng kinh phí thực hiện chương trình tối thiểu là 75.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tạo động lực, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Đại diện lãnh đạo các tỉnh Cao Bằng, Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Nam, Gia Lai, An Giang… khẳng định việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thay đổi căn bản diện mạo vùng nông thôn, nhất là những địa bàn khó khăn.

Mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 rất cao, trong khi những huyện, xã chưa hoàn thành nông thôn mới, chưa thoát nghèo có rất nhiều khó khăn đặc thù đòi hỏi không chỉ quyết tâm, nỗ lực mà cả những cách làm đột phá, sáng tạo hơn nữa.

Đến nay, các tỉnh đã thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chủ động rà soát các dự án, tiểu dự án, điều chỉnh, phân bổ nguồn vốn đối ứng từ ngân sách địa phương… để kịp thời triển khai trong thời gian sớm nhất.

Các địa phương kiến nghị Trung ương sớm phân bổ nguồn vốn, các bộ, ngành sớm có văn bản hướng dẫn, tiêu chí cụ thể trong thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng, miền.

"Việc xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững vẫn tiếp tục được triển khai chứ chúng tôi không tạm dừng để chờ hướng dẫn", Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái Trần Huy Tuấn cho biết.

Liên quan đến kiến nghị của các địa phương về việc tách các đối tượng không có khả năng thoát nghèo ra khỏi diện nghèo, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung đề nghị các địa phương chủ động lập danh sách những đối tượng này để chuyển sang chế độ bảo trợ xã hội.

Ghi nhận các ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm từ thực tiễn các địa phương, trao đổi thẳng thắn của lãnh đạo các bộ, ngành, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của xây dựng kịp thời, đầy đủ các văn bản pháp lý, tiêu chí, hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Phó Thủ tướng nêu rõ: Chúng ta đã xây dựng xong thể chế, cơ chế, quy định, bây giờ phải tập trung triển khai. Trách nhiệm thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia chủ yếu nằm ở các tỉnh, thành phố. Các đồng chí phải lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất; tuyên truyền, quán triệt nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, cho đến cán bộ, người dân về nội dung, yêu cầu của từng chương trình mục tiêu quốc gia.

Ban chỉ đạo địa phương cần nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn; chủ động ban hành các văn bản cụ thể hóa hướng dẫn của Trung ương; ưu tiên bố trí ngân sách, huy động tối đa các nguồn vốn hợp pháp để thực hiện; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tuyên truyền để bảo đảm triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia… Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phản biện kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Trong tháng 5/2022, các bộ, ngành được phân công  phải khẩn trương ban hành các thông tư đã được giao, phê duyệt các chương trình chuyên đề, dự án thành phần.

Bộ LĐ-TBXH, Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính khẩn trương ban hành kế hoạch lồng ghép các nguồn vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

"Những dự án, tiểu dự án thành phần, chương trình chuyên đề phải được lập, thẩm định theo đúng quy định về đầu tư công, pháp luật có liên quan", Phó Thủ tướng lưu ý.