Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022
BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA LÊNIN!
ĐIỀU GÌ KHUẤT TẤT VỀ DANH PHẬN MÔN SỬ TRONG NHÀ TRƯỜNG?
TỔ TRUNG TÂM CỦA TỔNG HÀNH DINH!
CHUYỆN MÔN TỰ CHỌN..!
SỰ ĐỀN TỘI CỦA KẺ LẬP RA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN HOÀNG CƠ MINH KHI CÓ Ý ĐỊNH "GIẢI PHÓNG VIỆT NAM"
XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy
luật xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là điều kiện đảm bảo cho dân tộc Việt
Nam tồn tại và phát triển. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
là hai mặt của quá trình thống nhất có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, vừa
là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, thúc đẩy lẫn nhau.
Bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế
độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia dân tộc; giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội
trật tự kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa”.
Bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã họi chủ nghĩa là trách nhiệm của toàn dân tộc, là nghĩa
vụ quyền lợi, vinh dự của mọi người Việt Nam. Để làm tròn nhiệm vụ đó, trước hết
mỗi người Việt Nam cần phải có ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầy đủ và
sâu sắc.
Ý thức bảo vệ tổ quốc xã họi chủ nghĩa của mọi người Việt
Nam trong thời kỳ mới là tổng hòa nhận thức, tình cảm, thái độ, niềm tin và ý
chí quyết tâm biểu hiện ở hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng động dân tộc đối với
sự nghiệp bảo vệ vững chắcđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nền tảng của ý
thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời
đại Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là là sự kế
thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghia yêu nước
theo lập trường giai cấp công nhân. Đó là sự hòa quyện giữa ý thức dân tộc với
ý thức giai cấp, giữa truyền thống với hiện đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước
Việt Na m xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là yêu
nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội, yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình yêu
giai cấp gắn với tình yêu dân tộc và tình yêu nhân loại, yêu thương con người.
Ý
thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của
mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới là sự kế thừa và phát huy, nâng lên tầm
cao mới, chất lượng mới của ý thức dân tộ, ti h thần yêu nước, tự tôn dân tộc,
ý thức bảo vệ lợi ích quốc gia, bản sắc văn hóa dân tộc, ý thức kiên cường, bất
khuất không cam chịu nô lệ và cúi đầu trước mọi kẻ thù, quân cướp nước và bè lũ
bán nước; là sự khát vọng vươn lên xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh
vượng. Đây là cơ sở xã hội rất sâu xa, bền vững cho sự hình thành, phát triển ý
thức bảo vệ tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa của mọi người dân hiện nay. Song,
ý thức bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa không hình thành tự phát, mà nó là kết
quả của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng mang tính chủ động, tích cực, tự
giác của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo và mỗi người thông qua nhận thức và
hoạt động thực tiễn tạo dựng nên.
Làm chuyển hóa ý thức dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, nội dung chủ yếu, cốt lõi của việc xây dựng
ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời
kỳ mới, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Thực
hiện mục tiêu đó, trong điều kiện hiện nay xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau:
Một
là, vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hai
là, phải thường xuyên bám sát thực tiễn đất nước, khu vực, thế giới, yêu cầu,
nhiệm vụ cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới…
Ba
là, sử dụng tổng hợp và đổi mới toàn diện nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng
ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với các tầng lớp nhân dân.
Bốn
là, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị
các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở trong xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa.
Năm
là, kết hợp công tác giáo dục với công tác tổ chức các phong trào thi đua yêu
nước, các hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để xây dựng ý thức bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Biện
pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tập trung vào:
- Chăm
lo xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước
và kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
làm cơ sở hiện thực, nền tảng vất chất để
phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Bằng
công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; thông qua giáo dục và tổ chức các phong
trào cách mạng của nhân dân để xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời kỳ
mới.!
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC QUA HƠN 35 NĂM ĐỔI
MỚI.
-----------------------
Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 25/1
đến ngày 01/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 2021-2030; Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng.
Đại hội diễn ra tại một thời điểm lịch sử
trọng đại: Đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới và đạt được những thành tựu
quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bât. Thời điểm lịch sử đã đặt
ra cho Đại hội nhiệm vụ nhận diện bối cảnh phát triển mới, đề ra đường lối
chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ
thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, rút ra một số bài
học kinh nghiệm sau:
Một là, bảo đảm chủ quyền, quốc gia giữ
vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho phát
triển đất nước.
Hai
là, giải quyết
tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, tăng trưởng
và ổn định kinh tế vĩ mô trong phát triển kinh tế - xã hội; giữa kinh tế thị
trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ; giữa độc ;ập tự chủ và hội nhập quốc
tế… Phải kịp thời đổi mới tư duy và hành
động, thực hiện tốt công tác dự báo, bảo đảm đánh giá đúng, đầy đủ, kịp thời,
chủ động thích ứng với những biến động khó lường của thế giới; phát huy tối đa
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực , trong đó nội lực là quyết định.
Ba
là, thể chế,
pháp chế phải được xây dựng cơ bản đầy đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với
thực tiễn và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; cải cách bộ máy chính quyền
các cấp, xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động là nền
tảng. Coi trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bố,
sử dụng các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Phải coi trọng đổi
mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là quản lý, phát
triển và quản lý xã hội.
Bốn
là, lấy con
người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình
phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh
toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân.
Năm là, xác định giáo dục đào tạo, khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu
trong phát triển đất nước để bắt kịp sự phát triển của khu vực và thế giới,
tránh nguy cơ tụt hậu.
Những
bài học trên đây có ý giá trị lý luận, thực tiễn to lớn, là cơ sở chính trị sâu
sắc để Đảng ta đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với thực tiễn đất nước và xu
thế thời đại trong những thập niên tiếp theo.
Những
thành tựu của đất nước trong hơn 35 năm đổi mới mà trực tiếp là trong nhiệm kỳ
Đại hội XII bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, hợp quy luật của Đảng; tinh
thần đoàn kết, thống nhất; sự chung sức, đồng lòng của đội ngũ cán bộ, đảng
viên và nhân dân. Đây là minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn mục tiêu, con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Từ thực tiễn lãnh đạo
đất nước, Đảng ta đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu trong xây dựng,
chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới, đó là:
Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị;
kiên định, vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên
tắc của Đảng; kịp thời đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên
quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị.
Hai là, phải đặc biệt coi trọng sự đoàn
kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết trong Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp.
Người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao
tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên
hết, trước hết. Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng
với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thực sự dựa vào dân để xây dựng
Đảng.
Ba là, phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm
công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, có liên
quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ; cán bộ là cái gốc của mọi
công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy phải đặc
biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người
đứng đầu thực sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân.
Bốn là, xây dựng Đảng phải gắn kết chặt
chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và
chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu
quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản,
chiến lược lâu dài; chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp
bách; đồng thời xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá.
Năm là, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực
hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách
làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp; kiên trì, cầu thị, lắng
nghe; không cầu toàn, không chủ quan nóng vội, mất cảnh giác và không tự mãn với
thành tích đã đạt được. Đối với việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm,
vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân
rộng.
Những
bài học kinh nghiệm trên sẽ được Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển trong
nhiệm kỳ Đại hội XIII, lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức,
không ngừng phát triển trong bối cảnh và tình hình mới.
Quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh trong đơn vị.
Thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, quản lý tư tưởng bộ đội. Thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, quản lý đơn vị mọi mặt, phát huy dân chủ đề cao kỷ luật, triệt để chấp hành mệnh lệnh trong bất kỳ tình huống và hoàn cảnh nào, chủ động kiên quyết làm thất bại chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, ý đồ móc nối phá hoại nội bộ của ta, kịp thời phát hiện ý đồ phá hoại của địch để chủ động đối phó làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại của chúng từ khi mới manh nha. Chủ động phát hiện những sơ hở thiếu sót của đơn vị trong quản lý nội bộ, phòng gian bảo mật, chấp hành các nội quy, chế độ ra vào doanh trại để chấn chỉnh kịp thời. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của bộ đội, không để kẻ địch lợi dụng, kích động, lôi kéo mua chuộc.
Nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội là một nội dung rất quan trọng, cấp thiết trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng. Thực hiện tốt các giải pháp trên góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội một nội dung biện pháp quan trọng trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.
Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của địch.
Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, phải đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị. Tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thường xuyên thông tin những diễn biến tình hình trong nước và trên địa bàn đóng quân, nhằm làm cho bộ đội thấy hết tính chất nguy hiểm, phức tạp của chiến lược "diễn biến hoà bình". Nắm vững phương châm: Tích cực, chủ động, kịp thời, kiên quyết, lấy phòng ngừa là chính. Trên cơ sở đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, luôn luôn đề cao cảnh giác với những phương thức tác động từ xa như: Đài phát thanh, tranh ảnh, băng hình, sách báo phản động đồi truỵ tác động thâm nhập vào đơn vị.
Duy trì thường xuyên các hình thức thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, đọc báo, điểm báo, bản tin truyền thanh, bản tin tuần, thi tuyên truyền viên cũng như các hình thức sáng tạo khác. Khi cung cấp thông tin cho bộ đội phải bảo đảm tính tư tưởng, chân thực, có tác dụng giáo dục cho bộ đội và đẩy lùi các luồng thông tin từ các kênh không chính thức khác.
Tích cực tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục các phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong đơn vị và khu vực đóng quân, thực hành tuyên truyền giáo dục về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" với cách mạng nước ta cho nhân dân khu vực đóng quân. Kết hợp chặt chẽ giữa xây với chống, kịp thời đấu tranh với nhận thức tư tưởng sai trái trong cán bộ, chiến sĩ, nhất là những biểu hiện hoang mang dao động trước sự tấn công của chiến lược "diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch tiến hành với cách mạng nước ta. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong tập thể đơn vị, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, chính xác và kịp thời.
Tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình” của địch.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, chức năng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" của địch. Hàng tháng, hàng quý, trong từng nhiệm vụ, căn cứ vào nghị quyết của cấp trên, tình hình thực tiễn của đơn vị, nhất là tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch ở khu vực đóng quân, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp. Tập trung chăm lo giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhất là nâng cao giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội, đơn vị, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Những yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống cho mọi cán bộ đảng viên, làm cho mỗi đảng viên của chi bộ, đảng bộ, thực sự mẫu mực về mọi mặt cho mọi người học tập và noi theo. Đồng thời, uốn ắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng. Động viên hướng dẫn đội ngũ đảng viên tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, đạo đức cách mạng. Coi đó là một nhiệm vụ bắt buộc của người đảng viên. Định kỳ kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời. Chi bộ, đảng bộ khuyết khích đảng viên tích cực tham gia và trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong đơn vị và khu vực đóng quân, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch.
Chú trọng các biện pháp lãnh đạo quản lý tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Cần có kế hoạch quản lý chặt chẽ, phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo nắm chắc tình hình tư tưởng không để xẩy ra hiện tượng đột biến về tư tưởng. Kịp thời nắm bắt, giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh, nhạy bén trước những thủ đoạn, luận điệu chống phá của kẻ thù, những tác động tiêu cực của xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường. Nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt định hướng kịp thời đúng đắn nhận thức, tư tưởng cho mọi người khi có tình huống tư tưởng nảy sinh, hạn chế thấp nhất những sai sót, tiêu cực có thể xẩy ra.
Trong củng cố xây dựng tổ chức, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trong công tác kết nạp đảng viên, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ… Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Kịp thời xử lý đúng đắn những trường hợp vi phạm có liên quan đến vấn đề chính trị, không để xẩy ra hậu quả nghiêm trọng. Phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, nhất là vai trò cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên môn và vai trò của quần chúng trong các hoạt động nói trên. Kịp thời thông báo bằng những hình thức thích hợp tình hình đất nước, quân đội, đơn vị các hoạt động phá hoại của "diễn biến hoà bình" nhất là khu vực đóng quân của đơn vị. Định hướng nhận thức đúng đắn giúp mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có ý thức cảnh giác cao, tin tưởng và chủ động trong các hoạt động. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm đơn vị và trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" làm cho chi bộ, đảng bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở đơn vị cơ sở. Trực tiếp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch từ cơ sở.
Tăng cường giáo dục chính trị tư tư tưởng, kết hợp chặt chẽ với huấn luyện quân sự để xây dựng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội
Xây
dựng bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội phải
được quán triệt vào quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu
biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính
trị của đơn vị và các mặt công tác khác, trước hết là nâng cao chất lượng huấn
luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
Giáo dục, huấn luyện phải hướng vào
bồi dưỡng năng lực cụ thể trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà
bình", "phi chính tri hoá" quân đội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong
huấn luyện, cần tổ chức huấn luyện cho bộ đội sát với yêu cầu nhiệm vụ phòng
chống chiến lược "diễn biến hoà bình", phi chính trị hoá" quân
đội. Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án chiến đấu đặc biệt coi trọng
thành thục về kỹ thuật, chiến thuật, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng,
các bộ phận. Nắm vững phương châm và nguyên tắc để giải quyết đúng đắn, linh
hoạt các tình huống phức tạp, nhất là các tình huống A2. Các nội dung huấn
luyện phải quán triện rõ phương châm: "Lấy xây dựng bên trong là chính để
hỗ trợ cho bên ngoài" và ngược lại. Quá trình giáo dục, huấn luyện phải
được cụ thể hoá vào trong nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình",
sát với nhiệm vụ tác chiến khu vực phòng thủ, nhiệm vụ A2. Kết hợp giáo dục,
huấn luyện toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các bộ phận hoạt động nhỏ
bé, xa đơn vị và khi làm nhiệm vụ đột xuất.
Công tác tư tưởng cần hướng vào thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của
đơn vị. Trước khi bước vào giai đoạn huấn luyện mới, vào hình thức mới cần tổ
chức quán triệt, nâng cao ý thức trách nhiệm trong huấn luyện cho bộ đội. Công
tác giáo dục chính trị tư tưởng cần bám sát từng hình thức phù hợp. Đồng thời
công tác tư tưởng cần bám sát từng đối tượng phân tích đúng, kịp thời diễn biến
tư tưởng của bộ đội, để có biện pháp phối hợp với hoạt động giáo dục, huấn
luyện tạo định hướng đúng đắn tư tưởng cho bộ đội.
Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Biện pháp quan trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Đại Hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong những năm
tới phải đặc biệt coi trọng đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện
về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”
Như vậy vấn đề xây dựng, chính đốn Đảng luôn là
nhiệm vụ rất quan trọng, không chỉ một nhiệm kỳ, một giai đoạn mà cần được tiến
hành thường xuyên, liên tục. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng Đảng vững
mạnh, đáp ứng đòi hỏi yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới,
cần đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, một trong những yếu tố bảo đảm
sự trưởng thành, vững mạnh của Đảng.
Trong xây
dựng Đảng về đạo đức, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nội dung quan trọng vì
nó là căn nguyên gây ra nhiều hệ lụy, thậm chí có nguy cơ làm tổn hại đến chế
độ chính trị, làm suy yếu Đảng. Nhận diện và chống chủ nghĩa cá nhân là công
việc không đơn giản bởi công tác này đòi hỏi đảng viên phải vượt lên chính
mình.
1.
Nhận diện chủ nghĩa cá nhân
Chủ
nghĩa cá nhân (cá nhân chủ nghĩa) là sự lệch lạc thái quá của con người cá nhân
mà cái tôi đối lập, mâu thuẫn với điều thiện, điều tốt; mâu thuẫn và làm tổn
hại lợi ích cộng đồng. Chủ nghĩa cá nhân trong chế độ chính trị hiện hành ở
Việt Nam là sự biểu hiện tư duy và hành động lệch lạc của con người cụ thể nào
đó, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân của mình, bất chấp lợi ích của Đảng, Tổ quốc
và nhân dân; đó là thái độ và hành động có hại cho cộng đồng (Đảng, Tổ quốc,
nhân dân).
Có
thể nhận diện chủ nghĩa cá nhân trong Đảng hiện nay trên năm mặt chủ yếu nhất
sau:
Một,
tách rời lợi ích của cá nhân mình với lợi ích của Đảng
Hai,
chỉ vun vén cho lợi ích của cá nhân mình
Ba,
coi cái tôi cao hơn tất thảy, bất chấp đường lối, chủ trương, điều lệ Đảng,
pháp luật của Nhà nước
Bốn, quan liêu, tham nhũng, lãng phí: Hồ Chí Minh coi
tham nhũng, lãng phí, quan liêu là giặc nội xâm, thứ giặc nằm ngay trong mỗi
người, nằm ngay trong tổ chức của hệ thống chính trị, có khi nó nguy hiểm hơn
giặc ngoại xâm.
Năm,
phản bội Đảng, phản bội chế độ chính trị: Đây là biểu hiện cao nhất của chủ
nghĩa cá nhân, đe dọa vận mệnh của Đảng, của chế độ chính trị, vi phạm nghiêm
trọng pháp luật của Nhà nước và kỷ luật Đảng.
2. Một số giải pháp
phòng, chống chủ nghĩa cá nhân
Một là, chống chủ nghĩa cá nhân phải xuất phát từ yêu
cầu xây dựng nguồn nhân lực, hiện nay cần coi trọng xây dựng nguồn nhân lực
chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng
và xây dựng tư cách người đảng viên. Vì Đảng là vấn đề “cốt tử” của cách mạng;
“cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh”, Đảng có vững cách mạng mới thành
công; Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ
tốt là do từng đảng viên tốt…
Ba là, làm trong sạch môi trường văn hóa, đạo đức
vừa là điều kiện, vừa là nhiệm vụ trọng tâm của chống chủ nghĩa cá nhân. Vì, Môi trường văn hóa đạo đức trong sạch thì
không có đất sống cho chủ nghĩa cá nhân.
Như vậy, yêu cầu đặt ra trong xây dựng Đảng về
đạo đức là phải nhận diện rõ biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để từ đó đấu tranh
đẩy lùi, quét sạch từ trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng trong sạch, vững
mạnh quyết định tới sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, sự tồn vong của chế độ.
Hơn lúc nào hết, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thấm thía lời căn
dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm
qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được
mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ
nghĩa cá nhân”(11). Làm được như vậy sẽ góp phần xây dựng Đảng ta
“là đạo đức, là văn minh”, đấu tranh làm thất bại với âm mưu, thủ đoạn chống
phá Đảng của các thế lực thù địch.
Chủ nghĩa Mác-Lênin truyền bá vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan
Ta phải khẳng định ngay rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan trong quá trình vận động của các yếu tố lịch sử trong và ngoài nước. Cần phải nhớ rằng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, là một nước nô lệ. Trong hơn 80 năm trường nô lệ đó đã có nhiều hệ tư tưởng, nhiều đảng phái tồn tại, thu hút được một bộ phận nhân dân tham gia, hưởng ứng, thậm chí đã có những hành động cụ thể để giành độc lập nhưng đều bị Thực dân Pháp dìm trong biển máu, lý do là không có một đường lối lãnh đạo đúng đắn. Điều này khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong một hoạt động có tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, đó là việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lêninvào nước ta. Dưới sự dẫn lối, soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư ưởng Hồ Chí Minh, trong hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sảnViệt Nam từng bước lớn mạnh và phát triển, không chỉ đủ sức lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại mà còn lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Nhận diện và kiên quyết loại bỏ quan điểm phiến diện, sai trái
Tuy Hồ Chí Minh không có những công trình mang tính chuyên luận nhưng tư tưởng, lý luận không nhất thiết sinh ra từ những cuốn sách dày cộm, ví dụ như tác phẩm của Không Tử, Lão Tử như Luận ngữ, Đạo đức kinh chỉ là những lời giảng đạo của hai ông, được người đời sau chép lại nhưng ai dám bảo các ông không phải là nhà tư tưởng, sáng tạo học thuyết. Hơn nữa, một người có trí tuệ lỗi lạc uyên thâm như Hồ Chí Minh, muốn viết lý luận kiểu hàn lâm không phải không làm được nhưng với người dân Việt Nam với đại đa số là nông dân và cần phải nắm những vấn đề chính để vận dụng làm cách mạng nên cách nói, cách viết phải dễ hiểu, dễ nhớ vì lý luận là để áp dụng thực tế. Người phê phán: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem”. Do đó, nếu nói không có tư tưởng Hồ Chí Minh thì nói như giáo sư Trần Văn Giàu, “nói rằng không có gì là tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng giống như nói rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là nhanh tay, lẹ chân chìa cái rổ ra hứng quả chín đang rơi; cũng như nói rằng Pháp vốn là người thừa kế truyền thống cách mạng năm 1789 nên vui lòng nhả miếng mồi Đông Dương, cũng như nói rằng Mỹ giàu sụ rồi không thiết nghĩ gì đến Việt Nam nữa, bèn rút nửa triệu quân và 1.000 máy bay về nước cho đỡ mệt và lo… Tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng chỉ đạo trong suốt thời kỳ lịch sử cách mạng và kháng chiến dài nửa thế kỷ”. Tư tưởng đó của Người là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thu được những thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói “nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”
Cứu nước, cứu dân là mục tiêu duy nhất và nhất quán của Hồ Chí Minh trong hành trình bôn ba các châu lục.
Nhìn lại lịch sử có thể thấy rõ, nếu chỉ vì “tìm sinh kế” cho cá nhân, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tham gia cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ và chỉ cần tiếp tục theo học các trường bản xứ ở ngay trong nước và trở thành một công chức có cuộc sống thuận lợi trong bộ máy chính quyền thuộc địa. Con đường này rộng mở và ít hiểm nguy hơn rất nhiều so với con đường đi ra nước ngoài với hai bàn tay trắng.
Mục tiêu ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện ở quyết tâm cao độ, dám lựa chọn con đường đầy những chông gai, thử thách, mà còn được khẳng định qua những suy nghĩ, việc làm của Người trong suốt hành trình bôn ba ở nước ngoài.
Làm phụ bếp, công việc rất vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc.
Luôn theo đuổi mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ I họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Hồ Chí Minh đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ. Tuy Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị đếm xỉa đến. Song, nó giúp Hồ Chí Minh “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(9).
Cứu nước, cứu dân cũng là lý do để Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trả lời câu hỏi tại sao gia nhập Đảng, Người nói rõ: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Và cũng trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã gặp được “Luận cương các vấn đề về dân tộc và thuộc địa của Lênin” và từ đó dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Chủ nghĩa Mác- LêNin không lỗi thời trong thời đại ngày nay
Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng với việc nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng, với việc khám phá ra những quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang trang bị cho chúng ta những phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thế giới. Thực tế hiện nay, chính trong các nước tư bản vẫn đang phải thừa nhận tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh mới và vẫn đang phải tích cực học tập chủ nghĩa Mác. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”. Chương trình Thời đại chúng ta phát trên sóng phát thành radio 4 của Đài BBC của Anh tổ chức thăm dò với 3 vạn phiếu phát ra: Kết qủa trong số 20 triết gia vĩ đại được đưa ra để lựa chọn, Mác được chọn là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại từ trước đến nay bởi những cống hiến khoa học xuất sắc của ông. Còn theo kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Campridge (Anh) công bố năm 1999. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra ở phố Wall của nước Mỹ, cả thế giới tư bản phải quay trở lại tìm đọc Bộ Tư bản của Mác để mong tìm ra lời giải đáp thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, nên năm 2008 - 2009, Bộ Tư bản của Mác trở thành cuốn sách bán chạy nhất thế giới. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C.Mác mà họ không biết”. Còn các tác phẩm của Lênin vẫn xếp vị trí số 1 và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 thứ tiếng. Như vậy, chính thế giới tư bản chủ nghĩa đã khẳng định chủ nghĩa Mác không lỗi thời trong thời đại ngày nay như một số luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.




