Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

 TCCS - Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước

Trước hết, con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).

Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.



Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên, ngày 1-1-1964_Nguồn: hochiminh.vn

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).

Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.

Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.

Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh(8).

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).



Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021_Ảnh: Tư liệu

Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc

Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.

Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.

Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.

Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.

Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. 

Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:

Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.

Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.



Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.

GƯƠNG TỐT - ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ



Chiều 20-4, trên đường đi làm về qua khu vực trước cửa Chùa Nghèo và Trường Mầm non An Đồng 2, xã An Đồng (An Dương, Hải Phòng), Đại úy Phạm Xuân Nha, Trợ lý Ban Tuyên huấn (Phòng Chính trị, Bộ CHQS TP Hải Phòng) nhặt được chiếc ví màu đen, nằm sát mép đường.


Ngay sau khi nhặt lên, anh Nha mời hai bác xe ôm đứng gần đó và một số phụ huynh đi đón con dừng lại cùng chứng kiến, kiểm tra ví. Trong ví, tuy số lượng tiền mặt không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng gồm: Giấy đăng ký xe máy mang biển kiểm soát 17B5-061.89, địa chỉ thôn Bắc Sơn, xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Phụ, Thái Bình) và nhiều loại giấy tờ: Căn cước công dân, giấy phép lái xe và thẻ ATM đều mang tên Nguyễn Thanh Tuấn có địa chỉ tại thôn Lam Cầu 2, xã An Hiệp (Quỳnh Phụ, Thái Bình). 


Anh Nha cùng mọi người nhận định, đây có thể là tài sản của phụ huynh đi đón con vào giờ tan học, hoặc của người lao động ở Thái Bình ra Hải Phòng làm việc. Ngay lúc đó, anh Nha báo cáo sự việc về cơ quan xin ý kiến chỉ đạo; đồng thời phối hợp cùng Ban giám hiệu Trường Mầm non An Đồng 2 để thông tin đến các phụ huynh. Cùng với đó, các đồng chí cùng công tác với anh Nha nhanh chóng đăng tải thông tin trên các Fanpage mạng xã hội Facebook, như nhóm: An toàn-Văn hóa giao thông Hải Phòng, nhóm Công nhân khu công nghiệp Vship... Chỉ sau gần 10 phút đăng tải, đã có người nhận diện được chủ nhân làm rơi ví. Ngay tối 20-4, anh Nguyễn Thanh Tuấn-chủ nhân của số tài sản đánh rơi đã liên lạc với anh Nha để hẹn nhận lại tài sản.


Sáng 21-4, tại Bộ CHQS TP Hải Phòng, anh Nguyễn Thanh Tuấn đã nhận lại chiếc ví của mình. Nhận lại toàn bộ giấy tờ và tài sản trong ví, anh Nguyễn Thanh Tuấn gửi lời cảm ơn chân thành và xúc động nói: “Tài sản tuy không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng, nếu không tìm thấy thì tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian để làm lại. Tôi thật may mắn vì người nhặt được số tài sản trên là một quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Các anh đã chủ động đăng tin tìm người bị mất, giúp tôi sớm nhận lại được tài sản của mình. Tôi luôn trân trọng và tự hào vì có các anh Bộ đội Cụ Hồ!"


-Nguồn+: Báo QĐND

 

Chủ nghĩa Lênin soi sáng con đường cách mạng Việt Nam

   Những tư tưởng vĩ đại về Đảng, về giai cấp công nhân và chủ nghĩa Xã hội, về kinh tế mới của Lênin thực sự là mặt trời soi sáng con đường cách mạng Việt Nam và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

Một trong những cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với sự nghiệp phát triển của học thuyết Mác, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân là lý luận về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. V.I.Lênin nhận định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng là cách mạng vô sản, lật đổ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản. Theo Lênin, nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là: lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; là người lãnh đạo quảng đại quần chúng giai cấp công nhân; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng tổ chức của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, đoàn kết thống nhất là quy luật trong xây dựng và phát triển của Đảng; tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng và phải thường xuyên đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng; chủ nghĩa Quốc tế Vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng.

Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bôsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng Mác xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.

Lần đầu tiên Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền

Với tư cách là Lãnh tụ của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917, V.I.Lênin là người mác-xít đầu tiên vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga, lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga Xô viết. Dưới ngọn cờ của V.I.Lênin, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới được hình thành; chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt; các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập dân tộc, làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc tan rã... Chính V.I.Lênin là người đã làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực; lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Xây dựng thành công chính sách kinh tế mới

Ngay sau khi giành được chính quyền, trong những năm 1917 - 1921 Nước Nga thực hiện“Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến” với cơ sở nền kinh tế phi hàng hóa, phân phối sản phẩm trực tiếp, đã tiến hành quốc hữu hóa công nghiệp, thương nghiệp, trưng thu lương thực thừa của nông dân, đình chỉ tự do buôn bán và trao đổi sản phẩm ở địa phương… Chính sách sai lầm đó gây ra khủng hoảng kinh tế vô cùng trầm trọng, làm cho quần chúng lao động, nhất là công nhân và nông dân thất vọng. V.I.Lênin kịp thời phát hiện ra sai lầm đó, với tinh thần phê phán nghiêm khắc đối với bệnh giáo điều, xa rời tình hình cụ thể của nước Nga, Người đã chỉ ra chính sách kinh tế mới (NEP). Với “Chính sách kinh tế mới” V.I.Lênin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực cho người lao động, nhờ đó nhanh chóng đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, làm cho chính quyền Xô viết non trẻ đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Trên con đường đi tìm độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp được Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Người đã thốt lên bằng niềm vui sướng tột cùng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ Lênin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định:“con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”; “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam đã tiếp thu cái tinh thần và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.


Chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những thắng lợi vĩ đại và thành tựu có ý nghĩa to lớn, lịch sử trên con đường cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức đan xen; Đảng và nhân dân ta vẫn luôn kiên định con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương cơ sở luôn quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, quan điểm của Đảng: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; coi đây là biểu hiện sinh động nhất của sự kiên định vận dụng sáng tạo quan điểm thống nhất trong nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản. 

Với công tác xây dựng Đảng, vận dụng tư tưởng của Lênin, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua các nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã ban hành hàng loạt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định về công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"… để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Nhờ đó, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng lên, Đảng luôn vững vàng và có những quyết sách phù hợp để chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả. Bản chất, lập trường giai cấp công nhân của Đảng được giữ vững; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và người đứng đầu các cấp từng bước được nâng lên; tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên có tiến bộ; việc ngăn chặn, xử lý tiêu cực, sai phạm, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí có chuyển biến rõ nét.

Đồng thời với đó, “Chính sách kinh tế mới” của V.I.Lênin được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn phát triển Việt Nam. Các kỳ Đại hội của Đảng đều khẳng định nền kinh tế nước ta có nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời cũng khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt về nhận thức nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ là một nền kinh tế nhiều thành phần, đã được khẳng định từ Đại hội VI của Đảng và tư tưởng này được các đại hội từ Đại hội VII đến nay kế thừa và đặc biệt gần đây nhất là các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII tiếp tục khẳng định, bổ sung và hoàn thiện với nhiều nội dung, biện pháp, chính sách mới. Không những thế, tư tưởng của Chính sách kinh tế mới còn được Đảng ta phát triển, mở rộng ở tầm cao mới, đó là phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế như văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo môi trường thuận lợi để huy động phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh; nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” nhằm thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Nhờ đó, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo ra các tiển đề quan trọng để tiếp tục phát triển đất nước./.

 

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

NGUY CƠ ĐÃ HIỂN HIỆN

 

Trước đây, chúng ta hay cảnh báo tư tưởng cổ vũ xét lại lịch sử, đòi đánh giá lại công – tội của các nhân vật lịch sử còn đang gây tranh cãi, thì, hiện nay, nguy cơ đó đã hiển hiện trước mắt chúng ta với những bài viết vinh danh những kẻ được coi là bán nước, cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ như Nguyễn Ánh. Họ đăng những dòng rất trịnh trọng, với những lời lẽ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công lớn với đất nước, kiểu như “kỷ niệm 260 năm ngày sinh vua Gia Long - vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn. Ông là vị vua có công rất lớn trong việc thống nhất, mở mang bờ cõi nước ta với vùng đất rộng lớn từ ải Nam Quan đến đất mũi Cà Mau”. Hoặc là những thông tin mang tính câu khách, tâng bốc Nguyễn Ánh hết lời, xem như một vị vua anh minh bằng lối diễn đạt đánh lừa độc giả “Phát hiện thú vị về vua Gia Long và những kế sách ngoại giao khôn khéo”.

Nguyễn Ánh, tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, sinh năm 1762, mất năm 1820, là kẻ đã năm lần bảy lượt cầu viện ngoại bang đem quân sang đánh nhà Tây Sơn, từ Xiêm La đến thực dân Pháp. Năm 1802, với sự suy yếu của vương triều Tây Sơn trước sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung năm 1792, cùng sự giúp đỡ của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh đã lật đổ nhà Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn (trước đây, tổ tiên của Nguyễn Ánh chỉ dám xưng chúa – sử gọi chúa Nguyễn). 


Trong suốt quá trình từ khi lưu vong nhờ vả ngoại bang đến khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã phạm những tội lỗi không thể dung thứ đối với người thân, gia tộc và đất nước. Để phục vụ mưu bá đồ vương của mình, Nguyễn Ánh đã làm một việc thất đức là dùng chính con trai mình - Hoàng tử Cảnh - làm con tin để cầm cố cho Pháp; Ánh thậm chí còn giết con trai mình là Hoàng tử Cải vì sợ bị tiếm quyền. Khi vợ là bà Phi Yến khuyên không nên cầu viện ngoại bang, Ánh đã giam bà đến chết. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã cho phá thành Thăng Long để chở gạch ngói vào Phú Xuân xây kinh đô Huế. 

Nếu cho rằng Nguyễn Ánh là người có công thống nhất giang sơn xã tắc thì đó là sự hồ đồ về lịch sử, bởi vì vào cuối thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh chiếm đoạt quyền hành nhà Lê ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ lập vương triều độc lập ở Đàng Trong, đất nước chia hai nửa Nam – Bắc phân tranh hơn 200 năm bất phân thắng bại. Chỉ đến khi anh em nhà Tây Sơn lãnh đạo nông dân khởi nghĩa thành công, đánh tan hai tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn cùng nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ, thống nhất Nam Bắc, giang sơn liền dải. Cũng chính Quang Trung là người đã lần lượt đập tan các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La ở phía Nam và Mãn Thanh ở phía Bắc. Trong khi đó, giống như Lê Chiêu Thống ở phía Bắc đã rước 29 vạn quân Mãn Thanh vào dày xéo đất nước mình nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân gia đình, dòng tộc mình thì ở miền Nam, Nguyễn Ánh đã quỳ gối mời giặc Xiêm La vào nước ta. Sau khi Xiêm La bị thất bại thì Nguyễn Ánh đã cầu viện giặc Pháp đánh nhà Tây Sơn hòng chiếm lại vương quyền. Thậm chí, khi nghe tin quân Thanh giúp Lê Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn và đã tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Ánh từng sai chở 50 vạn cân gạo ra giúp quan quân Tôn Sĩ Nghị (mặc dù âm mưu bất thành do giữa đường đi bị sóng to gió lớn đánh chìm). 

Năm 1787, hầu tước Montmorin đại diện cho vua Louis XVI của Pháp và Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles. Hiệp ước này gồm có 10 khoản, nội dung chính là vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại Nguyễn Ánh phải chấp thuận cắt cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp; cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam; phải cung cấp thủy thủ, tàu bè, lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông; mỗi năm phải đóng một chiếc tàu, y như tàu của nước Pháp đã cho sang giúp, để đem sang trả cho vua nước Pháp. Đổi lại, Pháp sẽ đưa quân đội, vũ khí sang giúp đánh nhà Tây Sơn. “Công lao” của Nguyễn Ánh chính là đã mở đường cho sự can thiệp của Pháp ở Việt Nam qua việc mời Pháp giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Công giáo tại Việt Nam. Nguyễn Ánh nếu đem so với Lê Chiêu Thống thì cũng là kẻ tám lạng, người nửa cân, giống nhau như hai giọt nước ở chỗ cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ, bán nước cầu vinh. Nguyễn Ánh đã gây dựng nên triều đình nhà Nguyễn - một triều đình trong suốt thời gian tồn tại 143 năm - luôn thỏa hiệp và cắt đất cho ngoại bang để giữ vững ngai vàng của mình. Chẳng hạn như phủ Trấn Ninh gồm các huyện Khám Liên, Quảng, Khang, Cát, Xuy, Mộc và Liêm rộng khoảng 45.000 km² được Nguyễn Ánh cống nạp cho vương quốc Vạn Tượng (nay là tỉnh Xiêng Khoảng của Lào) để nhận lấy sự ủng hộ của họ trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn. Năm 1827, nhà Nguyễn đã cắt huyện Sầm Nưa, phủ Trấn Biên, tỉnh Thanh Hóa cho nước Ai Lao; 3 huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh trước đây thuộc tỉnh Nghệ An nhưng đến năm 1840 nhà Nguyễn cũng cắt cho Ai Lao. Phủ Lạc Biên thuộc Việt Nam năm 1828, sau cũng được nhà Nguyễn cắt cho Lào, nay là Xavannakhet. Hay cam tâm tình nguyện để thực dân Pháp ngang nhiên cắt đất của tổ tiên dâng cho nhà Thanh theo Công ước Pháp – Thanh năm 1887. Khôn ngoan đâu chưa thấy, song lãnh thổ của Tổ quốc mất về tay ngoại bang là có thật, là sự thật hiển nhiên đau lòng, là tội nhân thiên cổ của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ánh chính là kẻ đã thừa hưởng thành tựu thống nhất giang sơn của hoàng đế Quang Trung. Thế nhưng, vì sao ngày nay những nhà sử học, trí thức “cấp tiến”, các tờ báo mạng lại trơ trẽn, tráo trở, bất trung, bất nghĩa vinh danh, ca ngợi Nguyễn Ánh? Và mục đích cuối cùng của hành vi này là gì? Câu trả lời của trò “lật sử” này chỉ có thể là tạo tiền lệ công nhận và đạo đức hóa hành vi rước ngoại xâm vào lãnh thổ của bọn ngụy quyền "VNCH", cuối cùng là tấn công và phủ nhận các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta trong thế kỷ XX nhằm rửa mặt cho Mỹ và bọn bán nước cầu vinh "VNCH"! Bọn chúng muốn hủy hoại lịch sử vẻ vang của nước ta. Giặc Xiêm La và các nhà truyền đạo phương Tây - công cụ hỗ trợ cho bọn thực dân kiểu cũ vào xâm lược Việt Nam cũng do một tay Nguyễn Ánh rước vào. Một số nhà sử học và thành phần “lật sử” khẳng định rằng việc xây dựng cố đô Huế, giờ là di sản thế giới chính là công lao của Nguyễn Ánh và nhà Nguyễn. Nhưng họ đã cố tình quên rằng về cơ bản nó là di sản của nhân dân, nhà Nguyễn cũng chỉ dùng sức lực, trí tuệ, của cải của nhân dân để xây dựng mà thôi. 

Tóm lại, Nguyễn Ánh chỉ xứng để so sánh với Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Nguyễn Ánh cùng phần lớn con cháu của mình đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của đất nước, ôm chân ngoại xâm để bảo vệ đặc quyền gia tộc mà bỏ qua lợi ích dân tộc. Mục đích của bọn “lật sử” khi hết lời ngợi ca Gia Long - Nguyễn Ánh đã rõ. Hãy luôn tỉnh táo để nhận rõ phải – trái, đúng – sai, công – tội nhằm đập tan âm mưu phủ định cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầy hào hùng của cha ông ta thế kỷ 20.

KHÁT VỌNG THỐNG NHẤT NON SÔNG!

     Theo cứ liệu lịch sử ghi lại, sau thất bại tại chiến trường Điện Biên Phủ. Thực dân Pháp bại trận, ngay sau đó Đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm. 

Ngày 20/7/1954, Hiệp nghị Giơ Ne Vơ được ký kết. Từ đó nước ta tạm chia làm 2 miền Nam - Bắc. Lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) làm ranh giới tạm thời để theo ký kết đến 7/1956 sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất trong cả nước…
Ngày ấy hàng ngàn cán bộ chiến sỹ, đồng bào và học sinh miền Nam tập kết ra Bắc với hi vọng 2 năm sau sẽ trở về quê hương.
Vậy mà Đế quốc Mỹ và bọn tay sai Mỹ đã tráo trở để độc chiếm miền Nam dựng lên chính quyền bù nhìn gây bao nhiêu đau thương tang tóc chia ly … và phải đến 21 năm sau (đến 1975) thì cầu Hiền Lương mới nối lại 2 bờ sông Bến Hải, Đất nước ta mới trọn niềm vui chiến thắng, Tổ quốc ta mới liền 1 dải từ Mục nam quan tới mũi Cà Mau.

Nhưng thế hệ chúng ta hôm nay cần phải biết rằng để có một 30/4/1975 để có được một nước Việt Nam thống nhất và có được cuộc sống hạnh phúc như ngày hôm nay, cha ông ta đã đổ biết bao xương máu. Hàng triệu người con của Tổ quốc, tuổi mới 18 đôi mươi đã ngã xuống cho Đất nước hồi sinh.
Trên thế giới có lẽ không có một đất nước nào có nhiều nghĩa trang liệt sỹ như đất nước Việt Nam ta. 

Chỉ với một Thành Cổ của Quảng Trị chỉ chừng 3 cây số vuông mà trong 81 ngày đêm đế quốc Mỹ và Tay sai đã dội xuống hơn 300 ngàn tấn bom đạn. Tương đương với 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hirosima Nhật Bản trong thế chiến thứ 2. Mỗi mét vuông đất ở Thành Cổ mà ngày ấy cha anh ta dành được là mỗi mét vuông máu và xương.

Nửa thế kỷ đã đi qua kể từ năm 1972 khi Quảng Trị giải phóng. 47 năm ngày Đất nước ta thống nhất. Thế hệ chúng ta được hưởng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc được cắp sách đến trường được hưởng trọn niềm vui chiến thắng mới càng thấy công ơn trời biển của lớp lớp cha ông ta đã ngã xuống vì sự trường tồn dân tộc.

Năm 2022, Chúng ta kỷ niệm 50 năm giải phóng quê hương Quảng Trị, 50 năm chiến thắng Thành Cổ và 47 năm thống nhất đất nước. Với lòng biết ơn và tri ân thế hệ cha ông với tình cảm yêu quê hương đất nước của một người con Quảng Trị chúng ta cùng nhau ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, kính cẩn nghiêng mình trước công lao trời biển của biết bao thế hệ cha ông đã không tiếc máu xương ngã xuống cho độc lập dân tộc, cho hạnh phúc, bình yên hôm nay...❤️
Yêu nước ST.

 KHẮC GHI LỜI BÁC: LÀM VIỆC GÌ CŨNG PHẢI HỌC 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ học sinh, sinh viên (HS, SV). Người thường xuyên thăm hỏi, động viên, khuyến khích HS, SV miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác coi HS, SV là nhân tố hàng đầu, quyết định vận mệnh của đất nước sau này.


Việc chăm lo đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng thanh niên, trong đó có lớp thanh niên trí thức-những sinh viên đang được đào tạo từ các trường đại học, cao đẳng, được Bác quan tâm đặc biệt. Theo Người, ở lứa tuổi thanh niên, sinh viên, việc giáo dục-đào tạo không phải là “cầm tay chỉ việc”, uốn nắn từng chút một, mà quan trọng là phải truyền được cho các em tinh thần tự học, tự khám phá, chủ động, sáng tạo, giúp các em định hướng được mục đích của việc tự học tập, tự xác định con đường phấn đấu cho tương lai. Chỉ như vậy, các em mới có thể kiên trì trên con đường học tập theo phương châm “Học, học nữa, học mãi”.


Tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ hai, năm 1958, Bác nhấn mạnh: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai?". Ngày 19-1-1959, tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Bác chỉ rõ: "Nói chung thanh niên phải chuẩn bị làm người chủ nước nhà. Muốn thế phải ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa..." và học "để phục vụ nhân dân, xây dựng Tổ quốc”. Bác nhắc nhở HS, SV Việt Nam rằng: “Làm nghề gì cũng phải học” và mục đích của việc học là để “nâng cao năng lực làm cho kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân càng no ấm, vui tươi”. Điều đó có nghĩa rằng, ngay cả đối với một bộ phận thanh niên không theo học đại học, cao đẳng, thì việc học cũng luôn là việc hết sức quan trọng. Học từ các lớp dạy nghề, học từ kinh nghiệm cuộc sống, từ người đi trước, tự học… để nâng cao lối sống tích cực, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp, ứng dụng được kiến thức vào lao động sản xuất và làm ăn kinh tế, làm giàu cho bản thân và xã hội. Bác cũng lưu ý HS, SV rằng, để việc học tập thành công và trở nên hữu ích thì học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi cùng thực tiễn. Theo Người, “chỉ biết lý thuyết mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa", "học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”...


Vâng lời Bác dạy, thế hệ HS, SV Việt Nam ngày nay nhận thức sâu sắc rằng, nhiệm vụ của thanh niên trí thức thời đại mới không chỉ là ra sức học tập để làm chủ tri thức, công nghệ mới, mà còn phải xác lập được cho mình lý tưởng đúng đắn. Những di huấn của Bác mãi là tình cảm, là tư tưởng, là định hướng và là kim chỉ nam cho các thế hệ sinh viên Việt Nam luôn cố gắng phấn đấu học tập, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.


Nguồn: Báo QĐND

 LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 

Ngày 25/4

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói chuyện tại Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, năm 1961. Người gửi đến quốc dân đồng bào thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự.

Theo Bác, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới thì phải huy động sức mạnh toàn dân mới thắng lợi, hoàn thành được. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,… phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội XHCN, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc. Với các tôn giáo, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người nhắn nhủ: Đoàn kết thì thành công và đại đoàn kết thì sẽ đại thành công.

Thực hiện lời Bác dạy về sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đề cao thực hành và giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó và đã trở thành lời thề danh dự của quân nhân. Tinh thần đoàn kết trong quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thực hiện chức năng đội quân công tác và tiếp tục phát huy tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn sát cánh cùng nhân dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn xung kích đi đầu trong giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, chung sức xây dựng nông thôn mới… góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, nhân dân và danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

 HỢP TÁC XÂY DỰNG ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM -TRUNG QUỐC HÒA BÌNH HỮU NGHỊ!

 Ngày 23-4, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc đồng chủ trì các hoạt động giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 7 năm 2022 tại huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng (Việt Nam) và huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).

Tại hội đàm, hai bên thống nhất đánh giá, mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch, song hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua vẫn được duy trì với các hình thức trao đổi linh hoạt, hiệu quả. Hai bên cũng đã tổ chức thành công hoạt động diễn tập chung quân y vào tháng 12-2021 tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam).

Ngay sau lễ đón, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa đã tiến hành lễ chào và tô son cột mốc 943, trồng cây hữu nghị tại Trung tâm Văn hóa hữu nghị Tà Lùng, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng (Việt Nam).


 LÒNG DÂN TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ


Chiều 29/4/1975, sau khi làm chủ căn cứ Đồng Dù, quân ta tiến theo quốc lộ 22 vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu địch. Hồi ấy, xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất, địch lập “vành đai trắng”, không có nhà cửa, dân cư như hiện nay, dọc đường quanh sân bay là vùng đất trống trải, được rào bằng những hàng rào dây thép gai dày đặc. 


GIẢI PHÓNG VỀ THÌ CÒN SƠ TÁN GÌ NỮA 


Theo chỉ dẫn của chị Trung Kiên (nữ biệt động thành được giao làm nhiệm vụ dẫn đường cho Quân đoàn đánh vào nội thành Sài Gòn), bộ đội Quân đoàn 3 tiến theo hướng quốc lộ 22 đến ngã tư Bảy Hiền thì rẽ theo đường Hoàng Văn Thụ (ngày nay) đánh thẳng vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu địch.


Nhưng khi quân ta tiến đến ngã tư Bảy Hiền, quân địch chống cự rất quyết liệt. Ba chiếc xe tăng của ta bị địch bắn cháy, một số bộ đội hi sinh và bị thương. Trời tối, cấp trên ra lệnh tạm dừng tấn công, củng cố đội hình. 


Từ ngã ba An Sương nhìn về hướng Nam thấy có ánh đèn, Trung tá Huỳnh Nghĩ – Trưởng Phòng tác chiến Quân đoàn 3 (sau này là Thiếu tướng, Phó giám đốc Học viện Lục quân ở Đà Lạt) liền cùng một số anh em trinh sát và cán bộ tác chiến cắt đường đi tới. Đến nơi thấy một cụ già râu tóc đã điểm bạc ngồi cạnh bàn dưới ánh đèn. 


Thấy bộ đội ta vào, súng ống lỉnh kỉnh, cụ vẫn bình thản. Sau khi chào hỏi thấy cụ cười đáp lễ vui vẻ, anh Huỳnh Nghĩ thưa: “Sao ông không đi sơ tán, đánh nhau, bom đạn thế này, ngộ nhỡ…”. “Giải phóng về thì còn sơ tán gì nữa”, cụ bình thản trả lời. 


Anh Huỳnh Nghĩ hỏi và biết cụ là dân sở tại lâu năm thì rất mừng, liền thưa: “Từ đây vào sân bay Tân Sơn Nhất có đường nào khác không hay chỉ có đường đi qua ngã tư Bảy Hiền hả ông?”.


Cụ nói ngay: “Nhiều đường chớ, có đường tắt vô sân bay Tân Sơn Nhất. Bây giờ đang mùa khô, xe cộ đi lại được mà. Con tôi hàng ngày vẫn đi đường tắt vô làm trong sân bay. Sáng nó đi, chiều nó về. Nhiều bữa nó còn lấy honda chở tôi vô nhậu với anh em tụi nó ở trong đó nữa đấy”.


NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG - ÂN NHÂN CỦA QUÂN ĐOÀN 3 


Mừng quá, anh Huỳnh Nghĩ mạnh dạn hỏi: “Chúng tôi đang bị kẹt ở ngã tư Bảy Hiền, ông có thể dẫn chúng tôi đi đường tắt để đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu địch được không ạ?”. 


Cụ đăm chiêu suy nghĩ ít phút rồi khảng khái nói: “Được, để qua đóng bộ (mặc quần áo đàng hoàng) rồi dẫn các ông đi”. 


Nhờ có cụ già Nam Bộ dẫn đường, bộ đội Quân đoàn 3 đổi hướng tấn công, chỉ để một bộ phận nghi binh địch ở ngã tư Bảy Hiền, còn đại quân đánh thẳng từ hướng nhà máy dệt Thắng Lợi ngày nay, từ ngã ba An Sương tốc chiến tốc thắng vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu địch vào sáng 30/4/1975.


Mũi thọc sườn bằng lực lượng xe tăng, bộ binh thiện chiến dũng mãnh ào ào xung trận, tấn công bằng con đường ngắn nhất vào mục tiêu khiến địch vô cùng bất ngờ nên hoảng loạn, trở tay không kịp, chỉ đầu hàng và tháo chạy. Quân đoàn 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. 


Lúc còn sống, Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ tâm sự với tôi: “Mình ân hận và tiếc mãi vì đánh nhau xong, thắng lợi rồi, Quân đoàn 3 rút về Tây Nguyên tảo trừ Fulro, trấn giữ miền Trung, chiến đấu bảo vệ biên giới và giúp nước bạn Campuchia khỏi họa diệt chủng, ra Bắc đánh quân Trung Quốc xâm lược… nên không có dịp gặp lại để tri ân cụ già Nam Bộ anh hùng ở ngã ba An Sương ngày ấy. 


Cụ là ân nhân của Binh đoàn Tây Nguyên ta. Nhờ có cụ dũng cảm dẫn đường mà Quân đoàn 3 sớm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu địch, giảm thiểu thương vong cho bộ đội. Công ơn của cụ lớn lắm. Đó là lòng dân trong cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập tự do của Tổ quốc mà cụ già Nam Bộ ấy là đại diện. Nó bừng sáng lên trong thời điểm khó khăn nhất.

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ: LÊ QUANG LIÊM ĐÁP TRẢ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỌC PHÁ TẠI HẢI NGOẠI!

         Trên FB của mình Lê Quang Liêm đã có stt đáp trả khi bị chọc phá tại hải ngoại sau khi kỳ thủ xuất sắc này rước Quốc kỳ Việt Nam trong lễ tốt nghiệp đại học tại Mỹ ngày 13/05/2017:
"Facebook vốn là nơi để kết nối bạn bè, để chia sẻ cảm xúc vui buồn trong cuộc sống. Cũng như rất đông các bạn trẻ khác, tôi cũng thường dành một khoảng thời gian hàng ngày để lướt fb, để cùng bạn bè, người thân chia sẻ những cảm xúc, những kỷ niệm trong cuộc sống. Và cũng như mọi thanh niên khác, ngày tốt nghiệp đại học luôn được xem là một trong những cột mốc quan trọng trong cuộc đời một sinh viên. Vì vậy các trường đại học ở Mỹ luôn dành cho lễ tốt nghiệp hàng năm một nghi thức trọng thể, trang nghiêm nhưng rất thân mật, ấm cúng để ghi nhận kết quả đào tạo của trường.
Vì Hoa Kỳ là một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hoá và là cường quốc số 1 về nhiều lĩnh vực, do đó đã thu hút sinh viên từ khắp nơi trên thế giới từ Âu, Mỹ, Á, Phi. Môi trường học tập đại học ở Mỹ vì vậy cũng rất thú vị. Tôi đã có cơ hội quen biết rất nhiều bạn bè từ nhiều quốc gia khác nhau, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị,… Chúng tôi thường trao đổi và chia sẻ với nhau các đặc điểm văn hoá của dân tộc mình. Tôi vui và cảm thấy hạnh phúc về điều đó. Các bạn nào đã từng trải qua môi trường sinh viên quốc tế ở các nước có lẽ cũng sẽ có những cảm nghĩ tương tự.
Các sinh viên tốt nghiệp năm nay của trường ĐH Webster đến từ 33 quốc gia khác nhau, sinh viên tốt nghiệp trẻ nhất mới 19 tuổi, sinh viên “già” nhất là 85 tuổi. Đó cũng là nét rất đặc biệt trong các trường ĐH ở Mỹ nói chung, nói lên rằng tri thức là thứ tài sản quý giá nhất mà mọi người đều ao ước đạt được. Đó là một điều rất thực, không phải là những câu khẩu hiệu giáo điều mà chúng ta thường được nghe hàng ngày.
Trong lễ tốt nghiệp, trường chọn ra 33 sinh viên đại diện cho 33 quốc gia để rước quốc kỳ nước mình lên lễ đài. Đó là nghi thức truyền thống của trường. Nghi thức này có ý nghĩa biểu tượng đặc trưng của văn hoá Mỹ, luôn mở rộng cửa cho mọi người, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, quan điểm chính trị. Trong số sinh viên Việt Nam tốt nghiệp năm nay, tôi được trường Webster chọn làm người đại diện cầm cờ quốc gia là vì những thành tích tương đối nổi bật của tôi so với các sinh viên đồng hương khác: ngoài hạng tốt nghiệp “Summa Cum Laude” của 2 bằng cử nhân ngành Finance và Management ra, tôi là Chủ tịch Câu Lạc Bộ Tài chính trường ĐH Webster, là Captain của đội tuyển cờ vua Webster đã cùng đồng đội đoạt và giữ vững Cúp Vô Địch các trường ĐH toàn Liên Bang Hoa Kỳ trong 4 năm liên tiếp từ 2013 đến 2017. Các bạn nên biết rằng ở Mỹ lực lượng vận động viên xuất sắc nhất là từ các đội tuyển của các trường ĐH, và trong lịch sử các trường ĐH Mỹ ở mọi môn thể thao chưa có trường nào đạt được thành tích đó. Đội cờ vua của tôi không chỉ đứng đầu các trường ĐH Hoa Kỳ mà tôi dám chắc là không khó để tranh 1 suất trong TOP 10 các đội tuyển Olympiad Cờ mạnh nhất thế giới, nếu Uỷ ban Olympiad cho phép trường Webster tham gia thi đấu với tư cách đội độc lập. Các bạn nghĩ xem tôi có quyền tự hào về điều đó hay không? Các bạn nghĩ xem tôi có xứng đáng ngẩng cao đầu khi nói “Tôi là người Việt Nam” đã làm được điều đó hay không?
Tôi biết rằng dân tộc Việt Nam có rất nhiều những người con ưu tú đã được cả thế giới ngưỡng mộ. Đó là những gương sáng cho tôi và bao bạn trẻ khác. Nhưng thế giới này rất rộng lớn và luôn luôn đủ chỗ cho tất cả chúng ta. Khi tôi đạt được một thành tích nào đó trong môi trường quốc tế, tôi luôn luôn tự hào mình là người Việt Nam, là một người con của dân tộc Việt Nam. Dòng máu Việt Nam luôn chảy trong trái tim tôi. Tôi không quan tâm đến vấn đề tôn giáo hay chính trị, tôi chỉ mong dân tộc Việt Nam được trường tồn và giàu mạnh, mong rằng mọi người Việt Nam hãy đoàn kết, tương trợ để cùng giúp nhau tiến lên. Việc tôi giương cao lá cờ Việt Nam trên lễ đài trường ĐH Mỹ trong ngày lễ tốt nghiệp là một việc rất bình thường ở đất nước tự do này, vì đó là lá cờ được quốc tế công nhận đang đại diện cho mảnh đất hình chữ S này. Đáng tiếc là một số người đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự việc vì một số động cơ không trong sáng nào đó. Vì vậy tôi buộc lòng phải block một số facebooker vì không muốn trang cá nhân của mình trở thành bãi rác. Tôi chỉ mong các friends của tôi hiểu rằng: mai kia cho dù tôi sống và làm việc ở đâu thì tôi vẫn luôn luôn là một người Việt Nam, vẫn hướng về dân tộc Việt Nam, vẫn mong muốn đóng góp một phần hữu dụng cho quê hương Việt Nam.
Với người Việt Nam thì dân tộc Việt Nam là trên hết!"./.
Yêu nước ST.

SÓI ĐÃ BẮT ĐẦU CHỒM LÊN CẮN VÀO LỊCH SỬ!

     Vừa có thông tin môn Lịch sử chương trình THPT năm học 2022-2023 sẽ là môn tự chọn. Ấy thế mà lũ sói đã bắt đầu chồm lên cắn vào lịch sử nước nhà rồi. Nhiều "nhà văn hóa Huế", "nhân sĩ, trí thức" đề xuất tỉnh Thừa Thiên - Huế đặt tên đường cho nhiều vị vua nhà Nguyễn. Trong số có Khải Định, vua bù nhìn, can tâm thần phục nước Pháp, vơ vét máu xương của nhân dân. 

Bác Hồ từng viết kịch "con Rồng tre" để chế giễu. Cụ Phan Chu Trinh có thư "Thất điều", vạch trần 7 tội của Khải Định đối với dân tộc Việt Nam. Họ lấy lý do đòi đề nghị chính quyền Thừa Thiên - Huế đặt tên đường là vì Khải Định là biểu tượng của nhiều công trình kiến trúc. Không lẽ họ không hiểu là lăng Khải Định được xây bằng máu xương và nước mắt của nhân dân ta, trong bối cảnh một cổ hai tròng dưới chế độ nửa thực dân nửa phong kiến. Nho sĩ đương thời Ngô Đức Kế viết về Khải Định:
Ai về địa phủ hỏi Gia Long,
Khải Định thằng này phải cháu ông?
Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ,
Trăm gia ba chục khổ nhà nông.
Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến,
Năm ngoái qua Tây ỉa vãi vùng.
Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ
Vua thời còn đó, nước thời không!

Vinh danh Khải Định ư? Vinh danh vì Định sẵn sàng luồn cúi, làm chó săn cho Pháp, làm nhục quốc thể, làm nhục dòng máu Lạc Hồng. Vinh danh kẻ hùa theo Pháp để đàn áp bóc lột nhân dân Việt Nam? Hy vọng Tỉnh ủy, HĐND, UBND Thừa Thiên - Huế cảnh giác, không để cho bọn phản quốc nhân danh "nhà nghiên cứu Huế" hay "nhân sĩ trí thức" được toại nguyện./.


Yêu nước ST.

Ý đồ “vẽ lại lịch sử”

Trong khi dư luận trong nước đang bàn cãi xem nên hay không nên để môn Lịch sử là môn học tự chọn thì một động thái rất đáng quan tâm ở hải ngoại liên quan đến vấn đề này. Đó là Hoàng Cơ Định (em trai của Hoàng Cơ Minh), một thành viên thuộc dạng "Khai quốc công thần" của Việt Tân đã cho xuất bản cuốn sách lịch sử "Đôi dòng Sử Việt". 

"Tôi luôn trân trọng Bộ đội Cụ Hồ"

 

Chiều 20-4, trên đường đi làm về qua khu vực trước cửa Chùa Nghèo và Trường Mầm non An Đồng 2, xã An Đồng (An Dương, Hải Phòng), Đại úy Phạm Xuân Nha, Trợ lý Ban Tuyên huấn (Phòng Chính trị, Bộ CHQS TP Hải Phòng) nhặt được chiếc ví màu đen, nằm sát mép đường.

Ngay sau khi nhặt lên, anh Nha mời hai bác xe ôm đứng gần đó và một số phụ huynh đi đón con dừng lại cùng chứng kiến, kiểm tra ví. Trong ví, tuy số lượng tiền mặt không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng gồm: Giấy đăng ký xe máy mang biển kiểm soát 17B5-061.89, địa chỉ thôn Bắc Sơn, xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Phụ, Thái Bình) và nhiều loại giấy tờ: Căn cước công dân, giấy phép lái xe và thẻ ATM đều mang tên Nguyễn Thanh Tuấn có địa chỉ tại thôn Lam Cầu 2, xã An Hiệp (Quỳnh Phụ, Thái Bình). 
"Tôi luôn trân trọng Bộ đội Cụ Hồ"
Anh Nguyễn Thanh Tuấn nhận lại tài sản từ Đại úy Phạm Xuân Nha. 

Anh Nha cùng mọi người nhận định, đây có thể là tài sản của phụ huynh đi đón con vào giờ tan học, hoặc của người lao động ở Thái Bình ra Hải Phòng làm việc. Ngay lúc đó, anh Nha báo cáo sự việc về cơ quan xin ý kiến chỉ đạo; đồng thời phối hợp cùng Ban giám hiệu Trường Mầm non An Đồng 2 để thông tin đến các phụ huynh. Cùng với đó, các đồng chí cùng công tác với anh Nha nhanh chóng đăng tải thông tin trên các Fanpage mạng xã hội Facebook, như nhóm: An toàn-Văn hóa giao thông Hải Phòng, nhóm Công nhân khu công nghiệp Vship... Chỉ sau gần 10 phút đăng tải, đã có người nhận diện được chủ nhân làm rơi ví. Ngay tối 20-4, anh Nguyễn Thanh Tuấn-chủ nhân của số tài sản đánh rơi đã liên lạc với anh Nha để hẹn nhận lại tài sản.

Sáng 21-4, tại Bộ CHQS TP Hải Phòng, anh Nguyễn Thanh Tuấn đã nhận lại chiếc ví của mình. Nhận lại toàn bộ giấy tờ và tài sản trong ví, anh Nguyễn Thanh Tuấn gửi lời cảm ơn chân thành và xúc động nói: “Tài sản tuy không lớn nhưng có nhiều giấy tờ quan trọng, nếu không tìm thấy thì tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian để làm lại. Tôi thật may mắn vì người nhặt được số tài sản trên là một quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Các anh đã chủ động đăng tin tìm người bị mất, giúp tôi sớm nhận lại được tài sản của mình. Tôi luôn trân trọng và tự hào vì có các anh Bộ đội Cụ Hồ!".

Nguồn: QĐND.

Khuyến khích bộ đội đọc sách

 

Khuyến khích bộ đội, nhất là chiến sĩ đọc sách vào ngày nghỉ, giờ nghỉ là một trong những nội dung được Sư đoàn 315 (Quân khu 5) quan tâm và triển khai thực hiện với nhiều cách làm hay.

Trong đó, mô hình “Mỗi tuần một cuốn sách" được tổ chức hiệu quả, từng bước hình thành văn hóa đọc ở đơn vị, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần, nâng cao hiểu biết, đồng thời giáo dục ý thức trách nhiệm cho bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ.

Gần hai năm triển khai mô hình “Mỗi tuần một cuốn sách” ở Sư đoàn 315 bước đầu mang lại kết quả tích cực. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đọc sách. Sư đoàn chỉ đạo đoàn thanh niên làm nòng cốt phát động sâu rộng trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động phong phú trong sưu tầm sách, đọc sách, bình sách...

Khuyến khích bộ đội đọc sách
Chiến sĩ Sư đoàn 315 đăng ký mượn sách ở đơn vị. 

Điểm nhấn của mô hình là mỗi tuần lựa chọn một cuốn sách hay để giới thiệu trong chương trình truyền thanh nội bộ và mục “Cuốn sách tôi yêu” trên trang Facebook “Dũng sĩ Núi Thành” của đơn vị, nhằm định hướng cho bộ đội đăng ký mượn, đọc sách tại thư viện. Một kết quả tích cực là từ khi triển khai mô hình đến nay, đã có gần 2.000 lượt cán bộ, chiến sĩ đăng ký mượn, đọc hơn 800 lượt cuốn sách ở nhiều thể loại. Thượng úy Nguyễn Duy Lý, Trợ lý công tác quần chúng, Phòng Chính trị sư đoàn giới thiệu: “Mỗi tuần một cuốn sách” là mô hình có ý nghĩa thiết thực, thu hút nhiều cán bộ, chiến sĩ đọc sách. Đặc biệt, mô hình đã định hướng cho chiến sĩ và đội ngũ sĩ quan trẻ biết lựa chọn những tác phẩm có nội dung hay để đọc, nghiên cứu, qua đó mở rộng kiến thức, hiểu biết về mọi mặt đời sống xã hội”.

Theo Thượng tá Nguyễn Thanh Nam, Chính ủy sư đoàn, thời gian qua, sư đoàn còn phát động phong trào cán bộ, chiến sĩ mỗi ngày dành thời gian đọc ít nhất một trang sách, từ đó khuyến khích bộ đội tìm đến tủ sách để đọc hoặc đăng ký mượn sách về đọc. Cùng với đó, trong giờ sinh hoạt đoàn hay những buổi văn hóa văn nghệ hằng tuần, các chi đoàn linh hoạt tổ chức giới thiệu một cuốn sách và tổ chức cho bộ đội giao lưu, kể những câu chuyện hay, vấn đề tâm đắc từ những quyển sách đã đọc.

Trong những buổi tọa đàm, diễn đàn thanh niên, ngày sinh hoạt chính trị, văn hóa tinh thần, bộ đội cũng có thể kể chuyện từ sách. Từ cách làm đó, các buổi sinh hoạt của đơn vị thêm phần sôi nổi, bổ ích. Binh nhất Phạm Ngọc Thạch, chiến sĩ Đại đội 16, Trung đoàn 143 bộc bạch: “Hồi còn ở nhà, tôi rất ít đọc sách. Nhưng hiện nay, tôi bắt đầu ham đọc sách và nhận thấy điều đó thật sự bổ ích”.

Cũng như Binh nhất Phạm Ngọc Thạch, Binh nhất Lê Thanh Long, Trung đội Vệ binh, Phòng Tham mưu sư đoàn cho biết: “Thời gian qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, gia đình, người thân, bạn bè không được đến thăm nên sách báo càng trở thành "người bạn" không thể thiếu của chúng tôi. Mỗi lần đọc sách, tôi lại rút ra được nhiều bài học bổ ích, những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, từ đó tiếp thêm động lực để tôi phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện”. Thượng tá Nguyễn Thanh Nam cho biết thêm, để có lượng sách phong phú, ngoài đầu sách được cấp, đơn vị còn trích quỹ mua thêm và vận động đoàn viên, thanh niên tích cực sưu tầm sách. Tuy nhiên, các đầu sách sưu tầm đều phải được kiểm duyệt nội dung trước khi đến tay bộ đội. Nhằm nâng cao hiệu quả của việc đọc sách, trong mỗi thời điểm, vào những ngày lễ lớn hoặc dịp diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, sư đoàn đều có định hướng để cán bộ, chiến sĩ đọc những cuốn sách có nội dung phù hợp. 

Để động viên bộ đội tích cực đọc sách, vào ngày nghỉ, giờ nghỉ, cán bộ đơn vị cũng hòa cùng chiến sĩ để đọc sách. Thiếu tá Trần Quý Đôn, Chính ủy Trung đoàn 143, Sư đoàn 315 và nhiều cán bộ khối cơ quan trung đoàn thường xuyên lên thư viện để đọc sách báo, nghiên cứu tài liệu, chuyện trò, tâm sự cùng chiến sĩ. Thiếu tá Trần Quý Đôn cho biết: “Sách ở thư viện được giữ gìn, bảo quản rất cẩn thận, đa dạng về thể loại, qua đó tùy theo sở thích, nhu cầu, trình độ để bộ đội có thêm nhiều lựa chọn. Ở thời điểm tháng 4 này, những quyển sách về lịch sử, truyền thống quân đội, quân khu, đơn vị và những trận đánh, vị tướng, nhân vật điển hình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được bộ đội tìm đọc nhiều nhất”.

Mô hình “Mỗi tuần một cuốn sách” cùng những cách làm hay ở Sư đoàn 315 đã và đang góp phần nâng cao nhận thức về văn hóa đọc, hình thành thói quen, kỹ năng đọc sách cho bộ đội, tạo nền tảng quan trọng cho việc học tập, giúp bộ đội phát triển tư duy, hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng.

Nguồn: QĐND.

Mỹ nâng mức báo động ở gần trụ sở Quốc hội sau vụ tự thiêu

 Nhà chức trách Mỹ đã nâng mức báo động ở khu vực gần trụ sở Quốc hội sau khi một người tự thiêu bên ngoài trụ sở Tòa án Tối cao Mỹ hôm 22/4

Đây cũng là vụ việc gây mất an ninh thứ hai trong vòng 1 tuần ở Đồi Capitol. Vụ việc không gây đe dọa đến an ninh công cộng, hiện chưa rõ tình trạng hiện tại cũng như nguyên nhân dẫn đến hành động tự thiêu của người này.

Trước đó vài ngày, trụ sở Quốc hội Mỹ đã phải sơ tán trong một thời gian ngắn sau khi cảnh sát phát hiện một máy bay mà họ cho là 'mối đe dọa tiềm tàng'. Tuy nhiên, sau đó cảnh sát xác định không có mối nguy hiểm nào. Cảnh sát quận Columbia cho biết, máy bay nói trên là máy bay quân sự, chở theo các thành viên của đội nhảy dù biểu diễn Golden Knights thuộc Lục quân Mỹ. Nhóm này có lịch trình biểu diễn ở sân vận động bóng chày của câu lạc bộ Washington Nationals, cách Đồi Capitol khoảng 2,5 km. 

Sau sự việc trên, Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi chỉ trích Cơ quan Hàng không liên bang Mỹ (FAA) vì sự tắc trách, không thông báo trước với lực lượng an ninh tại Đồi Capitol. Trong một tuyên bố sau đó, FAA thông báo sẽ khẩn trương xem xét vụ việc.

Son PB


Lời Bác dạy ngày này năm xưa

 


Kết thúc bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc lần thứ II ngày 25-4-1961, Bác nhắc lại câu khẩu hiệu mà lần đầu đã phát biểu cách đó 10 năm (1951) tại Đại hội hợp nhất Mặt trận Việt Minh-Liên Việt:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Tư tưởng về sự đoàn kết, đùm bọc được thể hiện qua cả nhiều câu ca dao, tục ngữ từ xa xưa, như: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng", hay "Lá lành đùm lá rách"... Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhất quán và xuyên suốt để tập hợp lực lượng cách mạng và là nhân tố quyết định sự thành công.

Phát huy tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân, không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đã tập hợp, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các tầng lớp nhân dân chung sức, chung lòng cùng Ðảng, Nhà nước vượt qua khó khăn, thử thách, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thắng lợi giành được trong hơn 75 năm qua của Quân đội ta do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó có xây dựng và củng cố ngày càng vững chắc khối đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế; tình yêu thương đồng chí và đồng đội, giữa những người đồng cấp, giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới; tình thương yêu, đùm bọc và giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương; sự phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng; sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Vì vậy, quân đội phải giữ vững khối đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Đây là những nhân tố vô cùng quan trọng, làm tăng thêm sức mạnh để Quân đội ta hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

HAIVAN

TÔN TRỌNG NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN, ĐÁNH GIÁ ĐÚNG MỨC ĐỘ SUY THOÁI, "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HOÁ"

 Trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình là công việc rất quan trọng. Bởi đây chính là cơ sở để từng tổ chức đảng xác định quyết tâm và đề ra các biện pháp đủ mạnh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Để làm tốt công việc ấy đòi hỏi cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ...”

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...”

Theo Ban Chấp hành Trung ương, nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

Đúng như Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII việc nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại các địa phương, cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là tình trạng vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn khi phân tích, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ chỗ đánh giá chưa đúng, nhận diện chưa đầy đủ nên chưa xác định rõ quyết tâm và thiếu các biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Nguyên tắc khách quan đặt ra yêu cầu khi đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải phản ánh trung thực với tất cả những bản chất vốn có của nó. Chúng ta tuyệt đối không được lấy ý muốn chủ quan để áp đặt, gán ghép cho sự vật, hiện tượng cái mà nó không có. Mọi biểu hiện tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện tượng đều là vi phạm nguyên tắc khách quan.

HỆ LỤY DO VI PHẠM NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ có quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện mới giúp chúng ta phân tích, đánh giá, nhận diện đầy đủ về sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó có quyết tâm và biện pháp giải quyết đúng đắn, hiệu quả các vấn đề.

Trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, cũng vậy, đánh giá đúng, nhận diện đầy đủ về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị là cơ sở để chúng ta xác định quyết tâm và đề ra biện pháp đủ mạnh nhằm tạo chuyển biến tình hình. Thế nhưng, hiện nay, việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện, đánh giá tình hình cũng như đề ra các chủ trương, giải pháp đang nổi lên nhiều vấn đề đáng bàn.

Thực tiễn cho thấy rất rõ tình trạng cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt và thực hiện chưa tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện trong đánh giá, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra khá phổ biến, biểu hiện dưới nhiều hình thức và để lại nhiều hệ lụy.

Đáng chú ý là tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có chức, có quyền mắc bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị. Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này thường nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, coi ý kiến của mình luôn đúng, thiếu tôn trọng ý kiến tập thể. Khi dân chủ trong sinh hoạt đảng không được tôn trọng và phát huy, đánh giá, nhận định chỉ dựa vào ý kiến của một người hoặc một nhóm người có quyền quyết định mà không nghiên cứu kỹ lưỡng, không mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, thấu đáo tình hình thực tế thì thường dẫn đến tình trạng ảo tưởng, chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ mà không tính hết những khó khăn, trở ngại phát sinh do cả yếu tố khách quan và chủ quan và chắc chắn những chủ trương, quyết sách ban hành sẽ không phù hợp, kém hiệu quả.

Cũng do quán triệt và thực hiện không tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện mà trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở không ít cấp ủy, tổ chức đảng thường nể nang, né tránh theo kiểu “đóng cửa bảo nhau”, tránh “vạch áo cho người xem lưng” hoặc xử lý sai phạm theo kiểu “nặng nhẹ tùy người”, “giơ cao đánh khẽ”... Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên mắc “bệnh thành tích”, “giấu khuyết điểm” vẫn chưa được khắc phục triệt để. Do bị ảnh hưởng của căn bệnh ấy mà mọi thành tích, yếu kém của các tập thể, cá nhân không được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan, toàn diện mà thường mang tính áp đặt chủ quan, không phản ánh đúng sự thật khách quan. Tình trạng này không chỉ khiến cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu không thấy hết được vấn đề, không xác định được quyết tâm và biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém mà còn khiến cấp trên nếu thiếu kiểm tra, thanh tra, giám sát cũng bị che mắt, khó nắm bắt, không hiểu đúng thực trạng tình hình cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo và làm cho cấp dưới suy giảm niềm tin, giảm sút ý chí quyết tâm phấn đấu.

Cũng vì thiếu công tâm, không khách quan, toàn diện trong nhận diện vấn đề nên cán bộ, đảng viên được phân công phụ trách mảng công tác nào thì luôn tìm cách che đậy các khuyết điểm, bảo vệ cho mảng công tác của mình. Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý lồng ý chủ quan của mình vào xem xét, đánh giá về sự vật, hiện tượng. Họ nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng chỉ qua lăng kính chủ quan của một người hoặc một nhóm người có thẩm quyền. Chắc chắn cách nhìn nhận, đánh giá như vậy thì không thể thấy hết được vấn đề và biện pháp đề ra cũng không thể phù hợp, hiệu quả.

ĐẨY LÙI CĂN BỆNH CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN

Muốn nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình, đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải giữ vững và vận dụng đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm gì và làm như thế nào để quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện hay nói cách khác là để phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh chủ quan, phiến diện một chiều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?

ể tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề này không hề đơn giản.

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một trong những phẩm chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”. Người cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cần phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực. Muốn có phương pháp, tác phong làm việc khoa học thì cán bộ, đảng viên phải có lý luận cách mạng và tri thức khoa học. Trình độ lý luận cách mạng và tri thức khoa học chính là nền tảng cho phương pháp, phong cách tư duy khoa học. Sự non kém về lý luận là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Khi không nhận diện đầy đủ về tình hình và mức độ thì khó mà có quyết tâm, hành động đúng đắn. Do vậy, trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, yêu cầu đầu tiên đối với đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên học tập, rèn luyện, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận, tri thức khoa học để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong tư duy, làm việc khoa học thiết thực, đáp ứng với nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, các cấp ủy đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải đề cao ý thức dân chủ, phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể cũng là biểu hiện của phương pháp, tác phong làm việc khoa học trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phát huy tốt tính năng động, sáng tạo, tích cực của quần chúng nhân dân trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nói chung, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị nói riêng.

Cùng với đó, để kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, xử lý kiên quyết, nghiêm minh những biểu hiện chủ quan, phiến diện, áp đặt ý kiến cá nhân gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân, cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đặc biệt là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu và những cán bộ lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền ban hành quyết định về chủ trương, chính sách.

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên tự giác rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả. Bởi đây là cơ sở nền tảng giúp cán bộ, đảng viên quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện, tránh mắc vào căn bệnh chủ quan, phiến diện. Nếu thiếu phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả thì căn bệnh chủ quan, phiến diện rất dễ tái phát.

Cùng với phát huy ý thức tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng của mỗi người, các cấp ủy, tổ chức đảng, cần quan tâm giáo dục, động viên tinh thần cầu thị, thái độ khiêm tốn tích cực học hỏi và tạo mọi điều kiện để cán bộ, đảng viên chủ động tiếp cận, cập nhật kiến thức mới, làm giàu tri thức, năng lực trí tuệ cho bản thân. Có trình độ lý luận, tri thức khoa học và tư tưởng tiến bộ là cách tốt nhất để cán bộ, đảng viên tôn trọng nguyên tắc khách quan, toàn diện, tự mình đấu tranh phòng ngừa, loại bỏ mọi biểu hiện chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.