Thứ Hai, 25 tháng 4, 2022

Giải quyết tốt mối quan hệ cán, binh

 

Mối quan hệ cán, binh trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam phản ánh tính thống nhất biện chứng giữa chỉ huy và phục tùng trên tình thương yêu đồng chí, đồng đội.

Đó được coi là biểu hiện cao nhất, thể hiện rõ nhất bản chất cách mạng của Quân đội ta. Đây cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về "Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới".

Nhìn lại lịch sử hình thành, phát triển của QĐND Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, ngay ngày đầu thành lập, 34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã hô vang 10 lời thề danh dự. Trong đó, lời thề thứ hai khẳng định: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Điều đó thể hiện mối quan hệ cán, binh được hình thành ngay từ đầu và xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của QĐND Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mối quan hệ này phát triển dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, mối quan hệ cán, binh hình thành trên tình thương yêu đồng chí, đồng đội, tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn “anh em một nhà” của những con người chung mục tiêu, lý tưởng. Đó là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ cán, binh, cấp trên, cấp dưới được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội học tập, khắc ghi.Trong thư gửi Hội nghị chính trị viên tháng 3-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”... Rất nhiều lần đi thăm các đơn vị quân đội và tại các hội nghị cán bộ quân đội, Người luôn nhắc nhở cán bộ phải làm gương cho chiến sĩ noi theo và không loại trừ cấp, chức nào. Người căn dặn: "Các chú là đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, hay tiểu đoàn trưởng, cũng chỉ là những người đặt kế hoạch và điều khiển đánh trận. Lúc ra trận, việc đặt mìn, phá lô cốt đều do tay anh em đội viên làm. Nếu anh em tư tưởng vững, chính trị vững, kỹ thuật khá, thân thể khỏe mạnh thì nhất định thắng. Trái lại, nếu anh em chính trị khá, nhưng quân sự kém, hoặc chính trị quân sự đều khá, nhưng thân thể yếu đuối thì cũng không thắng được"...

Hiện nay, mối quan hệ cán, binh ở các cơ quan, đơn vị được xây dựng trên cơ sở tạo dựng niềm tin, với yêu cầu đội ngũ cán bộ luôn "miệng nói, tay làm, tai lắng nghe", chủ động nắm tình hình tư tưởng của bộ đội, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh và định hướng nhận thức, hành động cho bộ đội một cách đúng đắn, phù hợp. Cán bộ và chiến sĩ coi nhau là người thân, biết chia sẻ, cảm thông, động viên nhau thực hiện nhiệm vụ được giao. Các đơn vị phải chủ động xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ; tuyệt đối không quân phiệt, nặng mệnh lệnh hành chính hoặc xa rời cấp dưới, chiến sĩ.

Tuy nhiên, sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường đã phần nào ảnh hưởng đến mối quan hệ cán, binh ở một số cơ quan, đơn vị. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra các biểu hiện: “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”. Thực tế vẫn còn cán bộ, đảng viên thiếu kiểm tra, đôn đốc, không sâu sát, nắm không chắc tình hình đơn vị, vì thế mắc vào “bệnh” xa bộ đội, lý luận suông; cách làm việc quan cách, cửa quyền, hách dịch, thiếu dân chủ hoặc chỉ biết mệnh lệnh hành chính, tạo ra không khí “căng như dây đàn” trong đơn vị. Điều đó làm phương hại đến tình đồng chí, đồng đội vốn là truyền thống, phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.

Quán triệt lời Bác Hồ căn dặn: “Cán bộ phải thương yêu săn sóc đội viên. Cán bộ phải chăm lo đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân như tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”, trong các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng mối quan hệ cán, binh mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW đề ra đã yêu cầu phải chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt. Nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò, ý nghĩa của mối quan hệ cán, binh, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải coi đây là một nội dung quan trọng được xác định cụ thể trong nghị quyết, từ đó đề ra các chủ trương, biện pháp thực hiện cụ thể, sát với đặc điểm tình hình của đơn vị. Để xây dựng mối quan hệ cán, binh, trước hết các cấp ủy, chi bộ phải thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên; coi việc xây dựng, củng cố và giữ gìn đoàn kết cán, binh là giải pháp cơ bản, lâu dài và quan trọng hàng đầu. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện gia trưởng, độc đoán, “quyền anh, quyền tôi” trong đơn vị với mục tiêu tăng cường xây dựng tình cảm cán, binh, cấp trên, cấp dưới; tuyệt đối không quân phiệt, xúc phạm bộ đội.

Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần coi trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và bầu không khí dân chủ, cởi mở, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao theo phương châm tất cả vì công việc chung của tập thể chứ không phải đồng thuận, đoàn kết xuôi chiều; chú trọng hướng dẫn kỹ năng giao tiếp để cán bộ, chiến sĩ ứng xử có văn hóa. Đặc biệt, phải luôn quan tâm bồi dưỡng về phương pháp, tác phong quản lý, chỉ huy bộ đội theo đúng quy định của Điều lệnh Quản lý bộ đội, thực hiện "làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh"; giải quyết các mối quan hệ trong công tác theo đúng nguyên tắc, bảo đảm hợp tình, hợp lý, có sức thuyết phục cao. Các cấp ủy, người chỉ huy, nhất là chính ủy, chính trị viên phải luôn quan tâm nhắc nhở, động viên đội ngũ cán bộ tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, thực sự gương mẫu trong lời nói, việc làm và có tinh thần yêu thương, giúp đỡ, vì sự trưởng thành của đơn vị và cấp dưới để bộ đội "tâm phục, khẩu phục" và tự giác học tập, noi theo.

Văn học phải là vũ khí, là điểm tựa cho con người

Văn học, bất chấp mọi khoảng cách không gian, tự nó tìm đến với người đọc, qua cầu ngôn ngữ... Văn học phải là vũ khí, là nguồn sức mạnh, là điểm tựa cho con người trong mọi khó khăn, gian nguy.

Độc lập và tự do-khát vọng thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam được thực hiện chủ yếu và trước hết bởi những người lính-từ anh Vệ quốc quân sau năm 1945 đến anh Giải phóng quân sau năm 1960, trong tên chung là anh Bộ đội Cụ Hồ, và gồm cả những nhà văn mặc áo lính cũng là một lực lượng hùng hậu. Từ Trần Đăng, Thôi Hữu, Hoàng Lộc, Quang Dũng, Chính Hữu, Vũ Cao... đến Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Xuân Thiều, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Sáng, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Đức Mậu... thiếu họ sẽ không có một nền văn học “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học-nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”, như sự tôn vinh của Đảng trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IV năm 1976.

30 năm (1945-1975)-hai cuộc chiến, không tính cuộc chiến ở hai đầu biên giới từ năm 1979 đến 1989, đó là một khối thời gian dài, rất dài so với bất cứ cuộc chiến nào trên toàn thế giới trong suốt thế kỷ 20. Thử hỏi có dân tộc nào trên thế giới chịu được một cuộc chiến dài và khốc liệt như thế, ngoài dân tộc Việt Nam? Và, đồng hành với cuộc chiến là sự xuất hiện một nền văn học viết về chiến tranh trong chiến tranh. Khi đại bác gầm thì chim họa mi tắt tiếng, logic đó xem ra không đúng với dân tộc Việt Nam, bởi trong suốt 30 năm, bất cứ lúc nào cũng có sự xuất hiện những tác phẩm văn học-nghệ thuật thấm nhuần chân lý “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh).

Những tác phẩm của 3 thế hệ người viết-thế hệ đã thành danh trước năm 1945, thế hệ xuất hiện sau năm 1945 và thế hệ sau năm 1960 gần như không trừ ai, đã tự nguyện xếp vào đội ngũ những người cầm súng hoặc người ra trận, để từ đó mà làm nảy nở một nền văn học viết về nhân dân chiến đấu, ngay trong khói lửa của chiến tranh. Và giá trị của nền văn học đó, trước hết chính là ở sự hiện diện kịp thời này, một sự hiện diện quý giá, nếu không có nó, người viết không thể nào có được căn cứ, chất liệu cần thiết cho việc nêu và trả lời các câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc và cũng là của thời đại: Vì sao dân tộc ta phải thắng? Vì sao ta đến được với Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975?


Không phải là chuyện khó trong việc vạch ra những mặt còn non yếu của một nền văn học sinh ra trên các dấu vết nóng bỏng của thời sự. Một nền văn học lấy việc chạy đuổi, nắm bắt, cắm cho được những cái mốc lớn của hiện thực làm mục tiêu chính. Những cái mốc đó, với văn học mà nói, chính là gương mặt, là tầm vóc, là phẩm chất con người được bộc lộ và định hình lại được trong muôn hoàn cảnh cực kỳ gay go, khốc liệt. Dễ hiểu thành tựu ghi được về phương diện này trong văn học 30 năm có được độ đậm đặc và kết tinh trong nhiều tác phẩm, nhưng thuộc con số những bài, những cuốn xuất sắc lại là không ít các sáng tác vẫn giữ nguyên tên người thật, hoặc dựa vào người thật như Núp trong "Đất nước đứng lên" hoặc chị Út Tịch trong "Người mẹ cầm súng". Ở nơi mà sự thật quá lớn, quá kỳ vĩ, sự tưởng tượng của con người chưa theo kịp, thì tốt nhất hãy cứ tìm đến sự sao chép trung thành với đời thật. Hãy có được những bằng chứng. Rồi còn việc sáng tạo-đó là công việc cần có thời gian. Sự chưng cất, nhào nặn, đó là việc hãy chờ sau. Người viết nào lại không nung nấu một sáng tạo nghệ thuật là sản phẩm của chính tay mình. Nhưng nếu việc ấy mình chưa làm được, người khác sẽ làm, nếu thế hệ này chưa làm được, thế hệ sau sẽ làm tiếp.
Giá trị của nền văn học đó đã được xác định ở sự tập trung ngòi bút và ống kính để soi tỏ, nhận diện gương mặt và tầm vóc con người Việt Nam từ tay không hoặc vũ khí thô sơ đã dám đối mặt với những kẻ thù được trang bị bằng cả một bộ máy chiến tranh khổng lồ, với tất cả phương tiện hiện đại. Để chiến thắng kẻ thù đó, con người Việt Nam trước hết phải tự dựa vào sức mình và biết cách nhân sức mình lên. Bên cạnh sức mạnh tinh thần, sức mạnh chính nghĩa, con người đó phải đồng thời biết tạo nên sức mạnh vật chất, sức mạnh kỹ thuật, sức mạnh tổng hợp của thời đại. Và đó là phần giá trị được kết tinh với mức độ đậm nhạt khác nhau trong hàng loạt chân dung con người trên các trang văn thơ trong suốt 30 năm và sau 30 năm. Từ hình ảnh người ra trận hoặc người hậu phương, miền núi hoặc miền xuôi, những anh hùng có tên hoặc quần chúng bình thường... văn học thực sự đã làm một cuộc đồng hành với dân tộc. Và dẫu còn xa mới đạt được niềm mong mỏi, nền văn học đó chưa bao giờ làm một kẻ thờ ơ đứng cạnh hoặc ngừng lại nửa chừng.

Có phải đó là một sự chấp nhận tự nguyện có hàm nghĩa hy sinh, cũng là điều tâm nguyện của không phải chỉ một, hai, hoặc ba thế hệ người viết chúng ta?

Hãy thử dừng lại để soi vào cách sống, cách làm việc của số lớn người viết, trên số lớn trang viết chúng ta trong 30 năm đó. Đó không phải chủ yếu là cái bàn với lọ hoa, với những chuyến nghỉ ngơi để tìm sự yên tĩnh, thư giãn trong thiên nhiên, hoặc sự thay đổi không khí ở một vùng đất khác, trong nước hoặc nước ngoài...

Nếu động tác cơ bản của số đông người viết chúng ta trong 30 năm đó là vừa cầm súng vừa cầm bút, thì hoàn cảnh cơ bản để họ hành nghề là diễn ra trên đường hành quân, bên bếp lửa rừng, giữa hai loạt bom, giữa hai tầm đại bác, phút im lặng giữa hai trận đánh, và lắm lúc cả trong cái đói cồn cào ở chiến trường... Tôi muốn nói sự ra đời của số lớn tác phẩm chúng ta là ở tình huống đó, không ai không trải qua, trong phần lớn hoặc toàn bộ đời viết của mình, từ Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng... đến Nguyễn Thi, Giang Nam, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Phan Tứ, Lê Anh Xuân, Thu Bồn... Rồi Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Vũ Cao, Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều... Cố nhiên, cuộc sống, ngay cả trong chiến đấu, không phải không có những lúc tĩnh lặng, bình yên. Nhưng có phải ở tất cả người viết, chính những giây phút không bình yên của chiến tranh lại dồn chứa biết bao cảm hứng, rung động và sự thôi thúc cho ra đời những quyển, những bài, những trang thật đáng giá. Phải chăng, đó lại là sự bù đắp, sự cân bằng trở lại cho tất cả thiệt thòi và hy sinh mà những người viết văn trong chiến tranh phải chịu đựng.

Công chúng trong chiến tranh cũng là điều không được phép quên. Văn học phải là vũ khí, là nguồn sức mạnh, là điểm tựa cho con người trong mọi khó khăn, gian nguy. Văn học trong 30 năm chiến tranh là văn học viết cho những người mẹ dám tiễn nốt đứa con trai cuối cùng lên đường, cho người vợ đã xa chồng trong 9 năm, lại tiếp tục một cuộc chia ly mới, không hẹn được ngày đoàn tụ. Văn học phải viết về hậu phương sao cho người ở tiền tuyến được yên tâm; và viết về tiền tuyến sao cho người ở lại hậu phương luôn luôn được vững dạ. Trong hàng vạn, hàng chục vạn người hy sinh, lời nhắn nhủ gửi về phía sau phải là lời của người sống, và niềm khát khao của họ là nhằm vào một chữ đợi. Một mối liên hệ gắn nối như thế có thể “duy tâm”, nhưng là rất cần thiết, chính vì có chữ đợi của hậu phương nên sẽ có người sống trở về. "Đợi anh, anh sẽ về" (K.Simonov). Tôn trọng sự thật, người viết không được tô vẽ, không được tuyên truyền một chủ nghĩa lạc quan rẻ giá, nhưng người viết nào cũng phải có trách nhiệm không được làm nản chí tất cả những ai đang trên đường ra trận, đang giáp mặt với kẻ thù và cả những ai đang chờ đợi.

Thật rõ ràng, ở Việt Nam chúng ta, trong 30 năm ấy, số phận cá nhân gắn liền với số phận của dân tộc như hai mặt của một tờ giấy. Người vợ Việt Nam ở lại miền Nam, sau năm 1954, chung thủy với chồng cũng chính là chung thủy với cách mạng. Kẻ thù biết vậy nên trong những chiến dịch tố cộng khốc liệt, chúng đã dồn sức đánh vào sự chung thủy của người vợ chờ chồng. Chỉ cần một chữ “ly khai”! “Hạ” được một phụ nữ trong cuộc chiến này chính là đẩy lùi được lòng tin, là nới lỏng được sự gắn bó giữa nhân dân và cách mạng.

Cuộc chiến thầm lặng mà thật khốc liệt. Và chiến thắng giành được là một chiến thắng không phải chỉ riêng của cá nhân.

Hãy đừng nghĩ về chủ nghĩa nhân đạo một cách chung chung như nhiều nơi khác. Ráng yêu cầu một thiếu nữ đang tuổi đôi mươi đã chờ chồng ở một cuộc chiến tranh, lại tiếp tục chờ thêm một cuộc nữa, sao được gọi là nhân đạo? Nhưng nếu không chấp nhận sự chờ đợi này thì cách mạng phải lùi bước. Chính từ sự nhận thức đơn giản đó mà có hình ảnh người phụ nữ trăn trở “trước tờ giấy trắng”, trước hai chữ “ly khai” ở miền Nam trong thơ Giang Nam đến người phụ nữ “một mình một mâm cơm, ngồi bên nào cũng lệch” ở miền Bắc trong thơ Hữu Thỉnh.

Sự nhận thức ấy đã thành kinh nghiệm, thành bản năng trong mỗi người dân Việt Nam suốt nửa thế kỷ.

Tôi được đọc ở một tờ báo nước ngoài nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít chuyện một bà mẹ Nga ở Cuban có 9 người con lần lượt hy sinh. Ngày chiến thắng về làng, bà mẹ đã ngã sấp xuống vườn nhà, hai cánh tay già run rẩy vục vào nền đất ẩm và rên lên: “Sao số phận lại đày đọa tôi đến như vậy!”. Và trang bên là hình ảnh ngôi nhà cũ của bà mẹ đã được xây dựng thành nhà bảo tàng của địa phương; trước sân nhà là 3 dãy bia mộ của đủ 9 người con.

40 năm sau Đại thắng mùa Xuân 1975, trên đất Quảng Nam, chúng ta được chiêm ngưỡng bức tượng đài hoành tráng Bà mẹ Việt Nam anh hùng-Mẹ Nguyễn Thị Thứ, người đã hiến dâng cho Tổ quốc 9 người con, cùng với người chồng.

Nhà bảo tàng, cùng tượng đài và bia mộ cho nhân dân, cho thời gian.

Có cách biết ơn của người làm bảo tàng và tượng đài. Lại có cách biết ơn của người làm văn, ghi vào chữ nghĩa. Bảo tàng hoặc tượng đài có sức tác động mạnh, nhưng có giới hạn: Mỗi người phải đến với nó. Có độ gần, dễ đến. Nhưng có độ xa, rất nhiều người không ai đến được. Còn văn học, bất chấp mọi khoảng cách không gian, tự nó tìm đến với người đọc, qua cầu ngôn ngữ. Sao cho những mất mát được bù đắp và đừng có sự bạc bẽo hoặc vô ơn nào tìm được nơi ẩn nấp! Để kết thúc cho những trang tản mạn này, tôi thấy vẫn không thể nào tránh được cái ý đã quen thuộc: Sự thật thì lớn lao mà trang giấy thì bé quá. Nhưng lại cũng đến lúc, mỗi người viết hôm nay, không còn đường nào khác, phải có cách sao cho trang giấy-mãi mãi vẫn chỉ nhỏ bé như vậy, nói được, ôm được, chung đúc được mọi sự thật lớn lao của cuộc đời.

Như tất cả những trang, những quyển, những tên người viết và những nền văn học lớn đã làm được.

Nhân rộng mô hình giúp dân hiệu quả

 Ở mục “Đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, nêu rõ: “... Tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân...”.

Xây dựng, nhân rộng, lan tỏa những mô hình hiệu quả để góp phần làm sâu đậm hơn giá trị văn hóa, nhân văn của phẩm chất này chính là giải pháp thiết thực tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, thiết thực chống chủ nghĩa cá nhân ở các cơ quan, đơn vị.

Đúc kết kinh nghiệm từ những mô hình

Đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Nam đã được khống chế từ cuối tháng 10-2021. Gần 6 tháng qua, các địa phương này thực hiện chiến lược thích ứng an toàn với dịch Covid-19, đưa đời sống xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Sau khi dốc toàn lực giúp dân chống dịch thành công, các đơn vị lực lượng vũ trang (LLVT) Quân khu 7 lại tiếp tục triển khai các hình thức, giải pháp giúp dân khắc phục hậu quả dịch bệnh, chăm lo an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa...

Những ngày này, hòa trong không khí kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2022), Bộ tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh các phong trào, hoạt động về nguồn, tri ân người có công, chăm lo công tác đền ơn đáp nghĩa. Thiếu tướng Đỗ Văn Bảnh, Phó chính ủy Quân khu 7 cho biết: "Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong những tháng cao điểm dịch bệnh giữa năm 2021 đã để lại cho LLVT Quân khu 7 nhiều bài học quý về công tác dân vận (CTDV). Từ chủ trương thông suốt, nhất quán của Đảng ủy, Bộ tư lệnh quân khu, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã năng động, linh hoạt, sáng tạo những mô hình giúp dân hiệu quả. LLVT quân khu đã tổ chức sơ, tổng kết, rút ra các giải pháp, kinh nghiệm huy động sức dân để lo cho dân, cách thức tiến hành CTDV trong hoàn cảnh khó khăn...

Có thể thấy, càng trong những hoàn cảnh nguy nan, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng. Đại dịch Covid-19 là một cuộc sát hạch lớn về kỹ năng ứng phó với hoàn cảnh nguy nan, phương án, giải pháp gần dân, về với dân, dựa vào dân để lo cho dân. Đó là cơ sở để củng cố niềm tin, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt quân-dân; là bằng chứng sát thực đập tan những âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Khi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ tỏa sáng, mầm mống của chủ nghĩa cá nhân sẽ bị đẩy lùi, triệt tiêu... Nhìn lại thời kỳ cao điểm của đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 4 tại TP Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam, có thể thấy, tính chủ động, sáng tạo, tinh thần quyết tâm, quyết liệt của LLVT Quân khu 7 được thể hiện một cách vừa bao quát, bao trùm, vừa cụ thể, tỉ mỉ. Chủ đề của Phong trào thi đua đặc biệt “chống dịch, cứu dân” do Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 phát động đã thể hiện rõ chủ trương, giải pháp tiến hành CTDV trong nhiệm vụ “chống dịch như chống giặc”.

Với chức năng là lực lượng xung kích trên tuyến đầu, ngay trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ phải xác định đi trước một bước, xung phong tình nguyện thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nguy cơ lây nhiễm cao, làm những việc người khác, lực lượng khác không làm được hoặc không có đủ điều kiện để làm. Phương châm “chống dịch, cứu dân” vì thế đã trở thành mệnh lệnh không lời, vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của CTDV. Hàng loạt mô hình sáng tạo từ các đơn vị cơ sở đã hiện thực hóa chủ trương của Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7.

Những mô hình tiêu biểu được đúc kết thành bài học về CTDV, đó là: “Đơn vị, địa phương tuyến sau hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương tuyến trước”; “Đơn vị, địa phương ngoài vùng dịch hỗ trợ, giúp đỡ đơn vị, địa phương trong vùng dịch; vùng có dịch ít giúp đỡ vùng có dịch nhiều”; “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”... Cùng với những mô hình ở cấp quân khu, nhiều mô hình hiệu quả ở các đơn vị, địa phương cũng được đúc kết thành bài học kinh nghiệm, tiêu biểu như: “Tất cả vì tuyến đầu chống dịch”, “Nhà trọ 0 đồng”, “Gian hàng 0 đồng”, “Phiên chợ 0 đồng”, “Cây ATM gạo nghĩa tình”, “Cây ATM khẩu trang”, “Hũ gạo tình thương”, “Bữa cơm nghĩa tình”, “Tủ cơm, cháo miễn phí”, “Tủ đồ dùng thiện nguyện”; “Tặng sản phẩm tăng gia sản xuất cho dân”; “Gói an sinh mùa Covid”..., các chương trình 1.000, 5.000, 20.000, 100.000 phần quà nghĩa tình... Tổng kinh phí huy động giúp dân từ các nguồn lực xã hội do LLVT Quân khu 7 thực hiện lên đến hơn 1.000 tỷ đồng, với sự tham gia của 100% cán bộ, chiến sĩ...

Nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” trong giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng” đã hoàn thành, nhưng bài học kinh nghiệm về chủ trương gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cán bộ, chiến sĩ vẫn tiếp tục được đúc kết, làm đầy thêm, dày hơn, sâu hơn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nghị quyết 847 đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt...”.

Như vậy, việc đúc kết bài học kinh nghiệm từ các mô hình giúp dân hiệu quả trong các nhiệm vụ là công việc phải được tiến hành kịp thời và thường xuyên. Phát hiện, nhân rộng các cách làm hay, mô hình hiệu quả, những điển hình tiên tiến... chính là sự cụ thể hóa phương châm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy hoa thơm lấn át cỏ dại... trong môi trường văn hóa quân nhân.

Chuyển chủ trương thành hành động

Dịch bệnh, thiên tai, sự cố... đang là những thách thức lớn đối với đời sống xã hội, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Trong những hoàn cảnh ấy, Bộ đội Cụ Hồ luôn là lực lượng đi đầu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống yên lành cho nhân dân. Có thể nói, đó chính là những “cuộc chiến thời bình” của Quân đội ta. Trong giai đoạn cao điểm bộ đội giúp dân phòng, chống dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo: “Bộ đội phải chủ động tìm đến với dân, không chờ dân khó khăn phải tìm đến bộ đội”.

Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Bộ trưởng thể hiện tinh thần chủ động, linh hoạt, đi trước một bước trong nhiệm vụ giúp dân của Bộ đội Cụ Hồ. Những mô hình trong nhiệm vụ “chống dịch, cứu dân” của LLVT Quân khu 7 nói riêng, các đơn vị trong toàn quân tăng cường cho địa bàn Quân khu 7 thời gian qua nói chung, là một dấu mốc quan trọng trong bề dày truyền thống Quân đội ta. Đúc kết thành những bài học kinh nghiệm để ứng dụng, vận dụng, nhất là về quan điểm, chủ trương, quyết tâm, cách làm... là công việc cần thiết, thường xuyên của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong các cơ quan, đơn vị toàn quân.

Trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, Nghị quyết 847 chỉ rõ: “Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân...”. Bộ đội Cụ Hồ qua các thế hệ, ai cũng thuộc lòng 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, trong đó lời thề thứ 9 nêu rõ: “Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân và ba điều răn: Không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân, để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí”. Điều thứ 8 trong 12 điều kỷ luật, nêu rõ: “Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của tập thể và Nhà nước”. Những điều ấy vừa mang tính bắt buộc, vừa thể hiện tinh thần tự giác của người quân nhân cách mạng. Trải qua bề dày lịch sử truyền thống, những điều ấy đã hun đúc thành bản sắc văn hóa, đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

Quy luật phát triển của Quân đội ta mang tính kế thừa. Cùng với thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho bộ đội, cần phải có những hoạt động mang tính điểm nhấn, điển hình. Thông qua các mô hình hiệu quả, những tấm gương điển hình tiên tiến, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần chủ động, kịp thời, sáng tạo, có các hình thức tuyên truyền, giáo dục, học tập sinh động để những nét đẹp ấy thẩm thấu vào đời sống cán bộ, chiến sĩ, chuyển chủ trương thành hành động thiết thực. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong mối quan hệ với nhân dân trên tinh thần tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân... chính là một trong những giải pháp giúp Quân đội ta giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó còn là vũ khí sắc bén đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, là môi trường góp phần đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân...

HỌC SỬ VIỆT NAM

 

                                Giữ giang sơn được bốn ngàn năm

                                Ngoài gươm giáo của những anh hùng cứu nước

                                Là những trang sử đánh tan quân xâm lược

                                Khẳng định một lời:

                                Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư

                                Cùng xương anh hùng, cùng máu anh thư

                                Là ngọn bút theo gươm trừ loài vô đạo.

                                Sử Việt Nam là Bình Ngô Đại Cáo

                                Là "đem đại nghĩa thắng hung tàn"

                                Sử Việt Nam là hội nghị Bình Than

                                Là nộ khí trái cam Trần Quốc Toản.

                                Là sáu chữ vàng ngàn năm chói sáng:

                                Phá cường địch, báo hoàng ân.

                                Sử Việt Nam là tiếng sét Ải Chi Lăng

                                Tiếng trống quân Nam rụng rời thành phương Bắc

                                Là xác giặc kín đèo, là máu thù nhầy đất.

                                Sử Việt Nam ngời ngời tràn khí phách,

                                Là "Đằng Giang tự cổ huyết du hồng"

                                Là một lời làm khiếp vía quân Mông

                                Thà làm quỷ nước Nam, không làm vương đất Bắc

                                Là Nguyễn Biểu làm kẻ thù tím mặt

                                Sang sảng lời thơ bữa Cỗ Đầu Người.

                                Sử Việt Nam không sợ máu đổ xương rơi,

                                Là cọc Bạch Đằng muôn thu còn nhọn hoắt,

                                Sử Việt Nam là cánh tay "Sát Thát",

                                Là xác thù nghẽn nước Bạch Đằng Giang.

                                Sử Việt Nam là nỏ thần Kim Quy, là roi thần ngựa sắt,

                                Là trống Ngọc Hồi, là tượng Quang Trung.

                                Sử Việt Nam là đánh để răng đen, đánh cho dài tóc

                                Là máu là xương của những đấng anh hùng.

                                Sử Việt Nam là triệu trái tim bất khuất

                                Không đớn hèn, không bán nước cầu vinh!!!



PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ DỰ ÁN LUẬT LỰC LƯỢNG THAM GIA BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ TẠI CƠ SỞ

 

          Thời gian qua, các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở. Thực tế, khi Dự án Luật được soạn thảo với những vấn đề mới thì việc có những ý kiến khác nhau, tán thành hay chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý với động cơ xây dựng với việc lợi dụng để chống phá là hai vấn đề khác nhau. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật.

          Trong thời gian này, Đài Á châu tự do (RFA) đăng tải, phát tán một số bài viết xuyên tạc, chống phá Dự án Luật và ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong đăng tải theo kiểu “tát nước theo mưa”. Đài Á châu tự do dẫn ý kiến đối tượng V.M.Đ, vốn là cựu sĩ quan quân đội biến chất bị tước quân tịch, xuyên tạc rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân, để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, rồi nắm được mọi hoạt động tiềm ẩn nên gây nguy hại cho dân. Cho rằng, nếu bây giờ hình thành hẳn một lực lượng như thế thì hình thức gần như bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng... gây bất an cho dân! Bên cạnh đó, đài này làm ra vẻ khách quan, muốn dẫn dắt dư luận chống phá Dự án Luật, để Nguyễn Ngọc Già (tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhân dân, từng bị phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế) xuyên tạc: “Lực lượng này là những người 18 tuổi trở lên và tự nguyện tham gia... Trước đây chưa chính thức, còn bây giờ họ đang soạn dự thảo luật này có nghĩa là chính thức thành lập lực lượng gọi là tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở. Có nghĩa là họ đã trao quyền, tôi muốn nhấn mạnh khi lực lượng này chính thức được thừa nhận bởi luật thì làm gợi lại quá khứ kinh hoàng với khái niệm gọi là “tai mắt nhân dân”, rình mò, hạch sách, nhũng nhiễu...”. Trên trang RFA đăng bài viết mang tính đả kích, bôi nhọ khi cho rằng lực lượng này sẽ sinh ra “những hệ lụy như trấn áp, lộng quyền làm nhớ đến thời kỳ quân quản sau 1975, cũng như thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền Bắc hơn 60 năm trước”.

          Bài viết xuyên tạc rồi đặt những câu hỏi ngô nghê như “trong xã hội, họ chính thức dùng “dân trị dân”, thế thì nhà nước để làm gì, lực lượng Công an để làm gì, rồi hợp nhất này kia, điều đó là trái khoáy”? Từ đó hướng lái vấn đề thành “hay lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”! Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với Dự án Luật và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Trái ngược lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, chống đối, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Những cơ sở khoa học đã được khẳng định:

          Một là, xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

          Hai là, thực tiễn hiện nay, cùng với lực lượng CAND, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi cũng không thống nhất, đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó có những vụ việc dẫn đến tình trạng lạm quyền, không làm hết trách nhiệm, rất khó trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, đòi hỏi phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

          Ba là, do thiếu hành lang pháp lý, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng này thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất... Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong lãnh đạo, quản lý, duy trì, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, làm giảm hiệu quả hoạt động.

          Bốn là, “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

          Năm là, thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm, tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Do ở tại cơ sở nên họ là lực lượng tiếp cận đầu tiên. Hay như trong đại COVID – 19, các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã và đang thực hiện có hiệu quả, là lực lượng tuyến đầu cùng với lực lượng nòng cốt Y tế, Công an, Quân đội… trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT, hỗ trợ đắc lực người dân phòng, chống dịch bệnh.

          Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cần thiết và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn. Việc thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm chỉnh lý, bổ sung những vấn đề mới; thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự luật là vấn đề bình thường khi xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đóng góp ý kiến khác với việc lợi dụng để đả phá, xuyên tạc với những ngôn từ như, ban hành luật sẽ “tạo ra một mạng lưới chân rết, trao quyền để lấy dân trị dân, sinh ra những hệ lụy như rình mò, hạch sách, trấn áp, lộng quyền, không giữ được ANTT mà khiến xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”. Những luận điệu này được tung ra nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước./.

TRƯỚC KẺ THÙ TRÔNG ANH THẬT HIÊN NGANG

 

                           Trước kẻ thù trông anh thật hiên ngang

                           Sự cương quyết khiến địch càng khiếp sợ

                           Dù đã bị khảo tra nhưng vẫn nhớ

                           Ngẩng cao đầu miệng khẽ mở vành môi

                           Các người là quân cướp Nước chúng tôi

                           Sự tàn bạo sẽ rồi phải trả giá

                           Toàn dân tộc sẽ đứng lên tất cả

                           Chiến đấu cho tan rã những mưu tà

                           Thanh Xuân này dành trọn cho Nước ta

                           Dù xương thịt có tan ra trăm mảnh

                           Gương anh đó sẽ là niềm kiêu hãnh

                           Tiếp thêm cho sức mạnh biết bao người

                           Các anh là thế hệ tuổi đôi mươi

                           Như một tấm gương sáng ngời mãi mãi

                           Thế hệ sau chúng ta cùng nhau phải

                           Giữ Nước mình nguyên một dải đẹp tươi.



Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 7 thành công tốt đẹp

 


Với nhiều hoạt động ý nghĩa diễn ra tại huyện Quảng Hòa (tỉnh Cao Bằng, Việt Nam) và huyện Long Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 7 đã thành công tốt đẹp vào chiều 23-4.

Vơi niềm mong đợi..!

 

 


Sau gần 56 năm, thân nhân và đồng đội các liệt sĩ nguyên là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 22, Sư đoàn 3 (Quân khu 1) hy sinh trong trận tập kích quân Mỹ cuối tháng 12-1966 ở đồi Xuân Sơn (Hoài Ân, Bình Định) mới tìm thấy nơi an táng. Điều này giúp vơi bớt nỗi mong ngóng, kiếm tìm suốt bao năm mòn mỏi của thân nhân và đồng đội các liệt sĩ.