Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2022

BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA LÊNIN!

         Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.
Vì vậy, bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin cũng là bảo vệ những giá trị, nền tảng căn cốt của chủ nghĩa Mác.

Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.
Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.
Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS.

Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN.
Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ nghĩa Mác đã được
tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản.

Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù.

Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn.
Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức CNXH.

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa
Mác-Lênin
Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH./.
 (1) V.I.Lênin, toàn tập, tập 44, NXB Tiến bộ, Moscow, 978, tr.179.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.8.
Yêu nước ST.

ĐIỀU GÌ KHUẤT TẤT VỀ DANH PHẬN MÔN SỬ TRONG NHÀ TRƯỜNG?

*Diễn biến 1:
      Bắt đầu, từ Nghị quyết (88/2014/QH13) của Quốc Hội (28/11/2014), về “Đổi mới chương trình và Sách giáo khoa giáo dục phổ thông”.
     Tiếp đến, Quyết định (404/QĐ-TTg), của Chính phủ (27/3/2015), phê duyệt: “Đề án Đổi mới CT và SGK giáo dục phổ thông”.
     Tiếp đến nữa, ngày 5/8/2015, BGD- ĐT, công bố “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”.
      Điều đáng nói, theo Dự thảo, không có môn Lịch sử riêng, mà tích hợp vào môn Giáo dục công dân, gọi chung là: “Công dân với Tổ quốc”. 
      Bị dư luận phản đối, buộc hệ thống chính trị phải vào cuộc.
     Ngày 27/11/2015, trong phiên bế mạc kỳ họp thứ 10 (QH khoá 13), đã ra Nghị quyết: “Tiếp tục giữ môn Lịch sử trong Chương trình và Sách giáo khoa mới” (Kết quả bỏ phiếu, ảnh dưới).
      Để rốt ráo vấn đề hệ trọng, ngày 7/12/2015, Ban tuyên giáo Trung ương, đã tổ chức buổi làm việc với Hội Khoa học Lịch sử và Bộ giáo dục và Đào tạo. 
     Tại cuộc họp này:
     •BGD- ĐT, buộc phải thông báo, bỏ môn: “Công dân với Tổ quốc”.
     •Hội KHLS do GS. Phan Huy Lê (Chủ tịch”, đã khẳng định: “Lịch sử là môn Quốc sử…phải thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, phải là môn học bắt buộc…”
     •Về phía Ban TGTƯ, ông Vũ Ngọc Hoàng (Phó Trưởng Ban), chủ trì buổi làm việc, đã kết luận: “Vai trò môn lịch sử trong xã hội là rất cần thiết, cần phải tôn trọng môn học và được thể hiện trong chương trình và sách giáo khoa mới”.
      Cũng trong cuộc họp này, theo GS. Vũ Quang Hiển, (người dự họp), cho rằng: “BGD- ĐT chỉ tiếp thu với tinh thần có mức độ!”.
     Và rồi, hai năm sau, Bộ GD- ĐT công bố: Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới (2018).

*Diễn biến 2:
      Bẵng đi nhiều năm, bỗng gần đây, Đài Truyền hình VN (VTV1), đưa tin: Từ năm hoc 2022- 2023, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới ở bậc THPT. Theo đó môn Lịch sử (học từ lớp 10), thuộc diện môn Tự chọn!
      Một tin, làm chấn động nhân tâm con dân nước Việt. Muôn dân, từ ngơ ngác, ngạc nhiên; đến bất bình, phẫn nộ! Một làn sóng phản đối, đa chiều, đa cấp độ, nóng cháy dư luận, trên mạng xã hội. 
      Nếu trắc nghiệm, đồ rằng sẽ có trên 99% dân chúng không chấp nhận cách làm của Bộ GD- ĐT.
      Ở xứ ta, mỗi khi có sự cố, nhà chức trách lại biện minh, cố dây dưa để làm chìm dư luận! Lần này, không phải Bộ, mà là ông Nguyễn Minh Thuyết (GS- Tổng chủ biên CT, SGK mới). 
      Ông khẳng định: “ Chương trình GDPT mới, đã thực hiện nội dung giáo dục Lịch sử, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân một cách đầy đủ”. 
     Xin thưa, “đầy đủ” là thế này đây: 
     Ở Tiểu học, học nhập nhoà chung với các môn khác; ở THCS ghép chung với môn Địa lý (Sử- Địa); ở THPT, lúc đầu nhập vào môn Công dân, nay biến thành môn Tự chọn!
    Thực chất, Bộ GD- ĐT, đã làm trái với:
     - Nghị quyết 88 của QH khoá 13.
     - Kết luận của Ban tuyên giáo Trung ương.
     - Đề nghị của Hội KHLS Việt Nam.
     - Suy rộng ra, trái với cả Tư tưởng Hồ Chí Minh: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà VN”. 
      - Và, trái đạo với Lịch sử dân tộc và làm náo lòng muôn dân nước Việt…

     Lịch sử VN rất đặc biệt, so với Thế giới, bởi nó kết tinh bằng máu của hàng trăm cuộc đấu tranh, giao tranh, suốt dọc dài Lịch sử. Là sức mạnh nội tại vô bờ, để nhân dân Việt tồn sinh vững chãi cho đến ngày nay!
     Mọi lý lẽ của nhà soạn sách là không thuyết phục. Nếu không nói là khuất tất! Hãy trả môn Lịch sử cho trường học, đúng trạng thái và sứ mệnh cao cả của chính nó!
Ảnh: QH bỏ phiếu giữ môn Lịch sử trong nhà trường!
Yêu nước ST.

TỔ TRUNG TÂM CỦA TỔNG HÀNH DINH!

         Hồi Trung tướng Lê Hữu Đức (1925-2018) còn sống, tôi hay đến nhà riêng của ông để hỏi về những chuyện cơ mật của Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng 1975, vì giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông là Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.
Có lần, tôi hỏi:

- Thưa ông, có người cho rằng, trong 8 lần dự thảo kế hoạch chiến lược của Tổ trung tâm thì lần thứ nhất đến lần thứ 6 do Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng chỉ đạo, còn hai lần cuối do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chỉ đạo...

Trung tướng Lê Hữu Đức hơi nhíu mày, rồi mỉm cười đôn hậu:
- Nói như thế là sai sự thật! Bởi bất cứ kế hoạch tác chiến một chiến dịch, một đợt, một giai đoạn, một năm... của Bộ Tổng Tham mưu, trước hết phải được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng thông qua, chúng tôi mới báo cáo các đồng chí trong Bộ Chính trị. Đó là nguyên tắc làm việc của Tổng hành dinh. Còn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, chỉ đạo trực tiếp Tổ trung tâm là 3 đồng chí: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng. Vậy làm sao có chuyện đó được?

Rồi ông kể: Sau Hiệp định Paris tháng 1-1973, Bộ Chính trị nhận định khả năng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu sẽ gây chiến, không chịu thực hiện hiệp định, buộc chúng ta phải dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do đó, tháng 4-1973, được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu thành lập Tổ trung tâm để xây dựng kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Tổ có 4 người, do Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn làm Tổ trưởng. Các ủy viên là Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng, hai Phó cục trưởng Cục Tác chiến Lê Hữu Đức và Võ Quang Hồ (tháng 6-1974, Cục trưởng Vũ Lăng vào Tây Nguyên giữ chức Tư lệnh mặt trận, đồng chí Lê Hữu Đức lên thay).

Nội dung nghiên cứu của Tổ trung tâm tập trung 5 vấn đề lớn: Nghiên cứu, so sánh lực lượng địch-ta sau Hiệp định Paris; chọn hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu của cuộc tổng tiến công và nổi dậy; phương pháp tác chiến chiến lược; những khó khăn cần khắc phục; cuộc tiến công bắt đầu từ năm nào là thích hợp nhất. Đó là những vấn đề rất khó khăn, hóc búa không những của Tổ trung tâm mà còn là nỗi trăn trở, tranh luận thẳng thắn, lắng nghe để đi đến thống nhất trong Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị.

- Thưa ông, 8 dự thảo của Tổ trung tâm chắc khác nhau về phương pháp tác chiến chiến lược?-tôi hỏi.

- Quá trình nghiên cứu, cũng có lúc ta nghiêng về tổng khởi nghĩa, đặt tổng khởi nghĩa lên hàng đầu thì phương hướng là các thành phố lớn, mục tiêu chủ yếu là Sài Gòn, Đà Nẵng, còn Tây Nguyên và Khu 5 là hướng phối hợp. Đó là dự thảo lần thứ 3 và thứ 6. Cũng có lúc là tổng khởi nghĩa, tổng công kích đi đôi với kế hoạch “giành thắng lợi ở miền Nam trong vài ba năm” thì mục tiêu số 1 vẫn là Sài Gòn nhằm tiêu diệt 3 sư đoàn địch, tạo điều kiện tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn, thực hiện phương châm: Đánh rắn phải đánh giập đầu!

Cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng từ ngày 18-12-1974 đến 2-1-1975 thông qua bản dự thảo cuối cùng của Tổ trung tâm mang tên “Kế hoạch chiến lược sắp tới” với 3 phương án, cuối cùng quyết định thực hiện phương án 1: Tổng tiến công thực hiện đòn tiêu diệt chiến lược đi trước một bước, tích cực thúc đẩy nhanh chóng, tạo điều kiện nổi dậy ở các thành phố trung tâm, phối hợp tổng tiến công và tổng khởi nghĩa thắng lợi. Cũng trong hội nghị đó, vấn đề Tây Nguyên và đòn hiểm Buôn Ma Thuột mới được quyết định!

- Thưa ông, những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, Tổng hành dinh làm việc như thế nào?

- Căng thẳng lắm nhưng vui và rạo rực lắm!-Trung tướng Lê Hữu Đức cười sảng khoái-tôi là Cục trưởng Cục Tác chiến nên thường xuyên làm việc với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Lúc này, anh Văn đã 65 tuổi, lại mới mổ thận, nhưng làm việc mỗi ngày 15, 16 tiếng đồng hồ. Anh ăn ngủ luôn ở Tổng hành dinh trên một chiếc giường đơn kê ở phòng làm việc. Đại tướng thức dậy từ lúc 4 giờ sáng, kiểm tra trực ban tác chiến và quân báo để nắm tình hình. Giao ban buổi sáng, sau khi nghe Bộ Tổng Tham mưu và các tổng cục báo cáo, Đại tướng bổ sung, giao nhiệm vụ, rồi viết mệnh lệnh chiến đấu. Còn đồng chí Lê Duẩn thì chủ trì các cuộc họp của Bộ Chính trị. Theo sự phân công của Bộ Tổng Tham mưu, cứ 19 giờ hằng ngày, tôi đến gặp anh Ba báo cáo tình hình chiến sự và xin ý kiến chỉ đạo. Ấn tượng về đồng chí Lê Duẩn đối với tôi là người có tầm nhìn chiến lược, luôn chăm chú lắng nghe ý kiến của mọi người, đề xuất những vấn đề mới, táo bạo trong chỉ đạo tác chiến.

Người đào tạo, giáo dục tôi nhiều nhất, để lại trong tôi những tình cảm sâu đậm nhất là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Lê Trọng Tấn. Cả hai anh đều dân chủ trong bàn bạc, thảo luận. Là nhà quân sự thiên tài nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp không bao giờ phủ nhận ý kiến của anh em chúng tôi, luôn gợi ý phát biểu để chúng tôi nêu chính kiến. Còn Đại tướng Lê Trọng Tấn là thủ trưởng trực tiếp của tôi, thường nhắc chúng tôi phải độc lập trong suy nghĩ. Đó là những tháng ngày hạnh phúc nhất của đời tôi!
Yêu nước ST.

CHUYỆN MÔN TỰ CHỌN..!

         Rất nhiều ý kiến của những người có tâm đã đưa ra. Sau khi đọc lời giải thích của ông Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên chương trình giáo dục mới) đăng trên VTC News.
Nay AD xin trích dẫn lại để mọi người cùng cho ý kiến và suy nghĩ. Quan điểm AD là lịch sử phải là bộ môn chính thức và học lịch sử dân tộc là học cả đời người. Có học lịch sử mới có tự tôn tự trọng tự hào trong nhân cách mỗi người.  

Bác Luc Nguyen chia sẻ:
Tôi phản đối những lập luận của Nguyễn Minh Thuyết và những người có quan điểm giống Nguyễn Minh Thuyết. 
    
Chưa nói đến âm mưu đánh tráo khái niệm nhằm mục đích lập lờ đổi trắng thay đen, lật sử trong Bộ sách lịch sử Việt Nam do nhóm người Trần Đức Cường, Phan Huy Lê biên soạn gần đây đã và đang gây phẫn nộ trong cộng đồng mạng Việt Nam. Trong thực tế, rất nhiều người Việt Nam (ở đủ mọi lứa tuổi) không thông hiểu lịch sử Việt Nam. Nhiều người nói thao thao bất tuyệt về các câu chuyện lịch sử, các nhân vật lịch sử Trung Quốc nhưng lại không biết gì hoặc có biết thì lại lẫn lộn theo kiểu: người Trung Quốc là anh, người Việt Nam là em nên em phải nghe anh; xưa kia đất Việt Nam là của Trung Quốc, Ngài Lý Thường Kiệt đánh giặc Ân, Ngài Ngô Quyền đánh quân Xiêm La, Ngài Lê Lợi đại phá quân Thanh, Quang Trung -Nguyễn Huệ đánh quân Nam Hán, ông Trần Hưng Đạo đánh quân Tống… ; họ ngồi nhậu và nói vanh vách về Lưu Bị , Quan Vân Trường, Trương Phi, Triệu Tử Long, Tào Tháo, Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm...
Nhưng lại không biết Lê Chân…, Phạm Ngũ Lão , Dã Tượng, Yết Kiêu… , Lê Sát, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích…, Nguyễn Hữu Cảnh, Đào Duy Từ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết… là ai.
     
Những năm gần đây, tình trạng học sinh thi tốt nghiệp PTTH bị điểm kém thậm chí có em bị điểm 0 môn lịch sử là do tội những người như Nguyễn Minh Thuyết trong nghành giáo dục chứ không phải là lỗi nhác học của các em học sinh.
   
Tôi phản đối những lập luận của Nguyễn Minh Thuyết và đề nghị những người có trách nhiệm cao nhất của Đảng, Nhà nước xem xét lại những lập luận đó của Nguyễn Minh Thuyết dưới giác độ, quan điểm chính trị.

Chú Phạm Bá Phước chia sẻ:
Ngụy biện. Đã từng yêu cầu bỏ điều 4 Hiến pháp, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phi chính trị công an, quân đội thì lẻo mép thế cũng là dễ hiểu. Trong kết cấu CHƯƠNG TRÌNH mới, thử hỏi đến lớp 9 học sinh học được gì về Lịch sử. Khi đến lứa tuổi có thể nhận thức đầy đủ và hoàn thiện phát triển nhân cách, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc từ Lịch sử thì người ta lại xoá bỏ môn học này. Rất thâm độc. 
LỊCH SỬ PHẢI LÀ MÔN HỌC BẮT BUỘC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GD PHỔ THÔNG.

Chú Mai Thanh Hải chia sẻ:
Xin lỗi giáo sư bỏ học một năm kiến thức cũng đã rơi rụng rồi huống chi 3 năm thì kiến thức sẽ về vạch xuất phát , nên việc quy định lịch sử là môn tự chọn ở cấp THPT thì đồng nghĩa kiến thức của các em sẽ rụng hết khi vào các trường đại học cao đẳng . Và nếu các em vào các trường kỹ thuật nữa thì càng lãng quên về lịch sử nước nhà . Điều đó rất nguy hại cho đất nước là thế hệ tương lai sẽ quay lưng lại đất nước do không hiểu về lịch sử dân tộc vì không được học đến nơi đến chốn . Đề nghi với giáo sư xem lại và đưa ra quyết định hợp lòng dân , phải xem lịch sử là môn học bắt buộc , thi bắt buộc ở mọi cấp học.

Bạn Hiển Vũ chia sẻ:
Lật sử, từ bỏ học sử, cho lịch sử là môn tự chọn dẫn tới học sinh bỏ học môn lịch sử là có tội với hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã hy sinh. Để cho đất nước và các vị có ngày hôm nay biết bao người đã đổ máu xương, công sức để các vị ăn trên ngồi trốc rồi phán linh tinh, các vị có biết như vậy là tự diễn biến, tự chuyển hóa không? Từ lớp 1-9 các cháu đã đủ hiểu biết, hiểu biết có chiều sâu để gi nhớ công ơn của lớp lớp anh hùng vì nước hi sinh chưa?

AD xin nói lại lần nữa:
Kẻ nào muốn xoá đi lịch sử, kẻ đó sớm muộn sẽ bị lụi tàn. Các ông sắp xuống hố đang cố tình phá thế hệ tương lai. Đừng biến thế hệ tương lai thành những người mất gốc. Vinh quang thuộc về lịch sử hào hùng của dân tộc. Tự hào thuộc về nhân dân Việt Nam.
Sông có thể cạn, núi có thể mòn, thời thế có thể luôn thay đổi. Song lịch sử của dân tộc Việt Nam phải luôn được ghi sâu vào trong tâm trí mỗi người con dân đất Việt!
Môi Trường ST.

SỰ ĐỀN TỘI CỦA KẺ LẬP RA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN HOÀNG CƠ MINH KHI CÓ Ý ĐỊNH "GIẢI PHÓNG VIỆT NAM"

         Cách đây gần 35 năm, ngày 28/8/1987, trên đường xâm nhập qua lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để vào Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân, Hoàng Cơ Minh, nguyên Phó đề đốc quân đội Sài Gòn, kẻ cầm đầu tổ chức phản động gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam" và tổ chức khủng bố Việt Tân, đã bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào phát hiện khiến chúng phải trả giá khi chưa kịp đặt chân vào Việt Nam.

Chiến dịch Đông tiến 2:
Sau khi “chiến dịch Đông tiến 1” tổ chức hồi tháng 8/1986 thất bại, rồi bị cộng đồng người Việt hải ngoại vạch trần âm mưu bịp bợm vì thực chất của “chiến dịch” này, chỉ là đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới tiếp giáp giữa Thái Lan, Lào, dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, và sau đó cho mặc quần áo rằn ri, vai đeo balô, tay cầm súng, lăn lê bò toài để quay phim, chụp ảnh, đưa về Mỹ tuyên truyền rằng, “mặt trận” đã thành lập được nhiều “khu chiến” bên trong lãnh thổ Việt Nam, thì Hoàng Cơ Minh, chủ tịch “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (từ đây gọi tắt là Mặt trận Hoàng Cơ Minh) cùng đám tay chân thân tín nhận ra rằng, trò lừa đảo của “mặt trận” đang có nguy cơ đổ bể.

Nếu như trước kia, hệ thống "phở Hòa" – là cơ quan kinh tài của “mặt trận”, có chi nhánh trên nhiều tiểu bang của nước Mỹ, liên tục kêu gào cộng đồng người Việt vào... ăn phở để góp phần ủng hộ “kháng chiến”, thì nay dù thúc ép, thậm chí hăm dọa, họ cũng chẳng vào. Những cuộc biểu tình do “mặt trận” tổ chức, người tham dự cũng ngày càng thưa thớt.

Đã thế, trong nội bộ “mặt trận” lại xuất hiện sự chống đối, nhiều người thẳng thừng gọi tổ chức Hoàng Cơ Minh là “kháng chiến tái nạm béo”, Hoàng Cơ Minh là chủ tịch lừa.

Vì thế, tên trùm phản động quyết tâm tiến hành một chiến dịch nữa nhằm tạo tiếng vang và lấy lại uy tín, hầu dễ bề quyên góp tiền bạc. Đầu tháng 7/1987, y cho di chuyển khoảng 130 người (cả số đang còn nằm lại ở biên giới Thái Lan, Lào sau “chiến dịch Đông tiến 1”, lẫn số từ Mỹ sang), đến một khu rừng thuộc tỉnh U Bon – Thái Lan, rồi móc nối với bọn thổ phỉ người Lào để thuê bọn này dẫn đường vượt qua đất Lào.

Theo kế hoạch - được Hoàng Cơ Minh đặt tên là “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động chia thành 4 bộ phận: Đó là “Quyết đoàn tiền phương”, gồm 40 tên do Phan Thanh Phương làm quyết đoàn trưởng (mỗi quyết đoàn lại chia thành nhiều dân đoàn, mỗi dân đoàn gồm 9, 10 tên), có nhiệm vụ mở đường. “Quyết đoàn Bắc Bình”, gồm 29 tên do Lê Đình Bảy làm quyết đoàn trưởng, đi giữa. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Huy, Trần Khánh, Võ Hoàng (là ủy viên trung ương mặt trận) cùng một số tên chóp bu khác.

Đi sau cùng là “Quyết đoàn Anh dũng” gồm 40 tên, do Khu Xuân Hưng làm quyết đoàn trưởng. Các quyết đoàn ngoài vũ khí cá nhân như súng AK, M16, lựu đạn, mìn claymore, còn có một hoặc hai khẩu B40, B41, và vài máy bộ đàm tầm hoạt động khoảng 3km.

Tất cả những thứ ấy, bọn chúng mua lại từ các nhóm thổ phỉ Lào hoặc từ các chợ trời vũ khí dọc theo biên giới Lào, Thái Lan. Riêng bộ chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, còn được trang bị thêm 2 khẩu cối cá nhân M79. Quần áo, giày dép, mũ nón chúng sử dụng cũng vậy, hầu hết đều mua ở chợ trời biên giới với đủ chủng loại.

Về lương thực, mỗi tên mang trên lưng 20 - 30 kg, gồm gạo, mì ăn liền, mắm muối, nồi niêu xoong chảo. Bên cạnh đó, các quyết đoàn còn được cấp một ít tiền kíp để mua lương thực nếu đi ngang thôn bản người Lào. Riêng các quyết đoàn trưởng và các ủy viên mặt trận, Hoàng Cơ Minh giao cho mỗi tên từ 2 đến 5 lượng vàng, một số USD và đồng bạt Thái Lan để... hối lộ bộ đội Lào nếu bị bắt!

Theo kế hoạch, cả bọn sẽ vượt sông Mê Kông, sang tỉnh Xa La Van – miền Nam nước Lào rồi từ đó, dưới sự dẫn đường của 20 tên thổ phỉ Lào, chúng sẽ đi về tỉnh Sê Kông và xâm nhập khu vực ngã ba biên giới, thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Tại đây, chúng sẽ lập căn cứ, tiến hành phục kích xe cộ, đặt mìn phá cầu, tấn công các đồn biên phòng Việt Nam để gây tiếng vang, tạo cơ hội cho bọn ở lại bên Mỹ, thúc ép cộng đồng người Việt góp tiền ủng hộ...

23 giờ ngày 18/7/1987, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh lên đường, đi đầu là “Quyết đoàn Tiền phương”. Càng đến gần biên giới Thái - Lào, bọn chúng càng hoang mang, lo sợ, nhất là những tên chỉ huy các quyết đoàn, dân đoàn vì chúng biết chuyến đi này không phải để dàn cảnh, quay phim, mà dữ nhiều, lành ít. Khi chỉ còn cách điểm tập kết là bờ sông Mê Kông ngăn đôi hai nước Lào, Thái Lan chừng 3km, Hoàng Cơ Minh sai “Quyết đoàn trưởng quyết đoàn Tiền phương” Phan Thanh Phương, cử một dân đoàn đi trinh sát.

Thế nhưng, 9 gã trong dân đoàn ấy chỉ đi khoảng 300 mét, rồi lủi vào bụi rậm nằm chờ đến giờ quay về báo cáo. Tuy nhiên lúc quay về, thì một tên trong “dân đoàn” bỗng dưng biến mất. (Do quá sợ hãi, gã vứt bỏ toàn bộ lương thực, súng ống, vạch rừng mò ngược trở lại rồi sau một thời gian sống chui lủi, khi nghe tin toàn bộ nhóm xâm nhập đã bị bắt hoặc bị giết, gã dạt về Campuchia, chạy xe ôm kiếm sống, cạch mặt “mặt trận” tới già).

Tin một gã “dân đoàn viên” bỏ trốn được Phạm Thanh Phương giấu kín vì sợ bị Hoàng Cơ Minh trừng trị mặc dù y rất lo gã kia ra hàng chính quyền, bộ đội cách mạng Lào. Trong suốt ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba của cuộc xâm nhập, Phương đứng ngồi không yên, lúc nào cũng nơm nớp.

Đám thổ phỉ Lào ở riêng một góc, lo sợ không kém vì chúng được trả tiền để dẫn đường, nhưng Hoàng Cơ Minh dùng dằng nửa đi, nửa ở khiến chúng như ngồi trên chảo lửa. Chúng không biết Hoàng Cơ Minh đang chờ một bộ phận nữa, là “đoàn đặc nhiệm” do Nguyễn Quang Phục, biệt danh Hải “xăm” cầm đầu.

Đoàn đặc nhiệm này chỉ gồm 7 tên nhưng hầu hết đã từng tham gia các sắc lính trong quân đội Sài Gòn nên dạn dày kinh nghiệm, được Hoàng Cơ Minh đặc biệt tin tưởng. Thế nhưng, lúc nghe tin Hải “xăm” không đến điểm hẹn vì bất ngờ lên cơn sốt rét, và cả “đoàn đặc nhiệm” còn cách nơi tập kết khá xa, nên Hoàng Cơ Minh đành ra lệnh cho Hải “xăm” khi nào hết sốt, sẽ dẫn quân đuổi theo các “quyết đoàn”. Việc Hải “xăm” bị sốt ít nhiều gây hoang mang trong hàng ngũ, và có tin đồn truyền tai nhau, rằng sốt chỉ là cái cớ để Hải “xăm” được nằm lại. 

Xẩm tối ngày 20/7/1987, Hoàng Cơ Minh cùng bọn phản động nhắm hướng sông Mê Kông thẳng tiến. Tại đây, nhóm thổ phỉ Lào đã thuê sẵn mấy chiếc ghe máy, mỗi chiếc có thể chở được 30 người nên việc vượt sông diễn ra êm ả. Nhưng ở bờ bên kia, là những vách đất cao, trơn trợt nên đám phản động phải mất hơn 10 phút mới trèo lên được.

Sau này, khi bị bộ đội cách mạng Lào bắt, nhiều tên phản động khai rằng, tinh thần của hầu hết các “dân đoàn viên” đã rệu rã ngay từ khi vượt sông, và chúng cầu mong chỉ vào sâu trong đất Lào chừng vài cây số để quay phim, chụp hình rồi rút về như “chiến dịch” trước. Thậm chí có tên trong khi trèo lên con dốc dựng đứng ở bờ sông, đã lén vứt đi mìn, lựu đạn và đạn.

Có tên giả bộ ngã trặc chân để mong được cho ở lại. “Dân đoàn viên” Nguyễn Văn Náo khai: “Lúc vượt sông, lợi dụng trời tối không ai để ý, tôi thả xuống nước 2 băng đạn và 1 quả lựu đạn. Tôi tính nếu đụng trận, tôi sẽ tìm cách trốn về Thái Lan”.

Vượt qua được bờ dốc, Hoàng Cơ Minh cho cả bọn nghỉ đêm. Bên các bụi tre, chúng ngủ chập chờn trong tư thế ngồi co quắp. Mờ sáng, sau khi nhai trệu trạo nắm mì gói vì không dám nổi lửa, chúng đi ngang một trảng lớn, cỏ mọc lưa thưa rồi bắt đầu leo lên dãy núi đá, sườn núi đầy những bụi cây nhỏ lúp xúp.

Đến 9 giờ, khi bọn phản động đang ở ngang lưng chừng núi thì bất ngờ trên trời có tiếng động cơ máy bay, rồi một chiếc máy bay trinh sát xuất hiện khiến đám phản động đứa lủi vào bụi cây, đứa lăn ra đất nằm im như chết.

Thoạt đầu, Hoàng Cơ Minh cùng bộ chỉ huy nhận định đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng khi thấy chiếc máy bay đảo đi đảo lại hai, ba vòng, chúng liền đặt câu hỏi, rằng đó chỉ là nhiệm vụ hàng ngày của Không quân cách mạng Lào trên vùng biên giới, hay chúng đã bị lộ?

Khoảng 10 phút sau, chiếc máy bay trinh sát biến mất, Hoàng Cơ Minh ra lệnh tiếp tục lên đường vì y tin rằng sự xuất hiện của chiếc máy bay chỉ là sự tình cờ. Các “quyết đoàn”, “dân đoàn” lầm lũi bước, mắt dáo dác nhìn chung quanh. Gần tối, khi đến cạnh một con suối lớn, Hoàng Cơ Minh cho dừng chân, bố trí đội hình phòng thủ và nấu cơm.

Bữa cơm một phần ăn với mắm kem còn phần kia nắm lại, để dành hôm sau. Bốn năm gã - trong đó có Nguyễn Văn Dũng lén lút mang theo được mấy bi đông rượu từ đất Thái, giờ tụm lại dưới bụi cây, chuyền tay nhau tu. Bị “dân đoàn trưởng” là Đỗ Bạch Thố phát hiện, chửi bới, Dũng toan chụp khẩu M16, lia cho Thố một băng nhưng đồng bọn ngăn cản. Sau này khi Dũng kiệt sức, chính tay Đỗ Bạch Thố đã dùng dây giày, xiết cổ Nguyễn Văn Dũng đến chết để trả thù hành động Dũng định bắn mình.

Sáng ngày thứ 5 của chuyến xâm nhập, bọn phản động khởi hành sớm. Lúc mặt trời lên, chúng nhận ra địa hình đang đi khá trống trải và nếu xảy ra đụng độ, sẽ chẳng khác gì phơi lưng ra làm bia. Hỏi nhóm thổ phỉ Lào dẫn đường, thì chỉ nhận được câu trả lời là cứ đi tiếp. Y như rằng, khoảng 8 giờ sáng, ở cuối đội hình bọn phản động bỗng vang lên từng loạt súng.

Trận chạm súng giữa bộ đội cách mạng Lào và nhóm phản động đi đoạn hậu diễn ra rất ngắn, cả hai bên không ai thương vong nhưng chứng tỏ rằng việc xâm nhập đã bị lộ và điều này khiến tinh thần của hầu hết bọn chúng đều hoang mang. Bất lợi hơn nữa là theo kế hoạch, các dân đoàn, quyết đoàn sẽ tìm cách tiếp cận với những bản làng người Lào trên đường đi qua để mua thức ăn tươi, cũng như tìm hiểu tình hình.

Nhưng nay cuộc chạm súng đã khiến chúng phải lùi sâu vào rừng trong lúc gạo, mì bắt đầu vơi dần. Đã vậy, một số tên từ Mỹ, Pháp, Nhật về, do không quen với khí hậu, địa hình, không quen với cuộc di hành chỉ bằng đôi chân nên đâm ra cáu kỉnh. Hầu như lúc nào cũng có những cuộc cãi vã - không ở dân đoàn này thì cũng ở quyết đoàn khác. Hơn 100 tên xâm nhập nhưng chỉ có 1 y tá. Các vết lở loét ở chân do giày thấm nước, vết rách ở tay, ở cổ do đá cắt, gai cào, muỗi đốt, vắt cắn, chỉ được rửa ráy, băng bó sơ sài nên nhiều tên bị nhiễm trùng, bước đi phải có kẻ xốc nách hoặc chống gậy.

Sau cuộc chạm súng, Hoàng Cơ Minh hạ lệnh đi nhanh hơn. Đến 4 giờ chiều, lúc lên tới một triền núi và khi nhóm phản động chuẩn bị dừng chân qua đêm, thì vài gã dân đoàn viên thuộc “Quyết đoàn Anh dũng” mò xuống những bụi tre phía dưới kiếm măng tươi. Chỉ vài phút sau đó, đột ngột tiếng súng AK nổ từng loạt dài, cùng tiếng la hét inh ỏi.

Lúc bọn lấy măng tháo chạy về, kiểm điểm lại thấy mất Nguyễn Văn Náo. Theo lời bọn chúng, một toán bộ đội cách mạng Lào đã bí mật bám theo, rồi bất ngờ tập kích, bắt sống Nguyễn Văn Náo. Điều này rất nguy hiểm vì Hoàng Cơ Minh nhận định, nếu Náo bị bắt, toàn bộ kế hoạch xâm nhập cũng như lực lượng và trang bị vũ khí của cả đoàn, coi như hoàn toàn bị lộ.

Đã đâm lao thì phải theo lao. Quay về cũng dở mà ở cũng không xong, Hoàng Cơ Minh ra lệnh đi tiếp. Đường đi càng lúc càng khó vì phải leo lên những tảng đá, tảng nọ chồng tảng kia. Sẩm tối, khi toán đoạn hậu báo cáo không thấy dấu hiệu bộ đội cách mạng Lào đuổi theo, Hoàng Cơ Minh mới dám cho dừng chân nấu cơm gần một con suối.

Để đề phòng, y chỉ thị cho các quyết đoàn trưởng, là từng dân đoàn lần lượt cử người xuống suối lấy nước chứ không đi đồng loạt. Lúc này, nhiều bếp lửa đã được nhóm lên, “dân đoàn viên” Trần Văn Thảo đang ngồi hong khô đôi giày thì phát hiện bóng người thấp thoáng. Gã hỏi lớn: “Ai đó?". Phía bên kia đáp lại một chữ ngắn gọn, nghe như tiếng Lào, rồi lập tức, hàng loạt đạn AK quạt xối xả vào đội hình bọn phản động, kèm theo những tiếng nổ tức ngực của đạn B40. Một quả B40 nổ ngay cạnh bếp cơm của “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Hòa khiến gã bật ngửa, đầu tung tóe máu.

Đến lúc ấy, cả bọn phản động vẫn không hay biết, rằng chúng đã bị một tổ dân quân Lào tuần tra biên giới phát hiện ngay từ khi chúng đang vượt sông Mê Kông. Và bởi vì lực lượng ở khu vực đó mỏng, hơn nữa chưa rõ nhóm phản động vượt sông có phải là nhóm đi đầu mở đường cho những nhóm tiếp theo hay không, nên bộ đội cách mạng Lào quyết định chỉ cử một toán nhỏ bám theo, trinh sát, tìm cách bắt tù binh đưa về khai thác, điều tra...
Môi Trường ST.

XÂY DỰNG Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Dựng nước đi đôi với giữ nước là vấn đề có tính quy luật xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là điều kiện đảm bảo cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai mặt của quá trình thống nhất có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời, vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, thúc đẩy lẫn nhau.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã họi chủ nghĩa là trách nhiệm của toàn dân tộc, là nghĩa vụ quyền lợi, vinh dự của mọi người Việt Nam. Để làm tròn nhiệm vụ đó, trước hết mỗi người Việt Nam cần phải có ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầy đủ và sâu sắc.

Ý thức bảo vệ tổ quốc xã họi chủ nghĩa của mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới là tổng hòa nhận thức, tình cảm, thái độ, niềm tin và ý chí quyết tâm biểu hiện ở hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng động dân tộc đối với sự nghiệp bảo vệ vững chắcđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nền tảng của ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là là sự kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghia yêu nước theo lập trường giai cấp công nhân. Đó là sự hòa quyện giữa ý thức dân tộc với ý thức giai cấp, giữa truyền thống với hiện đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Na m xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, yêu nước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, tình yêu giai cấp gắn với tình yêu dân tộc và tình yêu nhân loại, yêu thương con người.

Ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa  của mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới là sự kế thừa và phát huy, nâng lên tầm cao mới, chất lượng mới của ý thức dân tộ, ti h thần yêu nước, tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ lợi ích quốc gia, bản sắc văn hóa dân tộc, ý thức kiên cường, bất khuất không cam chịu nô lệ và cúi đầu trước mọi kẻ thù, quân cướp nước và bè lũ bán nước; là sự khát vọng vươn lên xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Đây là cơ sở xã hội rất sâu xa, bền vững cho sự hình thành, phát triển ý thức bảo vệ tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa của mọi người dân hiện nay. Song, ý thức bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa không hình thành tự phát, mà nó là kết quả của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng mang tính chủ động, tích cực, tự giác của toàn bộ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản  lãnh đạo và mỗi người thông qua nhận thức và hoạt động thực tiễn tạo dựng nên.

Làm chuyển hóa ý thức dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, nội dung chủ yếu, cốt lõi của việc xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Thực hiện mục tiêu đó, trong điều kiện hiện nay xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau:

Một là, vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, phải thường xuyên bám sát thực tiễn đất nước, khu vực, thế giới, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới…

Ba là, sử dụng tổng hợp và đổi mới toàn diện nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở trong xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Năm là, kết hợp công tác giáo dục với công tác tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Biện pháp xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa tập trung vào:

-  Chăm lo xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước  và kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại làm cơ sở  hiện thực, nền tảng vất chất để phát triển ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

-  Bằng công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách; thông qua giáo dục và tổ chức các phong trào cách mạng của nhân dân để xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội  chủ nghĩa cho mọi người Việt Nam trong thời kỳ mới.!

 

 

 

BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC QUA HƠN 35 NĂM ĐỔI

 

MỚI.

                                             -----------------------

 

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 25/1 đến ngày 01/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030; Báo cáo kết quả thực hiện  nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng.

 Đại hội diễn ra tại một thời điểm lịch sử trọng đại: Đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới và đạt được những thành tựu quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bât. Thời điểm lịch sử đã đặt ra cho Đại hội nhiệm vụ nhận diện bối cảnh phát triển mới, đề ra đường lối chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, bảo đảm chủ quyền, quốc gia giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước.

Hai là, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong phát triển kinh tế - xã hội; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa ; giữa độc ;ập tự chủ và hội nhập quốc tế… Phải kịp thời đổi mới  tư duy và hành động, thực hiện tốt công tác dự báo, bảo đảm đánh giá đúng, đầy đủ, kịp thời, chủ động thích ứng với những biến động khó lường của thế giới; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực , trong đó nội lực là quyết định.

Ba là, thể chế, pháp chế phải được xây dựng cơ bản đầy đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; cải cách bộ máy chính quyền các cấp, xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động là nền tảng. Coi trọng tính cân đối, hiệu quả trong tất cả các khâu huy động, phân bố, sử dụng các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Phải coi trọng đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là quản lý, phát triển và quản lý xã hội.

Bốn là, lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển  và sức mạnh của nhân dân.

 Năm là, xác định giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu trong phát triển đất nước để bắt kịp sự phát triển của khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu.

Những bài học trên đây có ý giá trị lý luận, thực tiễn to lớn, là cơ sở chính trị sâu sắc để Đảng ta đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại trong những thập niên tiếp theo.

Những thành tựu của đất nước trong hơn 35 năm đổi mới mà trực tiếp là trong nhiệm kỳ Đại hội XII bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt, hợp quy luật của Đảng; tinh thần đoàn kết, thống nhất; sự chung sức, đồng lòng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Từ thực tiễn lãnh đạo đất nước, Đảng ta đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ cách mạng thời kỳ mới, đó là:

Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển  sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lên nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị.

Hai là, phải đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên hết, trước hết. Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng.

Ba là, phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của công tác xây dựng Đảng, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ; cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu thực sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân.

Bốn là, xây dựng Đảng phải gắn kết chặt chẽ với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài; chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách; đồng thời xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá.

Năm là, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp; kiên trì, cầu thị, lắng nghe; không cầu toàn, không chủ quan nóng vội, mất cảnh giác và không tự mãn với thành tích đã đạt được. Đối với việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân rộng.

Những bài học kinh nghiệm trên sẽ được Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, không ngừng phát triển trong bối cảnh và tình hình mới.

 

 

 

Quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh trong đơn vị.


          Thường xuyên làm tốt công tác quản lý con người, quản lý tư tưởng bộ đội. Thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, quản lý đơn vị mọi mặt, phát huy dân chủ đề cao kỷ luật, triệt để chấp hành mệnh lệnh trong bất kỳ tình huống và hoàn cảnh nào, chủ động kiên quyết làm thất bại chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, ý đồ móc nối phá hoại nội bộ của ta, kịp thời phát hiện ý đồ phá hoại của địch để chủ động đối phó làm thất bại mọi âm mưu hành động phá hoại của chúng từ khi mới manh nha. Chủ động phát hiện những sơ hở thiếu sót của đơn vị trong quản lý nội bộ, phòng gian bảo mật, chấp hành các nội quy, chế độ ra vào doanh trại để chấn chỉnh kịp thời. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của bộ đội, không để kẻ địch lợi dụng, kích động, lôi kéo mua chuộc.

Nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội là một nội dung rất quan trọng, cấp thiết trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cư­ờng sức mạnh chiến đấu của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng. Thực hiện tốt các giải pháp trên góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố trận địa tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội  một nội dung biện pháp quan trọng trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động.

         

 

 

Không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của địch.

  

          Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị, phải đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng đối tượng và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị. Tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thường xuyên thông tin những diễn biến tình hình trong nước và trên địa bàn đóng quân, nhằm làm cho bộ đội thấy hết tính chất nguy hiểm, phức tạp của chiến lược "diễn biến hoà bình". Nắm vững phương châm: Tích cực, chủ động, kịp thời, kiên quyết, lấy phòng ngừa là chính. Trên cơ sở đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, luôn luôn đề cao cảnh giác với những phương thức tác động từ xa như: Đài phát thanh, tranh ảnh, băng hình, sách báo phản động đồi truỵ tác động thâm nhập vào đơn vị.

          Duy trì thường xuyên các hình thức thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, đọc báo, điểm báo, bản tin truyền thanh, bản tin tuần, thi tuyên truyền viên cũng như các hình thức sáng tạo khác. Khi cung cấp thông tin cho bộ đội phải bảo đảm tính tư tưởng, chân thực, có tác dụng giáo dục cho bộ đội và đẩy lùi các luồng thông tin từ các kênh không chính thức khác.

          Tích cực tổ chức cho bộ đội luyện tập thành thục các phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong đơn vị và khu vực đóng quân, thực hành tuyên truyền giáo dục về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù trong thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" với cách mạng nước ta cho nhân dân khu vực đóng quân. Kết hợp chặt chẽ giữa xây với chống, kịp thời đấu tranh với nhận thức tư tưởng sai trái trong cán bộ, chiến sĩ, nhất là những biểu hiện hoang mang dao động trước sự tấn công của chiến lược "diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch tiến hành với cách mạng nước ta. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với tự giáo dục, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong tập thể đơn vị, khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, chính xác và kịp thời.

        

Tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình” của địch.


          Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, chức năng trong lãnh đạo, tổ chức đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" của địch. Hàng tháng, hàng quý, trong từng nhiệm vụ, căn cứ vào nghị quyết của cấp trên, tình hình thực tiễn của đơn vị, nhất là tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, âm mưu, thủ đoạn cụ thể của địch ở khu vực đóng quân, xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp. Tập trung chăm lo giáo dục, rèn luyện đảng viên, nhất là nâng cao giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội, đơn vị, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Những yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống cho mọi cán bộ đảng viên, làm cho mỗi đảng viên của chi bộ, đảng bộ, thực sự mẫu mực về mọi mặt cho mọi người học tập và noi theo. Đồng thời, uốn ắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng. Động viên hướng dẫn đội ngũ đảng viên tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, đạo đức cách mạng. Coi đó là một nhiệm vụ bắt buộc của người đảng viên. Định kỳ kiểm tra rút kinh nghiệm kịp thời. Chi bộ, đảng bộ khuyết khích đảng viên tích cực tham gia và trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong đơn vị và khu vực đóng quân, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch.

          Chú trọng các biện pháp lãnh đạo quản lý tốt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Cần có kế hoạch quản lý chặt chẽ, phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo nắm chắc tình hình tư tưởng không để xẩy ra hiện tượng đột biến về tư tưởng. Kịp thời nắm bắt, giải quyết những tư tưởng mới nẩy sinh, nhạy bén trước những thủ đoạn, luận điệu chống phá của kẻ thù, những tác động tiêu cực của xã hội, mặt trái của cơ chế thị trường. Nắm chắc diễn biến tình hình mọi mặt định hướng kịp thời đúng đắn nhận thức, tư tưởng cho mọi người khi có tình huống tư tưởng nảy sinh, hạn chế thấp nhất những sai sót, tiêu cực có thể xẩy ra.

          Trong củng cố xây dựng tổ chức, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trong công tác kết nạp đảng viên, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ… Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác kiểm tra, giám sát. Kịp thời xử lý đúng đắn những trường hợp vi phạm có liên quan đến vấn đề chính trị, không để xẩy ra hậu quả nghiêm trọng. Phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, nhất là vai trò cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cán bộ chuyên môn và vai trò của quần chúng trong các hoạt động nói trên. Kịp thời thông báo bằng những hình thức thích hợp tình hình đất nước, quân đội, đơn vị các hoạt động phá hoại của "diễn biến hoà bình" nhất là khu vực đóng quân của đơn vị. Định hướng nhận thức đúng đắn giúp mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có ý thức cảnh giác cao, tin tưởng và chủ động trong các hoạt động. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiệm đơn vị và trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình" làm cho chi bộ, đảng bộ thực sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng ở đơn vị cơ sở. Trực tiếp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của địch từ cơ sở.

        

Tăng cường giáo dục chính trị tư tư tưởng, kết hợp chặt chẽ với huấn luyện quân sự để xây dựng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội


Xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa tư tưởng cho bộ đội phải được quán triệt vào quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác, trước hết là nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.

          Giáo dục, huấn luyện phải hướng vào bồi dưỡng năng lực cụ thể trong phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", "phi chính tri hoá" quân đội cho cán bộ, chiến sĩ. Trong huấn luyện, cần tổ chức huấn luyện cho bộ đội sát với yêu cầu nhiệm vụ phòng chống chiến lược "diễn biến hoà bình", phi chính trị hoá" quân đội. Thường xuyên bổ sung, hoàn thiện phương án chiến đấu đặc biệt coi trọng thành thục về kỹ thuật, chiến thuật, hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng, các bộ phận. Nắm vững phương châm và nguyên tắc để giải quyết đúng đắn, linh hoạt các tình huống phức tạp, nhất là các tình huống A2. Các nội dung huấn luyện phải quán triện rõ phương châm: "Lấy xây dựng bên trong là chính để hỗ trợ cho bên ngoài" và ngược lại. Quá trình giáo dục, huấn luyện phải được cụ thể hoá vào trong nhiệm vụ phòng chống "diễn biến hoà bình", sát với nhiệm vụ tác chiến khu vực phòng thủ, nhiệm vụ A2. Kết hợp giáo dục, huấn luyện toàn diện và trọng điểm, hết sức coi trọng các bộ phận hoạt động nhỏ bé, xa đơn vị và khi làm nhiệm vụ đột xuất.

          Công tác tư tưởng cần hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Trước khi bước vào giai đoạn huấn luyện mới, vào hình thức mới cần tổ chức quán triệt, nâng cao ý thức trách nhiệm trong huấn luyện cho bộ đội. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cần bám sát từng hình thức phù hợp. Đồng thời công tác tư tưởng cần bám sát từng đối tượng phân tích đúng, kịp thời diễn biến tư tưởng của bộ đội, để có biện pháp phối hợp với hoạt động giáo dục, huấn luyện tạo định hướng đúng đắn tư tưởng cho bộ đội.


Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Biện pháp quan trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 


 

Đại Hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”

Như vậy vấn đề xây dựng, chính đốn Đảng luôn là nhiệm vụ rất quan trọng, không chỉ một nhiệm kỳ, một giai đoạn mà cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong tình hình hiện nay, để xây dựng Đảng vững mạnh, đáp ứng đòi hỏi yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới, cần đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, một trong những yếu tố bảo đảm sự trưởng thành, vững mạnh của Đảng.

 Trong xây dựng Đảng về đạo đức, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là nội dung quan trọng vì nó là căn nguyên gây ra nhiều hệ lụy, thậm chí có nguy cơ làm tổn hại đến chế độ chính trị, làm suy yếu Đảng. Nhận diện và chống chủ nghĩa cá nhân là công việc không đơn giản bởi công tác này đòi hỏi đảng viên phải vượt lên chính mình.

1. Nhận diện chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân (cá nhân chủ nghĩa) là sự lệch lạc thái quá của con người cá nhân mà cái tôi đối lập, mâu thuẫn với điều thiện, điều tốt; mâu thuẫn và làm tổn hại lợi ích cộng đồng. Chủ nghĩa cá nhân trong chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam là sự biểu hiện tư duy và hành động lệch lạc của con người cụ thể nào đó, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân của mình, bất chấp lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân; đó là thái độ và hành động có hại cho cộng đồng (Đảng, Tổ quốc, nhân dân).

Có thể nhận diện chủ nghĩa cá nhân trong Đảng hiện nay trên năm mặt chủ yếu nhất sau:

Một, tách rời lợi ích của cá nhân mình với lợi ích của Đảng

Hai, chỉ vun vén cho lợi ích của cá nhân mình

Ba, coi cái tôi cao hơn tất thảy, bất chấp đường lối, chủ trương, điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước

Bốn, quan liêu, tham nhũng, lãng phí: Hồ Chí Minh coi tham nhũng, lãng phí, quan liêu là giặc nội xâm, thứ giặc nằm ngay trong mỗi người, nằm ngay trong tổ chức của hệ thống chính trị, có khi nó nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm.

Năm, phản bội Đảng, phản bội chế độ chính trị: Đây là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa cá nhân, đe dọa vận mệnh của Đảng, của chế độ chính trị, vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước và kỷ luật Đảng.

2. Một số giải pháp phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

Một là, chống chủ nghĩa cá nhân phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực, hiện nay cần coi trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và xây dựng tư cách người đảng viên. Vì Đảng là vấn đề “cốt tử” của cách mạng; “cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh”, Đảng có vững cách mạng mới thành công;  Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do từng đảng viên tốt…

Ba là, làm trong sạch môi trường văn hóa, đạo đức vừa là điều kiện, vừa là nhiệm vụ trọng tâm của chống chủ nghĩa cá nhân. Vì,  Môi trường văn hóa đạo đức trong sạch thì không có đất sống cho chủ nghĩa cá nhân.

 Như vậy, yêu cầu đặt ra trong xây dựng Đảng về đạo đức là phải nhận diện rõ biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để từ đó đấu tranh đẩy lùi, quét sạch từ trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng trong sạch, vững mạnh quyết định tới sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, sự tồn vong của chế độ. Hơn lúc nào hết, Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải thấm thía lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(11). Làm được như vậy sẽ góp phần xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, đấu tranh làm thất bại với âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng của các thế lực thù địch.

Chủ nghĩa Mác-Lênin truyền bá vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan


Ta phải khẳng định ngay rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin được truyền vào Việt Nam là kết quả tất yếu khách quan trong quá trình vận động của các yếu tố lịch sử trong và ngoài nước. Cần phải nhớ rằng xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, là một nước nô lệ. Trong hơn 80 năm trường nô lệ đó đã có nhiều hệ tư tưởng, nhiều đảng phái tồn tại, thu hút được một bộ phận nhân dân tham gia, hưởng ứng, thậm chí đã có những hành động cụ thể để giành độc lập nhưng đều bị Thực dân Pháp dìm trong biển máu, lý do là không có một đường lối lãnh đạo đúng đắn. Điều này khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong một hoạt động có tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, đó là việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lêninvào nước ta. Dưới sự dẫn lối, soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư ưởng Hồ Chí Minh, trong hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sảnViệt Nam từng bước lớn mạnh và phát triển, không chỉ đủ sức lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại mà còn lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Nhận diện và kiên quyết loại bỏ quan điểm phiến diện, sai trái


Tuy Hồ Chí Minh không có những công trình mang tính chuyên luận nhưng tư tưởng, lý luận không nhất thiết sinh ra từ những cuốn sách dày cộm, ví dụ như tác phẩm của Không Tử, Lão Tử như Luận ngữĐạo đức kinh chỉ là những lời giảng đạo của hai ông, được người đời sau chép lại nhưng ai dám bảo các ông không phải là nhà tư tưởng, sáng tạo học thuyết. Hơn nữa, một người có trí tuệ lỗi lạc uyên thâm như Hồ Chí Minh, muốn viết lý luận kiểu hàn lâm không phải không làm được nhưng với người dân Việt Nam với đại đa số là nông dân và cần phải nắm những vấn đề chính để vận dụng làm cách mạng nên cách nói, cách viết phải dễ hiểu, dễ nhớ vì lý luận là để áp dụng thực tế. Người phê phán: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: là quyết không muốn cho quần chúng xem”. Do đó, nếu nói không có tư tưởng Hồ Chí Minh thì nói như giáo sư Trần Văn Giàu, “nói rằng không có gì là tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng giống như nói rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là nhanh tay, lẹ chân chìa cái rổ ra hứng quả chín đang rơi; cũng như nói rằng Pháp vốn là người thừa kế truyền thống cách mạng năm 1789 nên vui lòng nhả miếng mồi Đông Dương, cũng như nói rằng Mỹ giàu sụ rồi không thiết nghĩ gì đến Việt Nam nữa, bèn rút nửa triệu quân và 1.000 máy bay về nước cho đỡ mệt và lo… Tư tưởng Hồ Chí Minh là toàn bộ tư tưởng chỉ đạo trong suốt thời kỳ lịch sử cách mạng và kháng chiến dài nửa thế kỷ”. Tư tưởng đó của Người là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và thu được những thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói “nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”


Cứu nước, cứu dân là mục tiêu duy nhất và nhất quán của Hồ Chí Minh trong hành trình bôn ba các châu lục.

 

Nhìn lại lịch sử có thể thấy rõ, nếu chỉ vì “tìm sinh kế” cho cá nhân, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tham gia cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ và chỉ cần tiếp tục theo học các trường bản xứ ở ngay trong nước và trở thành một công chức có cuộc sống thuận lợi trong bộ máy chính quyền thuộc địa. Con đường này rộng mở và ít hiểm nguy hơn rất nhiều so với con đường đi ra nước ngoài với hai bàn tay trắng.

Mục tiêu ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện ở quyết tâm cao độ, dám lựa chọn con đường đầy những chông gai, thử thách, mà còn được khẳng định qua những suy nghĩ, việc làm của Người trong suốt hành trình bôn ba ở nước ngoài.

Làm phụ bếp, công việc rất vất vả, cực nhọc suốt từ 4 giờ sáng đến 9 giờ tối, nhưng khi xong việc, Người lại tiếp tục đọc hoặc ghi chép đến nửa đêm mới đi nằm. Mục đích không gì khác hơn là để nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, từ đó sẽ giúp ích cho đất nước, dân tộc.

Luôn theo đuổi mục tiêu cứu nước, cứu dân, nên khi các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ I họp Hội nghị Vécxây (Pháp), với những lời hứa hẹn mở ra hy vọng mới cho các dân tộc thuộc địa về quyền dân tộc tự quyết, Hồ Chí Minh đã đề xướng việc gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, gồm 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ. Tuy Bản yêu sách đã không được các nước tham dự hội nghị đếm xỉa đến. Song, nó giúp Hồ Chí Minh “hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”(9).

Cứu nước, cứu dân cũng là lý do để Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Trả lời câu hỏi tại sao gia nhập Đảng, Người nói rõ: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Và cũng trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã gặp được “Luận cương các vấn đề về dân tộc và thuộc địa của Lênin” và từ đó dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin Người đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.

 


Chủ nghĩa Mác- LêNin không lỗi thời trong thời đại ngày nay


Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng với việc nắm vững phương pháp luận duy vật biện chứng, với việc khám phá ra những quy luật khách quan, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh mới hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang trang bị cho chúng ta những phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thế giới. Thực tế hiện nay, chính trong các nước tư bản vẫn đang phải thừa nhận tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh mới và vẫn đang phải tích cực học tập chủ nghĩa Mác. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”. Chương trình Thời đại chúng ta phát trên sóng phát thành radio 4 của Đài BBC của Anh tổ chức thăm dò với 3 vạn phiếu phát ra: Kết qủa trong số 20 triết gia vĩ đại được đưa ra để lựa chọn, Mác được chọn là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại từ trước đến nay bởi những cống hiến khoa học xuất sắc của ông. Còn theo kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Campridge (Anh) công bố năm 1999. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra ở phố Wall của nước Mỹ, cả thế giới tư bản phải quay trở lại tìm đọc Bộ Tư bản của Mác để mong tìm ra lời giải đáp thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, nên năm 2008 - 2009, Bộ Tư bản của Mác trở thành cuốn sách bán chạy nhất thế giới. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C.Mác mà họ không biết”. Còn các tác phẩm của Lênin vẫn xếp vị trí số 1 và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 thứ tiếng. Như vậy, chính thế giới tư bản chủ nghĩa đã khẳng định chủ nghĩa Mác không lỗi thời trong thời đại ngày nay như một số luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.